1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chính sách tiền tệ và công cụ thực thi chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay

26 853 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 154,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay, chính sách tiền tệ đang từngbước được hoàn thành, hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với nền kinh tế.Với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam thì việc

Trang 1

Ở Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay, chính sách tiền tệ đang từngbước được hoàn thành, hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với nền kinh tế.

Với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam thì việc lựa chọn công cụ nào,

sử dụng nó ra sao ở các giai đoạn cụ thể của nền kinh tế luôn là một vấn đềthường xuyên được quan tâm theo dõi và giải quyết đối với nhà hoạch định vàđiều hành chính sách tiền tệ quốc gia, các nhà nghiên cứu kinh tế Đặc biệttrong bối cảnh nền kinh tế trong nước và quốc tế như hiện nay thì việc nghiêncứu chính sách tiền tệ mà cụ thể là công cụ của chính sách tiền tệ là một vấn

đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao

Với mục đích trau dồi kiến thức đã học, do yêu cầu của môn môn học

em quyết định chọn đề tài : “ Chính sách tiền tệ và công cụ thực thi chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay”.

Trong quá trình tìm hiều và làm bài, em đã phân ra thành nhiều phầnkhác nhau để phân tích, do chính sách tiền tệ là rất rộng lớn, nên em phân tíchchính sách tiền tệ trong giai đoạn từ năm 2007-2009 Sau đây là một số vấn

đề em tìm hiểu được, trong quá trình làm khó tránh khỏi những thiếu sót Emrất mong sự đóng góp ý kiến của cô giáo để đề án được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

CHƯƠNG I

LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ.

1.1.Khái niệm và vị trí của chính sách tiền tệ:

1.1.1.Khái niệm chính sách tiền tệ:

Chính sách tiền tệ là một chính sách kinh tế vĩ mô do Ngân hàng trungương soạn thảo và thực thi thông qua các công cụ và biện pháp của mìnhnhằm đạt được các mục tiêu: ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn việc làm,tăng trưởng kinh tế

Chính sách tiền tệ có thể hiểu là tổng hòa các phương thức mà NHNNViệt Nam thông qua các hoạt động của mình tác động đến khối lượng tiền tệtrong lưu thông, nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nướctrong một thời kỳ nhất định Mặt khác, chính sách tiền tệ là một phận quantrọng trong hệ thống chính sách kinh tế - tài chính vĩ mô của chính phủ

Tùy điều kiện các nước, chính sách tiền tệ có thể xác lập theo haihướng: chính sách tiền tệ mở rộng (tăng cung tiền, giảm lãi suất để thúc đẩysản xuất kinh doanh, giảm thất nghiệp nhưng lạm phát tăng – “chính sách tiền

tệ chống thất nghiệp”) hoặc chính sách tiền tệ thắt chặt (giảm cung tiền, tănglãi suất làm giảm đầu tư, sản xuất kinh doanh từ đó làm giảm lạm phát nhưngthất nghiệp tăng - “chính sách tiền tệ ổn định giá trị đồng tiền”)

1.1.2 Vị trí chính sách tiền tệ :

Trong hệ thống các công cụ điều tiết vĩ mô cảu Nhà nước thì chính sáchtiền tệ là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếpvào lĩnh vực lưu thông tiền tệ Song cũng có quan hệ với các chính sách vĩ môkhác như chính sách tài khóa, chính sách thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại

Đối với Ngân hàng trung ương, việc hoạch định và thực thi chính sáchtiền tệ là hoạt động cơ bản nhất, mọi hoạt động của NHTW đều nhằm làm chochính sách tiền tệ hoạt động hiệu quả hơn

Trang 3

1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ :

1.2.1 Ổn định giá trị đồng tiền:

Ngân hàng trung ương thông qua chính sách tiền tệ có thể tác độngđến sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền của nước mình Giá trị đồng tiền ổnđịnh được xem xét trên hai mặt: sức mua đối nội của đồng tiền (chỉ số giá

cả hàng hóa và dịch vụ trong nước ) và sức mua đối ngoại (tỷ giá của đồngtiền của nước mình so với ngoại tệ) Tuy vậy, chính sách tiền tệ hướng tới

ổn định giá trị đồng tiền không có nghĩa là tỷ lệ lạm phát bằng không vìnhư vậy nền kinh tế sẽ không phát triển được, để có thể có thể có tỷ lệ lạmphát thấp hơn phải chấp nhận một tỷ lệ thất nghiệp tăng lên, đó là quy luậtcủa nền kinh tế thị trường

