ĐẶT VẤN ĐỀ “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải là chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế”( theo định nghĩa về sức khỏe của tổ chức y tế thế giới) Theo định nghĩa trên, mỗi chúng ta cần chủ động để có một sức khỏe tốt. Cần chủ động trang bị cho mình kiến thức về dinh dưỡng nhất là vấn đề dinh dưỡng trẻ em trong cộng đồng, đó là vấn đề toàn cầu, được nhiều tổ chức quốc tế quan tâm nghiên cứu, nhằm tìm ra giải pháp để cải thiện tình hình dinh dưỡng của trẻ em. Suy dinh dưỡng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trẻ em. Trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước, sức khỏe của trẻ em là mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội, chăm lo cải thiện đời sống nhân dân là mối lo hàng đầu của Đảng và nhà nước ta. Trong những năm gần đây, với sự hổ trợ của các cấp, các ngành, đặc biệt là ngành y tế, nhiều chương trình chăm sóc sức khỏe đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhờ đó tình trạng dinh dưỡng của trẻ em nói riêng và sức khỏe nhân dân nói chung đã được cải thiện đáng kể, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em hàng năm giảm rõ rệt. Tuy nhiên nếu nhìn nhận một cách khách quan và toàn diện thì vấn đề sức khỏe trong cộng đồng đặc biệt và vấn đề dinh dưỡng trẻ em dưới 1 tuổi vẫn còn nhiều thách thức lớn.Tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 1 tuổi vẫn còn cao, thể hiện không đồng điều giữa các vùng nông thôn, thành thị, miền xuôi, miền núi, với trình độ văn hóa, kinh tế khác nhau, tập trung ở những vùng có thu nhập thấp, trình độ văn hóa kém,vùng sâu vùng xa.Tình trạng dinh dưỡng của mỗi cá thể trong quần thể không chỉ do ăn uống mà còn chịu tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau: bệnh tật,cân nặng lúc mới sinh, mà đặc biệt là sự thiếu kiến thức nuôi dạy con của các bà mẹ. Khi thiếu dinh dưỡng thì sẽ có những biểu hiện ngưng phát triển chiều cao, cân nặng, nhưng biến đổi về chức phận và bệnh nhiễm khuẩn. Nuôi dưỡng trẻ không đúng cách thì nguy cơ suy dinh dưỡng ở trẻ rất dễ xảy ra, suy dinh dưỡng ở trẻ em càng cao thì nòi giống càng kém phát triển về thể lực và trí tuệ. Kiến thức nuôi dưỡng trẻ em của bà mẹ chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong việc phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em, chúng ta vẫn thường nói trẻ em là tiền đồ của tổ quốc, do đó cần phải có hành động đi đôi với lời nói, việc thường xuyên khảo sát, đánh giá tình trạng dinh dưỡng để tìm ra nguyên nhân đã dẫn đến tình trạng đó và tìm ra những giải pháp khắc phục là điều vô cùng cần thiết và thiết thực. Với lý do đó, nhóm sinh viên chúng em gồm 3 bạn đã làm 1 cuộc khảo sát nhỏ về đề tài” Tìm hiểu kiến thức kiến thức nuôi con dưới 1 tuổi của các bà mẹ ở tổ 10 Phường Thủy Phương, Thị xã Hương Thủy, Thành phố Huế” với mục tiêu: “ Tìm hiểu về kiến thức cơ bản chăm sóc trẻ dưới 1 tuổi của các bà mẹ trong độ tuổi sinh đẻ tại tổ 10 phường Thủy Phương Thị xã Hương Thủy, Thành phố Huế ”
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
“Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và
xã hội, chứ không phải là chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế”( theo định nghĩa
