ĐẶT VẤN ĐỀ Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, là tài nguyên của Quốc gia. Bảo vệ sức khỏe cho cộng đồng dân cư không chỉ là trách nhiệm của mọi người, mỗi gia đình mà còn là của toàn xã hội. Trong các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, tình trạng nhiễm giun là một trong những yếu tố tác động đến tình hình sức khỏe cả trong hiện tại và tương lai. Theo thông báo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hiện nay có 3/4 dân số thế giới bị nhiễm giun. Tùy từng vùng, từng khu vực mà có tỷ lệ nhiễm giun khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lứa tuổi, giới, nghề nghiệp, địa lý, khí hậu, tập quán, vệ sinh, điều kiện kinh tế, sự hiểu biết về tác hại và biện pháp phòng chống… Theo tác giả Nguyễn Vĩnh Niên thì có đến 95% số người mang mầm bệnh giun sán. Kết quả điều tra năm 1998 thì hiện nay nước ta khoảng 60 triệu người nhiễm giun, trong đó 47% là trẻ em. Nhiễm giun đường ruột làm cho cơ thể giảm hấp thu dinh dưỡng, gây thiếu máu, tắc ruột, suy dinh dưỡng…làm giảm thể chất và tinh thần, giảm khả năng lao động và có thể dấn đến tử vong. Một đặc điểm đáng sợ nhất là sự lây lan của chúng trong cộng đồng theo nhiều đường khác nhau và gây lệch âm thầm, lặng lẽ, kéo dài hàng tháng, hàng năm gây nên những hội chứng năng nề nếu chúng ta không phát hiện và xử lý kịp thời. Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới nên điều kiện thuận lợi cho các loại giun tròn tồn tại và phát triển. Theo điều tra của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng (1998) cho thấy, trẻ em là đối tượng nhiễm giun đường ruột khác cao. Các loại giun đường ruột mà trẻ em hay mắc là: Giun đũa, Giun móc, Giun tóc, Giun kim. Số trẻ em nhiễm phối hợp 2 đến 3 loại cũng chiếm tỷ lệ cao. Chính vì vậy, lệch giun tròn đường ruột được xác định là một vấn đề sức khỏe ưu tiên của cộng đồng. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà được Đảng và Nhà nước quan tâm, chỉ đạo. Chiến lược phòng chống giun đường ruột với việc điều trị hàng loạt có định kỳ cho các đối tượng có nguy cơ cao là biện pháp chủ yếu hiện nay và hiệu quả nhanh. Theo như các báo cáo về thực trạng xổ giun năm 2011 – 2012, dưới sự chủ trì của Viện phòng chống Sốt rét – Ký sinh trùng Trung ương và UBND các cấp của các tỉnh, thành phố trong nước như: Thừa Thiên Huế, Quảng Bình, Thanh Hóa, Hà Tỉnh, Lào Cai…thực trạng xổ giun cho các đối tượng học sinh Tiểu học, trẻ em từ 24-60 tháng tuổi và phụ nữ tuổi sinh sản đạt từ 95-99,9%. Riêng thống kê ở tỉnh Lào Cai, kết quả thực hiện thực trạng xổ giun năm 2011 – 2012 gồm 65.000 học sinh Tiểu học (đạt 99,9%), hơn 41.000 trẻ em từ 24 – 60 tháng tuổi (đạt 99,3%), hơn 148.000 phụ nữ tuổi sinh sản (đạt 99,5%) Với mục tiêu phòng chống các bệnh giun, chủ yếu là làm giảm cường độ nhiễm, từ đó hạn chế những tác hại của bệnh, nhất là ở lứa tuổi trẻ em, học sinh. Để góp phần tìm hiểu thực trạng xổ giun ở lứa tuổi học sinh và kiến thức của học sinh Cấp 2 về tai hại của giun đường ruột lên sự phát triển sức khỏe