Tuy nhiên thực tế thì trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang hiện nay cũng chưa có một công trình nghiên cứu nào viết về đề tài này, chỉ có tập “ Giáo trình lịch sử địa phương cấp 1 và cấp 2”, và
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ THẢO
SỬ DỤNG DI TÍCH LỊCH SỬ- CÁCH MẠNG Ở ĐỊA PHƯƠNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN 1954 LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH TUYÊN QUANG
(CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM LỊCH SỬ
HÀ NỘI – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ THẢO
SỬ DỤNG DI TÍCH LỊCH SỬ- CÁCH MẠNG Ở ĐỊA PHƯƠNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN 1954 LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH TUYÊN QUANG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới
PGS.TS Trịnh Đình Tùng - người thầy đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành
đề tài luận văn tốt nghiệp này Sự chỉ bảo ân cần của thầy là nguồn động viên giúp em hoàn thành tốt công việc
Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới các thầy cô trong khoa Lịch sử nói chung đã truyền đạt cho em những kiến thức, kỹ năng học tập và nghiên cứu khoa học trong suốt thời gian em học tập tại trường Đó là nền tảng giúp em thực hiện đề tài này
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới Ban Giám Hiệu trường Đại học Giáo dục- Đại học Quốc Gia Hà Nội, BGH Trường THPT Nguyễn Văn Huyên tỉnh Tuyên Quang, tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học
Do hạn chế về kỹ năng nghiên cứu khoa học của bản thân cũng như điều kiện khách quan không cho phép nên đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Chính vì vậy em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và bạn bè để luận văn của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 25 tháng 4 năm 2014
Học viên thực hiện
Lê Thị Thảo
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Mở đầu 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CỦA VIỆC SỬ DỤNG DI TÍCH LỊCH SỬ- CÁCH MẠNG Ở ĐỊA PHƯƠNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 12
1.1 Cơ sở lý luận 12
1.1.1 Di tích lịch sử - cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường THPT 12
1.1.2 Xuất phát điểm của vấn đề sử dụng di tích lịch sử- cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông 22
1.2 Một số di tích lịch sử- cách mạng ở Tuyên Quang cần khai thác, sử dụng trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 lớp 12 THPT 30
1.2.1 Danh mục những di tích lịch sử- cách mạng ở Tuyên Quang cần khai thác, sử dụng trong giai đoạn lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 lớp 12 THPT 30
1.2.2 Nội dung một số di tích lịch sử- cách mạng cần khai thác, sử dụng trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 lớp 12 THPT (Phụ lục 2) 31
1.3 Thực tiễn việc sử dụng di tích lịch sử- cách mạng ở địa phương trong dạy học Lịch sử ở trường THPT tỉnh Tuyên Quang 31 1.3.1 Thực trạng về di tích lịch sử nói chung và di tích lịch sử-
Trang 6cách mạng thời kỳ 1945- 1954 nói riêng ở Tuyên Quang 31 1.3.2 Thực trạng việc sử dụng di tích lịch sử- cách mạng địa
phương trong dạy học bộ môn Lịch sử ở trường THPT Tuyên
Quang 33
Chương 2 MỘT SỐ HÌNH THỨC, BIỆN PHÁP SỬ DỤNG
DI TÍCH LỊCH SỬ- CÁCH MẠNG Ở ĐỊA PHƯƠNG
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN
1954 LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH TUYÊN
QUANG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) THỰC NGHIỆM
SƯ PHẠM 44 2.1 Vị trí, mục tiêu và nội dung cơ bản của Lịch sử Việt Nam từ
1945 đến 1954 trong khóa trình lịch sử Việt Nam lớp 12
THPT 44 2.1.1 Vị trí 44 2.1.2 Mục tiêu 45 2.1.3 Nội dung kiến thức cơ bản của lịch sử Việt Nam từ 1945
đến 1954 47 2.2 Một số yêu cầu khi lựa chọn các biện pháp sử dụng di tích
lịch sử- cách mạng trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam từ
1945 đến 1954 50 2.2.1 Lựa chọn biện pháp phải căn cứ vào mục tiêu môn học 50 2.2.2 Biện pháp sử dụng phải đảm bảo tính vừa sức, phù hợp
với từng đối tượng học sinh 51 2.2.3 Lựa chọn biện pháp sử dụng phải phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của học sinh 51 2.2.4 Biện pháp sử dụng phải kết hợp linh hoạt, sáng tạo với các
phương pháp dạy học khác 52 2.3 Một số hình thức sử dụng di tích lịch sử- cách mạng ở địa
phương trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 lớp
12 THPT tỉnh Tuyên Quang 52
Trang 72.3.1 Khai thác, sử dụng tài liệu về di tích lịch sử- cách mạng ở
Tuyên Quang để dạy bài lịch sử nội khóa ở trường THPT 52
2.3.2 Tiến hành bài lịch sử tại di tích lịch sử- cách mạng 58
2.3.3 Tổ chức hiệu quả hoạt động tham quan học tập tại di tích lịch sử- cách mạng 63
2.3.4 Tổ chức hoạt động tham quan ngoại khóa 66
2.3.5 Sử dụng tài liệu về di tích lịch sử- cách mạng để tổ chức dạ hội 69
2.4 Một số biện pháp sử dụng di tích lịch sử- cách mạng ở địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 lớp 12 THPT tỉnh Tuyên Quang 70
2.4.1 Hướng dẫn học sinh sưu tầm tư liệu về di tích lịch sử cách mạng 70
2.4.2 Hướng dẫn học sinh sử dụng tư liệu về di tích lịch sử cách mạng 74
2.4.3 Hướng dẫn học sinh học tâp tại di tích cách mạng 79
2.4.4 Tổ chức hoạt động ngoại khoá tại di tích lịch sử, bảo tàng, nhà truyền thống 80
2.4.5 Tổ chức ngoại khoá bằng trò chơi lịch sử 81
2.5 Thực nghiệm sư phạm 81
2.5.1 Mục đích và yêu cầu bài học thực nghiệm 81
2.5.2 Nội dung, phương pháp thực nghiệm 81
2.5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 82
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 92
Trang 8DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 1.1: Kết quả xin ý kiến giáo viên 34
2 Bảng 1.2 Kết quả xin ý kiến học sinh 39
3 Bảng 2.1 Kết quả thực nghiệm sƣ phạm 83
4 Bảng 2.2 Bảng tổng hợp tính theo phần trăm (%) 83
5 Bảng 2.3 Độ chênh lệch điểm kiểm tra giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 84
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đổi mới phương pháp dạy học là định hướng lớn nhất của Đảng ta trong lĩnh vực giáo dục của thế kỷ phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin ngày nay Đảng đã rõ mục đích của nền giáo dục nước ta là: xây dựng những con người thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, có năng lực tiếp thu văn hóa nhân loại, phát triển tiềm năng dân tộc và con người Việt Nam
Muốn thúc đẩy sự nghiệp giáo dục trong việc xây dựng con người Việt Nam mới, xã hội chủ nghĩa phù hợp với yêu cầu của thời đại thì giáo dục cũng phải toàn diện Bởi bất kỳ một dân tộc nào, dù phát triển đến đâu, một con người dù rất thành đạt nhưng không am hiểu về lịch sử của dân tộc mình,tức là không được giáo dục một cách đầy đủ về ý thức dân tộc, ý thức công dân …Rất nhiều nhà khoa học đã đánh giá cao vai trò của bộ môn lịch
sử và họ coi lịch sử là: “ Một trong bốn bộ môn quan trọng đối với giáo dục thế hệ trẻ bên cạnh tiếng mẹ đẻ, địa lý và toán học” Nguyên Tổng bí thư Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười đã chỉ rõ trong bài phát biểu tại Đại hội khoa học lịch sử lần thứ hai năm 1994: “Phải coi trọng giáo dục lịch sử dân tộc, phải coi lịch sử là tài liệu giáo khoa số một trong nhà trường, nếu không làm tốt giáo dục lịch sử, thanh thiếu niên sẽ chạy theo đồng tiền, chạy theo lợi ích khác, có hại cho sự nghiệp chung”
Để nâng cao chất lượng bộ môn thì việc đổi mới nội dung và phương pháp trở thành một vấn đề mang tính cấp thiết Quá trình đổi mới phải tiến hành thường xuyên và đồng bộ, trong đó việc tăng cường sử dụng các phương tiện trực quan có vai trò quan trọng nhất là đối với những tỉnh vùng sâu vùng
xa, thiếu về trình độ thông tin như Tuyên Quang Mà một trong những loại
Trang 10phương tiện có thể sử dụng tốt nhất là các di tích lịch sử- cách mạng có ở địa phương
Tuyên Quang- mảnh đất ghi dấu những chiến công oanh liệt của quân
và dân ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nơi đây chứa số lượng di tích lịch sử- cách mạng khá lớn đặc biệt là những di tích về giai đoạn từ 1945-
1954 Học sinh trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang có thể trực tiếp học qua các minh chứng đó một cách sinh động mà không cần phải hình dung Tuy nhiên thực tế thì trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang hiện nay cũng chưa có một công trình nghiên cứu nào viết về đề tài này, chỉ có tập “ Giáo trình lịch sử địa phương cấp 1 và cấp 2”, và bài viết của Đỗ Hồng Thái, Đại học sư phạm Thái Nguyên “ di tích cách mạng trong dạy học lịch sử”, tuy nhiên các đề tài này vẫn mang tính chung chung, chưa thật rõ ràng, cụ thể, giáo viên cũng chưa biết tận dụng những di tích lịch sử- cách mạng của địa phương trong việc dạy học môn lịch sử
Xuất phát từ lý do trên chúng tôi chọn đề tài: “Sử dụng di tích lịch sử
- cách mạng ở địa phương trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ 1945 đến
