1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự chuyển đổi diễn ngôn lý luận, phê bình văn học Việt Nam từ thời kỳ đổi mới đến nay

27 696 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 237 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.3 Nghiên cứu lý luận phê bình văn học từ thời kì đổi mới đến nay ở góc độ diễn ngôn là hướng đi quan tâm đến không gian ngôn ngữ chứa đựng nhữngquan điểm về học thuật, quan tâm đến sự

Trang 1

Trần Thị Ngọc Anh

SỰ CHUYỂN ĐỔI DIỄN NGÔN

LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM

TỪ THỜI KỲ ĐỔI MỚI ĐẾN NAY

Chuyên ngành : Lý luận văn học

Mã số : 62.22.01.20

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Đình Sử

Phản biện 1: PGS.TS Trịnh Bá Đĩnh

Phản biện 2 PGS.TS Lí Hoài Thu

Phản biện 3: PGS.TS Đào Thủy Nguyên

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường họp tại:

Vào hồi … giờ … ngày … tháng… năm

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

:

Trang 3

sự chuyển đổi, cách tân lý luận, phê bình văn học đều thể hiện qua sự thay đổi

bộ mặt ngôn ngữ của nó Lý luận, phê bình văn học vì vậy, có thể xem như làmột không gian ngôn ngữ đặc thù Tư cách ngôn ngữ ấy của lý luận, phê bìnhvăn học lại không chịu sự quy định của các đặc điểm ngữ âm, từ vựng, ngữpháp một cách thuần túy mà chịu sự quy định của mối quan hệ tương tác giữacác cơ chế tâm lý, chính trị, xã hội và hệ hình tri thức chủ lưu Điều này tất yếuđòi hỏi một cách thức tiếp cận khác về lý luận, phê bình văn học

1.2 Sự xuất hiện của lý thuyết “diễn ngôn” về căn bản đã làm thay đổiquan niệm, cách tiếp cận, cách nghiên cứu về ngôn ngữ và các vấn đề xã hộitrong đó có văn học nghệ thuật Trước khi thuật ngữ này trở nên thông dụng,người ta vẫn quan niệm “ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy” Nhưng trênthực tế, ngôn ngữ không chỉ tồn tại như một công cụ, kí hiệu để phản ánh mà nócòn chính là nội dung được biểu đạt Một phát ngôn được hình thành không chỉphụ thuộc vào quy tắc tạo nghĩa của ngôn ngữ mà còn phụ thuộc vào cơ chếphát sinh của nội dung cụ thể Cơ chế đó ràng buộc, quy định các phát ngôn của

cá nhân trong các điều kiện xã hội lịch sử cụ thể được nói gì, không được nói gì

và nên nói như thế nào hay dựa vào đâu để nói Do đó diễn ngôn còn được hiểu

là “hoạt động diễn đạt bằng lời nói biểu nghĩa được hiểu như tổng thể của quátrình và kết quả, nó có bình diện ngôn ngữ học thuần tuý và cả những bình diệnngoài ngôn ngữ học”

1.3 Nghiên cứu lý luận phê bình văn học từ thời kì đổi mới đến nay ở góc

độ diễn ngôn là hướng đi quan tâm đến không gian ngôn ngữ chứa đựng nhữngquan điểm về học thuật, quan tâm đến sự sinh sôi, nảy nở của các hệ thuật ngữchính trong lý luận, phê bình văn học cũng như toàn bộ nền văn học Lý thuyếtdiễn ngôn sẽ cho phép nghiên cứu lí luận, phê bình văn học như một phươngtiện giao tiếp có chức năng truyền đạt, lưu giữ và sáng tạo thông tin của cá nhâncũng như xã hội Từ góc độ tiếp cận này, người nghiên cứu có thể nhận ra chân

lí khoa học không chỉ phụ thuộc vào đối tượng khách quan mà còn phụ thuộcvào chủ thể nhận thức Nó không chỉ là hình ảnh hiện thực mà còn là sự đồngthuận liên chủ thể trong hoạt động giao tiếp Cũng từ góc độ tiếp cận này, lịch

Trang 4

sử khoa học nói chung, lịch sử lí luận và phê bình văn học nói riêng, sẽ hiện lênnhư một tiến trình có sự bứt phá, nhưng cũng có những bước đứt gẫy, mâuthuẫn, tiếp biến vô cùng phức tạp

1.4 Cho đến nay, việc vận dụng lý thuyết diễn ngôn trong nghiên cứu vănhọc trên thế giới cũng như ở Việt Nam vẫn còn non trẻ và có nhiều bất đồng.Tuy nhiên, chúng tôi mong rằng, kết quả của luận án sẽ tiếp tục khẳng địnhhướng tiếp cận các vấn đề của văn học nói chung và lý luận, phê bình văn họcViệt Nam thời kỳ đổi mới nói riêng từ góc nhìn diễn ngôn là khả thi, hiệu quả

2 Đối tượng, phạm vi ngiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự chuyển đổi diễn ngôn lý luận phê bìnhvăn học Việt Nam từ thời kì đổi mới đến nay