1.2.2 Tăng công ăn việc làm :

Chính sách tiền tệ mở rộng hay thu hẹp có ảnh hưởng trực tiếp tới việc

sử dụng các nguồn lực xã hội, quy mô sản xuất kinh doanh và từ đó ảnhhưởng tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế Để có một tỷ lệ thất nghiệp giảmthì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát tăng lên Mặt khác, khi mà tăng trưởngkinh tế đạt được là do kết quả của cuộc cải tiến kỹ thuật thì việc làm có thểkhông tăng mà còn giảm Theo nhà kinh tế học Arthur Okun thì khi GNP thực

tế giảm 2% so với GNP tiềm năng, thì mức thất nghiệp tăng 1%

Từ những điều trên cho thấy, vai trò của NHTW khi thực hiện mục tiêunày: Tăng cường đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, chống suy thoái kinh tếtheo chu kỳ, tăng trưởng kinh tế ổn định, khống chế tỷ lệ thất nghiệp khôngvượt quá tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên

1.2.3 Tăng trưởng kinh tế

Luôn là mục tiêu của mọi chính phủ trong việc hoạch định chính sáchkinh tế vĩ mô của mình, giữ cho nhịp điệu tăng trưởng kinh tế ổn định, đặcbiệt là ổn định giá trị đồng bản tệ là rất quan trọng, nó thể hiện lòng tin củadân chúng đối với chính phủ

Trang 4

Mục tiêu này chỉ đạt được khi kết quả hai mục tiêu trên(ổn định giá trịđồng tiền và tạo công ăn việc làm) đạt được một cách hài hòa Mối quan hệgiữa các mục tiêu : có quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ nhau, không tách rời Nhưngxét trong ngắn hạn các mục tiêu này có thể mâu thuẫn nhau thậm chí triệt tiêunhau Vậy để đạt được các mục tiêu trên một cách hài hòa thì NHTW trongkhi thực hiện chính sách tiền tệ cần có sự phối hợp với các chính sách kinh tế

vĩ mô khác Mặ khác để biết được các mục tiêu cuối cùng trên có thực hiệnđược không, thì NHTW phải chờ trong một thời gian dài( thường là một năm-khi kết thúc năm tài chính)

1.3 Các công cụ của chính sách tiền tệ:

1.3.1 Nghiệp vụ thị trường mở:

1.3.1.1 Khái niệm:

Nghiệp vụ thị trường mở là những hoạt động mua bán chứng khoán doNHTW thực hiện trên thị trường mở nhằm tác động tới cơ số tiền tệ qua đóđiều tiết lượng tiền cung ứng

1.3.1.2 Cơ chế tác động:

Khi NHTW mua (bán) chứng khoán thì sẽ làm cho cơ số tiền tệ tănglên (giảm đi) dẫn đến mức cung tiền tăng lên (giảm đi) Nếu thị trường mở chỉgồm NHTW và các NHTM thì hoạt động này sẽ làm thay đổi lượng tiền dựtrữ của các NHTM, nếu bao gồm cả dân chúng thì sẽ làm thay đổi ngay lượngtiền mặt trong lưu thông

1.3.1.3 Đặc điểm:

Do vận dụng tính linh hoạt của trường nên đây được coi là một công cụrất năng động, hiệu quả, chính xác của chính sách tiền tệ vì khối lượng chứngkhoán mua (bán) tỷ lệ với quy mô lượng tiền cung ứng cần điều chỉnh, ít tốnkém về chi phí, dễ thay đổi tình thế Tuy vậy, vì được thực hiện thông quaquan hệ trao đổi nên còn phụ thuộc vào các chủ thể khác tham gia trên thịtrường và mặt khác để công cụ này hiệu quả cần có sự phát triển đồng bộ củathị trường vốn, thị trường tiền tệ

Trang 5

1.3.2.2 Cơ chế tác động:

Việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp đến số nhân tiền

tệ trong cơ chế tạo tiền của NHTM Mặt khác khi tăng (giảm) tỷ lệ dự trữ bắtbuộc thì khả năng cho vay của NHTM giảm (tăng), làm cho lãi suất cho vaytăng (giảm ), từ đó làm cho lượng tiền cung ứng giảm (tăng)

1.3.2.3 Đặc điểm:

Đây là công cụ mang nặng tính quản lý của Nhà nước nên giúp NHTWchủ động điều chỉnh lượng tiền cung ứng và tác động của công cụ này cũngrất mạnh ( chỉ cần thay đổi một lượng nhỏ tỷ lệ dự trữ bắt buộc là ảnh hưởngrất lớn tới lượng cung tiền) Song tính linh hoạt không cao vì việc tổ chứcthực hiện rất chậm, phức tạp tốn kém và có thể ảnh hưởng không tốt đến hoạtđộng kinh doanh của NHTM

1.3.3 Quản lý hạn mức tín dụng của các NHTM.

1.3.3.1 Khái niệm:

Quản lý hạn mức tín dụng của các NHTM là việc NHTW quy địnhtổng mức dư nợ của các NHTM không được vượt quá một lượng nào đó trongmột thời gian nhất định( một năm) để thực hiên vai trò kiểm soát mức cungtiền của mình Việc định ra hạn mức tín dụng cho toàn bộ nền kinh tế dựa trên

cơ sở các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô (tốc độ tăng trưởng, lạm phát…) sau đóNHTW sẽ phân bổ cho các NHTM và NHTM không được cho vay vượt quáhạn mức

Trang 6

1.3.3.2 Cơ chế tác động:

Đây là một công cụ điều chỉnh một cách trực tiếp tới lượng tiền cung ứng,việc quy định pháp lý khối lượng hạn mức tín dụng cho nền kinh tế có quan hệthuận chiều với quy mô của lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của NHTM

1.3.3.3 Đặc điểm:

Giúp NHTW điều chỉnh, kiểm soát,được lượng tiền cung ứng khi cáccông cụ gián tiếp kém hiệu quả, đặc biệt tác dụng nhất thời của việc quyđịnh hạn mức tín dụng là rất cao trong nhưng giai đoạn nền kinh tế pháttriển quá nóng, tỷ lệ lạm phát quá cao Song nhược điểm của công cụ nàycũng rất lớn : triệt tiêu động lực cạnh tranh giữa các NHTM làm cho hiệuquả phân bổ vốn trong nền kinh tế, dễ phát sinh nhiều hình thức tín dụngngoài sự kiểm soát của NHTW và việc này kìm hãm sự phát triển kinh tếkhi nu cầu tín dụng tăng lên

1.3.4 Quản lý lãi suất của NHTM:

1.3.4.3 Đặc điểm:

Giúp NHTW quản lý lượng tiền cung ứng theo mục tiêu của từng thời

kỳ, điều này phù hợp với các quốc gia chưa có điều kiện phát huy tác dụngcủa các công cụ gián tiếp Song lại dễ mất đi tính khách quan của lãi suấttrong nền kinh tế vì thực chất lãi suất là “giá cả” của vốn do vậy công cụ này

Trang 7

phải được hình thành từ chính quan hệ cung cầu trong nền kinh tế Mặt khácviệc thay đổi quy định điều chỉnh lãi suất dễ làm cho các NHTM bị động tốnkém trong hoạt động kinh doanh của mình.

1.3.5 Tỷ giá hối đoái:

1.3.5.1 Khái niệm:

Tỷ giá hối đoái là đại lượng biểu thị mối tương quan về mặt giá trị giữahai đồng tiền, nói cách khác tỷ giá là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước nàyđược biểu hiện bằng đơn vị tiền tệ nước khác

Trang 8

CHƯƠNG 2 VIỆC VẬN DỤNG CÁC CÔNG CỤ ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH

TIỀN TỆ CỦA NHNN VIỆT NAM TỪ 2007-2009.

Trong quá trình tìm hiếu chính sách tiền tệ từ năm 2007-2009, do đặcđiểm của từng thời kỳ là khác nhau, em đã chia thành 3 giai đoạn, giai đoạn 1

từ năm 2007 đến đầu năm 2008, giai đoạn 2 trong năm 2008, giai đoạn 3trong năm 2009

2.1 Giai đoạn 1 từ năm 2007 đến đầu năm 2008:

Chính sách tỷ giá với biên độ dao động nhỏ làm cho nền kinh tế chưakịp thích ứng với môi trường bên ngoài Cần thay đổi chính sách biên độ daodộng nhỏ bằng chính sách tỷ giá dao động lớn hơn