của mọi người. Từ đó rút ra kinh nghiệm thực hiện và các biện pháp đề xuất cho giải pháp dự phòng chống bệnh giun ở học sinh cấp 2 – Khu phố 2 – Phường Thủy Phương. Chúng tôi thực hiện Đề tài “Tìm hiểu thực trạng xổ giun và kiến thức của học sinh Cấp 2 về tác hại của giun ở Khu phố 2 – Phường Thủy Phương” với 2 mục tiêu cụ thể như sau: 1. Thực trạng xổ giun ở học sinh cấp II 2. Kiến thức của học sinh Cấp 2 ở Khu phố 2 – Phường Thủy Phương về tác hại của giun đối với con người.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC HUẾ
KHOA ĐIỀU DƯỠNG
-o0o -TÌM HIỂU THỰC TRẠNG XỔ GIUN VÀ KIẾN THỨC CỦA HỌC SINH CẤP 2 VỀ TÁC HẠI CỦA GIUN
Ở KHU PHỐ 2 – PHƯỜNG THỦY PHƯƠNG
Giáo viên hướng dẫn Nhóm sinh viên thực hiện
Huế, 12/2012
Trang 2Để hoàn thành đề tài này chúng tôi xin chân thành cám ơn
- Ban giám hiệu Trường Đại học Y Dược Huế
- Phòng Đào tạo Trường Đại học Y Dược Huế
- Khoa Điều dưỡng Trường Đại học Y Dược Huế
- UBND Phường Thủy Phương – Thị xã Hương Thủy –TT Huế
- Trạm Y tế Phường Thủy Phương – Thị xã Hương Thủy –TT Huế
- Trưởng Khu phố và nhân viên y tế Khu phố 2 – Phường Thủy Phương đã tạo điều kiện cho chúng tôi được thực tập và tiến hành đề tài này.
- Đặc biệt chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo :
- Th.S.BS Dương Thị Ngọc Lan đã không quản thời gian,tâm
huyết tận tình giúp đở ,hướng dẫn chúng tôi thực hiện đề tài này.
Cuối cùng chúng tôi xin cám ơn chân thành đến bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ thực hiện đề tài
Nhóm thực hiện đề tài
Trang 3MỤC LỤC
Trang ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ GIUN TRÒN ĐƯỜNG RUỘT 3 I.Lịch sử phân bố 3
II.Dịch tể học 5
III.Tác hại của giun đường ruột 6
IV.Vài nét về phường Thủy Phương và khu phố 2 7
Chương II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
I.Đối tượng 9
II.Phương pháp nghiên cứu 9
Chương III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 11
3.1 Đặc điểm chung 11
3.2.Thực trạng sổ giun của học sinh cấp II trên địa bàn 11
3.3.Kiến thức về tác hại của giun đối với sức khỏe 12
Chương IV: BÀN LUẬN 15
KẾT LUẬN 18
KIẾN NGHỊ 19 TÀI LIỆU KHAM KHẢO
MỤC LỤC
Trang 4Theo thông báo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hiện nay có 3/4 dân số thế giới bị nhiễm giun Tùy từng vùng, từng khu vực mà có tỷ lệ nhiễm giun khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lứa tuổi, giới, nghề nghiệp, địa lý, khí hậu, tập quán,
vệ sinh, điều kiện kinh tế, sự hiểu biết về tác hại và biện pháp phòng chống…
Theo tác giả Nguyễn Vĩnh Niên thì có đến 95% số người mang mầm bệnh giun sán Kết quả điều tra năm 1998 thì hiện nay nước ta khoảng 60 triệu người nhiễm giun, trong đó 47% là trẻ em
Nhiễm giun đường ruột làm cho cơ thể giảm hấp thu dinh dưỡng, gây thiếu máu, tắc ruột, suy dinh dưỡng…làm giảm thể chất và tinh thần, giảm khả năng lao động và có thể dấn đến tử vong Một đặc điểm đáng sợ nhất là sự lây lan của chúng trong cộng đồng theo nhiều đường khác nhau và gây lệch âm thầm, lặng lẽ, kéo dài hàng tháng, hàng năm gây nên những hội chứng năng nề nếu chúng ta không phát hiện