1954 lớp 12 trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang (Chương trình chuẩn), làm đề tài nghiên cứu
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Di tích lịch sử- cách mạng cũng là một phương tiện trực quan trong dạy học ở trường phổ thông, nghiên cứu về vấn đề này đã có nhiều tài liệu nước ngoài và trong nước nói đến
2.1 Các công trình đã nghiên cứu ở ngoài nước
Phó tiến sĩ khoa học giáo dục Liên Xô M Crugiăc trong cuốn “Phát
triển tư duy học sinh như thế nào”, NXB Giáo dục Hà Nội, 1976 đã chỉ rõ
việc sử dụng đồ dùng trực quan có vai trò và ý nghĩa to lớn đối với phát triển
tư duy học sinh Ông đã khẳng định phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan
là phương pháp tốt nhất đem lại sự phát triển tư duy cho học sinh
Trang 11Tiến sĩ giáo dục Liên Xô I.F Kharlamop trong cuốn “Phát huy tính
tích cực học tập của học sinh như thế nào”, NXB Giáo dục Hà Nội, 1979,
đã nhấn mạnh “ Lời nói sinh động của giáo viên kết hợp với tính trực quan có hiệu quả to lớn trong việc dạy học… Nó còn góp phần rèn luyện tư duy, phân tích tập cho các em nhìn thấy bản chất của các đối tượng và hiện tượng ẩn sau các hình thức và biểu hiện bề ngoài, kích thích tính ham hiểu biết của các em”
I.Ia.Lence với “Phát triển tư duy học sinh trong dạy học lịch sử”,
NXB Giáo dục, Hà Nội, 1982 cũng đã chỉ ra rằng dạy học có sử dụng đồ dùng trực quan sẽ là cơ sở để diễn ra sự tái hiện tri thức và phương pháp hoat động Ông khẳng định sự cuốn hút của các phương tiện thông tin tạo hình trực quan
có ý nghĩa rất quan trọng
F.K.Kôrovkin khi nghiên cứu về “Phương pháp dạy học lịch sử ở
trường phổ thông” cũng khẳng định vai trò quan trọng của việc sử dụng đồ
dùng trực quan Tính trực quan là phương tiện cơ bản để hình thành kiến thức lịch sử
Trong cuốn “Các phương pháp sư phạm” , NXB Thế giới, Hà Nội,
1999, GuyPalmade đã nhấn mạnh việc dạy học phải bắt đầu từ trực quan nhằm tạo ra trong óc trẻ một biểu tượng bền vững
Ngoài ra còn có các nghiên cứu của các tác giả M.Alêxêep trong cuốn“
Phát triển tư duy của học sinh”, hay cuốn “Tư duy học sinh” của M.N
Sacđacốp, “Những cơ sở lý luận dạy học” do B.P.Exipốp chủ biên… đã
khẳng định những cơ sở tâm lý của nhận thức trực quan sinh động trong học tập lịch sử khi tạo biểu tượng trong sáng và muôn màu, muôn vẻ về các sự vật, hiện tượng đang học Có thể thực hiện nhiệm vụ này bằng cách tổ chức cho học sinh tri giác các di tích lịch sử và các di sản văn hóa
N.K.Crupxcaia coi công tác tham quan, học tập tại di tích lịch sử- văn hóa
là một công tác quan trọng trong nhà trường, là cách dạy cho học sinh đọc cuốn sách trong cuộc sống qua những trải nghiệm thực
Trang 122.2 Các công trình đã nghiên cứu ở trong nước
Trong giáo trình “Giáo dục học”, tập 1, NXB Giáo dục Hà Nội, 1987,
Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt đã viết như sau: “ Các đồ dùng trực quan nếu được sử dụng khéo léo tạo điều kiện cho học sinh nhớ lâu, giảm độ mệt nhọc, gây được mối liên hệ thần kinh tạm thời khá phong phú ” Như vậy các tác giả cũng đã nhấn mạnh đồ dùng trực quan trong đó có di tích cách mạng là điểm tựa trong nhận thức của học sinh
Trong cuốn “Sơ thảo phương pháp giảng dạy lịch sử ở trường phổ
thông cấp II, III” xuất bản năm 1961, các tác giả Lê Khắc Nhãn, Hoàng
Triều, Hoàng Trọng Hanh đã giành chương VIII: “Ngoại khóa, thực hành trong bộ môn lịch sử” trong đó các tác giả cũng nêu lên thực trạng và một số biện pháp thực hiện như thăm quan viện bảo tàng, du lịch, sưu tầm, thu thập
và ghi chép tài liệu lịch sử
Trong cuốn “Phương pháp giảng dạy lịch sử” (Phần đại cương) tập 1,
2 xuất bản năm 1966 của Trần Văn Trị, Phan Ngọc Liên, Nguyễn Cao Lũy, Nguyễn Tiến Cường.trong chương II (tập 2) “Các phương châm giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông” Các tác giả một lần nữa khẳng định: Dạy lịch sử gắn liền với đời sống và cần phải liên hệ tri thức lịch sử trong sách vở với cuộc sống, liên hệ lịch sử toàn quốc với lịch sử địa phương đặc biệt là các di tích lịch sử- cách mạng
Trong cuốn “Bảo tàng- di tích- lễ hội”, NXB Văn hóa- thông tin, 1992,
Phan Khanh đã chỉ rõ: Di tích là tấm gương lịch sử, để mỗi người đến chiêm ngưỡng, dù một mình cũng phải soi bóng mình và tự vấn mình là đang làm gì
để góp phần đóng góp cho sự trường tồn, phát triển thịnh vượng của non nước này
Các nhà lý luận về phương pháp dạy học bộ môn thông qua nhiều bài viết trên tạp chí nghiên cứu chuyên ngành nói riêng, các tạp chí khoa học nói chung đã đề cập đến phải đưa phương tiện trực quan vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông cũng như nhấn mạnh sự cần thiết phải sử dụng đồ dùng trực
Trang 13quan trong dạy học lịch sử dân tộc như: GS.TS Phan Ngọc Liên, GS.TS Nguyễn Thị Côi, PGS TS Trần Vĩnh Tường, TS Nguyễn Anh Dũng TS Đặng Công Lộng, TS Trần Viết Thụ
Hay như trong cuốn “Di tích Lịch sử ở Tuyên Quang”, Phù Ninh
,NXB Văn hóa- Thông Tin Tuyên Quang, 1997, tác giả cũng đã trình bày các
di tích lịch sử- cách mạng quan trọng, cũng như nguồn gốc, ý nghĩa lịch sử của các di tích lịch sử- cách mạng của nơi được coi là “ Bảo tàng cách mạng của cả nước”
Các nhà lý luận về phương pháp dạy học bộ môn thông qua nhiều bài viết trên tạp chí nghiên cứu chuyên ngành nói riêng, các tạp chí khoa học nói chung đã đề cập đến phải đưa nguồn lịch sử có ở địa phương vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông đặc biệt là các phương pháp có sử dụng phương tiện trực quan cũng như nhấn mạnh sự cần thiết phải sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học lịch sử dân tộc như: GS.TS Phan Ngọc Liên, GS.TS Nguyễn Thị Côi, PGS TS Trịnh Đình Tùng, PGS TS Trần Đức Minh, PGS.TS Nguyễn Hữu Chí, PGS.TS Trần Vĩnh Tường, TS Nguyễn Anh Dũng
TS Đặng CôngLộng, TS Trần Viết Thụ
Bên cạch đó còn có một số bài viết của Hoàng Thanh Hải đề cập đến
việc “Sử dụng di tích lịch sử cách mạng trong dạy học lịch sử tại thực địa” ( số 2/ 1997), “Tổ chức hướng dẫn học sinh phổ thông tham gia các lễ hội
xuân tại các di tích lịch sử văn hóa” (số 5/1997) Hai bài viết cùng với luận
án Tiến sĩ “Sử dụng di tích lịch sử trong dạy học lịch sử dân tộc ở trường
THPT tỉnh Thanh Hóa”, hay nhiều công trình khác như luận văn thạc sỹ của
Lê Thị Hài : “Sử dụng di tích lịch sử địa phương trong dạy học Lịch sử Việt
Nam ở trường THPT tỉnh Hưng Yên” “Sử dụng di tích lịch sử- cách mạng
ở Hà Nội trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ 1930 đến 1945 lớp 12 THPT”
của Phạm Tú Linh,bài viết của Đỗ Hồng Thái, Đại học sư phạm- Đại học
Thái Nguyên “Sử dụng di tích cách mạng trong dạy, học lịch sử ở trường
THPT”
Trang 14Ở Tuyên Quang việc đưa di tích lịch sử cách mạng ở khối THPT vào dạy học thì chưa có, cũng như chưa có một công trình nghiên cứu nào hướng dẫn giáo viên cũng như học sinh tổ chức các buổi học tập ở tại các di tích cách mạng của tỉnh Trên địa bàn tỉnh hiện nay dưới sự góp sức của dự án Việt – Bỉ thì cũng chỉ có tập giáo trình giảng dạy Lịch sử địa phương cho cấp
1 và cấp 2, tuy nhiên cũng chỉ có một số bài với một số chuyên đề nhỏ như:
“Cây số bảy anh hùng,khu di tích lịch sử Tân Trào, Tuyên Quang buổi đầu
dựng nước ”
2.3 Đánh giá của tác giả về những công trình nghiên cứu nêu trên
Qua việc nghiên cứu về việc sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học đặc biệt là thông qua di tích lịch sử- cách mạng của các tác giả nước ngoài, và trong nước chúng tôi rút ra kết luận:
Thứ nhất ,các tác giả đều nhấn mạnh đến sự cần thiết phải sử dụng đồ
dùng trực quan, và vai trò của việc sử dụng đồ dùng trực quan đặc biệt là di tích lịch sử- cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông Nguồn tài liệu này nếu sử dụng hợp lý góp phần nâng cao kiến thức bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và phát huy năng lực nhận thức độc lập, sáng tạo cho học sinh
Thứ hai, các công trình trên đã chỉ ra những cơ sở lý luận cho việc nghiên
cứu sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học lịch sử dân tộc ở trường phổ thông, cũng như các hình thức tổ chức hướng dẫn học sinh chủ yếu qua 2 hình thức là giờ học nội khóa và hoạt động ngoại khóa Mỗi hình thức này có cách thức triển khai khác nhau theo đặc điểm riêng của di tích lịch sử- cách mạng ở từng vùng
Thứ ba, các tác giả cũng đã đề xuất các quy trình để tiến hành để tổ chức
một buổi học nội khóa có sử dụng di tích lịch sử- cách mạng cũng như cách thức tiến hành buổi học ngoại khóa tại thực địa và đối với mỗi di tích lịch sử- cách mạng thì có quy trình cũng như cách tiến hành riêng tùy vào loại hình di tích đó
Trang 15Tuy nhiên chưa có một tài liệu nào đi sâu nghiên cứu để trả lời các câu hỏi sau:
Thứ nhất: Cơ sở khoa học nào để khẳng định việc sử dụng di tích lịch sử-
cách mạng trong dạy học lịch sử dân tộc có ở địa phương là rất cần thiết?
