1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn quản trị kinh doanh Một số giải pháp về chủng loại sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty cổ phần Tràng An

72 511 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 160,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để củng cố và phát triển vị thế của công ty trên thị trường, tăng khả năng cạnh tranh, góp phần nâng cao hiệu quả kinhdoanh, công ty đã cam kết thực hiện mục tiêu xây dựng một hệ thống c

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế ngày càngmạnh mẽ, cạnh tranh ngày càng khốc liệt, để có thể tồn tại và phát triển, đứngvững trên thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải có một chiến lượckinh doanh đúng đắn, nắm bắt nhanh chóng các cơ hội trên thị trường

hóa, chuyển đổi hình thức sở hữu, tách ra khỏi sự bao bọc của nhà nước đãtạo ra cho công ty nhiều cơ hội và thách thức trong quá trình đổi mới và hoànthiện cơ cấu sản phẩm sao cho linh động, phù hợp với nhu cầu và thị hiếungày càng tăng của người tiêu dùng Để củng cố và phát triển vị thế của công

ty trên thị trường, tăng khả năng cạnh tranh, góp phần nâng cao hiệu quả kinhdoanh, công ty đã cam kết thực hiện mục tiêu xây dựng một hệ thống chủngloại sản phẩm linh hoạt, không ngừng phát triển, vượt lên trên sự mong đợicủa khách hàng, nhờ đó sẽ tạo ra những sản phẩm chất lượng cao, phong phú

về hình thức, đóng góp vào khối sức mạnh chung của các doanh nghiệp ViệtNam.Tuy nhiên, quá trình thực hiện các quyết định về chủng loại sản phẩm lại

là một quá trình phức tạp, bị tác động bởi nhiều yếu tố chủ quan tại doanhnghiệp và khách quan của môi trường bên ngoài, đòi hỏi công ty phải cónhững chiến lược dài hạn và ngắn hạn bám sát từng giai đoạn cụ thể mới cókhả năng đạt được hiệu quả cao nhất

Trên cơ sở nắm bắt tình hình thực tế tại công ty cùng với sự hướng dẫn

nhiệt tình, chu đáo của Thạc sỹ Nguyễn Sơn Lam em đã chọn đề tài: “ Một số

giải pháp về chủng loại sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh

Trang 2

doanh tại công ty cổ phần Tràng An” là đề tài cho luận văn tốt nghiệp của

mình

Do thời gian thực tập không nhiều, kiến thức và kinh nghiệm còn hạnchế nên chắc chắn đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót Qua đây, emmong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô để luận văn của em đượchoàn thiện hơn

Em xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo trong chuyên ngànhMarketing, các anh chị trong công ty cổ phần Tràng An và đặc biệt là thầygiáo Nguyễn Sơn Lam đã tận tình giúp đỡ để em hoàn thành đề tài tốt nghiệpnày

Mục đích nghiên cứu

Hệ thống hóa một số vấn đề lí luận về chủng loại sản phẩm và vai trò củachính sách chủng loại sản phẩm đối với việc nâng cao hiệu quả kinh doanh củadoanh nghiệp

Thực trạng hoạt động kinh doanh và thực tế về việc thực hiện chínhsách chủng loại sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty

Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp về chủng loại sản phẩm nhằmnâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các chính sách về chủng loại sảnphẩm nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần Tràng An

Trang 3

Luận văn tập chung vào việc nghiên cứu các quyết định có liên quan tớichủng loại sản phẩm của công ty Tràng An trong những năm qua.

Phương pháp nghiên cứu

Chuyên đề này sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch

sử làm công cụ chủ đạo để thực hiện đề tài, đồng thời kết hợp chặt chẽphương pháp lịch sử, logic, phương pháp trừu tượng hoá khoa học, phươngpháp thống kê, so sánh, đối chiếu phân tích tổng hợp Bên cạnh đó còn ápdụng các lý thuyết về chủng loại sản phẩm vào thực tiễn hoạt động kinhdoanh của công ty

Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận thì kết cấu của luận văn gồm 3phần chính:

Chương 1 Những lý luận cơ bản về chủng loại sản phẩm trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Chương 2 Thực trạng về việc thực hiện chiến lược chủng loại sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty cổ phần Tràng An trong những năm qua

Chương 3 Một số giải pháp về chủng loại sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty cổ phần Tràng An

Trang 4

CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHỦNG LOẠI SẢN PHẨM TRONG VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Tổng quan về chủng loại sản phẩm

1.1.1 Khái niệm sản phẩm và chủng loại sản phẩm

1.1.1.1 Sản phẩm

Theo quan điểm của Marketing:

Sản phẩm là một thứ có thể chào bán trên thị trường, với mục đích thuđược sự chú ý, sự chấp nhận, sử dụng hoặc tiêu thụ, có khả năng thỏamãn được một nhu cầu hay một mong muốn

Theo quan niệm này, sản phẩm có thể tồn tại dưới dạng vật chấthay phi vật chất, bao gồm hàng hóa, dịch vụ, ý tưởng, con người, địađiểm, tổ chức, có thể thỏa mãn một hay nhiều nhu cầu của thị trường ởmột thời điểm cụ thể