2.1.2 Thực trạng:

Từ cuối năm 2006 đến giữa năm 2007, nền kinh tế Việt Nam nổi lênvới nhiều sự kiện và chỉ tiêu hứa hẹn Khi Việt Nam chính thức là thành viêncủa WTO, lượng vốn đầu tư nước ngoài và kiều hối vào Việt Nam tăng độtbiến (năm 2007 đã lên tới 20 tỷ USD) Tuy nhiên trong năm 2007 nền kinh tế

ảm đạm, đồng USD xuống giá nghiêm trọng Sự suy thoái của nền kinh tế lớnnhất thế giới này đã khiến cho nhiều nền kinh tế khác bị ảnh hưởng, trong đó

có Việt Nam

Trang 9

Về nguyên tắc, khi luồng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng,Việt Nam đồng (VND) sẽ lên giá để tạo ra điểm cân bằng Tuy vậy NHNN đãcan thiệp vào thị trường ngoại hối nhằm giảm áp lực tăng giá VND.

2.1.3 Các biện pháp thực hiện:

 Ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành VND mua lại lượng ngoại tệnày với mục đích kìm tỷ giá VND so với USD thấp hơn điểm cân bằngnhằm nâng cao tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu về giá cả Giữ VNDyếu để trợ giá cho xuất khẩu

 Điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên 2 lần so với mức của năm

2006 để hạn chế mức độ dư thừa của vốn khả dụng cảu các tổ chức tíndụng, qua đó hạn chế tăng trưởng tín dụng vào những lĩnh vực kémhiệu quả, giảm sức ép tăng lạm phát trong những tháng cuối năm

 Giữ ổn định các mức lãi suất chính thức do NHNN công bố, nhằm pháttín hiệu ổn định lãi suất thị trường

 Hạn chế cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá, thực hiện chovay chiết khấu trong hạn mức phân bổ

 Tỷ giá linh hoạt với việc nới lỏng biên độ tỷ giá từ 0.25% lên 0.5% vàođầu năm và đến 12/12/2007, tiếp tục nới rộng biên độ lên 0.75%

2.1.4 Kết quả đạt được :

Quy mô thị trường tiền tệ mở rộng và ổn định, không xảy ra các cú sốc

về lãi suất và tỷ giá trước những biến động khó lường của thị trường tài chínhquốc tế :

 Lãi suất thị trường liên ngân hàng mặc dù có biến động mạnh trong vàingày giữa tháng 11/2007, song nhìn chung mặt bằng lãi suất trong năm

ổn định : lãi suất huy động và cho vay của tổ chức tín dụng vẫn giữvững ổn định và có xu hướng giảm nhẹ so với cuối năm 2006, tạo điềukiện cho việc huy động vốn và đầu tư cho tăng trưởng kinh tế Tínhđến cuối tháng 9/2007, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng

Trang 10

31.2%, cả năm 39.6%, cao hơn tốc độ tăng năm 2006 (33.1%); tíndụng đến cuối tháng 9 tăng 30.9% (cả năm 37.8%), cao hơn nhiều sovới tốc độ tăng 22.8% của năm 2006.

 Tỷ giá danh nghĩa dao động nhẹ và có xu hướng giảm (VND lên giánhẹ), trong bối cảnh lạm phát gia tăng đã góp phần tích cực trong việc ổnđịnh lãi suất VND và ổn định thị trường tiền tệ Mặt khác tỷ giá thực thấphơn tỷ giá dah nghĩa trên thị trường, cho nên tác động khuyến khích xuấtkhẩu, kiểm soát nhập khẩu, hỗ trợ ổn định lãi suất VND

Diễn biến tổng phương tiện thanh toán mặc dù tăng cao, nhưng cơ cấu thayđổi theo chiều hướng tích cực:

 Tỷ lệ tiền mặt trên tổn phương tiện thanh toán giảm từ 19.3% năm 2006xuống 17.8% năm 2007 Tỷ lệ ngoại tệ trên tổng tiền gửi từ mức 25.9%năm 2006 giảm xuống còn 22.6% năm 2007 đã làm cho mức độ đô lahóa của nền kinh tế giảm

Hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế :

 Trong hoạt động đầu tư tín dụng của các tổ chức tín dụng có nhữngdiễn biến tích cực, các sản phẩm tín dụng đã được đa dạng hơn, nhiềulĩnh vực cho vay đầu tư được mở rộng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cónhiều điều kiện thuận lợi tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng để pháttriển sản xuất, tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp góp phần ổnđịnh xã hội Bên cạnh đó, cho vay theo chính sách hỗ trợ, cho vay tiêudung cũng được mở ra rất đa dạng đáp ứng nhu cầu xã hội