Thứ hai: Việc tổ chức, hướng dẫn học sinh trong giờ học lịch sử dân tộc có
sử dụng di tích lịch sử- cách mạng cần theo những yêu cầu cơ bản nào để đạt được hiệu quả?
Thứ ba: Thực tiễn việc tổ chức, hướng dẫn học sinh trong giờ học có sử
dụng di tích lịch sử cách mạng ở trường THPT hiện nay có những ưu điểm và hạn chế gì?
Thứ tư: Nội dung nào trong giờ dạy học lịch sử dân tộc thì nên sử dụng di
tích lịch sử- cách mạng, và hình thức tổ chức , hướng dẫn học sinh ở những nội dung đó như thế nào?
Thứ năm: Có những phương pháp sư phạm nào để hướng dẫn học sinh
trong giờ học lịch sử dân tộc nói chung có sử dụng di tích lịch sử- cách mạng
và trong phần lịch sử Việt Nam giai đoạn từ 1945 đến 1954 nói riêng, đặc biệt
là trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang- tỉnh được coi là “ di tích cách mạng” của cả nước
Tóm lại các công trình nghiên cứu trên đã nhấn mạnh việc sử dụng tài liệu phương tiện trực quan trong dạy học lịch sử và đưa ra các hình thức, biện pháp sử dụng loại phương tiện này Những công trình nghiên cứu trên là
cơ sở lí luận quý giá giúp chúng tôi nghiên cứu đề tài
2.4 Những vấn đề đề tài sẽ đi sâu nghiên cứu
Trên cơ sở tiếp thu những thành quả nghiên cứu của các công trình đi trước, luận văn sẽ tập trung giải quyết những vấn đề sau:
Thứ nhất, trên cơ sở mục tiêu môn học,phân tích đặc điểm của môn lịch sử,
đặc điểm tâm lý và đặc điểm quá trình nhận thức của học sinh trong học tập môn Lịch sử dân tộc, yêu cầu đổi mới phương pháp, phân tích vai trò, ý nghĩa quan trọng của việc sử dụng di tích lịch sử - cách mạng trong quá trình dạy
Trang 16học môn lịch sử ở trường trung học phổ thông nói chung và giai đoạn từ 1945 đến 1954 nói riêng
Thứ hai, trên cơ sở khai thác một số di tích lịch sử - cách mạng ở Tuyên
Quang, thực tiễn việc sử dụng di tích lịch sử- cách mạng trong dạy phần lịch
sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 ,đề tài sẽ đánh giá chung về thực trạng sử dụng di tích lịch sử - cách mạng trong dạy học bộ môn Lịch sử ở trường THPT tỉnh Tuyên Quang
Thứ ba, khai thác nội dung chương trình, SGK Lịch sử 12 phần Lịch sử Việt
Nam từ 1945- 1954 để lựa chọn những sự kiện lịch sử có liên quan đến các di tích lịch sử- cách mạng trong phạm vi của đề tài
Thứ tư, tìm hiểu cụ thể các di tích lịch sử- cách mạng ở Tuyên Quang có thể
sử dụng để phục vụ dạy học phần Lịch sử Việt Nam từ 1945- 1954 lớp 12 trung học phổ thông ( Chương trình chuẩn)
Thứ năm, thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng các biện pháp sư phạm đã đề
xuất trên cơ sở đó rút ra kết luận về tính khả thi của biện pháp sư phạm được tiến hành trong luận văn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc sử dụng di tích lịch sử- cách mạng ở địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 lớp 12 THPT tỉnh Tuyên Quang ( Chương trình chuẩn)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về trình độ của bản thân và thời gian có hạn, luận văn không có tham vọng đi sâu nghiên cứu tất cả các di tích lịch sử- cách mạng của tỉnh Tuyên Quang cũng như biện pháp sử dụng mà trên cơ sở nêu khái quát sẽ lựa chọn những di tích lịch sử- cách mạng ở Tuyên Quang tiêu biểu có thể sử dụng để tìm hiểu nội dung và đề xuất một số biện pháp chủ yếu sử dụng chúng có hiệu quả nhất trong giờ học nội khóa theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh khi dạy học lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954
Trang 17Điều tra thực tế, tiến hành thực nghiệm sư phạm một bài lịch sử cụ thể
ở trường trung học phổ thông Nguyễn Văn Huyên- TP Tuyên Quang
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích
Trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng di tích lịch sử- cách mạng trong dạy học lịch sử dân tộc dân tộc nói chung và lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 đến 1954 nói riêng, đề tài tập trung đi sâu về các di tích lịch sử- cách mạng ở Tuyên Quang có thể sử dụng trong dạy học phần LSVN
từ 1945 đến 1954 Từ đó đề xuất một số hình thức, biện pháp sử dụng các di tích này nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử ở trường THPT hiện nay
4.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm
vụ cụ thể sau:
Tìm hiểu lý luận của các nhà Tâm lý học, giáo dục học, giáo dục Lịch
sử viết về vấn đề sử dụng đồ dùng trực quan nói chung, di tích lịch sử- cách mạng nói riêng trong dạy học từ trước đến nay
Khai thác nội dung chương trình, SGK Lịch sử 12 phần Lịch sử Việt Nam từ 1945- 1954 để lựa chọn những sự kiện lịch sử có liên quan đến các di tích lịch sử- cách mạng trong phạm vi của đề tài
Tìm hiểu cụ thể các di tích lịch sử- cách mạng ở Tuyên Quang có thể
sử dụng để phục vụ dạy học phần Lịch sử Việt Nam từ 1945- 1954 lớp 12 trung học phổ thông ( Chương trình chuẩn)
Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng các biện pháp sư phạm đã đề xuất trên cơ sở đó rút ra kết luận về tính khả thi của biện pháp sư phạm được tiến hành trong luận văn
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 185.1 Cơ sở phương pháp luận của đề tài: Là lý luận của chủ nghĩa Mác,
LêNin, Đảng cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đào
tạo và giáo dục lịch sử
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Nghiên cứu tài liệu: đọc, sưu tầm và phân tích những tài liệu từ sách báo, tạp chí, Internet… về lý luận phương pháp dạy học, đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là lý luận về phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử trong đó có sử dụng di tích lịch sử - cách mạng
5.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Phương pháp quan sát: Dự giờ để thu thập thông tin, đánh giá khách quan tình hình dạy học Lịch sử ở trường THPT
Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Tìm hiểu thực trạng dạy học lịch sử
sử dụng di tích lịch sử- cách mạng trong dạy học Lịch sử ở trường trung học phổ thông, về thái độ của học sinh với môn học và nguyên nhân ảnh hưởng đến thái độ học tập môn Lịch sử
Thực nghiêm sư phạm: Soạn bài, tiến hành thực nghiệm sư phạm một bài lịch sử cụ thể ở trường THPT Nguyễn Văn Huyên trong đó có sử dụng di tích lịch sử- cách mạng một cách hợp lý
Sử dụng toán học thống kê để xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm
6 Giả thuyết khoa học
Hiệu quả dạy học lịch sử dân tộc ở trường THPT sẽ được nâng cao nếu được sử dụng các hình thức, biện pháp có sử dụng di tích lịch sử- cách mạng đặc biệt trong giai đoạn từ 1945 đến 1954 lớp 12 THPT
7 Đóng góp của luận văn
Khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng di tích lịch sử- cách mạng trong dạy học lịch sử dân tộc nói chung và giai đoạn 1945 đến 1954 nói riêng
Phác họa bức tranh về thực tiễn sử dụng di tích lịch sử- cách mạng trong dạy học lịch sử dân tộc ở các trường THPT tỉnh Tuyên Quang hiện nay
Trang 19Xác định được các di tích lịch sử- cách mạng cần khai thác trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 ở trường THPT tỉnh Tuyên Quang
Đề xuất các hình thức, biện pháp sử dụng di tích lịch sử- cách mạng trong dạy học phần lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 lớp 12 ở trường THPT tỉnh Tuyên Quang
8 Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu đề tài có ý nghĩa quan trọng về khoa học và thực tiễn
8.1 Ý nghĩa khoa học
Góp phần làm phong phú thêm lí luận về sử dụng di tích lịch sử- cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường THPT
8.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn giúp bản thân và đồng nghiệp có thể
vận dụng vào thực tiễn dạy học lịch sử để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, khuyến nghị, phụ lục, tài liệu tham khảo luận văn gồm hai chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng di tích lịch sử- cách mạng ở địa phương trong dạy học Lịch sử ở trường THPT
Chương 2: Một số hình thức, biện pháp sử dụng di tích lịch sử- cách mạng ở địa phương trong dạy học lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 lớp 12 THPT tỉnh Tuyên Quang (Chương trình chuẩn) Thực nghiệm sư phạm