Với quan điểm trên, có thể xem xét sản phẩm ở ba cấp độ sau:

- Cấp độ cơ bản nhất là lợi ích cốt lõi, chính là dịch vụ hay lợi ích cơbản mà khách hàng thực sự mua Mỗi khách hàng, mỗi nhóm kháchhàng khác nhau sẽ có những nhu cầu khác nhau gắn với những lợiích khác nhau, nó chính là cơ sở cho việc ra quyết định liên quanđến sản phẩm Điều quan trọng sống còn đối với doanh nghiệp lànhà quản trị Marketing phải nghiên cứu tìm hiểu khách hàng để pháthiện ra những đòi hỏi về các khía cạnh khác nhau tiềm ẩn trong nhucầu của họ Chỉ có như vậy, doanh nghiệp mới có thể tạo ra nhữngsản phẩm có khả năng thỏa mãn được những lợi ích mà khách hàngmong đợi

Trang 5

- Cấp độ thứ hai là sản phẩm hiện thực: Doanh nghiệp sau khi nghiêncứu nhu cầu và những lợi ích mà khách hàng muốn có sẽ đưa nhữngyếu tố này vào những sản phẩm cụ thể Đó là những yếu tố phản ánh

sự có mặt trên thực tế của sản phẩm Những yếu tố đó bao gồm: Cácchỉ tiêu phản ánh chất lượng, các đặc tính, bố cục bề ngoài, tên nhãnhiệu và đặc trưng của bao gói Trong thực tế, khi tìm mua những lợiích cơ bản, khách hàng dựa vào những yếu tố đó Và cũng nhờnhững yếu tố này mà doanh nghiệp khẳng định sự hiện diện củamình trên thị trường, để khách hàng tìm mua sản phẩm của doanhnghiệp cũng như phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp này với sảnphẩm của doanh nghiệp khác

- Cấp độ thứ ba là sản phẩm bổ sung: Đó là những yếu tố như: tínhtiện lợi cho việc lắp đặt, những dịch vụ bổ sung sau khi bán, nhữngđiều kiện bảo hành, và điều kiện hình thức tín dụng Một số công tythành đạt nhất đã bổ sung cho sản phẩm của mình những lợi íchkhông những chỉ thỏa mãn khách hàng mà còn làm họ vui lòng nữa.Cách làm vui lòng là tạo thêm cho sản phẩm những điều kiện ngạcnhiên bất ngờ

Như vậy một sản phẩm trong kinh doanh không chỉ là một tập hợpđơn sơ những thuộc tính cụ thể mà trên thực tế còn kèm theo cả nhữngdịch vụ sau khi hàng hóa đã bán cho khách hàng Người tiêu dùng cảmnhận những sản phẩm như một tập hợp những lợi ích đem lại sự thỏamãn nhu cầu của họ Do đó, khi triển khai những sản phẩm trước hếtdoanh nghiệp cần phải xác định những yêu cầu cốt lõi của khách hàng

mà sản phẩm sẽ phải thỏa mãn Sau đó phải thể hiện được những lợi íchcủa sản phẩm thông qua việc thiết kế những yếu tố của sản phẩm và tìmcách bổ sung thêm đặc tính của sản phẩm để tạo ra tập hợp những lợi

Trang 6

ích nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng một cáchtốt nhất.

1.1.1.2 Chủng loại sản phẩm

Chủng loại sản phẩm là một nhóm sản phẩm có liên quan chặt chẽ vớinhau do giống nhau về chức năng hay do bán chung cho cùng nhữngnhóm khách hàng, hay thông qua cùng những kiểu tổ chức thương mạihay trong khuôn khổ cùng một dãy giá

Mỗi chủng loại sản phẩm đòi hỏi một chiến lược Marketingriêng Các quyết định về chủng loại sản phẩm bao gồm một loạt cácquyết định quan trọng như:

+ Quyết định về bề rộng của chủng loại sản phẩm

+ Quyết định phát triển chủng loại sản phẩm

+ Quyết định bổ sung một loại sản phẩm

+ Quyết định về danh mục sản phẩm

+ Quyết định đa dạng hóa sản phẩm

+ Quyết định làm nổi bật sản phẩm

+ Quyết định thanh lọc sản phẩm

1.1.1 Các quyết định liên quan đến chủng loại sản phẩm

1.1.2.1 Quyết định về bề rộng của chủng loại sản phẩm

Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp phải thông qua quyếtđịnh về bề rộng của chủng loại sản phẩm Chủng loại là quá hẹp nếunhư doanh nghiệp có thể tăng lợi nhuận bằng cách bổ sung những sản

Trang 7

phẩm mới, và là quá rộng nếu có thể tăng lợi nhuận bằng cách loại bỏmột số sản phẩm.