và xử lý kịp thời
Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới nên điều kiện thuận lợi cho các loại giun tròn tồn tại và phát triển Theo điều tra của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng (1998) cho thấy, trẻ em là đối tượng nhiễm giun đường ruột khác cao Các loại giun đường ruột mà trẻ em hay mắc là: Giun đũa, Giun móc, Giun tóc, Giun kim Số trẻ em nhiễm phối hợp 2 đến 3 loại cũng chiếm tỷ lệ cao Chính vì vậy, lệch giun tròn đường ruột được xác định là một vấn đề sức khỏe ưu tiên của cộng đồng
Đây cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà được Đảng và Nhà nước quan tâm, chỉ đạo Chiến lược phòng chống giun đường ruột với việc điều trị hàng loạt
có định kỳ cho các đối tượng có nguy cơ cao là biện pháp chủ yếu hiện nay và hiệu quả nhanh Theo như các báo cáo về thực trạng xổ giun năm 2011 – 2012, dưới sự chủ trì của Viện phòng chống Sốt rét – Ký sinh trùng Trung ương và UBND các cấp của
Trang 5các tỉnh, thành phố trong nước như: Thừa Thiên Huế, Quảng Bình, Thanh Hóa, Hà Tỉnh, Lào Cai…thực trạng xổ giun cho các đối tượng học sinh Tiểu học, trẻ em từ 24-
60 tháng tuổi và phụ nữ tuổi sinh sản đạt từ 95-99,9% Riêng thống kê ở tỉnh Lào Cai, kết quả thực hiện thực trạng xổ giun năm 2011 – 2012 gồm 65.000 học sinh Tiểu học (đạt 99,9%), hơn 41.000 trẻ em từ 24 – 60 tháng tuổi (đạt 99,3%), hơn 148.000 phụ nữ tuổi sinh sản (đạt 99,5%)
Với mục tiêu phòng chống các bệnh giun, chủ yếu là làm giảm cường độ nhiễm, từ đó hạn chế những tác hại của bệnh, nhất là ở lứa tuổi trẻ em, học sinh
Để góp phần tìm hiểu thực trạng xổ giun ở lứa tuổi học sinh và kiến thức của học sinh Cấp 2 về tai hại của giun đường ruột lên sự phát triển sức khỏe của mọi người Từ đó rút ra kinh nghiệm thực hiện và các biện pháp đề xuất cho giải pháp dự phòng chống bệnh giun ở học sinh cấp 2 – Khu phố 2 – Phường Thủy Phương Chúng
tôi thực hiện Đề tài “Tìm hiểu thực trạng xổ giun và kiến thức của học sinh Cấp 2
về tác hại của giun ở Khu phố 2 – Phường Thủy Phương” với 2 mục tiêu cụ thể như
sau:
1 Thực trạng xổ giun ở học sinh cấp II
2 Kiến thức của học sinh Cấp 2 ở Khu phố 2 – Phường Thủy Phương về tác hại của giun đối với con người
Trang 6CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU VỀ GIUN TRÒN ĐƯỜNG RUỘT
I LỊCH SỬ PHÂN BỐ:
Giun sán là những động vật đa bào thuộc nhóm hậu sinh động vật, sống ký sinh
Là một trong những loại ký sinh trùng phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam.Bệnh giun sán phổ biến ở những nơi có khí hậu nóng ẩm như các vùng xích đạo cận nhiệt đới
Ở Việt Nam, điều kiện địa lý tự nhiên nói chung rất thuận lợi cho việc giun sán phát triển Mặc dù điều kiện sống, sinh hoạt, vệ sinh đã được cải thiện nhiều song bệnh giun sán vẫn còn là lệch phổ biến, đặc biệt là lệch giun tròn đường ruột
Bệnh giun sán đã được các thầy thuốc Ai Cập khoảng thế kỷ 15 trước công nguyên mô tả Các nền văn minh cổ đại Trung Hoa, Ấn Độ cũng đã đề cập đến Song