Trang 201.1.1 Di tích lịch sử - cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường THPT
1.1.1.1 Quan niệm về di tích và di tích lịch sử- văn hóa
Về tên gọi chung, hiểu theo ý nghĩa ban đ
ầu thì di tích là những “dấu vết, mảnh vụn” còn sót lại của các thời đại
trước gắn liền với những nhân vật, sự kiện, hiện tượng, biến cố lịch sử Ta cũng dễ dàng nhận thấy, từ xa xưa nhiều nước trên thế giới đã đặt tên chung
cho di tích lịch sử là dấu tích, dấu vết còn lại Tiếng Pháp viết vestiges, tiếng Anh cũng viết vestiges,tiếng Nga viết pomiatnik, tiếng Trung Quốc viết cổ
tích
Quá trình nghiên cứu di tích đã được các nhà sử học quan tâm từ rất lâu
và đưa ra nhiều khái niệm khác nhau:
Theo “Tự điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam (Xuất bản
năm 2006 thì: “Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử”
Theo hiến chương Vơnije- Italia năm 1946 thì di tích bao gồm “ những công trình xây dựng riêng lẻ, những khu di tích ở đô thị hay nông thôn, là bằng chứng của một nền văn minh riêng biệt, của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay là một biến cố về lịch sử” [12- Tr50] Điều này cho phép chúng ta khẳng
định rằng di tích là những công trình có thật, là sản phẩm vật chất do con người sáng tạo ra cùng với cuộc sống lao động của mình Di tích được phân
bố ở khắp mọi nơi, bất kỳ đâu mà con người đã và đang sinh sống
Còn theo luật di sản văn hóa của nước ta, Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kỳ họp thứ IX, Quốc hội khóa X thông qua ngày 29/
6/ 2001 quy định “ di tích là công trình được xây dựng, địa điểm và các di
Trang 21vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học [12- tr 53] Gọi chung là di tích lịch sử-văn hóa vì chúng
do con người (tập thể hoặc cá nhân ) hoạt động sáng tạo lịch sử,con người hoạt động văn hóa mà hình thành nên Văn hóa ở đây bao gồm cả văn hóa vật chất, văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần
Theo pháp lệnh bảo vệ và sử dụng tích lịch sử -văn hóa và danh lam thắng cảnh, công bố ngày 4/4/1984 thì di tích lich sử- văn hóa được quy định
như sau; “Di tích lịch sử -văn hóa là những công trình được xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật, cũng như có giá trị văn hóa khác, hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa xã hội.”[24- Tr 32]
Theo đại từ điển tiếng Việt: “Di tích lịch sử - văn hóa là tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay văn hóa được lưu lại.”
Theo luật di sản văn hóa Việt Nam 2001 Điều 4 Chương 1 thì : “Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.”
Theo luật di sản văn hóa được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 18 tháng 5 năm 2009
có nêu :Di tích lịch sử - văn hóa là: “Công trình xây dựng, địa điểm gắn với
sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương; thân thế
và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử, địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu.Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật của giai đoạn đó ở một địa điểm cụ thể, nhất định.”
Trang 22Trên góc độ khoa học, giáo trình của trường Đại học Văn hóa đã đưa ra
định nghĩa khái quát như sau: “ Di tích lịch sử - văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử,
do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại” [16- Tr 24]
1.1.1.2 Di tích lịch sử- cách mạng và cách phân loại
Lịch sử là bản thân hiện thực khách quan, với tất cả những sự kiện lớn nhỏ đã xảy ra, tạo nên một quá khứ nối tiếp nhau qua các thời kỳ Hiện thực khách quan này là có thể nhận thức được Lịch sử loài người bắt đầu từ khi con người xuất hiện, xã hội hình thành Trải qua hàng triệu năm đấu tranh
vì sự sinh tồn và phát triển, từ khi xuất hiện con người tối cổ đến ngày nay, lịch sử đã để lại những dấu vết, minh chứng cho quá khứ có thật của mình
Một trong những dấu vết quan trọng đó là di tích lịch sử Hay nói một cách
khác, trong tiến trình lịch sử, con người đã sáng tạo ra những sản phẩm văn hoá đặc trưng cho thời đại mình hoặc người đời sau tạo dựng nên nhằm tưởng niệm những gì đã qua Những sản phẩm của lịch sử đó còn lưu lại đến nay
cũng được coi là di tích lịch sử, mang tính chất bằng chứng (temoignage) của lịch sử: “Bằng chứng là những dấu vết của dĩ vãng còn để lại nhằm mục đích bảo tồn quá khứ hoặc chỉ dẫn cho hậu thế về những sự việc xảy ra trong quá khứ” [43- Tr154]
Một công trình kiến trúc có giá trị được gìn giữ lại, một bức hoạ khắc trên vách đá do người nguyên thuỷ để lại, nơi họp hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản, quyết định những vấn đề chiến lược cách mạng cho đất nước trong thời kỳ hoạt động bí mật…người ta đều có thể gọi chúng là di tích lịch sử
Bởi vì, chúng đều là sản phẩm của lịch sử để lại Vậy, di tích lịch sử là những dấu vết, những chứng tích vật chất ghi lại, phản ánh một sự kiện, nhân vật hoặc quá trình lịch sử đã qua Di tích lịch sử thuộc phạm trù di tích lịch sử- văn hoá
Trang 23Ở đây, khái niệm di tích lịch sử được sử dụng với thời gian, tính từ khi
xã hội loài người bắt đầu phân chia giai cấp, có nhà nước, có chữ viết của mình Nó còn chỉ những nơi ghi dấu sự hoạt động sáng tạo (của tập thể hoặc nhân vật lịch sử, danh nhân văn hoá) góp phần thúc đẩy lịch sử phát triển Giới hạn như vậy là vì bước sang thời đại văn minh, tri thức loài người được phân chia ra nhiều ngành khoa học khác nhau, trong đó có ngành khoa học lịch sử
Mỗi dân tộc, mỗi đất nước có những đặc điểm lịch sử riêng, ghi dấu lại trong những di tích lịch sử của mình Sự ghi dấu ấy có khác nhau về số lượng,
sự phân bố và nội dung giá trị lưu giữ ở mỗi di tích nhưng tựu chung lại, loại hình di tích lịch sử thường bao gồm các loại sau:
- Loại di tích ghi dấu về dân tộc học: Đó là những nơi ghi dấu về sự ăn,
ở, sinh hoạt của các tộc người nguyên thuỷ còn để lại (Ví dụ như nơi ăn, ở, sinh hoạt của tộc người Rục trên dãy Trường Sơn, phía Tây Quảng Trị, mới phát hiện sau năm 1975) Đó là những quần thể kiến trúc điển hình của các gia đình dân tộc ít người Tày, Nùng, Dao, Thái, Bana, Êđê, quần thể kiến trúc điển hình của các gia đình nông dân, thợ thủ công người Việt cư trú ở các miền trung, đồng bằng Trong đó bao gồm nơi thờ cúng tổ tiên, nơi ăn, nghỉ, sinh hoạt, nơi sản xuất thủ công, vườn cây…Đó là những ngôi nhà cổ của các gia đình thợ thủ công ở thành phố, chuyên sản xuất bán hang thủ công mỹ nghệ ( Như: phố Hàng Bạc- Hà Nội, phố cổ Hội An…)
- Loại di tích ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, tiêu biểu có ý nghĩa quyết định chiều hướng phát triển của đất nước, của địa phương Chẳng hạn
như bến Bình Than, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Hưng, nơi trước đây vua tôi nhà Trần họp hội nghị bàn kế đánh giặc Nguyên giữ nước; ở thời kỳ hiện đại như các thôn Vườn Trầu huyện Hóc Môn Thành phố Hồ Chí Minh, nơi diễn
ra Hội nghị Trung ương đảng lần thứ 6 (1939), quyết định chuyển hướng chiến lược cho cách mạng Việt Nam
Trang 24- Loại di tích ghi dấu chiến công chống xâm lược như Bạch Đằng, Chi
Lăng, Ngọc Hồi, Đống Đa, Điện Biên Phủ…Ở nước ta từ xưa cho đến nay, chiến đấu bảo vệ độc lập của tổ quốc thời nào cũng có nên di tích lịch sử về loại này vô cùng phong phú, phân bố rộng khắp
- Loại di tích ghi dấu những kỷ niệm của các anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá Như, nhà số 90 phố Thợ Nhuộm (Hà Nội), nơi đồng chí Trần
Phú, Tổng bí thư đầu tiên của Đảng viết Bản Luận cương chính trị, Khu di tích phủ Chủ tịch…
- Loại hình di tích ghi dấu sự vinh quang lao động: Đó là những nơi ăn,
ở, làm việc, nghiên cứu của các nhà bác học, các anh hung vĩ đại đã cống hiến nhiều phát minh, sáng kiến khoa học Thành quả lao động của họ có ý nghĩa lớn lao đối với thời đại, đối với lịch sử…
- Loại di tích ghi dấu tội ác của đế quốc và phong kiến: Đó là những