về sức khỏe của tổ chức y tế thế giới)
Theo định nghĩa trên, mỗi chúng ta cần chủ động để có một sức khỏe tốt.Cần chủ động trang bị cho mình kiến thức về dinh dưỡng nhất là vấn đề dinhdưỡng trẻ em trong cộng đồng, đó là vấn đề toàn cầu, được nhiều tổ chức quốc
tế quan tâm nghiên cứu, nhằm tìm ra giải pháp để cải thiện tình hình dinh dưỡngcủa trẻ em Suy dinh dưỡng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trẻ em
Trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước, sức khỏe của trẻ em là mốiquan tâm hàng đầu của toàn xã hội, chăm lo cải thiện đời sống nhân dân là mối
lo hàng đầu của Đảng và nhà nước ta Trong những năm gần đây, với sự hổ trợcủa các cấp, các ngành, đặc biệt là ngành y tế, nhiều chương trình chăm sóc sứckhỏe đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhờ đó tình trạng dinh dưỡng củatrẻ em nói riêng và sức khỏe nhân dân nói chung đã được cải thiện đáng kể, tỷ lệsuy dinh dưỡng trẻ em hàng năm giảm rõ rệt
Tuy nhiên nếu nhìn nhận một cách khách quan và toàn diện thì vấn đề sứckhỏe trong cộng đồng đặc biệt và vấn đề dinh dưỡng trẻ em dưới 1 tuổi vẫn cònnhiều thách thức lớn.Tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 1 tuổi vẫn còncao, thể hiện không đồng điều giữa các vùng nông thôn, thành thị, miền xuôi,miền núi, với trình độ văn hóa, kinh tế khác nhau, tập trung ở những vùng có thunhập thấp, trình độ văn hóa kém,vùng sâu vùng xa.Tình trạng dinh dưỡng củamỗi cá thể trong quần thể không chỉ do ăn uống mà còn chịu tác động bởi nhiềuyếu tố khác nhau: bệnh tật,cân nặng lúc mới sinh, mà đặc biệt là sự thiếu kiếnthức nuôi dạy con của các bà mẹ
Khi thiếu dinh dưỡng thì sẽ có những biểu hiện ngưng phát triển chiều cao,cân nặng, nhưng biến đổi về chức phận và bệnh nhiễm khuẩn
Trang 2Nuôi dưỡng trẻ không đúng cách thì nguy cơ suy dinh dưỡng ở trẻ rất dễxảy ra, suy dinh dưỡng ở trẻ em càng cao thì nòi giống càng kém phát triển vềthể lực và trí tuệ.
Kiến thức nuôi dưỡng trẻ em của bà mẹ chiếm một vị trí vô cùng quantrọng trong việc phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em, chúng ta vẫn thường nóitrẻ em là tiền đồ của tổ quốc, do đó cần phải có hành động đi đôi với lời nói,việc thường xuyên khảo sát, đánh giá tình trạng dinh dưỡng để tìm ra nguyênnhân đã dẫn đến tình trạng đó và tìm ra những giải pháp khắc phục là điều vôcùng cần thiết và thiết thực
Với lý do đó, nhóm sinh viên chúng em gồm 3 bạn đã làm 1 cuộc khảo sát
nhỏ về đề tài” Tìm hiểu kiến thức kiến thức nuôi con dưới 1 tuổi của các bà
mẹ ở tổ 10 Phường Thủy Phương, Thị xã Hương Thủy, Thành phố Huế”
với mục tiêu:
“ Tìm hiểu về kiến thức cơ bản chăm sóc trẻ dưới 1 tuổi của các bà mẹ trong độ tuổi sinh đẻ tại tổ 10 phường Thủy Phương Thị xã Hương Thủy, Thành phố Huế ”
Trang 3PHẦN I ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Đối tượng nghiên cứu:
Gôm 50 bà mẹ trong độ tuổi sinh đẻ ở tổ 10, Phường Thủy Phương, Thị xã Hương Thủy
1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
Từ ngày28/03/2011 đến 10/04/2011 tại tổ 10, Phường Thủy Phương, Thị
xã Hương Thủy, Thành phố Huế
1.3 Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang.