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Với đối tượng nghiên cứu như trên, luận án xác định phạm vi nghiên cứulà: các công trình lý luận, phê bình văn học Việt Nam thời kì trước và sau đổimới dưới góc nhìn diễn ngôn Thời gian đổi mới được chúng tôi xác định bắtđầu từ 1986 đến nay theo dấu mốc Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI(1986) – Đại hội của kỷ nguyên đổi mới và hội nhập toàn cầu

Tuy nhiên, do số lượng các công trình lý luận, phê bình văn học trước vàsau đổi mới rất lớn nên chúng tôi tập trung chủ yếu vào các công trình nghiêncứu đã được công nhận, đánh giá cao và có ý nghĩa đối với việc tạo ra sự thayđổi diễn ngôn lý luận, phê bình văn học như: các văn kiện, chỉ thị, nghị quyếtcủa Đảng về văn hóa, văn học, giáo trình lý luận văn học, giáo trình văn họcphương Tây, giáo trình văn học Việt Nam, các tập bài giảng về văn học, vănhóa của Trường Chính trị trước, một số chuyên luận văn học trước và sau đổi

mới; các bài lý luận, phê bình văn học trên các tạp chí như: Tạp chí Cộng sản –

với tư cách là cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Việt Nam – nơi tập trungquyền lực chính trị xã hội mạnh nhất với diện phổ biến rộng nhất và tạp chí

Nghiên cứu văn học – vốn được coi là không gian học thuật uy tín của lý luận,

phê bình văn học trước và sau đổi mới Các nghiên cứu lý luận, phê bình văn

học trên báo Văn nghệ, Tạp chí Khoa học cũng được chúng tôi sử dụng phối kết

hợp trong quá trình triển khai các vấn đề quan trọng của luận án

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

3.1 Mục đích của luận án là tìm hiểu quy luật vận động của diễn ngôn lý

luận, phê bình văn học Việt Nam Từ đó thấy được tác động của diễn ngôn lý luậnphê bình, văn học đến thực tiễn nghiên cứu văn học từ thời kỳ đổi mới đến nay

3.2 Nhiệm vụ của luận án là mô tả, tổng kết vấn đề chuyển đổi diễn ngôn

lý luận phê bình văn học thời kì đổi mới như một hệ quả tất yếu nhưng cũng làmột quá trình chưa hoàn thành, chưa kết thúc và vẫn đang tiếp diễn

4 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện luận án, chúng tôi sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu:

Trang 5

- Phương pháp xã hội học lịch sử: Nghiên cứu sự chuyển đổi diễn ngôn lýluận, phê bình văn học là nghiên cứu tiến trình của diễn ngôn lý luận, phê bìnhvăn học theo dòng lịch sử Vì thế, sử dụng phương pháp xã hội học lịch sử sẽgiúp chúng tôi nghiên cứu, chỉ rõ những tác động của bối cảnh lịch sử đến sựchuyển đổi diễn ngôn lý luận, phê bình văn học.

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành Đây là phương pháp quan trọngđối với chúng tôi khi tiến hành nghiên cứu đề tài này Vì bản thân việc phântích diễn ngôn luôn phải tính đến bản chất liên ngành, liên văn bản, liên chủ thể

- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Việc nghiên cứu sự chuyển đổi diễnngôn lý luận, phê bình văn học cần được nghiên cứu theo quan điểm hệ thống

để đảm bảo tính lôgic và biện chứng của quá trình chuyển biến diễn ngôn trước

và sau đổi mới

- Phương pháp loại hình: Phương pháp này được chúng tôi sử dụng trongquá trình mô hình hóa các kiểu cấu trúc diễn ngôn lý luận, phê bình văn học trước

và sau đổi mới

- Phương pháp miêu tả: Phương pháp này giúp chúng tôi có thể mô tả mộtcách cụ thể thực tiễn lý luận, phê bình văn học thời kỳ đổi mới dưới ảnh hưởngcủa chiến lược và trật tự diễn ngôn

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng sử dụng phối kếthợp các thao tác trong nghiên cứu văn học nói chung và lý luận, phê bình nóiriêng như: phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, đối lập

hệ thuật ngữ chủ đạo, các con đường vận dụng lý luận, phê bình đối với nghiêncứu văn học Từ đó luận án chỉ ra quy luật vận động, chuyển đổi diễn ngôn lýluận, phê bình văn học Việt Nam đương đại

- Luận án cũng góp phần chỉ ra những khả năng và thách thức trong sựphát triển của diễn ngôn lý luận, phê bình văn học cũng như nền lý luận, phêbình văn học Việt Nam trong tương lai

6 Cấu trúc luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tham khảo, Các công trình khoahọc đã công bố có liên quan đến luận án, Nội dung của luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Lý luận, phê bình văn học như một hình thức diễn ngôn

Chương 3: Diễn ngôn lý luận, phê bình văn học thời kỳ đổi mới từnguyên tắc đối lập đến hội nhập đa phương

Chương 4: Diễn ngôn lý luận, phê bình văn học thời kỳ đổi mới từnguyên tắc chính trị sang học thuật

Trang 6

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Những nghiên cứu lý luận, phê bình văn học Việt Nam thời kì đổi mới