nhà tù, trại giam do đế quốc, phong kiến dựng lên để giam cầm, giết hại các chiến sĩ cách mạng Đó là những nơi diễn ra sự khủng bố, thảm sát của đế quốc đối với hang loạt nhân dân vô tội và chiến sĩ cách mạng kiên trung
Di tích lịch sử-cách mạng được chia ra làm 5 loại:
- Loại di tích lưu niệm về nhân vật lịch sử Ở đây không đặt vấn đề lưu
niệm về anh hùng dân tộc, bởi vì thời đại mới, những người đạt thành tích xuất sắc trong một lĩnh vực hoạt động nào đó là có thể được phong anh hùng
Họ có thể được trưng bày ở một viện bảo tàng nào đó còn di tích lưu niệm về
họ thì họ chưa đạt đến sự cần thiết xây dựng nhà lưu niệm
- Loại di tích ghi dấu chiến công cách mạng, kháng chiến Loại di tích
này có thể tính từ Phay Khắt, Nà Ngần, chiến công đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam Rồi nối tiếp, các cuộc kháng chiến chống Pháp và chống
Mĩ xâm lược, di tích ghi dấu chiến công từ Trung ương đến tỉnh, địa phương quản lý có thể tính đến con số hàng nghìn, phân bố khắp mọi miền đất nước
- Loại di tích ghi dấu hoạt động cách mạng, kháng chiến Ví dụ: nhà số
5D Hàm Long (Hà Nội), nơi thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên của Đảng, hay
Trang 25nhà số 38 phố Lý Thái Tổ, nơi Bác Hồ đã ký với Pháp bản hiệp định sơ bộ 6/3/1946…
- Loại di tích ghi dấu tội ác của đế quốc, phong kiến Đó là các nhà tù,
trại giam do đế quốc dựng lên Chẳng hạn như nhà tù Côn Đảo, Hỏa Lò…
- Loại di tích ghi dấu sự vinh quang lao động
Như vậy, di tích lịch sử-cách mạng bao gồm nhiều loại hình di tích kể
trên Đây chính là những “dấu vết”, “mảnh vụn” của quá khứ gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
1.1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng di tích trong dạy học Lịch sử nói chung và giai đoạn từ 1945 đến 1954 nói riêng
Vai trò
Nguyên tắc trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản của lý luận dạy học nhằm tạo cho học sinh những biểu tượng và hình thành các khái niệm trên cơ sở trực tiếp quan sát hiện vật đang học hay những đồ dùng trực quan minh họa về sự vật K Đ.U- sin- xki gọi nguyên tắc trực quan là cách học không chỉ dựa vào lời nói mà còn dựa vào những hình ảnh cụ thể mà học sinh trực tiếp thu nhận được
Trong giảng dạy và học tập lịch sử, phương pháp trực quan lại càng có
vị trí quan trọng Cho nên, để có hình ảnh lịch sử cụ thể làm cơ sở cho việc nhận thức quá khứ, cần phải sử dụng đồ dùng trực quan bên cạnh việc sử dụng các phương pháp, phương thức và phương tiện dạy học khác Đặc biệt là
sử dụng di tích lịch sử-cách mạng rất có ưu thế trong dạy học lịch sử, giúp học sinh nhận thức lịch sử một cách đầy đủ nhất, làm cho các em có cảm giác như đang được trực tiếp chứng kiến lịch sử
Mục đích của việc học tập lịch sử ở trường phổ thông là “phải khơi dậy được lòng tự hào của dân tộc Việt Nam, của con người Việt Nam, làm cho học sinh hiểu được truyền thống, ý chí tự lập, tự cường của dân tộc, là phải khắc vào trí nhớ của học sinh những tình cảm cách mạng, ý chí dời non lấp biển và những thành tựu huy hoàng của nhân dân ta trong lao động sản xuất,
Trang 26trong sự nghiệp xây dựng cuộc đời tự do độc lập của mình chứ không phải chủ yếu là khắc vào đấy những tháng năm, những sự kiện một bài sử…” (Lê
Duẩn, Bài nói ở trường cấp hai Quảng An ngày 14-5-1966)
Theo Comenxki: “Lời nói là cái vỏ ngoài, sự vật là cái hột ở trong Lời nói là cái áo khoác ngoài sự vật là thân thể Nghiên cứu sự vật không phải chỉ dựa vào những cái mà chính mắt mình nhìn tai mình nghe, mũi mình ngửi, lưỡi mình nếm và chính tay mình sờ” [27- Tr 92] Còn đồ dùng trực
quan, đặc biệt di tích lịch sử-cách mạng, là chỗ dựa để hiểu sâu sắc bản chất của sự kiện lịch sử, là phương tiện rất có hiệu lực để hình thành các khái niệm lịch sử quan trọng nhất, làm cho học nắm vững quy luật của sự phát triển xã hội
Là những dấu vết của lịch sử còn lưu lại đến ngày nay, di tích lịch cách mạng phản ánh những hoạt động, đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của con người gắn liền với sự ra đời và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam:
sử-“Bất cứ thời đại nào, với trình độ phát triển mọi mặt của nó đều được phản ánh khá rõ trong các di tích lịch sử cách mạng Vì vậy, di tích lịch sử cách
mạng là những tấm gương soi của lịch sử, là hơi thở của lịch sử đương thời” [16- Tr 171]
Ý nghĩa
Những di tích lịch sử- cách mạng này là nguồn kiến thức lịch sử có ý
nghĩa rất lớn về mặt giáo dục, giáo dưỡng và phát triển tư duy cho học sinh
* Hình thành kiến thức
Trong dạy học lịch sử, di tích lịch sử-cách mạng không phải là phương tiện chỉ để minh họa, để tăng tính cụ thể của bài giảng mà còn chứa đựng một nguồn kiến thức, đó là nguồn tài liệu phong phú cho việc nhận thức lịch sử, giúp cho quá trình nhận thức được hoàn thiện hơn
Trước hết, di tích lịch sử- cách mạng có ý nghĩa to lớn đối với việc hình thành kiến thức lịch sử và tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh Sử dụng di tích lịch sử cách mạng có vị trí đặc biệt quan trọng đối với việc khôi phục, tái tạo
Trang 27quá khứ lịch sử Bởi vậy, di tích lịch sử cách mạng sẽ đảm bảo cho học sinh thu nhận được hiện thực lịch sử “thông qua hệ thống tín hiệu thứ nhất” hay nói cách khác là “trực quan sinh động với quá khứ” Nó là nguồn sử liệu vật chất quý hiếm, có khả năng cung cấp nhiều kiến thức lịch sử cụ thể, chính xác Làm việc với di tích lịch sử cách mạng, học sinh đã thực sự “làm việc” với một nguồn sử liệu Các em phải giải quyết nhiều vấn đề, huy động các kỹ năng, vận dụng nhiều kiến thức có liên quan đến di tích lịch sử cách mạng để nhận thức sâu sắc các sự kiện lịch sử hơn Vì vậy, thông qua việc tiếp xúc với
di tích lịch sử cách mạng, các hiện vật, tranh ảnh về di tích… sẽ làm cho học sinh nhanh chóng tiếp thu được kiến thức cơ bản của bài học, tạo được biểu tượng lịch sử chân xác nhất trong óc học sinh
Ví dụ: Thông qua các tư liệu tham khảo, tranh ảnh về di tích hoặc trực
tiếp quan sát di tích lịch sử cách mạng: Cầu Cả, Hang Bòng,…, kết hợp với lời giảng của giáo viên, học sinh sẽ có những biểu tượng lịch sử cụ thể, sinh động về thời kỳ 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp từ 1945-1954
Bên cạnh đó, di tích lịch sử-cách mạng còn có vai trò lớn trong việc giúp cho học sinh nhớ kỹ, hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức, những
tư tưởng thu nhận được Nói cách khác nó giúp học sinh tiếp nhận kiến thức nhanh, bền vững, tránh hiện đại hóa lịch sử
Mặt khác, thông qua việc tìm hiểu các di tích lịch sử-cách mạng ở Tuyên Quang thời kỳ 1945-1954 còn trang bị thêm cho học sinh những hiểu biết về lịch sử địa phương mình, thấy được vai trò, vị trí, ý nghĩa cuộc kháng chiến của nhân dân Tuyên Quang trong lịch sử dân tộc
Ví dụ: Khi dạy bài 19 “ Bước phát triển của cuộc kháng chiến toàn
quốc chống thực dân Pháp ( 1951- 1953) ” ở mục II “Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng ( 2- 1951)”, nếu giáo viên chỉ dạy theo lối cổ truyền, thầy đọc trò chép mà không sử dụng các phương tiện trực quan thì học sinh không thể nhớ được các nội dung cũng như ý nghĩa của đại hội Còn khi dạy mục này, giáo viên sử dụng tranh ảnh, tư liệu tham khảo về các di tích
Trang 28“Bức hình 51 SGK trang 141: Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng (2- 1951)” kết hợp hướng dẫn học sinh quan sát với lời giảng của giáo viên, học sinh sẽ thấy được vai trò quan trọng của Đại hội trong kháng chiến chống Pháp, cũng như vai trò quan trọng của nhà lãnh đạo thiên tài mà đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh
Đồng thời, di tích lịch sử-cách mạng còn góp phần cụ thể hóa các sự kiện lịch sử gắn liền với sự lãnh đạo trưởng thành, lớn mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là giai đoạn lịch sử 1945- 1954 Các em không chỉ tiếp nhận các tri thức lịch sử ở nhà trường, trong sách giáo khoa mà cả ở ngoài xã hội, ở mỗi di tích lịch sử-cách mạng
Ví dụ: Sau khi học xong Chương II “Lịch sử Việt Nam 1945-1954”,