Bề rộng của chủng loại sản phẩm cũng phụ thuộc vào mục tiêucủa doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp đang cố gắng để nổi tiếng làngười cung ứng một chủng loại đầy đủ hay đang phấn đấu để chiếmlĩnh phần lớn thị trường hay mở rộng thị trường, thường có chủng loạisản phẩm rộng Họ sẽ ít lo lắng hơn khi có những mặt hàng do họ sảnxuất ra không sinh lời Còn những doanh nghiệp quan tâm trước hếtđến tính sinh lời cao thì thường có chủng loại sản phẩm hẹp

Cùng với thời gian thì chủng loại sản phẩm thường được mởrộng ra Doanh nghiệp có thể mở rộng chủng loại sản phẩm của mìnhbằng hai cách: phát triển và bổ sung thêm

1.1.2.2 Quyết định về phát triển chủng loại sản phẩm

Chủng loại sản phẩm của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều chỉ

là một bộ phận chủng loại sản phẩm chung của toàn ngành Do đóchủng loại sản phẩm sẽ được phát triển khi doanh nghiệp vượt ra ngoàiphạm vi sản xuất hiện tại Việc phát triển này có thể hoặc là hướngxuống dưới, hoặc là hướng lên trên, hoặc là đồng thời theo cả haihướng

- Phát triển hướng xuống dưới: Nhiều doanh nghiệp lúc đầu chiếmlĩnh đoạn phía trên của thị trường rồi về sau dần dần mở rộng chủngloại sản phẩm của mình để chiếm lĩnh cả những đoạn thị trườngphía dưới Việc làm này có mục đích kím hãm các đối thủ cạnhtranh, tiến công họ hay xâm nhập vào những phần thị trường dangphát triển nhanh nhất

Những lý do của việc phát triển hướng xuống dưới:

Trang 8

+ Công ty bị đối thủ cạnh tranh tấn công ở đâu trên và quyết địnhphản công bằng cách xâm nhập đầu dưới của đối thủ cạnh tranh.+ Công ty thấy rằng sự tăng trưởng ngày càng chậm đang diễn ra ởđầu trên.

+ Công ty lúc đầu xâm nhập đầu trên để tạo dựng hình ảnh chấtlượng và có ý định mở rộng xuống phía dưới

+ Công ty đã bổ sung một đơn vị đầu dưới để bít một lỗ hổng thịtrường mà nếu không làm như vậy thì nó sẽ thu hút một đối thủcạnh tranh mới

Khi tiến hành việc phát triển hướng xuống dưới công ty phảiđương đầu với những rủi ro Mặt hàng ở đầu thấp có thể gây tổn hạicho những mặt hàng ở đầu cao Cũng có khi mặt hàng ở đầu thấp cóthể kích động các đối thủ cạnh tranh trả đũa bằng cách chuyển dịch

về phía đầu trên Hay các đại lý của công ty có thể chưa sẵn sànghoặc không đủ khả năng kinh doanh những sản phẩm ở đầu dưới, vìchúng có khả năng sinh lời nhỏ hơn hay làm lu mờ hình ảnh của họ

- Phát triển hướng lên trên: Những doanh nghiệp đang hoạt động ởnhững đoạn thị trường phía dưới có thể muốn xâm nhập vào nhữngphần ở đoạn thị trường phía trên Họ có thể bị hấp dẫn bởi nhịp độtăng trưởng cao hơn của những đoạn thị trường bên trên hay khảnăng sinh lời cao hơn của chúng Cũng có thể doanh nghiệp chỉmuốn xác lập vị trí của mình như là một nhà sản xuất chủng loại sảnphẩm đầy đủ

Quyết định phát triển hướng lên trên có thể là mạo hiểm Những đốithủ cạnh tranh ở phía trên không những đã chiếm lĩnh vững chắc vị trícủa họ mà có thể chuyển sang phản công bằng cách xâm nhập vào đoạn

Trang 9

rằng một doanh nghiệp mới lại có đủ khả năng sản xuất những mặthàng chất lượng cao Và hơn nữa bản thân những nhân viên bán hàng,những người phân phối của doanh nghiệp có thể không đủ tài năng vàkiến thức để phục vụ đoạn thị trường cao cấp hơn.

- Phát triển theo cả hai hướng: Một doanh nghiệp đang hoạt độngtrong đoạn thị trường ở giữa có thể quyết định phát triển chủng loạisản phẩm của mình đồng thời theo hai hướng lên trên và hướngxuống dưới Để thực hiện mục tiêu này các doanh nghiệp thườngxâm nhập vào các đoạn thị trường phía trên bằng chính sách chấtlượng hoàn hảo giá cả rẻ hơn so với đối thủ cạnh tranh và xâm nhậpđoạn thị trường phía dưới bằng chính sách bảo đảm chất lượng vàgiá thành hạ sao cho phù hợp với khả năng thanh toán ở đoạn thịtrường này Khi đã chiếm được cả đoạn thị trường phía trên và đoạnthị trường phía dưới, doanh nghiệp sẽ dễ dàng chiếm lĩnh vị trí chủđạo trên thị trường

1.1.2.3 Quyết định bổ sung một loại sản phẩm

Việc mở rộng chủng loại sản phẩm có thể thực hiện bằng cách bổ sungnhững mặt hàng mới trong khuôn khổ hiện có của nó Có một số nguyênnhân dẫn đến việc bổ sung chủng loại sản phẩm:

+ Doanh nghiệp mong muốn có thêm lợi nhuận

+ Doanh nghiệp muốn lấp đầy khoảng trống chủng loại hiện có

+ Doanh nghiệp muốn tận dụng năng lực sản xuất dư thừa

+ Doanh nghiệp muốn trở thành vị trí chủ chốt với chủng loại sản phẩmđầy đủ

+ Doanh nghiệp muốn xóa bỏ những khoảng trống để hạn chế cạnhtranh

Trang 10

Việc bổ sung những loại sản phẩm quá mức sẽ dẫn đến làm giảm tổnglợi nhuận, bởi vì các mặt hàng sẽ cản trở việc tiêu thụ của nhau, cònngười tiêu dùng thì lúng túng trước quá nhiều sự lựa chọn Khi sản xuấtnhững mặt hàng mới doanh nghiệp phải nắm chắc là sản phẩm mới sẽkhác hẳn những sản phẩm đã sản xuất.