Trong số các tài liệu nghiên cứu về lý luận, phê bình văn học Việt Namthời kỳ đổi mới đã thu thập được, chúng tôi nhận thấy: việc nghiên cứu lý luậnphê bình văn học thời kì đổi mới có thể chia làm ra ba hướng sau:

1.1.1 Hướng nghiên cứu lý luận, phê bình văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới bằng phương thức tổng thuật, sưu tầm tư liệu

Nghiên cứu lý luận, phê bình văn học thời kỳ đổi mới từ góc độ tổngthuật, sưu tầm các tư liệu văn học nói chung cũng như lý luận, phê bình văn họcViệt Nam nói riêng là việc làm thiết thực và có nhiều ý nghĩa Nó khẳng định

sự nghiệp đổi mới toàn diện trong lý luận, phê bình văn học đã và đang nhậnđược những thành công to lớn Hướng nghiên cứu này đánh dấu những đónggóp của các nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Thiện, Trịnh Bá Đĩnh, Cao Hồng …

1.1.2 Hướng nghiên cứu tập trung vào một hoặc một số vấn đề trong

lý luận, phê bình văn học thời kì đổi mới

Nội dung nghiên cứu về lý luận, phê bình văn học Việt Nam thời kỳ đổimới theo hướng này nhận được sự quan tâm của nhiều học giả như: Hà MinhĐức, Phan Cự Đệ, Nguyễn Văn Long, Phong Lê, Phương Lựu, Trần Đình Sử,Huỳnh Như Phương, Trần Hữu Tá, Đinh Xuân Dũng, Phan Trọng Thưởng,Nguyễn Văn Dân, Nguyễn Đăng Điệp … Các nghiên cứu thường tập trung vàomột số vấn đề sau:

Thứ nhất, đó là sự khẳng định đổi mới là xu thế tất yếu, phù hợp với quy

luật phát triển chung Thứ hai, văn học trong đó có lý luận, phê bình văn học

được đổi mới do Đảng thay đổi quan niệm và tư duy lãnh đạo văn học nghệ

thuật Thứ ba, lý luận, phê bình văn học đổi mới như một nhu cầu tự thân Thứ

tư, đổi mới do ảnh hưởng của lý thuyết văn học phương Tây được phép du

nhập Thứ năm, trong nhiều bài nghiên cứu về lý luận, phê bình văn học thời kỳ

đổi mới, các tác giả đã thành thực chỉ ra những tồn tại, bất cập của lý luận, phê

bình văn học thời kì đổi mới Thứ sáu, từ một phương diện được quan tâm của

thực tiễn đổi mới lý luận, phê bình văn học các nhà nghiên cứu đề xuất các biệnpháp để lý luận, phê bình văn học được phát triển và tiến kịp với thế giới

1.1.3 Hướng nghiên cứu một cách toàn diện về thành tựu, hạn chế cũng như khả năng phát triển của lý luận, phê bình văn học thời kì đổi mới

Hướng nghiên cứu về lý luận, phê bình văn học thời kì đổi mới một cáchtoàn diện đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của các tác giả: Trần Đình Sử,Phương Lựu, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Duy Bắc, Trịnh Bá Đĩnh, Cao Hồng

… Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến nhiều mặt của đời sống lý luận, phêbình văn học thời kì đổi mới, chỉ ra được thành tựu cũng như hạn chế của mộtgiai đoạn lý luận, phê bình văn học nhiều biến động Tuy nhiên, tất cả các côngtrình đã nghiên cứu về lý luận, phê bình văn học Việt Nam thời kì đổi mới chủ

Trang 7

yếu quan tâm đến sự chuyển đổi về các quy luật, các khuynh hướng, thành tựucũng như hạn chế của lý luận, phê bình văn học mà chưa quan tâm đến vấn đềquyền lực và ưu thế tri thức đối với thực tiễn lý luận, phê bình văn học Cơ chếnào trong đời sống xã hội cũng như hệ hình tri thức cụ thể nào có vai trò chínhtạo ra mạng lưới tổ chức, mạng lưới quy tắc quy định mọi phương thức biểu đạtcũng như sự chuyển đổi của lý luận, phê bình văn học trong thực tiễn văn học

1.3 Vấn đề đặt ra cho luận án

1.3.1 Việc nghiên cứu lý luận, phê bình văn học không chỉ là nghiên cứuvấn đề bản chất hay quy luật, thành tựu hay hạn chế mà còn là vấn đề lý luận,phê bình văn học xuất hiện để làm gì, hướng đến ai, thuyết phục ai và thuyếtphục bằng phương thức biểu đạt nào? Cơ chế xã hội và hệ hình tri thức nào

“cho phép” các phương thức biểu đạt của lý luận, phê bình văn học có thể đivào thực tiễn và trở thành ngôn ngữ chung của đời sống nghiên cứu văn học màkhông gặp trở ngại, vướng mắc? Câu hỏi đó sẽ được giải đáp khi nghiên cứu lýluận, phê bình văn học như một hình thức diễn ngôn