giáo viên đưa học sinh đi tham quan di tích lịch sử-cách mạng: Cụm di tích ATK Thông qua, việc quan sát các di tích lịch sử học sinh trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang cảm thấy thêm tự hào vì là những người con trên mảnh đất anh hùng Hay nói cách khác, di tích này đã góp phần minh họa, cụ thể hóa những kiến thức lịch sử về tội ác của Pháp học sinh được học trên lớp Điều mà 45
phút của giờ học nội khóa trên lớp không thể cung cấp hết được
* Kỹ năng
Sử dụng di tích lịch sử-cách mạng sẽ góp phần phát triển óc quan sát, trí tưởng tượng và tư duy, ngôn ngữ cho học sinh Khi giáo viên cho học sinh quan sát bất kỳ một bức tranh nào về các di tích, hay hướng dẫn học sinh học tập tại di tích lịch sử-cách mạng thì học sinh cũng có khả năng nhận xét, phán đoán, hình dung quá khứ lịch sử được phản ánh, minh họa, suy nghĩ và diễn đạt bằng lời nói chính xác, có hình ảnh rõ ràng, cụ thể bức tranh xã hội đã qua Từ đó, rèn luyện khả năng diễn đạt nói, phát triển ngôn ngữ cho học sinh
Ví dụ: Khi dạy bài 18 phần IV mục 1 “Chiến dịch biên giới thu đông
1950”, trên cơ sở giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát bức ảnh hình 49: Bác
Hồ thăm một đơn vị tham gia chiến dịch biên giới thu đông 1950”, các em sẽ biết phân tích, nhận xét về bức tranh, hình dung được quá khứ lịch sử, hiểu
Trang 29được những ngày tháng khó khăn đầu năm 1950 của Đảng, Chính phủ và nhân dân ta phải chống chọi với sự tấn công ác liệt của thực dân Pháp để từ
đó có thể rút ra được ý nghĩa của chiến dịch cũng như vai trò của Trung ương Đảng mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh
* Tình cảm, tư tưởng
Sử dụng tư liệu, hiện vật, tranh ảnh về di tích lịch sử cách mạng không chỉ có tác dụng bồi dưỡng nhận thức mà còn có tác dụng quan trọng trong việc giáo dục tưởng, tình cảm, đạo đức sâu rộng cho học sinh
Việc giáo dục truyền thống, đạo đức đòi hỏi bài giảng phải sinh động hơn, kết hợp nhiều hình thức, phương pháp lôi cuốn, kết hợp giữa nhà trường
và xã hội, trong đó có việc sử dụng di tích lịch sử cách mạng
Di tích lịch sử là một phương tiện có hiệu quả trong việc giáo dục truyền thống yêu nước và ý thức trách nhiệm cho học sinh Từ đó, tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của học sinh làm cho các em “cảm thấy màu sắc của thời đại, sống lại những cảm giác đặc biệt của ngày xưa xa xôi”, bồi dưỡng cho học sinh lòng yêu quê hương, đất nước, các em sẽ thấy được trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ những thành quả mà cha ông ta đã đổ biết bao nhiêu mồ hôi, xương máu mới giành được Và khi tham quan các di tích lịch sử-cách mạng, học sinh sẽ hiểu sâu sắc hơn những bài học cụ thể đã được nêu lên về lòng yêu nước, trung thành với Tổ quốc
Ví dụ : Khi học chương II “Lịch sử Việt Nam 1945-1954”, học sinh sẽ
được tiếp cận với các di tích lịch sử như: Hang Bòng, Trụ sở ATK Tại Kim Quan, hầm làm việc của Bác Hồ tại xã Kim Quan… Trên cơ sở quan sát và tiếp thu sự trình bày của giáo viên về các di tích, học sinh không chỉ lĩnh hội một cách sâu sắc toàn bộ tiến trình lịch sử dân tộc từ 1945-1954 mà những di tích lịch sử này còn giáo dục cho học sinh lòng yêu nước, trân trọng cuộc sống hòa bình các em đang có, ý thức trách nhiệm giữ gìn thành quả độc lập,
tự do cha ông đã phải đổ biết bao mồ hôi, xương máu mới giành được
Trang 30Hơn nữa, một nội dung khác của ý nghĩa giáo dục và việc sử dụng di tích lịch sử-cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường THPT là bồi dưỡng cho học sinh ý thức tôn trọng, bảo vệ di tích lịch sử Nhờ đó, học sinh sẽ thấy giờ học không nhàm chán, khô khan, các em phát huy được tính tích cực của mình trong việc tiếp nhận kiến thức
Như vậy, ý nghĩa giáo dục của việc sử dụng di tích lịch sử-cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường THPT là phát huy ưu thế, sở trường của bộ môn trong việc góp phần giáo dục thế hệ trẻ truyền thống đạo đức, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
Với tất cả ý nghĩa giáo dưỡng, giáo dục và phát triển đã phân tích ở trên, sử dụng di tích lịch sử-cách mạng nhất là giai đoạn 1945- 1954 sẽ nâng cao chất lượng và hiệu suất giảng dạy, học tập lịch sử ở trường phổ thông, gây hứng thú cho học sinh với việc tìm hiểu quá khứ lịch sử vẻ vang của dân tộc
1.1.2 Xuất phát điểm của vấn đề sử dụng di tích lịch sử- cách mạng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
1.1.2.1 Mục tiêu giáo dục của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông
Mục tiêu giáo dục của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông được xây dựng trên cơ sở lý luận và thực tiễn, thể hiện tập trung ở việc quán triệt mục tiêu chung của giáo dục phổ thông, thông qua chức năng, nhiệm vụ, đặc trưng, nội dung của môn học và tình hình, nhiệm vụ cụ thể của đất nước trong những điều kiện cụ thể
Mục tiêu giáo dục trường phổ thông quán triệt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục, yêu cầu của từng giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội của đất nước đối với giáo dục
Luật giáo dục được Quốc hội thông qua năm 2005 đã nêu: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm của công
Trang 31dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc”
Là một bộ môn khoa học xã hội, môn Lịch sử trường THPT phải thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Giáo dưỡng, cung cấp những kiến thức cơ bản của khoa học lịch sử
trên cơ sở củng cố, phát triển nội dung kiến thức lịch sử đã học ở trung học cơ
sở, hợp thành nội dung giáo dục lịch sử ở bậc trung học phổ thông Cụ thể, nhiệm vụ giáo dưỡng trong mục tiêu của môn Lịch sử ở trường THPT là cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản bao gồm: sự kiện lịch sử cơ bản, các khái niệm, thuật ngữ, tên người, tên đất, niên đại, những hiểu biết về quan niệm lí luận đơn giản, những vấn đề về phương pháp nghiên cứu và học tập, phù hợp với yêu cầu và trình độ học sinh
- Giáo dục, với đặc trưng riêng của bộ môn, lịch sử là môn học rất có
ưu thế trong việc giáo dục đạo đức, tư tưởng, tình cảm cho học sinh Giáo dục quan điểm tư tưởng, lập trường, phẩm chất đạo đức, nhân cách, tình cảm thông qua học tập lịch sử là một yêu cầu quan trọng cần chú ý thực hiện Tri thức lịch sử không chỉ có tác dụng giáo dục trí tuệ mà cả tình cảm, tư tưởng, góp phần đào tạo con người Việt Nam toàn diện
- Về nhiệm vụ phát triển, rèn luyện năng lực tư duy và thực hành trên
cơ sở hoàn chỉnh và nâng cao những năng lực đã được hình thành ở trường THCS Cụ thể là bồi dưỡng: Tư duy biện chứng trong nhận thức và hành động, biết phân tích, đánh giá, liên hệ; Kỹ năng học tập và thực hành bộ môn:
sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu tham khảo khác, khả năng trình bày nói
và viết, làm và sử dụng một số đồ dùng trực quan, nhất là loại đồ dung trực quan quy ước, những hoạt động ngoại khóa của môn học; Vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống hiện nay
Các nhiệm vụ trên được hình thành và củng cố tạo ra 4 năng lực chủ yếu nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục và phát triển con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta Đây cũng là những năng lực phù hợp
Trang 32với yêu cầu của sự phát triển kinh tế- xã hội của khư vực và toàn cầu khi bước vào thế kỷ XXI Đó là: năng lực hành động, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp, ứng xử và năng lực tự khẳng định mình
Để thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của bộ môn, người giáo viên phải vận dụng một cách đa dạng, linh hoạt, sáng tạo các phương pháp dạy học trong đó có phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan, đặc biệt là sử dụng di tích lịch sử- cách mạng Đó là điều kiện cần thiết nhằm đạt được mục tiêu giáo dục theo quan điểm của Đảng ta
1.1.2.2 Đặc trưng của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông
Lịch sử mang tính quá khứ, bao gồm những sự kiện, hiện tượng đã xảy