Công ty phải kiểm tra xem mặt hàng được đề xuất có đáp ứngmột nhu cầu của thị trường hay không hay là chỉ được bổ sung để thỏamãn một nhu cầu nội bộ

1.1.2.4 Quyết định về danh mục sản phẩm

Nếu như một doanh nghiệp có nhiều nhóm chủng loại sản phẩmthì người ta nói đến danh mục sản phẩm

Danh mục sản phẩm là tập hợp tất cả các nhóm sản phẩm và cácđơn vị sản phẩm do một người bán cụ thể đem chào bán cho ngườimua

Danh mục sản phẩm của doanh nghiệp có thể mô tả theo các chỉtiêu: bề rộng, mức độ phong phú, bề sâu và mức độ hài hòa

+ Bề rộng của danh mục sản phẩm: Là tổng số các nhóm chủng loại sảnphẩm do doanh nghiệp sản xuất

+ Mức độ phong phú của danh mục sản phẩm của doanh nghiệp: Làtổng số những mặt hàng thành phần của danh mục sản phẩm

+ Bề sâu của danh mục sản phẩm của doanh nghiệp: Là các phương ánchào bán từng mặt hàng riêng trong khuân khổ nhóm chủng loại

+ Mức độ hài hòa của danh mục sản phẩm: Là mức độ gần gũi củahàng hóa thuộc các nhóm chủng loại khác nhau xét theo góc độ mụcđích cuối cùng của chúng, những yêu cầu về tổ chức sản xuất, các kênhphân phối hay các chỉ tiêu khác nào đó, các nhóm chủng loại sản phẩm

Trang 11

đều là hàng có cùng chức năng và thông qua cùng những kênh phânphối.

Bốn chỉ tiêu đặc trưng cho danh mục sản phẩm này giúp doanhnghiệp xác định chính sách sản phẩm của mình Doanh nghiệp có thể

mở rộng hoạt động của mình bằng cách bổ sung thêm những chủng loạisản phẩm mới Có thể tăng mức độ phong phú của những nhóm chủngloại sản phẩm đã có đưa doanh nghiệp tiến dần đến vị trí của doanhnghiệp có chủng loại sản phẩm đầy đủ Có thể đưa ra nhiều phương áncho từng mặt hàng sẵn có, tức là phát triển bề sâu của danh mục sảnphẩm Và cuối cùng, tùy theo mục tiêu của doanh nghiệp là muốn giànhđược uy tín vững chắc trong một lĩnh vực nào đó hay muốn phát triểntrong nhiều lĩnh vực thì doanh nghiệp có thể phấn đấu theo hướng tănghay giảm mức độ hài hòa giữa các mặt hàng thuộc các nhóm chủng loạikhác nhau

1.1.2.5 Quyết định đa dạng hóa sản phẩm

Đa dạng hóa sản phẩm là quá trình phát triển cải biến, sáng tạo ra nhiềuloại sản phẩm từ những sản phẩm truyền thống sẵn có, đồng thời cải biến vànhập ngoại nhiều loại sản phẩm cùng loại, phong phú về chủng loại và mẫu

mã từ những sản phẩm thô đến sản phẩm qua chế biến

- Thực chất của đa dạng hóa sản phẩm

Trong hệ thống mục tiêu kinh tế - xã hội của mỗi doanh nghiệp có haimục tiêu được coi là cơ bản, tạo tiền đề cho các mục tiêu khác đó là việc tạo

ra sản phẩm với chất lượng cao phù hợp với nhu cầu của thị trường và xã hội

và việc đạt được lợi nhuận tối đa sau mỗi chu kỳ kinh doanh trên cơ sở nângcao hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh Để thực hiện có hiệu quả

Trang 12

hệ thống mục tiêu kinh tế-xã hội nói chung và hai mục tiêu nói riêng mỗidoanh nghiệp phải xác định được cơ cấu sản phẩm hợp lý của mình Tính hợp

lý của mỗi cơ cấu sản phẩm chỉ thích ứng với những điều kiện nhất định trongmỗi kỳ kinh doanh do đó khi những điều kiện ấy có sự thay đổi thì cơ cấu sảnphẩm cũng phải thay đổi để đạt tính hợp lý mới điều đó có nghĩa là cơ cấu sảnphẩm của công ty phải mang tính động để thích ứng với nền kinh tế thị trườngcạnh tranh sôi động

Sự hoàn thiện và đổi mới cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệp được thựchiện theo nhiều cách khác nhau như :