 Tín dụng đầu tư vào thị trường chứng khoán được kiểm soát chặt chẽ giảmdần cả số tuyệt đối và tỷ lệ dư nợ qua các tháng, góp phần cho thị trườngchứng khoán phát triển ổn định Tín dụng đối với lĩnh vực bất động sảncũng được theo dõi giám sát chặt chẽ nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt độngngân hàng, thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển bền vững

Trang 11

Đánh giá: Mặt trái của chính sách thị trường mở là Ngân hàng nhànước đã phải cung ra một lượng tiền đồng khổng lồ để mua hết số USD này.Đồng USD mất giá, VND lên giá, người ta lại dồn dập bán USD mua VND.Cung tiền đồng lại phải tăng thêm để giữ tỷ giá hối đoái (VND/USD) khỏixuống quá thấp, làm cho lượng tiền của Việt Nam từ năm 2005 đến hết tháng6/2007 tăng tổng cộng 110% Đây là mức tăng rất lớn, là tác nhân quan trọngđối với lạm phát Con số lạm phát lên đến 12.63% so với chỉ số GDP là 8.5%

- nghĩa là về thực chất chúng ta tăng trưởng kinh tế âm Chính sách tỷ giáhiện nay đã ảnh hưởng hạn chế nhất định đối với nền kinh tế Mặc dù ngay từđầu năm 2007, NHNN bắt đầu thực hiện nới lỏng biên độ dao dộng tỷ giá từ0.25% lên 0.75% (12/12/2007), nhưng với biên độ dao động không đáng kể,chưa đủ với thích ứng bên ngoài

2.2 Giai đoạn 2 trong năm 2008:

2.2.1 Thách thức trong năm 2008:

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra với mức độ tồi tệ nhấttrong vòng 80 năm qua Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ cuộc khủng hoảng thứcấp nhà ở Mỹ đã lan rộng ra toàn cầu Trong khi nửa đầu năm 2008 lạm pháttrên thế giới tăng mạnh, lên mức cao nhất trong vòng 20 năm qua Hầu hếtcác NHTW các nước thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, tăng lãi suất chủđạo và tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc…,thị trường ngoại tê và thị trường hàng hóadiễn ra phức tạp Trong khi Ở trong nước thiên tai diễn ra trên diện rộng, dodiễn biến giá cả thị trường thế giới, do biến động của USD, giá vàng và thịtrường chứng khoán toàn cầu…đã đẩy giá vàng, giá xăng dầu, sắt thép, càphê…tăng cao nhất trong vòng 16 năm qua Trước những diễn biến phức tạptrên giai đoạn này chính sách tiền tệ được chia thành 2 giai đoạn:

2.2.1.1 Giai đoạn từ đầu năm đến tháng sáu năm 2008:

NHNN Việt Nam quyết định nâng dự trữ bắt buộc đối với các NHTM vàquy định các ngân hàng mua trái phiếu của NHNN Kèm với đó là hạn chế tăngtrưởng tín dụng nóng bằng việc khống chế ở mức 30% Ngoài ra còn hàng loạtcác chính sách hỗ trợ thị trường chứng khoán, hạn chế cho vay bất động sản

Trang 12

Hai quý đầu năm 2008, cùng với những bất ổn trên thị trường tài chínhthế giới, tình hình kinh tế trong nước cũng diễn biến rất phức tạp Giá dầu thôtăng cao, cùng với sự dồn tích khá lâu về lượng tiền thừa đã làm cho thịtrường hóa Việt Nam có hiện tượng “bốc hỏa” về giá So với tháng 12 năm

2007, giá tiêu dùng tăng 17.18% mức cao nhát so với nhiều năm trở lại đây.Trong đó hai nhóm hàng lương thực và thực phẩm : lương thực tăng 59.44%,thực phẩm tăng 21.83%, làm cho chỉ số lạm phát 6 tháng đầu năm tăng lênmức 2.86% /tháng

Trước tình hình đó, thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt là mục tiêuchủ yếu của NHNN, với ba công cụ: lãi suất, dự trữ bắt buộc và nghiệp vụ thịtrường mở Đồng thời cùng với những quy định siết chặt thị trường chứngkhoán, thị trường bất động sản…đã tác động mạnh đến thị trường