ra, nó tuân thủ theo tiến trình thời gian Chúng ta phải tiếp nhận lịch sử một cách gián tiếp thông qua các tài liệu được lưu lại Việc nhận thức lịch sử đối với học sinh có những nét đặc trưng, học sinh tiếp thu kiến thức lịch sử thông qua việc cung cấp các sự kiện tạo biểu tượng lịch sử của giáo viên trong mỗi giờ giảng mà không thể cho học sinh “trực quan sinh động” những sự kiện xảy ra
Bên cạnh đó, lịch sử mang tính không lặp lại về không gian và thời gian Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra trong một không gian và thời gian nhất định, chỉ xảy ra một lần duy nhất Không có một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào hoàn toàn giống nhau, dù có điểm giống nhau, lặp lại mà là sự kế thừa “lặp lại trên cơ sở không lặp lại” Chính điều đó đã gây nên những trở ngại trong việc giáo viên cung cấp kiến thức cho học sinh nhớ sự kiện lịch sử
Lịch sử có tính cụ thể, là khoa học nghiên cứu tiến trình lịch sử cụ thể các nước,các dân tộc khác nhau và quy luật của nó, nên khi trình bày các sự kiện lịch sử rất cần phải cụ thể, sinh động Đây cũng là một điểm khó của lịch
sử, đòi hỏi giáo viên cần phải chú ý khi dạy học lịch sử, không chỉ học sinh biết đến thời gian một cách máy móc, tên địa danh, nơi xảy ra sự kiện, tên nhân vật làm nên sự kiện đó mà cần giúp các em hiểu các yếu tố đó đã chi phối, ảnh hưởng như thế nào đối với sự kiện, mỗi yếu tố đó đã có ý nghĩa
Trang 33quan trọng nhất đinh đối với những sự kiện có liên quan đã xảy ra
Trong thực tế, có rất nhiều người quan niệm rằng học lịch sử chỉ là nhớ các sự kiện, thời gian, địa danh, nhân vật…Nhưng đó không phải là mục đích cuối cùng của việc học tập lịch sử Lịch sử là môn học đòi hỏi cao việc phát huy tư duy sáng tạo của học sinh trong việc nắm bắt bản chất của sự kiện lịch
sử Tuy vậy, cũng cần phải khẳng định rằng việc phát triển tư duy, đặc biệt là
tư duy sáng tạo để tìm ra mối liên hệ bản chất bên trong của các sự kiện, hiện tượng lịch sử trong dạy học lịch sử là một vấn đề khó Khó ở chỗ do đặc trưng của bộ môn luôn xuất phát từ những sự kiện cụ thể
Để thực hiện được yêu cầu này, người giáo viên lịch sử phải vận dụng nhuần nhuyễn nhiều phương pháp dạy học, trong đó đồ dùng trực quan nhất là các đồ dùng trực quan hiện vật (các di tích lịch sử-cách mạng) góp một phần không nhỏ quyết định thành bại việc cung cấp kiến thức cho học sinh Nó giúp các em không chỉ “biết” mà còn hiểu lịch sử đã diễn ra như thế nào một cách chân thực nhất, sống động nhất
1.1.2.3 Đặc điểm tâm lý và nhận thức lịch sử của học sinh THPT (lớp 12)
Đặc điểm nhận thức lịch sử của học sinh
Quá trình nhận thức của học sinh cũng tuân theo quá trình nhận thức chung của loài người từ “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” và từ
“tư duy trừu tượng đến thực tiễn” Đó là con đường biện chứng của sự nhận
thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan”
Không nằm ngoài quá trình nhận thức chung đó, trong học tập lịch sử, học sinh cũng trải qua các giai đoạn nhận thức từ thấp đến cao Đặc trưng của
bộ môn lịch sử không cho phép học sinh được quan sát trực tiếp các sự kiện, hiện tượng lịch sử mà chủ yếu là nhận thức gián tiếp thông qua quan sát, tri giác các tài liệu, hiện vật được lưu lại Vậy, trong “trực quan sinh động” thì tài liệu đóng vai trò quan trọng nhất đối với sự quan sát, tri giác của học sinh Thông thường, ở trường phổ thông, “tài liệu” giúp học sinh tri giác sự kiện, hiện tượng lịch sử là lời giảng của thày, đồ dùng trực quan và sách giáo khoa
Trang 34Đây là các “tài liệu” có tính chất nền tảng cho tri giác của học sinh Học sinh buộc phải thực hiện các thao tác đơn giản như nghe, quan sát, tri giác tài liệu
sự kiện lịch sử để từ đó hình dung lại, tưởng tượng, tái tạo các sự kiện đã diễn
ra trong quá khứ Tiếp đó, để hoàn thành quá trình nhận thức lịch sử, học sinh phải chuyển sang giai đoạn nhận thức cao hơn, nhận thức lý tính, với các thao tác của tư duy như so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa, phân tích, tổng hợp… Các em sẽ tìm ra được những dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng Cuối cùng, qua quá trình nhận thức, học sinh phải hiểu được các mối lien hệ bên trong của các sự kiện lịch sử, biết đánh giá, nhìn nhận chúng một cách hợp lý
Mặt khác, chúng ta cũng thấy rằng nhận thức lịch sử không thể bắt đầu bằng cảm giác trực tiếp về sự kiện mà từ những biểu tượng cụ thể tạo nên trên
cơ sở tri giác tài liệu Do đó, trong dạy học lịch sử, biểu tượng lịch sử có vai trò hết sức quan trọng Đó là những hình ảnh về sự kiện, nhân vật lịch sử, điều kiện địa lý được phản ánh trong óc học sinh với những nét chung nhất, điển hình nhất Đó cũng chính là cơ sở để hình thành các khái niệm lịch sử Không
có biểu tượng thì không có khái niệm hoặc khái niệm được xây dựng trên những biểu tượng nghèo nàn; đó là khái niệm trống rỗng, thiếu nội dung phong phú, hấp dẫn Biểu tượng lịch sử càng cụ thể, chính xác, sinh động bao nhiêu thì học sinh càng có khái niệm đúng, hiểu các sự kiện lịch sử một cách sâu sắc, chính xác bấy nhiêu Để học sinh có những biểu tượng lịch sử cụ thể, sinh động thì cần thiết phải sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với các phương tiện, phương pháp dạy học khác Phương tiện trực quan đóng vai trò rất quan trọng trong dạy học lịch sử Nó là một trong những vấn đề cơ bản của
lý luận dạy học nhằm, tạo cho học sinh các biểu tượng và hình thành khái niệm trên cơ sở trực tiếp quan sát hiện vật đang học, hay đồ dùng trực quan minh họa sự vật
Trang 35Di tích lịch sử- cách mạng là một trong những bộ phận của nguồn sử liệu vật chất chân xác nhất Nó là một loại phương tiện trực quan có giá trị góp phần tạo biểu tượng cụ thể, chân thực cho học sinh
Hơn nữa, việc sử dụng các di tích lịch sử-cách mạng trong học tập lịch
sử sẽ rèn luyện khả năng quan sát, trí tưởng tượng, phát triển tư duy và ngôn ngữ cho học sinh Để có thể hiểu được nội dung của những địa điểm đã xảy ra các sự kiện lịch sử, học sinh phải quan sát các sự vật, hiện tượng, rồi giải thích, đánh giá… đi đến rút ra những nét khái quát về bẩn chất các sự vật và hiện tượng đó… Công việc làm thường xuyên như vậy làm cho các thao tác
tư duy của học sinh được phát triển
Như vậy, phương tiện trực quan nói chung, di tích lịch sử-cách mạng nói riêng có vai trò và ý nghĩa rất lớn đối với quá trình nhận thức của học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả của bài học lịch sử Nó được xem như là
“cầu nối” giữa quá khứ và hiện tại, là “bản thông điệp của các thế hệ đã qua” Việc sử dụng các phương tiện trực quan nói chung và di tích lịch sử-cách mạng nói riêng vào giảng dạy lịch sử dân tộc, nhất là giai đoạn 1945-1954 là điều rất cần thiết
Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 12 THPT trong học tập lịch sử
Theo tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm thì học sinh ở cấp THPT(vào độ tuổi 16- 18) đang trong thời kỳ phát triển hết sức sôi động và toàn diện về mặt tâm sinh lý và hoạt động xã hội Học sinh có sự phát triển nhanh về thể lực, trong đó hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển nên các
em có trình độ hiểu biết hơn hẳn lứa tuổi học sinh THCS, có khả năng tư duy
lí luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, sang tạo Tư duy của các em chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn Đồng thời, tính phê phán của tư duy cũng phát triển
Mặt khác, có thể nói lứa tuổi học sinh THPT nói chung và học sinh lớp
12 nói riêng, so với lứa tuổi học sinh THCS, đã có những chuyển biến rõ rệt
Trang 36Các em ngày càng trưởng thành hơn, đã và đang hình thành thế giới quan riêng, đã có được hệ thống tri thức văn hóa phong phú, năng lực trí tuệ phát triển Các em ý thức được rằng, mình đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời nên thái độ của các em đối với các môn học trở nên có sự lựa chọn hơn Ở các em đã hình thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp Từ đó, cũng nảy sinh nhược điểm: một mặt, học sinh rất tích cực học một số môn được cho là quan trọng, hữu ích đối với nghề nghiệp mình đã chọn, đồng thời lại sao nhãng các môn học khác mà các em cho là không cần thiết hoặc chỉ học để đạt điểm trung bình, ít quan tâm kiểm nghiệm các kiến thức thuộc môn mình không thi Lịch sử không nằm ngoài những sự lựa chọn như vậy Xuất phát từ quan niệm này của học sinh thì giáo viên cần phải làm cho các em hiểu được ý nghĩa, chức năng của bộ môn, phân biệt được cái sai cái đúng Từ đó, điều chỉnh động cơ, thái độ học tập của minh sao cho đúng đắn