Thu hẹp danh mục sản phẩm bằng cách loại bỏ những sản phẩm lỗithời, những sản phẩm kém sức cạnh tranh và những sản phẩm không có khảnăng tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp

Giữ nguyên chủng loại sản phẩm đang sản xuất nhưng cải tiến, hoànthiện những sản phẩm ấy về hình thức, về nội dung, tạo thêm nhiều kiểu dáng

Trong thực tế, các hướng trên đây được thực hiện xen kẽ lẫn nhau Nếu

cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệp thay đổi theo hướng thu hẹp lại, đảm bảo

sự tập trung cao hơn về sản xuất thì doanh nghiệp phát triển theo hướng

Trang 13

phát triển theo hướng đa dạng hoá Trong những thời kì nhất định và trên mộtthị trường nhất định doanh nghiệp có thể thực hiện đa dạng hoá thông quahình thức cải tiến, hoàn thiện sản phẩm đã có hoặc là đưa ra những sản phẩmmới hoàn toàn có thể cùng loại hoặc khác biệt so với những sản phẩm cũnhưng doanh nghiệp cũng có thể kết hợp cả hai hình thức trên nhằm thỏa mãnđáp ứng cao nhất nhu cầu của thị trường.

Như vậy đa dạng hoá sản phẩm của doanh nghiệp là việc mở rộngdanh mục sản phẩm, nó gắn liền với quá trình đổi mới và hoàn thiện cơ cấusản phẩm, nhằm đảm bảo doanh nghiệp thích ứng được với sự biến động củamôi trường kinh doanh

- Lý do của việc đa dạng hóa sản phẩm

Nhu cầu thị trường ngày càng phong phú, đa dạng và thường xuyên biến đổi

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, đời sống xãhội cũng ngày càng được nâng cao về nhiều mặt Trong cuộc sống ngày nay,nhu cầu của con người không chỉ bó gọn ở mức độ thấp như có ăn, có mặc màphải là ăn ngon mặc đẹp ngoài ra còn có nhu cầu vui chơi, giải trí, nhu cầuthẩm mĩ rất cao Như vậy so với trước kia trong thời kì kế hoạch hoá tập trung

tự cung tự cấp, nhu cầu thị trường mang tính cứng nhắc và bị áp đặt bởi chínhcác yếu tố cung, giờ đây nhu cầu mới là nhân tố thực sự quyết định sự vậnđộng của thị trường Các sản phẩm không thể đáp ứng được nhu cầu của thịtrường khi chúng chỉ mang " ích lợi cốt lõi " đơn thuần mà còn phải mangtính thẩm mĩ, sự tiện nghi và phong phú về chủng loại Việc một loại sảnphẩm có cùng giá trị sử dụng nhưng có thêm một số đặc tính khác để thoảmãn từng đoạn thị trường nhất định chính là một biểu hiện của hoạt động đa

Trang 14

dạng hoá sản phẩm Đa dạng hoá sản phẩm tạo ra nhiều mặt hàng mới phongphú với chất lượng cao tăng phương án sản phẩm để người tiêu dùng có nhiều

cơ hội lựa chọn

Do tiến bộ của khoa học công nghệ nên chu kỳ sống của sản phẩm bị rút ngắn

Ngày nay cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra với tốc độnhanh như vũ bão Một khối lượng đồ sộ các phát minh sáng chế ra đời đã tạo

ra ngày càng nhiều công nghệ, máy móc thiết bị, nguyên liệu mới Điều đặcbiệt là hàm lượng tri thức hay tỷ trọng phần mềm trong các công nghệ mớinày là rất lớn chính vì vậy thời gian tồn tại của các công nghệ này rất ngắn vàđiều này cũng đồng nghĩa với việc sản phẩm của doanh nghiệp bị đào thảinhanh hơn

Xu hướng chuyên môn hoá kết hợp với đa dạng hoá trong sản xuất kinh doanh

Việc nhận thức đúng đắn mối quan hệ giữa chuyên môn hoá và đa dạnghoá sản phẩm của doanh nghiệp công nghiệp là cơ sở để xác định đúng đắncon đường, phương hướng và điều kiện phát triển các hình thức tổ chức sảnxuất tương ứng

Về hình thức, khi mức độ đa dạng hoá sản phẩm càng cao trình độchuyên môn hoá sản xuất của doanh nghiệp càng thấp nhưng xét về nội dung

đó không phải là hai quá trình độc lập mà có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau

Thứ nhất, bản thân sản phẩm chuyên môn hoá của doanh nghiệp cũng phải

được hoàn thiện, cải tiến về hình thức và nội dung, tăng thêm kiểu cách, mẫu

Trang 15

Thứ hai, với nhiều doanh nghiệp việc thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn

hoá thường không sử dụng hết các nguồn lực sẵn có Bởi vậy trong khi coinâng cao một cách hợp lý trình độ chuyên môn hoá là phương hướng chủ đạocủa phát triển doanh nghiệp, doanh nghiệp vẫn cần mở rộng danh mục sảnphẩm để tận dụng các nguồn lực sản xuất