Các bước tiến hành nghiên cứu
- Chọn mẫu ngẫu nhiên ( phụ lục )
- Phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ dựa trên bộ câu hỏi đã soạn sẵn ( phụ lục)
- Cung cấp một số kiến thức cơ bản cho các bà mẹ
1.4 Xử lý số liệu:
Theo phương pháp thống kê y học.
Trang 4Phần II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
I Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Số bà mẹ được phỏng vấn: 50 bà mẹ ở tổ 10 Phường Thủy Phương, Thị xã Hương Thủy
Nhận xét: Độ tuổi sinh đẻ của các bà mẹ từ 25 đến 30 tuổi chiếm tỷ lệ 56%
Bà mẹ 30 – 35 tuổi chiếm tỷ lệ 26%,12% là độ tuổi 35 - > 40 và độ tuổi 20 – 25 chiếm tỷ lệ thấp 8%
1.2 Nghề nghiệp của các bà mẹ
Bảng 2: Phân bố nghề nghiệp của các bà mẹ
Nghề nghiệp Làm nông Buôn bán Công nhân Cán bộ Khác Tổng
Nhận xét: Đa số các bà mẹ làm nông chiếm tỷ lệ cao 60%, buôn bán chiếm
22%,công nhân 4%, cán bộ 8 %, có 3 bà mẹ không có việc làm ổn định (6%)
1.3 Trình độ văn hóa của các bà mẹ
70%
mù chữ cấp 1 cấp 2 cấp 3 trở lên
Biểu đồ 1: Phân bố trình độ văn hóa của các bà mẹ
Nhận xét: Số bà mẹ học hết PTCS chiếm tỉ lệ cao 70%,25 % học hết cấp 3
trở lên, 5% số bà mẹ học hết cấp 1,không có bà mẹ nào mù chữ
Trang 5II Kiến thức chăm sóc trẻ:
2.1 Thời gian cho bú sau khi sinh
Bảng 3: Thời gian các bà mẹ cho con bú sau khi sinh
Thời gian 30phút – 1 giờ 1 -2 giờ 2-4h > 4 giờ Tổng
Nhận xét: Đa số các bà mẹ cho con bú 1-2 giờ sau sinh chiếm tỷ lệ
64%,30% trẻ bú <30 phút – 1 giờ, 6% trẻ bú 2 -4 giờ sau sinh, không có bà mẹnào cho con bú >4 giờ
2.2 Tình hình cho trẻ bú
Bảng 4: Số lần cho trẻ bú 1 ngày đêm
Số lần cho trẻ bú 3 – 8 lần > 8 lần Theo nhu cầu Tổng
Nhận xét: 80% các bà mẹ cho trẻ bú theo nhu cầu, 14% cho bú > 8 lần/
ngày, số lần cho trẻ bú 3- 8 lần/ ngày là 6 %
2.3 Các loại sữa các bà mẹ sử dụng cho trẻ
Bảng 5: Tỷ lệ các loại sữa bà mẹ sử dụng cho trẻ.
Trang 62.4 Thời gian cai sữa cho trẻ
> 24 tháng
Biểu đồ 2: Biểu đồ thời gian cai sữa cho trẻ.
Nhận xét: Đa số các bà mẹ cai sữa cho trẻ từ 12-18 tháng 75% 15% cai
sữa < 12 tháng, chỉ có 10% là cai sữa 18-24 tháng
2.5.Thời gian cho trẻ ăn bổ sung
Biểu đồ 3: Thời gian cho trẻ ăn bổ sung
Nhận xét: Đa số bà mẹ cho trẻ ăn dặm từ 4-6 tháng 70%, có 10% bà mẹ
cho trẻ ăn dưới 4 tháng Rất ít bà mẹ cho trẻ ăn > 6 tháng 5%
2.6 Thức ăn cho trẻ khi ăn dặm
Bảng 6: Thành phần các chất có trong mỗi bữa ăn của trẻ.