Tìm hiểu đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 12 THPT cho phép người viết có thể sử dụng những biện pháp thích hợp hướng dẫn học sinh sử dụng các di tích lịch sử cách mạng và tư liệu về di tích lịch sử cách mạng tốt nhất
để đạt được mục tiêu giáo dưỡng, giáo dục và phát triển của bộ môn
1.1.2.4 Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử
Việc đổi mới chương trình SGK hiện nay đặt ra yêu cầu bức thiết là phải đổi mới phương pháp dạy học lịch sử Đảng ta đã tổng kết trong nghị
quyết TW khóa VIII về hạn chế của giáo dục nước ta “Chất lượng và hiệu quả của giáo dục và đào tạo còn thấp, trình độ kỹ thuật, năng lực thực hành, phương pháp tư duy khoa học, trình độ ngoại ngữ và thể lực của đa số học sinh còn yếu Ở nhiều trường học sinh ra trường khả năng vận dụng kiến thức vào sản xuất và đời sống còn hạn chế” Trong đó, kĩ năng thực hành và vận
dụng kiến thức vào thực tiễn của học sinh còn yếu Qua tìm hiểu, so với một
số nước trong khu vực và trên thế giới, mặt bằng kiến thức ở trường phổ thông của chúng ta không thua kém gì họ, thậm chí còn hơi nặng và học sinh
Trang 37ta khi đua tài chất xám trong các kỳ thi quốc tế cũng khẳng định được thứ hạng cao Nhưng chúng ta lại thua họ ở kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức khoa học và năng lực hoạt động độc lập Một trong những nguyên nhân
của tình trạng trên là do: “Phương pháp giáo dục đào tạo còn chậm đổi mới, chưa phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học Giáo dục - đào tạo chưa kết hợp chặt chẽ với lao động sản xuất, nhà trường chưa gắn liền với gia đình và xã hội”
Vài năm gần đây, tại các trường phổ thông đã tiến hành đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng học tập Song, qua tìm hiểu việc đổi mới phương pháp dạy học nói chung, phương pháp dạy học lịch sử nói riêng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra, còn tồn tại những nhược điểm cơ bản như: Nhiều giáo viên chưa nhận thức được vai trò của việc kết hợp các phương pháp dạy học để phát huy tính tích cực độc lập nhận thức của học sinh trong học tập nên chưa khắc phục hoàn toàn những yếu kém cố hữu trong giảng dạy Họ chưa nắm rõ về quan điểm đổi mới phương pháp và khi vận dụng lại mang tính hình thức, rườm rà, cứng nhắc Giờ học vì thế trở nên khô khan, căng thẳng khi giáo viên liên tục hỏi đáp cho học sinh và cho rằng như vậy đó là đổi mới phương pháp dạy học Phương pháp dạy học một chiều thầy đọc trò ghi làm hạn chế năng lực nhận thức độc lập, chủ động lĩnh hội kiến thức của các em, không phù hợp với đặc điểm tâm lý nhận thức của học sinh THPT vẫn tồn tại Nội dung SGK và cách bên soạn đổi mới, song giáo viên chưa có đủ độ sâu về kiến thức
để hướng dẫn học sinh tìm ra những kiến thức chìm trong SGK Đặc biệt nhiều giáo viên lịch sử chưa hiểu hết nội dung kênh hình, nên bỏ qua hoặc hiệu quả sử dụng chưa cao… Những hạn chế đó không thể đáp ứng được yêu cầu đổi mới về phương pháp dạy học hiện nay, cũng như không hoàn thành mục tiêu giáo dục
đã đề ra Những vấn đề trên đặt ra yêu cầu bức thiết phải đổi mới phương pháp dạy học để đáp ứng việc đổi mới về nội dung và mục tiêu giáo dục đặt ra Nghị quyết hội nghị TW II, khóa VIII đã chỉ rõ ban chất của đổi mới phương pháp
“Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều,
Trang 38rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp dạy học vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên”
1.2 Một số di tích lịch sử- cách mạng ở Tuyên Quang cần khai thác, sử dụng trong dạy học Lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 lớp 12 THPT
1.2.1 Danh mục những di tích lịch sử- cách mạng ở Tuyên Quang cần khai thác, sử dụng trong giai đoạn lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1954 lớp
12 THPT
Chương/ bài Sự kiện lịch sử
Tài liệu về di tích lịch sử- cách mạng ở Tuyên
Quang Chương II- Bài 18:
Những năm đầu của
cuộc kháng chiến toàn
-Tháng 6/ 1950 Đảng và chính phủ đã họp và quyết định mở Chiến dịch Biên giới
-Trận Khe Lau
- Cây số 7 -Bến Bình Ca
Trang 39Chương II- Bài 20:
Cuộc kháng chiến toàn
Như chúng ta đã biết Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía Bắc của
Tổ quốc có 22 dân tộc cùng sinh sống từ nhiều đời nay, mỗi dân tộc có ngôn ngữ, phong tục tập quán, có vốn văn hoá dân gian riêng tạo nên sự đa dạng về bản sắc văn hoá của cộng đồng các dân tộc trên mảnh đất Tuyên Quang
Theo thống kê của Ban quản lý di tích và danh thắng Tuyên Quang tính đến tháng 8 năm 2013 tổng số di tích lịch sử- cách mạng là 520 trong đó có
117 di tích được xếp hạng quốc gia, 196 di tích được xếp hạng cấp tỉnh, 206
di tích đã lập hồ sơ đang chờ xếp hạng, 4 di tích đang lập hồ sơ năm 2013 và
có 3 di tích chưa lập hồ sơ, đã gắn biển cho 105 di tích Trong đó có những di tích đặc biệt như lán Nà Lừa, đình Tân Trào, lán Hang Bòng, Cây đa Tân Trào, di tích Chủ tịch phủ - Thủ tướng phủ, khu di tích hầm bí mật, an toàn của Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ ở Kim Quan, di tích Đại hội lần thứ II của Đảng tại Kim Bình… gắn với những sự kiện quan trọng của lịch sử dân tộc, chứa đựng các giá trị về truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng cùng các giá trị về nghệ thuật chỉ đạo quân sự tài tình của Đảng, Bác Hồ, các giá trị tâm linh cao quí phù hợp với đạo lý truyền thống dân tộc
Trang 40Những di tích cách mạng ở Tuyên Quang mãi mãi là những tượng đài trong trái tim của người Tuyên Quang và đồng bào cả nước, là sức mạnh truyền thống để thế hệ sau luôn cảm thấy tự hào về những thành quả mà cha ông ta đã gây dựng lên Đồng thời với khối lượng di tích cách mạng như vậy
sẽ là điều kiện thuận lợi cho các giáo viên không chỉ riêng ở Tuyên Quang mà giáo viên các tỉnh khác cũng có thể khai thác và sử dụng trong dạy học lịch sử
ở trường THPT
Nhưng cũng giống như nhiều nước ở trên thế giới, các di tích lịch cách mạng và kháng chiến ở Tuyên Quang đã và đang trải qua nhiều hiểm họa, bị phá hủy do thời gian ngày càng lùi xa, thiên nhiên khắc nghiệt, chiến tranh kéo dài và bản thân con người
sử-Tính đến tháng 8/2013, Sở Văn hóa- Thông tin Tuyên Quang đã nghiên cứu, lập hồ sơ khoa học và trình Bộ Văn hóa- Thông tin và Ủy ban nhân dân Thành phố xếp hạng 206 di tích, thực hiện chỉnh tranh, gắn bia lưu niệm cho
105 di tích Một số di tích cách mạng- kháng chiến đã được thành phố đầu tư kinh phí ngân sách để tu bổ, nâng cấp như: tu sửa tôn tạo Thành nhà Mạc được ký quyết định ngày 1/3/1996, ngày 3/11/2011 Bộ Văn hóa thể thao và
du lịch đã ký quyết định cấp hơn 4,77 tỷ đồng để tu bổ xây dựng lại Đình Tân Trào, Đình Hồng Thái, Đình Thanh La… Trong tổng số 447 di tích lịch sử cách mạng các thời kỳ, đến nay hầu hết các di tích đã được dựng bia, làm nhà bia, ghi lại dấu ấn thời kỳ chính phủ, bác Hồ, các bộ, ngành trung ương đã ở, làm việc lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Đã hoàn thành phục hồi, tu bổ, tôn tạo và đặt bia 66 di tích tại khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Tân Trào; 15 di tích tại cụm di tích ATK - Kim Quan; 29 di tích tại cụm di tích Kim Bình - Kiên Đài (Chiêm Hóa); tu bổ, chống xuống cấp đình Tân Trào, đình Hồng Thái, đình Thanh La (Sơn Dương) Riêng trong năm
2013, ngành đã triển khai lập dự án đầu tư bảo vệ, phục hồi, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng và kháng chiến trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, giai đoạn
2013 - 2015; phục hồi, bảo tồn, tôn tạo khu di tích lịch sử cách mạng Lào,