1.3.2 Đối với việc nghiên cứu văn học sử dụng lý thuyết diễn ngôn làm

phương tiện nghiên cứu ở Việt Nam chúng tôi nhận thấy: Thứ nhất: Lý thuyết

diễn ngôn mới chỉ được vận dụng để nghiên cứu một số nội dung của văn học

và thể loại văn học cụ thể như: diễn ngôn tính dục trong văn xuôi, diễn ngôncủa chủ nghĩa hậu thực dân, diễn ngôn về xứ thuộc địa, diễn ngôn tiểu thuyết,diễn ngôn ký, diễn ngôn truyện ngắn… mà chưa quan tâm đến diễn ngôn lý

luận, phê bình văn học một cách hệ thống Thứ hai: Các công trình đã nghiên

cứu vận dụng diễn ngôn với tư cách là lý thuyết thể loại của văn học quan tâmđến các vấn đề như: mã tư tưởng hệ, mã thể loại trong diễn ngôn, trường diễnngôn, trường tri thức trong diễn ngôn, diễn ngôn trung tâm, diễn ngôn ngoạibiên… trong những phạm vi cụ thể của văn học mà chưa quan tâm thích đángđến các chiến lược và trật tự của lý thuyết diễn ngôn trong việc quy định cácnguyên tắc tổ chức, kiến tạo diễn ngôn

1.3.3 Nghiên cứu sự chuyển đổi diễn ngôn lý luận, phê bình văn học thời

kỳ đổi mới chính là một con đường mô tả lại quá trình thay đổi của thực tiễn lýluận, phê bình trên nền tảng của các khung tri thức và hệ thống quyền lực trongcác giai đoạn lịch sử khác nhau của văn học

Trang 8

CHƯƠNG 2

LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC NHƯ MỘT HÌNH THỨC DIỄN NGÔN

2.1 Khái niệm diễn ngôn

Cho đến nay, mặc dù khái niệm diễn ngôn đã trở nên phổ biến, song việcđịnh nghĩa thế nào là “diễn ngôn” lại vẫn chưa có câu trả lời hoàn toàn thốngnhất Các công trình nghiên cứu sử dụng diễn ngôn làm cơ sở lý thuyết đều căn

cứ vào nhiệm vụ cụ thể của mình mà đưa ra định nghĩa về diễn ngôn Do đó,

khi I.P.Ilin và E.A Tzurganova trong Các khái niệm và thuật ngữ của các

trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỉ 20 cho rằng: “Diễn

ngôn được lý giải như một quá trình kí hiệu học, được thực hiện ở những dạngthức thực tiễn diễn ngôn khác nhau” cũng có nghĩa là thừa nhận diễn ngôn nhưmột phạm trù mở, khó hoàn kết và thống nhất trong một định nghĩa duy nhất

2.1.1 Diễn ngôn trong ngôn ngữ học

Sự xuất hiện của thuật ngữ diễn ngôn khiến cho các nhà ngôn ngữ họckhông thể không tiến hành phân biệt ngôn ngữ và diễn ngôn Các nhà ngữ họcnhư: Emil Benviniste, Zeling Harris, Giilian Brown, George Yule, M.A.KHalliday, David Nunan, Cook đã quan niệm diễn ngôn như một phạm trùkhông đồng nhất với ngôn ngữ nhưng lại có liên quan chặt chẽ với ngôn ngữ vàcác chức năng ngôn ngữ Từ đó, họ coi diễn ngôn là một đơn vị ngôn ngữ trêncâu và phụ thuộc phần lớn vào ngữ cảnh cố định

2.1.2 Diễn ngôn theo quan niệm xã hội học

Từ góc độ xã hội học, diễn ngôn là một hiện tượng văn hóa, xã hội, ý thức

hệ Nó không phải là công cụ, không phải hình thức ngôn ngữ, mà là bản thânthực tiễn được biểu hiện dưới hình thức ngôn ngữ

- Quan niệm của M Bakhtin (1895 - 1975)

Lý thuyết diễn ngôn của Bakhtin tập trung chủ yếu vào việc phủ định sựđồng nhất diễn ngôn và ngôn ngữ (lời nói).Với M.Bakhtin, diễn ngôn là lời nóithấm đẫm tư tưởng hệ Nó được hiểu là một hiện tượng xã hội, không có tácgiả, có mở đầu và có thể chưa có kết thúc

- Quan niệm của Michel Foucault (1926 – 1984)

Theo M.Foucault, sự biểu hiện ra bên ngoài của diễn ngôn là một hìnhthức ngôn ngữ, nhưng nó không phải là một vấn đề ngôn ngữ thuần túy Diễnngôn được hiểu như một hành động hoặc như một sự kiện và được hình thànhtrong sự tương tác phức tạp giữa tri thức và quyền lực

Thông qua việc phân tích diễn ngôn, Foucault chỉ ra rằng, mỗi người đềubiết rất rõ là mình không có quyền nói tất cả mọi thứ, không thể nói về bất cứđiều gì ở trong bất kỳ hoàn cảnh nào giao tiếp nào Đây là cơ sở quan trọng đểông khẳng định bản chất của diễn ngôn là phải có trật tự Trong trật tự, diễnngôn sẽ “ban bố” các phạm vi cấm kị trên – dưới, được phép – không đượcphép đối với các hành vi giao tiếp của con người trong thực tiễn Các phạm vicấm đoán đó mang chức năng biểu đạt, ban bố các chủ đề, giới hạn trong diễnngôn và là “hành lang pháp lý” trong việc thực hiện các chiến lược diễn ngôn