Thứ ba, có rất nhiều phương thức thực hiện đa dạng hoá sản phẩm nhưng đa

dạng hóa sản phẩm dựa trên cơ sở nền tảng các điều kiện vật chất kĩ thuật củachuyên môn hoá ban đầu mang lại, sẽ giảm bớt được nhu cầu đầu tư Đâychính là ràng buộc của chuyên môn hoá đến việc thực hiện đa dạng hoá sảnphẩm của doanh nghiệp

Như vậy, để xây dựng cơ cấu sản phẩm động mang tính linh hoạt thìbản thân sản phẩm chuyên môn hoá của doanh nghiệp cũng phải được đadạng hoá và đây được coi là xu hướng tất yếu đảm bảo cho doanh nghiệpđứng vững trong môi trường kinh doanh

Phân tán rủi ro, đảm bảo an toàn trong kinh doanh

Mục tiêu chính của các doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh

là lợi nhuận nhưng trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt, sự thànhcông của doanh nghiệp bị đe dọa bởi rất nhiều yếu tố chủ quan và kháchquan Một cơ hội kinh doanh có khả năng thu lợi càng lớn thì mức độ rủi rokinh doanh xảy ra đối với doanh nghiệp càng cao Rủi ro kinh doanh xảy ra

có thể gây thiệt hại rất lớn cho doanh nghiệp về nhiều mặt vì vậy khi xâydựng các phương án kinh doanh, doanh nghiệp rất quan tâm đến việc ngănngừa rủi ro đảm bảo độ an toàn cao nhất cho doanh nghiệp Một trong nhữngbiện pháp giúp doanh nghiệp giảm thiểu những rủi ro là thực hiện đa dạnghoá sản phẩm để tạo ra các tuyến sản phẩm với nhiều thang, dòng bổ sung lẫn

Trang 16

nhau thay vì chỉ tập trung sản xuất một sản phẩm khi các yếu tố khách quanbiến động có thể dẫn đến sự phá sản của doanh nghiệp.

Đa dạng hoá góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế biểu hiện tập trungcủa sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồnlực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh.Việc đa dạng hoá sản phẩm trên cơ sở các nguồn lực sẵn có cho phép doanhnghiệp tăng năng lực sản xuất, đạt được lợi nhuận tối đa ngoài ra còn tăngthêm thu nhập cho người lao động, giải quyết việc làm và các mục tiêu xã hộikhác

Tóm lại, thực hiện đa dạng hóa sản phẩm được coi là một xu hướng tấtyếu khách quan đối với các doanh nghiệp công nghiệp giúp doanh nghiệp tồntại, phát triển vững chắc trong nền kinh tế thị trường hiện hay

Trong quá trình mở rộng kinh doanh các doanh nghiệp có thể thực hiện

đa dạng hoá sản phẩm với những hình thức khác nhau Sau đây là một số hìnhthức đa dạng hoá sản phẩm

Biến đổi chủng loại

Đó là quá trình hoàn thiện và cải tiến các loại sản phẩm đang sản xuất

để giữ vững thị trường hiện tại và thâm nhập vào thị trường mới, nhờ sự đadạng về kiểu cách, cấp độ hoàn thiện của sản phẩm thoả mãn thị hiếu, điềukiện sử dụng và khả năng thanh toán của những khách hàng khác nhau Sựhoàn thiện ấy có thể thuần tuý về hình thức sản phẩm hoặc về nội dung sảnphẩm hoặc cả về hình thức và nội dung sản phẩm

Trang 17

Đổi mới chủng loại

Loại bỏ những sản phẩm lỗi thời, những sản phẩm khó tiêu thụ và bổsung những sản phẩm mới vào danh mục sản phẩm của doanh nghiệp Nhữngsản phẩm được bổ sung này có thể là sản phẩm mới tuyệt đối ( đối với doanhnghiệp và với thị trường ) hoặc sản phẩm mới tương đối ( mới với doanhnghiệp nhưng không mới với thị trường )

Việc thực hiện hình thức đa dạng hoá sản phẩm này gắn liền với việcdoanh nghiệp rời bỏ một số thị trường cũ và gia nhập những thị trường mới

Hình thức hỗn hợp

Kết hợp một số nội dung của hình thức thứ nhất và thứ hai vừa nêu.Nghĩa là doanh nghiệp vừa cải tiến, hoàn thiện một số sản phẩm đang sảnxuất, vừa loại bỏ những sản phẩm không sinh lợi, vừa bổ sung những sảnphẩm mới vào danh mục sản phẩm của mình

1.1.2.6 Quyết định làm nổi bật sản phẩm

Người quản lý loại bỏ sản phẩm thường lựa chọn một hay một vài mặthàng trong loại sản phẩm của mình để làm nổi bật lên Họ có thể làm nổi bậtmẫu mã khuyến mãi ở đầu dưới để phục vụ cho việc mở đường Ngược lại cónhững nhà quản lý làm nổi bật mặt hàng ở đầu trên để tạo uy tín cho loại sảnphẩm của mình

1.1.2.7 Quyết định thanh lọc sản phẩm

Người quản lý sản phẩm thường xuyên, định kỳ có kế hoạch rà soát lạinhững mặt hàng của mình để thanh lọc bớt chúng Có hai trường hợp cần phảithanh lọc

Trang 18

Thứ nhất là khi loại sản phẩm đó có mặt hàng không đem lại lợi nhuận,những mặt hàng yếu kém có thể xác định được thông qua việc phân tíchdoanh số bán và chi phí.