từ năm 1679, nhờ sự ra đời của kính hiển vi, tiếp sau những phương pháp phân loại của Linnacus và của Lamas nên việc nghiên cứu ký sinh trùng mới đầy đủ hơn Song song với những tiến bộ khoa học cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, các nghiên cứu về lệch học, chu kỳ phát triển của giun sán…đã được biết một cách tỷ mĩ Cùng với việc tìm ra những thuốc hóa học đã góp phần chữa lệch ký sinh trùng, đặc biệt là giun sán một cách có hiệu quả nhằm hạn chế tác hại do chúng gây ra
Bệnh giun sán tác hại đến cơ thể một cách thầm lặng nên nhiều khi người bệnh không cảm thấy mình có bệnh và không thấy việc phòng và chữa lệch mà một nhu cầu cấp thiết
Do số người mắc bệnh quá nhiều nên mầm lệch giun sán (trứng ấu trùng) rất phổ biến ở ngoại cảnh như: đất, bụi, nước, rau…nên nhân dân ta dễ nhiễm lệch liên tiếp, có thể không bao giờ dứt được tình trạng bệnh tật Nhiều lần nhiễm lệch nên số giun sán tăng đều và đạt tới những con số ký sinh trùng rất lớn
Đặc điểm chung của các lệch giun sán là sự phát tán theo phân và đường ruột, đường tiêu hóa của con người cũng như các loại động vật chứa rất nhiều mầm lệch Đó
là xuất phát điểm của tình trạng ô nhiễm môi trường bên ngoài
Trang 7Tỷ lệ nhiễm trứng giun đũa ở nước ta cũng như các nước Châu Á là 80%, cao hơn một số nước Châu Âu Về mặt dịch tễ học thì giun tóc gần giống giun đũa, có thể
ở nói ở đâu có giun đũa ở đó có giun tóc
Theo tác giả Phạm Văn Thân – Ký sinh trùng Y học – 1998 Tỷ lệ nhiễm các loại giun tròn đường ruột được phân bổ ở Việt Nam như sau:
Trang 8II DỊCH TỂ HỌC:
1 Nguồn lệch: Người nhiễm bệnh.
2 Mầm lệch: là trứng giun có ấu trùng bên trong.
3 Đường truyền lệch: Theo đường tiêu hóa, riêng giun móc thì quan da niêm
mạc và cả đường nhau thai
4 Thể cảm thụ: là người.
Nhiệt độ mô trường nóng ẩm là điều kiện thuận lợi cho trứng phát triển ấu trùng
có khả năng gây bệnh Trứng giun đũa ở trong môi trường bên ngoài, phôi hình thành sau khi trứng theo phân ra ngoài khoảng 3 tuần lễ và bắt đầu có khả năng lây nhiễm Giun móc thì sau 24 giờ trứng sẽ nở thành ấu trùng, sau khi lột xác 2 lần ấu trùng mới
có khả năng lây nhiễm Với giun tóc, sống ở trong đất nhiều năm, tùy khí hậu, phôi có thể phát triển trong trứng từ 1 đến 12 tháng sau khi trứng theo phân ra ngoài
* Bảng tóm tắt một số ký sinh trùng đường ruột ở người
Mức lưu hành toàn cầu (số
người mắc/triệu người)
Vùng lưu hành Toàn cầu Nhiệt đới, cận nhiệt đới Toàn cầu
Nơi cư trú ở đường tiêu hóa Lumen
hồng tràng
* Thời gian từ lúc nhiễm cho đến lúc đẻ trứng:
- N.a: Necator Apuricanus
- A.d: Ancylostoma Duodenale
Trang 9* Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giớis năm 1992, số người nhiễm giun sán như sau:
- Giun đũa:
+ Châu Á : 550.000 triệu người
+ Châu Mỹ : 45 triệu người
+ Châu Phi : 54 triệu người
- Giun móc: ¼ triệu người
* Theo Đỗ Dương Thái tỷ lệ nhiễm giun:
- Giun đũa: Khoảng 60 triệu người
- Giun tóc: 40 triệu người
- Giun móc: 40 triệu người
* Theo Nguyễn Duy Trần, tình hình nhiễm giun đường ruột trẻ em ở Việt Nam như sau:
III TÁC HẠI CỦA GIUN ĐƯỜNG RUỘT.