Tiền tệ thắt chặt ngay bằng cách NHTW tung ra hơn 20 000 tỷ đồng tínphiếu buộc các NHTM phải mua vào

NHNN liên tục tăng lãi suất cơ bản trong 6 tháng đầu năm, đỉnh điểmvào tháng 6/2008 lên dến 14% Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên thêm 1%

Nguồn: http:// Vneconomy.vn Trong điều kiện tiền quá nhiều trong lưu thông tiền tệ thì việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ để giảm lượng tiền thừa là hoàn toàn đúng xét cả về lý thuyết và thực tiễn Sự can thiệp quyết liệt của NHNN cho thấy được chính kiến cũng như quyết tâm của toàn hệ thống ngân hàng trong việc kiềm chế lạm phát Và kết quẩ lạm phát đã bị đẩy lùi từ đỉnh điểm 3.91%/tháng (tương đương 25.2%/năm) trong tháng 5 xuống các mức thấp hơn trong quý và thậm chí còn âm vào các tháng cuối năm Tuy nhiên NHTM đã phải trải qua những tháng ngày (đặc biệt là tháng 2 và 3) cực kỳ khó khăn về thanh khoản Chiến dịch lãi suất của các ngân hàng giai đoạn này đã tạo nên một dấu ấn khá sâu đậm Chỉ trong vòng vài ngày các ngân hàng đã đẩy lãi suất từ 15%/năm lên 19%/năm, lãi suất cho vay

Trang 13

được đẩy lên mức tối đa 21%/năm Lãi suất cho vay rất cao đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó có khả năng vay vốn kinh doanh.

2.2.1.2 Giai đoạn từ tháng 6 đến cuối năm 2008:

Sau khi thực hiện thành công vai trò kiềm chế lạm phát, NHTW đã từng bươc nới lỏng chính sách tiền tệ và lãi suất vẫn là một công cụ hết sức quan trọng Lãi suất cơ bản đã

hạ dần từ mức 14% xuống 13% (21/10/2008), 12% (5/11/2008) và liên tiếp điều chỉnh 3 lầ trong vòng 1 tháng cuối năm 2008 (21/11/2008 là 11%, 5/12/2008 là 10%, 22/12/2008 là 11%) Cùng với lãi suất cơ bàn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn cũng được điều chỉnh giảm; các NHTM được bán tín phiếu bắt buộc trước hạn Các công cụ trên đã tác động mạnh tới thị trường, làm tăng dần mức cung tiền trong nền kinh tế Tăng trưởng tín dụng năm 2008 đạt khoảng 23% Tăng trưởng tín dụng đã góp phần chặn đà suy giảm ổn định kinh tế vĩ mô.

2.2.2 Đánh giá trong năm 2008:

Như vậy trong năm 2008 NHNN đã thực hiên các biện pháp thắt chặt tiền tệ, kiềm chế lạm phát những tháng đầu năm, có nới lỏng vào những tháng cuối năm Tính đến hết năm 2008 tổng phương tiện thanh toán đối với nền kinh tế tăng 16.31% so với cuối năm 2007; tổng nguồn vốn huy động từ khách hàng tăng 20.46%, tổng dư nợ cho vay tăng 21%,

tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng 5.4% Thực hiện ưu tiên kiềm chế lạm phát, nhưng NHNN vẫn linh hoạt trong việc điều hành đáp ứng nhu cầu vốn cho nông nghiệp lĩnh vực xuất khẩu và các dự án quan trọng đang triển khai dở dang.

Xử lý lãi suất hài hòa đảm bảo quyền lợi của người gửi tiền, ngân hàng thương mại

Về tỷ giá NHNN điều hành theo hướng bám sát quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại tệ Chính sách điều hành tỷ giá lấy việc khuyến khích xuất khảu làm động lực Trong năm 2008 có một số thời điểm xảy ra tình trạng thiếu USD đó là do nhập siêu tăng nhanh

và NHNN điều hành tỷ giá theo chỉ đạo của chính phủ Theo số liệu của tổng cục thống kê,

tỷ giá bình quân năm 2008 so với 2007 tăng 2.35%.

Ngày đăng: 19/05/2015, 15:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 Diễn biến một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô giai đoạn 2002 - 2009 - Chính sách tiền tệ và công cụ thực thi chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay
Bảng 1 Diễn biến một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô giai đoạn 2002 - 2009 (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w