Thứ hai là khi công ty thiếu năng lực sản xuất Nhà quản trị phải tậptrung vào sản xuất những mặt hàng đem lại nhiều lợi nhuận hơn Các công tythường rút ngắn các loại sản phẩm khi nhu cầu căng thẳng và kéo dài các loạisản phẩm của mình khi nhu cầu thấp

Như vậy chính sách sản phẩm là một lĩnh vực hoạt động nhiều chiều vàphức tạp đòi hỏi phải thông qua những quyết định về những đặc điểm cụ thểcủa danh mục sản phẩm, chủng loại sản phẩm, việc sử dụng tên nhãn hiệu,bao bì, dịch vụ, cũng như phát triển sản phẩm mới Các nhà quản trị doanhnghiệp cần phải phối hợp các yếu tố của sản phẩm chặt chẽ và thống nhất vớinhau, tùy vào tình hình thực tế của từng thời điểm cụ thể để đưa ra được cácquyết định về sản phẩm một cách chính xác và hiệu quả cao

1.2 Vai trò của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với

doanh nghiệp

1.2.1 Lý luận cơ bản về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.2.1.1 Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh

Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiệntập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độkhai thác các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tiền vốn ) và trình độ chi phícác nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất để đạt được các mục tiêukinh doanh

Trang 19

1.2.1.2 Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh

Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suấtlao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội Đây là hai mặt có quan hệmật thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế Để đạt được mục tiêu kinh doanhcác doanh nghiệp phải chú trọng và phát huy tối đa năng lực, hiệu năngcủa các yếu tố sản xuất, tiết kiệm mọi chi phí Tuy vậy, để hiểu rõ bảnchất của hiệu quả sản xuất kinh doanh cần phân biệt hai khái niệm Hiệuquả và Kết quả sản xuất kinh doanh

Kết quả là phạm trù sản xuất phản ánh những cái thu được sau mộtkhoảng thời gian sản xuất kinh doanh được biểu hiện bằng đơn vị hiện vật(tấn, tạ, Kg ) và đơn vị giá trị (đồng, triệu đồng ) Kết quả còn phản ánhqui mô hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuấthay phản ánh mặt chất lượng của quá trình kinh doanh Việc xác định hiệuquả kinh doanh cũng rất phức tạp bởi kết quả kinh doanh và hao phí nguồnlực gắn với một thời kỳ cụ thể nào đó đều rất khó xác định một cách chínhxác

Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải đạt Lợi nhuậntối đa với chi phí tối thiểu

1.2.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Các nhân tố bên ngoài

Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ giữa kếtquả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó, nó phản ánh trình độ lợi

Trang 20

dụng các nguồn lực đầu vào để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp Các đạilượng kết quả đạt được và chi phí bỏ ra chịu tác động rất nhiều nhân tố khácnhau với các mức độ khác nhau Do đó nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quảkinh doanh của các doanh nghiệp Các nhân tố bên ngoài bao gồm:

Môi trường khu vực và quốc tế: Môi trường kinh tế cũng như chính trịtrong khu vực và trên thế giới ổn định là cơ sở, tiền đề thuận lợi giúp cácdoanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình đạt hiệuquả cao

Môi trường kinh tế quốc dân bao gồm môi trường chính trị, pháp luật

và môi trường kinh tế, môi trường văn hoá xã hội, điều kiện tự nhiên và cơ sở

hạ tầng, trình độ Khoa học kĩ thuật công nghệ Đây là các nhân tố vô cùngquan trọng tác động trực tiếp tới hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinhdoanh của doanh nghiệp

Môi trường ngành: Trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay, tronghầu hết các lĩnh vực kinh doanh, môi trường ngành là nhân tố góp phần ảnhhưởng không nhỏ tới hiệu quả sản xuất kinh doanh, nó bao gồm các doanhnghiệp trong ngành, khả năng gia nhập mới của các doanh nghiệp khác, cácsản phẩm thay thế, người cung ứng và khách hàng Trong đó khách hàng làvấn đề vô cùng quan trọng và được các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm chú ý

Các nhân tố bên trong

Bao gồm cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị, đặc tính về sản phẩm, côngtác tiêu thụ sản phẩm, công tác đảm bảo nguyên vật liệu, cơ sở vật chất kỹthuật, tình hình tài chính, lao động, tiền lương và môi trường làm việc

Trang 21

Đặc tính về sản phẩm: Ngoài chất lượng của sản phẩm những đặc tínhmang hình thức bên ngoài của sản phẩm như mẫu mã, bao bì, nhãn hiệu lànhững yếu tố cạnh tranh không thể thiếu được Các đặc tính của sản phẩm lànhân tố quan trọng quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, gópphần lớn vào việc tạo uy tín, đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm làm cơ sởcho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nên có ảnh hưởng rất lớn tớihiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Công tác tổ chức tiêu thụ sản phẩm: Tiêu thụ là khâu cuối cùng trongquá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó quyết định tới các khâukhác của quá trình sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm

có tiêu thụ được hay không mới là điều quan trọng nhất Tốc độ tiêu thụ sảnphẩm quyết định tốc độ sản xuất và nhịp độ cung ứng Nguyên vật liệu