Mặc dù tỷ lệ bệnh có biểu hiện lâm sàng và tỷ lệ tử vong do ký sinh trùng đường ruột thấp nhưng tỷ lệ nhiễm giun cao nên tổng số các trường hợp bệnh và tử vong là khá cao so với nhiễm khuẩn, viruts và các ký sinh trùng khác Hai bệnh giun móc và giun đũa được coi là nguyên nhân gây bệnh và nguyên nhân tử vong nhiều nhất trong 20 bệnh truyền nhiễm ở các nước chậm phát triển Theo số liệu trình bày ở các Hội nghị, các nhà ký sinh trùng Châu Á, Tokyo năm 1985 thì tỷ lệ tử vong do giun móc, năm 1977 – 1978 các nước Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La tinh là 50 – 60 ngàn người/năm và giun đũa là 10 – 20 ngàn người/năm
Các loại giun đường ruột có thể nói tác hại nghiêm trọng nhất là gây tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em Mức độ tồn tại do giun (theo tài liệu Proceeding ò the seminar on parasite control in the prevention ò malnutrition, tổ chức phối hợp WHO, UNICEF, JOICFT, JAPC từ 1 – 5/12/1980 tại Tokyo)
- Giun đũa: 20 giun đũa trong 1 ngày sử dụng 2,8mg carbon hydrat và 0,7 mg protein
- Giun móc: Mỗi giun móc sử dụng 1 ngày 0,2 ml màu
Trang 10- Giun tóc: Mỗi giun tóc sử dụng 1 ngày 0,005ml màu.
Đưa vào các thông số nói trên và các thông số về dân số Việt Nam (84 triệu người) tỷ lệ nhiễm giun đũa 80%, giun tóc 52% với số giun trung bình ký sinh ở một người, giun đũa 8, giun móc 17, giun tóc 22 có thể tính được tổn hại do giun gây ra hàng năm trong cả nước như sau:
- Giun đũa: Mỗi năm tiêu thụ 28.616 tấn dạo, 31,8 tấn thịt
- Số máu mất do giun tóc trong 1 năm: 27.789.400 lít
- Số màu bị mất do giun tóc trong 1 năm” 1.461.460 lít
Tác hại của giun là rất lớn, muốn phòng suy dinh dưỡng trẻ em, thiếu máu ở phụ nữ nông thôn có kết quả thì không thể tác rời việc phòng giun sán nói chung, giun đường ruột nói riêng
Một bệnh nhân bị giun Guinea tấn công
IV VÀI NÉT VỀ PHƯỜNG THỦY PHƯƠNG VÀ KHU PHỐ 2:
Phường Thủy Phương là một phường thuộc thị xã hương Thủy về phía nam của thành phố Huế
-Phía đông giáp:Phường Thủy Thanh
-Phía tây giáp: Phường Thủy Bằng và Dương Hoá
-Phía nam giáp:Phường Thủy Châu
-Phía bắc giáp : Phường Thủy Dương
Phường có 16 khu phố, khu phố 2 có diện tích 10.236,76ha, dân số tính đến cuối năm khoảng 13.985
Trang 11Đội ngũ cán bộ chủ chốt làm việc năng động, sáng tạo và rất quan tâm đến sức khỏe của nhân dân Phường có khoảng 50% dân số sống bằng nghề nông, 30% dân số sống bằng các nghề khác như: thợ nề, thợ mộc, công nhân các khu công nghiệp, buôn bán,20% cán bộ nhà nước.