Chất Protit
-Glucid
Protit Glucid Vitamin
-Protit, glucid, Lipid, Vitamin Glucid Tổng
Nhận xét: Không có bà mẹ nào chỉ cho ăn 1 loại thức ăn Có 54% bà mẹ
cho ăn có 2 thành phần Có 38% bà mẹ cho ăn có 3 thành phần Có rất ít bà mẹcho ăn đủ các thành phần 8%
Trang 7Nhận xét: 78 % bà mẹ cho trẻ ăn xay, 6% trẻ ăn nghiền,8% trẻ ăn cháo
lỏng, 4% trẻ ăn cơm men
2.8 Nguồn cung cấp kiến thức cho các bà mẹ về chăm sóc nuôi dưỡng
Nhận xét: Trong 50 bà mẹ được cung cấp kiến thức thì có 55% bà mẹ tìm
hiểu từ ti vi, đài, báo…Chỉ có 30% được cung cấp từ nhân viên y tế và còn 15%
từ các nguồn khác (người thân trong gia đình, bạn bè…)
Trang 82.9.Hiểu biết của bà mẹ về tiêm chủng mở rộng và cân trẻ
Bảng 8:Hiểu biết của các bà mẹ về tiêm chủng mở rộng, cân trẻ hàng tháng.
Nhận xét: Hầu hết các bà mẹ đưa trẻ đi tiêm chủng đầy đủ Đa số bà mẹ
biết đưa trẻ đi cân bằng hàng tháng 70%,20 % bà mẹ không theo dõi cân nặnghàng tháng cho trẻ
2.10 Mục đích của việc cân trẻ.
Để cán bộ y tế theo dõi
Biểu đồ 5: Tỷ lệ các bà mẹ biết mục đích của việc cân trẻ hàng tháng
Nhận xét: Có 35% bà mẹ biết cân hàng tháng để theo dõi trẻ tăng cân hoặc
tụt cân phòng suy dinh dưỡng Có 55% bà mẹ chỉ cân để biết trọng lượng con
Có 10% bà mẹ cân trẻ chỉ để CBYT theo dõi
2.11 Khi trẻ bị tiêu chảy
Bảng 9: Chế độ ăn khi trẻ bị tiêu chảy
Kiến thức Tiếp tục cho bú,
ăn bình thường
Cho ăn ít lại
Tăng cường dinh dưỡng Tổng
Nhận xét: 48% bà mẹ cho ăn bình thường khi trẻ bị tiêu chảy, 44% cho ăn
ít lại 8% tăng cường dinh dưỡng
2.12 Chăm sóc khi trẻ bị tiêu chảy
Trang 9ORS Cháo muối Thuốc tây Thuốc nam
Biểu đồ 6: Tỷ lệ các bà mẹ biết chăm sóc khi trẻ bị tiêu chảy
Nhận xét: Phần lớn các bà mẹ biết cho uống ORS khi trẻ bị tiêu chảy 74%,
có 10% bà mẹ cho trẻ uống nước cháo muố, có 6% bà mẹ dùng thuốc tây,10%
bà mẹ dùng thuốc nam
Trang 10BÀN LUẬN
1 Kết quả khảo sát cho thấy độ tuổi các bà mẹ chủ yếu sinh đẻ chiếm từ25-35 tuổi chiếm đến 80% ( bảng 1) Độ tuổi của đối tượng nghiên cứu, đây
là độ tuổi sinh và nuôi con tốt nhất (bảng 1)
2 Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu (bảng 2)
Phần đông các bà mẹ làm nông chiếm 60%và buôn bán chiếm 22 %, nên ít
có thời gian cập nhật thông tin và chăm sóc trẻ Số các bà mẹ là cán bộ côngchức và công nhân có điều kiện chăm sóc trẻ còn ít chỉ chiếm 18%
3 Trình độ văn hóa của đối tượng nghiên cứu
Không có bà mẹ nào mù chữ: Đây là yếu tố thuận lợi nhất để truyền đạtkiến thức cho bà mẹ
4 Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ
Đa số các bà mẹ ít sử dụng sữa ngoài cho trẻ, có đến 90% các bà mẹ không
sử dụng sữa ngoài cho trẻ (theo bảng 5)
Thời gian cho trẻ bú sau sinh ( bảng 4) của các bà mẹ trước ½-1 giờ chiếm
tỷ lệ 30%, 1-2 giờ là 64%, như vậy đã nói lên được sự ý thức của các bà mẹngày một hiểu hơn Tuy nhiên cũng có 6% cho trẻ bú sau 2 - 4 giờ, vì theo suynghĩ của những bà mẹ này sưã non là sữa chưa chín, sữa non có màu vàng nênkhông tốt cho trẻ, một số bà mẹ sau sinh trong quá trình rặn đẻ làm mẹ mệt nênngủ thiếp 1,2 giờ,một số bà mẹ phải chờ 24 giờ sau khi sinh để “ xuống sữa” rồimới cho bú
5 Số lần trẻ bú trong ngày của các bà mẹ ( bảng 4 ) Đa số các bà mẹ chotrẻ bú theo yêu cầu của trẻ chiếm tỉ lệ rất cao 80%, đây là nhận thức rất đúngđắn mang ý nghĩa làm giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng ngày một ít đi
6 Về thời gian cai sữa của trẻ củng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển vềthể chất của trẻ sau này So với các loại thức ăn, sữa mẹ rất nhiều năng lượng( 650 kcalo/lít) vì vậy nên để trẻ tranh thủ bú mẹ cho đến bao giờ mẹ cạn sữa,không bắt buộc phải cai sữa khi trẻ được 12 tháng bởi vì các thức ăn chuyển tiếpnhư bột,cháo, thịt rau…không đủ để đảm bảo nhu cầu năng lượng ( vì trẻ trong
Trang 11thời gian đầu không ăn dược nhiều ) vì vậy dễ bị suy dinh dưỡng trong thời giancai sữa Theo biểu đồ 2, ta có tỉ lệ bà mẹ cai sữa cho con từ tháng 12 đến tháng
24 là rất cao 85%, có 15% bà mẹ cai sữa trên 24 tháng tuổi Kết quả này có được
là do 1 phần ý thức bà mẹ ngày càng được nâng cao, các bà mẹ hầu hết đều biếttác dụng của sữa mẹ đối với trẻ nhỏ, một phần so kinh tế gia đình, sữa mẹ khôngtốn tiền mua mà lại vệ sinh, phù với cơ thể của trẻ
7 Sữa mẹ là nguồn thức ăn cho trẻ, trong giai đoạn trẻ 1 tuổi thời gian nàylớn nhanh ( nhu cầu năng lượng tăng ) mà trẻ phải tập làm một số động tác ngồi,
bò lật, trườn, đứng, đi,… vì thế rất cần nhiều chất khác nhau mà trong sữa mẹthiếu hoặc không có.Nếu chỉ cho bú sữa mẹ đơn thuần thì trẻ dễ bị suy dinhdưỡng, còi xương, thiếu máu Thế nhưng nếu cho trẻ ăn sớm quá thì sẽ ảnhhưởng phần nào đến sức khỏe tâm lý của trẻ.Thức ăn dễ bị nhiễm khuẩn quadụng cụ pha chế hay bản thân thức ăn không đảm bảo vệ sinh, một phần do cơthể trẻ chưa sẵn sàng tiếp nhận các loại thức ăn mới nên dễ gây rối loạn tiêu hóa,rối loạn hấp thu mà hậu quả thường thấy là trẻ bị tiêu chảy dẫn đến trẻ suy dinhdưỡng một cách nhanh chóng Ngoài ra nếu bữa ăn không đảm bảo về số lượng,chất dinh dưỡng theo nhu cầu của trẻ điều này sẽ ảnh hưởng không tốt đến sứckhỏe của trẻ Theo biểu đồ 3 cho thấy có 70% bà mẹ bắt đầu cho con ăn dặm từtháng thứ 4-6; 10% cho con ăn dặm muộn trên 6 tháng và 20% cho con ăn sớmdưới 4 tháng Đây được xem là dấu hiệu đáng mừng cho những người làm côngtác tuyên truyền dinh dưỡng trẻ em