Trang 9

- Một số quan niệm của các học giả cùng hướng khác

T.A Van Dijk quan niệm: “Diễn ngôn là sự kiện giao tiếp diễn ra giữangười nói và người nghe (người quan sát…) trong tiến trình hoạt động giao tiếp

ở một ngữ cảnh thời gian, không gian, hay những ngữ cảnh khác nào đó

V Chiupa cho rằng “diễn ngôn” - là phát ngôn, hành động lời nói tạo sinh

văn bản gồm người nghe bình đẳng với người nói và được xem là sự kiện giaotiếp tương tác văn hoá xã hội

Với các nhà nghiên cứu Trung Quốc như Cao Ngọc, Nam Phàm… thì sựxuất hiện của khái niệm diễn ngôn đồng nghĩa với sự nảy sinh một mô hìnhnghiên cứu mới trong lịch sử khoa học – mô hình học thuật “diễn ngôn luận”.Trước sự ra đời của “diễn ngôn luận”, khoa học đã sử dụng hai hệ hình nghiêncứu là “bản thể luận” và “nhận thức luận” “Diễn ngôn luận” là mô hình họcthuật nghiên cứu tư tưởng của con người trong thực tiễn biểu đạt

2.1.3 Quan niệm diễn ngôn của luận án

Diễn ngôn là thực tiễn giao tiếp của con người trong đời sống xã hội Đó là

hệ thống siêu ngôn ngữ được hiện diện qua văn bản hoặc phi văn bản về một chủ đề nào đó trong đời sống như chính trị, quân sự, đạo đức, kinh tế, nghệ thuật, văn học… Mỗi chủ đề tạo thành một đơn vị diễn ngôn Tổng hòa các đơn

vị diễn ngôn tạo thành hệ thống diễn ngôn trong xã hội Hệ thống diễn ngôn

này chịu sự tác động của cơ chế quyền lực và trạng thái tri thức mà quy định thực tiễn phát ngôn của con người bằng những nguyên tắc căn bản trong cách

dùng từ, diễn đạt, kiến tạo văn bản và kết hợp các hệ thuật ngữ của một giai đoạn lịch sử hoặc một thời đại Diễn ngôn do đó chính là bản thể tư tưởng của con người trong thực tiễn luận bàn, diễn giải các vấn đề trong đời sống cũng như học thuật một cách có chiến lược, tuân theo trật tự và mang tính liên văn bản.

Khái niệm diễn ngôn có thể được tiếp cận qua những nội dung sau:

Thứ nhất, diễn ngôn không phải là ngôn ngữ theo nghĩa thuần khiết Đây

là điều mà M Foucault cũng như nhiều nhà nghiên cứu khác trong suốt quá

trình phân tích diễn ngôn luôn khẳng định Thứ hai, diễn ngôn có tính thực tiễn.

Trong một bối cảnh cụ thể nó là một thực tại đã biết, đã được chuẩn hóa Vìvậy, phân tích diễn ngôn là phân tích các cơ chế quyền lực của xã hội, chính trị,tâm lí, ý thức hệ, lịch sử, văn hóa, tri thức ẩn chìm trong diễn ngôn nhưng lại

tác động mạnh mẽ đến các hành vi hiển ngôn của con người Thứ ba, diễn ngôn

là khái niệm liên quan chặt chẽ đến văn bản, là nguyên tắc sản sinh văn bản.

Nhưng diễn ngôn không phải là văn bản Giữa văn bản và diễn ngôn luôn tồntại khoảng cách khi văn bản có tác giả, có ý nghĩa, có phạm vi sử dụng, văn bản

có giới hạn ít nhất là về mặt kết cấu và câu chữ còn diễn ngôn thì không có tácgiả cụ thể và có thể không có giới hạn Tuy nhiên, phương thức tồn tại của văn

bản lại là liên văn bản nên diễn ngôn còn có tính chất liên văn bản, liên chủ thể.

Thứ tư, diễn ngôn là khái niệm có tính chỉnh thể, hệ thống Diễn ngôn được tạo

ra bằng sự liên kết trong tổng hoà các nhân tố ngoài ngôn ngữ, xã hội học, tâm

Trang 10

lí học…và các nhân tố khác Thứ năm, diễn ngôn mang tính chủ thể xã hội.