Khu phố 2 là một trong những khu phố có dân số đông của Phường Thủy Phương – TX Thủy Dương - Thừa Thiên Huế, nằm cách TP Huế khoảng 07km
Địa bàn tương đối thấp nên hàng năm thường có ngập lụt vào mùa mưa, thu nhập kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp từ ruộng lúa và vườn hoa màu Diện tích
tự nhiên 4,5km2, có 16 cụm dân cư, dân số 2045
Trạm Y tế Phường Thủy Phương nằm ở trung tâm của phường, hoạt động tốt trong các lĩnh vực khám chữa bệnh, dân số kế hoạch hóa gia đình, y tế dự phòng và thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia Tỷ lệ suy dinh dưỡng 7,69%, tỷ lệ tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới 1 tuổi đạt 100%, tỷ lệ uống Vitamin A trẻ em từ 6 – 36 tháng tuổi, phụ nữ sau sinh đạt 100%, tỷ lệ xổ giun cho học sinh trường tiểu học đạt 100% Trạm Y tế Thủy Phương được công nhân đạt chuẩn Y tế Quốc gia năm 2005
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I ĐỐI TƯỢNG: Là toàn bộ học sinh Cấp 2 thuộc Khu phố 2 – Phường Thủy
Phương – TT Huế
Trang 12- Không phân biệt nam nữ.
- Địa điểm nghiên cứu: Khu phố 2 – Phường Thủy Phương – TX Hương Thủy –
TP Huế
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Điều tra theo phương pháp mô tả cắt
ngang, kết hợp nghiên cứu hồi cứu
1 CÁCH CHỌN MẪU:
- Chọn tất cả học sinh cấp II trên toàn khu phố
- Chúng tôi đã phỏng vấn được 86 học sinh
2 CÔNG TÁC CHUẨN BỊ:
- Bước 1: Chuẩn bị phỏng vấn
- Bước 2: Gặp gỡ, trình bày mục đích nghiên cứu với lãnh đạo khu phố
- Bước 3: Gặp gỡ nhân viên y tế khu phố để nhờ họ giúp đỡ
- Bước 4: Gặp gỡ các em học sinh cấp 2 từng hộ gia đình để phỏng vấn thu thập thông tin
3 PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH:
- Phiếu phỏng vấn được soạn sẵn
- Bộ câu hỏi được thiết kế chung cho mọi đối tượng
- Câu hỏi đơn giản, dễ hiểu
- Bố cục đơn giản, dễ hiểu
- Thời gian điều tra vào 17h – 20h các ngày
- Gặp gỡ trình bày mục đích và tầm quan trọng của việc trả lời phỏng vấn
- Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu là các em học sinh cấp 2
4 CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU:
4.1 Phần hành chính;
- Họ và tên – Năm sinh – Giới
- Địa chỉ cư trú
- Đối tượng các em học sinh cấp 2
4.2 Tìm hiểu về việc xổ giun của các em trong 6 tháng qua.
4.3 Xét nghiệm giun sán ở các em.
4.4 Kiến thức về bệnh giun sán của các em.
4.5 Kiến thức về sự kiểu biết của việc điều trị giun.
Trang 134.6 Các bệnh mắc phải bị nhiễm giun.