8 Như đã nói ở trên, từ tháng 4 trở đi nhu cầu của trẻ tăng trọng khi đóchất lượng của sữa mẹ lại càng giảm dần Vì thế phải làm thế nào mà bổ sungđầy đủ chất dinh dưỡng cho trẻ, đảm bảo cho trẻ phát triển đầy đủ, cũng từ tháng
6 trở đi, trẻ bắt đầu mọc răng, thức ăn cho trẻ cần đặc dần rồi cứng chứ khônglỏng mãi như sữa mẹ được ( để tập cho trẻ nhai và sử dụng các men của nướcbọt, giúp tiêu hóa các chất
9 Từ tháng thứ tư trở đi bên cạnh việc bú sữa mẹ cần cho trẻ ăn bổ sungthêm đầy đủ các nhóm gồm đạm ( thịt, cá trứng,…);dầu mở và vitamin Tạibảng 6, một số bà mẹ cho rằng không nên cho trẻ ăn dầu, mở sợ đi lỏng chiếm tỷ
Trang 12lệ 6%, một số lại kiêng ăn rau vì sợ trẻ đi phân xanh chiếm tỷ lệ 4%, có 4% cho
ăn bột, cũng may con số này chiếm tỷ lệ thấp Hầu hết các bà mẹ cho trẻ ăn dặmđầy đủ chiếm tỷ lệ 78% Tỷ lệ dầu mỡ trong thức ăn quá thấp cũng ảnh hưởngđến tình trạng dinh dưỡng của trẻ Người ta nhận thấy rằng nếu thiếu chất béotrong khẩu phần ăn của trẻ làm cho cơ thể không đủ năng lượng để phát triểnkèm theo thiếu một số vitamin cần thiết như A,D,E,K…Sự thiếu thốn này cànglàm cho trẻ suy dinh dưỡng Bên cạnh đó nếu khẩu phần ăn của trẻ không bổsung thêm rau, củ, trái cây thì sẽ thiếu vitamin và một số chất cần thiết cho quátrình chống đỡ bệnh tật của trẻ Các bà mẹ chưa tận dụng được nguồn thực phẩm
có sẳn trong vườn, vừa tiết kiệm được chi phí mà vừa an tâm vừa có nguồn gốcxuất xứ của thực phẩm Các thực phẩm được mua từ chợ là chính, điều nàykhông phù hợp với một xã ven thành phố mà người dân có thể sống bằng nghềtrồng trọt
10 Qua bảng 6 còn cho chúng ta thấy còn một số bà mẹ vẫn chưa thực sựquan tâm đến việc cho trẻ ăn đầy đủ các chất thì làm sao trẻ đủ năng lượng đểphát triển thể chất, góp phần làm nặng nề thêm tình trạng thiếu dinh dưỡng,không tránh khỏi ở các bà mẹ thiếu kiến thức nuôi dạy trẻ Cùng với số bữa ăncủa trẻ trong ngày, hầu hết các bà mẹ cho trẻ ăn bằng thức ăn được xay 80%,nghiền 6% hoặc cháo lỏng 8 % ( bảng 7) nhưng vẫn còn 4% bà mẹ cho trẻ ănbằng cơm mem, cần tư vấn thêm cho các bà mẹ này hiểu tác hại đến sức khỏecủa trẻ ăn cơm mem sẽ lây truyền bệnh từ mẹ sang con dẫn đến trẻ suy dinhdưỡng