Diễn ngôn không bao gồm tất cả những khác biệt cá nhân, nó tồn tại như một

ngôn ngữ chung Thứ sáu, diễn ngôn là khái niệm có tính chiến lược và trật tự Bằng chiến lược và trật tự, diễn ngôn có khả năng kiểm soát và loại trừ cũng

như liên kết tư tưởng và hành vi của con người trong thực tiễn

Chiến lược và trật tự diễn ngôn cũng là phương diện lý thuyết được chúngtôi đặc biệt quan tâm sử dụng để giải quyết vấn đề của luận án

2.2 Chiến lược và trật tự diễn ngôn

2.2.1 Chiến lược diễn ngôn

Chiến lược trong diễn ngôn chính là mục đích, ý đồ, phương thức chọn

điểm xuất phát, đối tượng hướng tới, mục tiêu cô lập hay liên kết các chủ thể trong thực tiễn giao tiếp Nó ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự diễn ngôn và là

nhân tố trung tâm điều khiển mọi sự lựa chọn cũng như khả năng biểu đạt bằngngôn từ cụ thể trong thực tiễn giao tiếp Trong thực tế, khi diễn ngôn chuyểnqua một chiến lược giao tiếp mới cũng có nghĩa là “kết thúc” phát ngôn (diễnngôn) theo kiểu cũ, bắt đầu “phát ngôn” (diễn ngôn) theo phương thức mới

2.2.2 Trật tự diễn ngôn

Hầu hết các nhà nghiên cứu đều khẳng định diễn ngôn có trật tự Trật tự

diễn ngôn ảnh hưởng đến giới hạn biểu đạt (cấm – không cấm; được phép –không được phép) (M.Foucault) và cấu trúc (cấu trúc văn bản) biểu đạt (Van

Dijk) Trật tự có nghĩa là “sắp xếp theo một thứ tự, một quy tắc nhất định” có tính chất “ổn định”, có “tổ chức”, có “kỷ luật” Trật tự diễn ngôn tác động sâu

sắc đến các cơ chế hoạt động, nguyên tắc tổ chức, thực hành trong thực tiễn lời

nói cũng như văn bản Trật tự diễn ngôn có hai tính năng quan trọng: Thứ nhất,

trong trật tự diễn ngôn không phải điều gì cũng có thể nói (cấm kỵ về mặt đốitượng), không phải ai cũng được quyền nói (đặc quyền của chủ thể nói) và

không phải lúc nào cũng có thể nói (điều kiện của hoàn cảnh nói) Thứ hai, trật

tự diễn ngôn định hướng cho những liên kết trong văn bản, những sắp xếp theo

một chỉ dẫn nhất định nhằm hướng tới việc thực hiện chiến lược giao tiếp Trật

tự diễn ngôn cũng chính là hành trình “cấp nghĩa” hợp pháp cho các thuật ngữ

trong mỗi một thiết chế quyền lực và khung tri thức khác nhau

2.3 Khái niệm diễn ngôn lý luận, phê bình văn học

2.3.1 Lý luận, phê bình văn học và diễn ngôn lý luận, phê bình văn học

Lý luận, phê bình văn học thường được hiểu là các quy luật, bản chất của

văn học ở bình diện nhận thức luận Còn diễn ngôn lý luận, phê bình văn học là

khái niệm có tính lịch sử và thực tiễn Đó là hệ thống tri thức có thể được biểu đạt qua từ, cụm từ, câu Nó có tính thuật ngữ và tạo thành một cơ chế biểu đạt

về một nội dung văn học nào đó cũng như những giới hạn ảnh hưởng của nó tới văn học và các vấn đề khác của văn học Diễn ngôn lý luận, phê bình văn học cũng chính là quy tắc biểu đạt về cách kiến tạo các mô hình nghiên cứu

văn học,, các cách đánh giá về văn học Các quy tắc biểu đạt về mô hình

nghiên cứu văn học và các cách đánh giá về văn học không chỉ tồn tồn tại

Trang 11

trong hoạt động lý luận, phê bình văn học thuần túy mà nó tồn tại cả trong các lĩnh vực khác của xã hội Vì thế, diễn ngôn lý luận, phê bình văn học là khái niệm có tính chất liên văn bản, liên chủ thể.

Nhìn lý luận, phê bình văn học với tư cách là một diễn ngôn sẽ cho thấy:lịch sử văn học luôn là một thực tiễn sống động của mọi sự đổi thay, thậm chímất đi một số thuật ngữ cũ và sự sinh sôi, nảy nở của những thuật ngữ mới vềvăn học Vì vậy, trong từng giai đoạn lịch sử, khi một diễn ngôn lý luận, phê bìnhvăn học nào đó tỏ ra có ưu thế và chi phối tới các hoạt động văn học khác bằngcác công thức, các quy phạm trong mọi biểu đạt về văn học thì điều đó chứng tỏ

chiến lược của nó đã thay thế được chiến lược cũ, trật tự mới của nó tất yếu cũng

trở thành cơ chế biểu đạt chủ đạo trong thực tiễn nghiên cứu, đánh giá văn học

2.3.2 Những tiền đề chuyển đổi diễn ngôn lý luận phê bình văn học 2.3.2.1 Bối cảnh văn hóa xã hội

Bối cảnh văn hóa xã hội thời kỳ đổi mới là bối cảnh “toàn cầu hóa”.Trọng tâm của “toàn cầu hóa” chính là xu hướng hội nhập đa phương trong mọimặt của đời sống xã hội Nó đã tác động sâu sắc đến tính chất và cấu trúc của

hệ thống diễn ngôn của xã hội trong đó có diễn ngôn lý luận, phê bình văn học

2.3.2.2 Bối cảnh tri thức

Tri thức là một yếu tố quan trọng cấu thành diễn ngôn Thời kỳ đổi mới,

hệ thống tri thức của ta được phong phú nhờ sự phát triển của khoa học côngnghệ, của Internet, hoạt động dịch thuật và những chuyển động của chính bảnthân lý luận, phê bình văn học Thực tiễn này đã trở thành cơ sở, động lực mạnh

mẽ cho sự chuyển đổi của diễn ngôn lý luận, phê bình văn học sau 1986 từ đốilập đến hội nhập đa phương, từ chính trị sang học thuật như một tất yếu kháchquan và cũng là một nhu cầu tự thân của lý luận, phê bình văn học