- Ăn chín uống sôi
- Rửa tay trước khi ăn
- Rửa tay sau khi đi vệ sinh
- Không đi chân đấts
- Không uống nước lã
- Thường xuyên cắt móng tay, chân
- Xây dựng hố xí hợp vệ sinh
- Tẩy giun
Trang 14CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Qua nghiên cứu 86 trường hợp ,chúng em thu được kết quả
3.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG:
Bảng 1:Biểu thị theo giới
- Có 8 học sinh nữ được xổ giun trong vòng 6 tháng qua, tỷ lệ 8/39 (20,5%)
- Tỷ lệ học sinh nam được xổ giun trong 6 tháng qua là 19/47 (40,4%)
- Tỷ lệ chung cho các em là: 27/86 (31%)
3.2 THỰC TRẠNG XỔ GIUN CỦA HỌC SINH TRÊN ĐỊA BÀN: 3.2.1 Số học sinh được tẩy giun định kỳ (trong 6 tháng qua):
Bảng 2:Tỷ lệ học sinh được xổ giun
Số học sinh được xổ giun n Tỷ lệ %
Nhận xét :Chỉ có 31% học sinh được xổ giun trong sáu tháng qua
3.2.2 Tỷ lệ học sinh đã từng xét nghiệm giun
Trang 15Biểu đồ 1Tỷ lệ học sinh được xét nghiệm trứng giun
Nhận xét: Tỷ lệ học sinh được xét nghiệm trứng giun rất thấp, chiếm tỷ lệ 9%
3.3 KIẾN THỨC VỀ TÁC HẠI CỦA GIUN ĐỐI VỚI SỨC KHỎE:
3.3.1 Số học sinh đã từng nghe nói về bệnh giun sán: 80/86h/s (tỷ lệ 93%)
Biểu đồ 2: Tỷ lệ học sinh đã từng nghe nói bệnh giun sán
Nhận xét: Có 06 học sinh chưa từng nghe nói về bệnh giun sán, chiếm tỷ lệ 7%
3.2.2 Các con đường nhiễm giun sán:
- Phân chia theo lứa tuổi theo bảng sau:
Bảng 3: phân chia sự hiểu biết về nguyên nhân gây bệnh giun sán theo các lớp Lớp Lớp 6 Lớp 7 Lớp 8 Lớp 9
Trang 16Nhận xét: Sự nhận thức về bệnh tật được tốt lên theo sự trưởng thành của các em học
sinh Tuy vậy số học sinh xem nguyên nhân đi chân trần gây nhiễm giun còn thấp từ
12% (lớp 6) và 52% (lớp 9)
Trang 173.2.3 Nhận thức về khả năng điều trị bệnh giun sán:
Biểu đồ 3: Tỷ lệ học sinh am hiểu về khả năng điều trị giun
Nhận xét: Tỷ lệ học sinh cho rằng giun khó điều trị 46%, dể điều trị 54% 3.2.4 Những bệnh có thể mắc phải khi nhiễm giun sán:
Bảng 4: Những bệnh có thể mắc phải khi nhiễm giun
Nhận xét:Vẫn còn 31% học sinh cho rằng nhiễm giun gây ra viêm phổi và 39 % cho
rằng gây ra sôt
Trang 183.2.5 Giáo dục của thầy cô giáo về công tác phòng chống nhiễm giun.
Bảng 5: Tỷ lệ học sinh được các thầy cô giáo dục về cách phòng chống nhiễm giun Lớp Lớp 6 + Lớp 7 Lớp 8 + Lớp 9
* Nhận xét: Tỷ lệ học sinh lớp 6 và lớp 7 được giáo dục về cách phòng tránh nhiễm
giun kém hơn so với lớp 8 ,lớp 9
3.2.6 Kiến thức về cách hạn chế nhiễm giun:
Ghi chú
a- ăn chính uống sôi
b- rữa tay trước khi ăn
c- Rữa tay sau khi đi vệ sinh
d- Không đi chân đất
e- Không uống nước lã
f- Thường xuyên cắt móng tay ,chân
g- Xây nhà tiêu hợp vệ sinh