Như đã nói từ đầu, kiến thức chăm sóc các bà mẹ là vô cùng quan trọng, nóquyết định phần lớn tình trạng dinh dưỡng của trẻ Bà mẹ muốn nuôi dạy con tốtphải tìm hiểu các kiến thức nuôi dạy con, kiến thức có thể từ nhiều nguồn khácnhau, có thể từ ti vi, sách báo, tờ rơi, loa truyền thông và các buổi sinh hoạt tậptrung của chị em phụ nữ, ở biểu đồ 4 cho thấy có 15% bà mẹ tìm hiểu kinhnghiệm từ các buổi sinh hoạt tập trung, 55 % tìm hiểu qua kênh truyền thôngqua ti vi, chỉ có 30 % tìm hiểu nhân viên y tế và vậy đội ngũ cộng tác viên y tếthôn bản, đây là vấn đề mà trạm y tế cần quan tâm, cần phải đẩy mạnh hơn nữa
Trang 13công tác truyền thông, giáo dục để các bà mẹ có kiến thức một cách đầy đủ vàhoàn chỉnh Cần làm được điều này thì cần có sự quan tâm của các cấp cácngành, đoàn thể và hội ngông dân hội phụ nữ,… nhằm tuyên truyền kiến thứctác hại dinh dưỡng của trẻ là một vấn đề mà toàn dân toàn xã hội cần phải quantâm hơn nữa.
11 Xử trí khi trẻ bị bệnh thông thường
Từ kết quả trên cho thấy, các bà mẹ chỉ biết trạm y tế là một nơi khám chữabệnh, họ vẫn chưa hiểu rằng đây cũng là một nơi tin cậy để các bà mẹ đượchướng dẫn, tuyên truyền, giáo dục cách nuôi con và xử trí khi trẻ chậm lên cân
Trang 14KẾT LUẬN
Qua cuộc khảo sat về kiến thức chăm sóc trẻ dưới 1 tuổi của 50 bà mẹtrong độ tuổi sinh đẻ ( từ 20-45 tuổi) ở tổ 10, Phường Thủy Phương , Thị xãHương Thủy, Thành phố Huế chúng em rút ra một số kết luận như sau:
Thời gian cho trẻ bú sau sinh dưới 1 giờ đến 2 giờ chiếm tỉ lệ khá cao
là 94%, nhưng vẫn có 6% các bà mẹ cho trẻ bú sau 2 giờ
Loại thức ăn cho trẻ sau sinh hầu hết là sữa mẹ 90%, 10% bà mẹ chouông sữa bột ( bà mẹ sau sinh sữa chưa xuống vì vậy cần cho trẻ uống sữabột tạm dự phòng hạ đường huyết cho trẻ )
Hầu hết các bà mẹ đều cho con bú theo nhu cầu 80%, 20 % cho bú trên 8lần / ngày đêm
Thời điểm bắt đầu cho trẻ ăn dặm là hợp lý ( từ tháng 4- tháng 6) chiếm tỉ
lệ 70%, rất ít bà mẹ cho ăn dặm trên 6 tháng chỉ có 5%
Có rất ít bà mẹ cho ăn đủ 4 thành phần thức ăn (10%), có đến 95% bà mẹbiết được khẩu phần ăn thay đổi theo độ tuổi
100% tiêm chủng đầy đủ cho trẻ
80% cân trẻ hàng tháng
48% bà mẹ tiếp tục cho trẻ bú, ăn bình thường khi trẻ bị tiêu chảy chỉ có8% bà mẹ biết tăng cường dinh dưỡng khi trẻ bị tiêu chảy Có đến 44%
bà mẹ cho trẻ ăn ít lại
84% bà mẹ cho trẻ uống ORS và nước cháo muối khi trẻ bị tiêu chảy,nhưng có 6% bà mẹ tự mua thuốc tây cho trẻ uống
Chỉ có 30% các bà mẹ được cung cấp từ nhân viên y tế