2.3.2.3 Sự chuyển đổi diễn ngôn của Đảng cộng sản Việt Nam về lý luận, phê bình văn học

Trước đổi mới, trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin diễn ngôn

về văn học của Đảng chủ yếu tập trung nhấn mạnh việc xây dựng một nền vănhọc cũng như lý luận, phê bình văn học “phục vụ chính trị”, phục vụ công cuộckháng chiến của nước nhà Từ đó, nó tạo ra một hệ thống lý luận, phê bình vănhọc mang tính tiêu chuẩn, quy phạm cao Từ thời kỳ đổi mới (1986), nói tới vănhọc, Đảng quan niệm đó là “nhân tố góp phần” có nghĩa là không bó khuôn vănhọc như một công cụ thuần túy nữa Văn học đồng nghĩa với “tự do sáng tạo” –tức là khuyến khích văn học phát triển theo khuynh hướng nghệ thuật chânchính Đặc biệt, trong tư duy mới, với chủ trương phát triển một nền văn họccũng như lý luận, phê bình văn học tiên tiến, hiện đại Đảng đã khuyến khíchvăn học mở rộng biên độ giao lưu, tiếp thu những nhân tố tích cực của văn họcphương Đông và phương Tây Điều này đã tạo điều kiện cho việc kiến tạo diễnngôn lý luận, phê bình văn học chuyển đổi từ nguyên tắc đối lập đến hội nhập

đa phương, từ chính trị sang học thuật một cách mạnh mẽ, sâu sắc

Trang 12

CHƯƠNG 3 DIỄN NGÔN LÝ LUẬN, PHÊ BÌNH VĂN HỌC THỜI KỲ ĐỔI MỚI TỪ

NGUYÊN TẮC ĐỐI LẬP ĐẾN HỘI NHẬP ĐA PHƯƠNG

3.1 Nguyên tắc đối lập trong kiến tạo diễn ngôn lý luận, phê bình văn học trước đổi mới

3.1.1 Chiến lược diễn ngôn theo nguyên tắc đối lập

Trước đổi mới, sự xuất hiện của nguyên lý lý luận văn học theo quanđiểm Mác - Lênin đã tạo ra một cuộc cách mạng “thay đổi hệ hình” quan trọngnhất của diễn ngôn lý luận, phê bình văn học Việt Nam trước đổi mới Thựctiễn lý luận, phê bình văn học hoạt động thống nhất một hình thái nghiên cứuvăn học theo quan điểm văn học của Mác – Lênin Đặc biệt, hệ thống tri thứcnày lại được triển khai trong sự đối địch với các lý luận, phê bình phương Tâydưới danh nghĩa lý luận ngoài/phi Mác - Lênin, lý luận tư sản hoặc lý luận xétlại… Do vậy, nó trở thành cơ sở cho việc hình thành nguyên tắc đối lập trongchiến lược kiến tạo diễn ngôn lý luận, phê bình văn học trước đổi mới

Trong nguyên tắc này, toàn bộ lý luận, phê bình văn học Mác – Lêninđược đặt vào cái đúng, tiến bộ và cách mạng Đồng thời, đẩy các lý luận khác,đặc biệt là lý luận tư sản phương Tây về phía đối lập, coi nó là một trở ngại cho

sự phát triển của những tư tưởng tiến bộ, nhất là của chủ nghĩa Mác Nó đưa lýluận, phê bình văn học Mác xít và các lý luận đồng chất khác vào vị trí thốngsoái, có tính chất toàn năng và trở thành siêu lý luận Chiến lược này đã làm chotrật tự diễn ngôn lý luận, phê bình văn học trước đổi mới trở nên nhiều ràngbuộc nhất, nhiều “cấm kị” nhất và cũng dễ nhận diện nhất

3.2.2 Trật tự diễn ngôn theo nguyên tắc đối lập

Trên cơ sở đối lập mà trật tự diễn ngôn sẽ phân cấp một cách triệt để giữaviệc đề cao tri thức được lựa chọn và hạ thấp hoặc phủ định tri thức không đượclựa chọn trong thực tiễn lý luận, phê bình văn học trước đổi mới

3.2.2.1 Tri thức lý luận, phê bình văn học Mác – Lênin trong trật tự diễn ngôn

Chiến lược diễn ngôn theo nguyên tắc đối lập khiến trật tự diễn ngôntrước đổi mới đề cao tuyệt đối tri thức được lựa chọn Nó quy định lý luận, phêbình văn học theo quan điểm của Mác - Lênin, của các nhà lãnh đạo của Đảng

là hệ thống lý luận hoàn chỉnh, tiên tiến, khoa học, là kim chỉ nam và ngọnnguồn sáng tạo Điều này được thể hiện qua hàng loạt các công thức dùng từ

nhất, đảm bảo, tự hào, chắc chắn, tin tưởng… khi biểu đạt về vai trò, vị trí của

lý luận, phê bình văn học theo quan điểm Mác – Lênin Đặc biệt, để thắt chặtnguyên tắc đối lập, trật tự diễn ngôn lý luận, phê bình văn học trước đổi mớicòn lựa chọn một hệ thống từ ngữ có tính mệnh lệnh, yêu cầu hay có ý bắt buộctrong biểu đạt về lý luận, phê bình văn học như: “phải là”, “cần”, “cần phải”,

“phục tùng”, “phục vụ”… tạo ra một mạng lưới “quyền lực” trong biểu đạt chắc

Trang 13

chắn và hiệu quả thực tiễn lý luận, phê bình văn học theo quan điểm Mác –Lênin trước đổi mới.

Nguyên tắc đối lập trong trật tự diễn ngôn lý luận, phê bình văn học cònđược ghi dấu qua công thức biểu đạt “nhân danh tập thể”, “nhân danh nhân loạitiến bộ, khoa học” là ý thức của cái ta, của số đông Chủ thể diễn ngôn đượcnhận diện qua ý thức tập thể: Đảng, nhân dân, quần chúng, chúng ta, anh chị

em, các đồng chí, anh chị em nghệ sĩ …

Có thể nói, trong trật tự diễn ngôn lý luận, phê bình văn học trước đổimới, vị trí của lý luận, phê bình văn học Mác – Lênin trong diễn ngôn có ýnghĩa toàn năng, khép kín Nó góp phần hình thành một thời đại lý luận, phêbình văn học với hệ thuật ngữ chủ đạo và những chủ đề nghiên cứu đặc thù vàkhoanh vùng mọi biểu đạt của lý luận, phê bình văn học trong không gian của

lý luận, phê bình văn học theo quan điểm Mác – Lênin Điều này được thể hiện

rõ trong thực tiễn lý luận, phê bình văn học trước đổi mới từ các giáo trình lýluận, các chuyên luận văn học đến các bài giảng trong các trường Chính trị, cácbài nghiên cứu trên báo và tạp chí

3.1.2.2 Tri thức lý luận, phê bình văn học phương Tây trong trật tự diễn ngôn

Lấy lý luận, phê bình văn học Mác - Lênin làm chuẩn mực, các lý thuyết vănhọc phương Tây trong diễn ngôn bị đưa vào vị trí đối lập, bị phản đối rất gaygắt và bị quy chụp vào “tư tưởng tư sản phản động hiện đại”, “suy đồi” trái vớiquan điểm duy vật biện chứng Thiết chế này khiến cho tất cả các hoạt động vănhọc ảnh hưởng bởi lý luận tư sản phương Tây cũng bị phê phán, cảnh giác mộtcách triệt để Một bộ phận trong văn học đô thị miền Nam Việt Nam chịu ảnhhưởng từ phương Tây đã bị coi là “nấm độc”, là “nọc độc văn hóa nô dịch”, là

“đồi trụy” hay “một thứ văn học vì mục đích đồng tiền” Quan niệm như vậycòn tất yếu dẫn đến thái độ có phần phần khinh bạc, coi thường thậm chí hạthấp trong diễn ngôn biểu đạt về các nhà lý luận, phê bình văn học phương Tây

Đó là khi các nhà nghiên cứu đương thời gọi họ là: “chúng”, “bọn”, “nó”, “y”,

“bọn bịp bợm”, “bọn thông thái dởm” … coi khoa học chỉ như trò phù thủy Vìvậy, các thuật ngữ như “lệch lạc”, “phản động”, “phản tiến bộ”, “đi ngược” …trong diễn ngôn lý luận, phê bình văn học trở thành công thức biểu đạt về chủnghĩa hiện sinh, cấu trúc, phân tâm, thực dụng, phê bình mới – những lý luận tiêubiểu của phương Tây thời đó Điều này cũng đồng nghĩa với việc trong diễnngôn lý luận, phê bình văn học Việt Nam trước đổi mới không có sự đối thoạiđồng hướng giữa hệ thống lý luận, phê bình văn học Mác - Lênin và các lýthuyết văn học tư sản phương Tây Thái độ của các nhà nghiên cứu thời kỳ nàychủ yếu là “khước từ” và “phê phán” Do đó, trước 1986 các diễn ngôn tư sảnphương Tây hầu như không phát triển được Nó được đưa vào tính thế phải

“cáo phó” ngay khi vừa có mong muốn “nảy nở”

Có khẳng định rằng, trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của xã hội Việt Namnhững năm trước đổi mới, nguyên tắc đối lập đã tạo ra một trật tự diễn ngôn

Ngày đăng: 19/05/2015, 14:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w