Công tác đảm bảo nguyên vật liệu: Nguyên vật liệu là một trong nhữngyếu tố đầu vào không thể thiếu được đối với các doanh nghiệp sản xuất Sốlượng, chủng loại, cơ cấu, chất lượng, giá cả của nguyên vật liệu và tính đồng

bộ của việc cung ứng nguyên vật liệu ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp

Cơ sở vật chất kĩ thuật: Cơ sở vật chất kĩ thuật là yếu tố vật chất hữuhình quan trọng phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Cơ sở vật chất dù chiếm tỷ trọng lớn hay nhỏ trong tổng tài sản của doanhnghiệp thì nó vẫn có vai trò quan trọng thúc đẩy các hoạt động kinh doanh vàthể hiện bộ mặt kinh doanh của doanh nghiệp qua hệ thống nhà xưởng, khotàng, bến bãi

Tình hình tài chính: Tình hình tài chính của doanh nghiệp tác động rấtmạnh tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Khả năng tài chính của

Trang 22

doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của doanh nghiệp, tới khả năngchủ động sản xuất kinh doanh, tới tốc độ tiêu thụ và khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp, ảnh hưởng tới mục tiêu tối thiểu hoá chi phí bằng cách chủđộng khai thác sử dụng tối ưu các nguồn lực đầu vào.

Lao động và tiền lương: lao động là một trong các yếu tố đầu vào quantrọng, nó tham gia vào mọi hoạt động, mọi quá trình sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp Do đó nó ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất kinhdoanh Bên canh đó tiền lương và thu nhập của người lao động cũng ảnhhưởng trực tiếp tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp vì tiền lương là một

bộ phần cấu thành lên chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đồngthời nó còn tác động tới tâm lý của người lao động trong doanh nghiệp

Môi trường làm việc: Bao gồm môi trường văn hoá và môi trườngthông tin, hai yếu tố này cũng trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinhdoanh trong doanh nghiệp

1.2.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Đối với doanh nghiệp hiệu quả kinh doanh không chỉ là thước đo chấtlượng phản ánh trình độ tổ chức quản lí kinh doanh mà còn là vấn đề sốngcòn của doanh nghiệp Trong điều kiện kinh tế thị trường ngày càng mở rộng,muốn tồn tại và phát triển thì đòi hỏi doanh nghiệp kinh doanh phải có hiệuquả Hiệu quả kinh doanh càng cao, doanh nghiệp càng có điều kiện mở rộng

và phát triển hoạt động kinh doanh, đối với doanh nghiệp hiệu quả kinh tếchính là lợi nhuận thu được trên cơ sở không ngừng mở rộng sản xuất, tăng

uy tín và thế lực của doanh nghiệp trên thương trường

Trang 23

Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thương mại là vấn đề phức tạp

có quan hệ đến toàn bộ các yếu tố của quá trình kinh doanh Doanh nghiệp chỉ

có thể đạt được hiệu quả kinh doanh khi sử dụng các yếu tố cơ bản của quátrình kinh doanh có hiệu quả

Hiệu quả kinh doanh = Kết quả thu được – Chi phí bỏ ra

Để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của toàn doanh nghiệp người

ta thường dùng các chỉ tiêu sau:

Chỉ tiêu Doanh thu một đồng chi phí trên cho biết với một đồng Chi phí bỏ ra,doanh nghiệp tạo ra được mấy đồng Doanh thu

Chỉ tiêu Doanh thu trên một đồng vốn kinh doanh phản ánh một đồng Vốnkinh doanh đem lại bao nhiêu đồng Doanh thu

Chỉ tiêu doanh lợi theo chi phí cho biết bỏ ra một đồng Chi phí đem lại baonhiêu đồng Lợi nhuận

Chỉ tiêu Doanh lợi theo vốn kinh doanh cho biết một đồng vốn kinh doanhđem lại bao nhiêu đồng Lợi nhuận

Trang 24

Chỉ tiêu Doanh lợi doanh thu thuần phản ánh một đồng Doanh thu thuần đemlại bao nhiêu đồng Lợi nhuận.

1.2.2 Tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp

Như vậy trong cơ chế thị trường việc nâng cao hiệu quả kinh doanh vôcùng quan trọng, nó được thể hiện thông qua:

Thứ nhất: nâng cao hiệu quả kinh doanh là cơ sở cơ bản để đảm bảo

sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Sự tồn tại của doanh nghiệp đượcxác định bởi sự có mặt của doanh nghiệp trên thị trường, mà hiệu quả kinhdoanh lại là nhân tố trực tiếp đảm bảo sự tồn tại này, đồng thời mục tiêu củadoanh nghiệp là luôn tồn tại và phát triển một cách vững chắc Do đó việcnâng cao hiệu quả kinh doanh là một đòi hỏi tất yếu khách quan đối với tất cảcác doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường hiện nay Do yêu cầu của

sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp đòi hỏi nguồn thu nhập củadoanh nghiệp phải không ngừng tăng lên Nhưng trong điều kiện nguồn vốn

và các yếu tố kỹ thuật cũng như các yếu tố khác của quá trình sản xuất chỉthay đổi trong khuôn khổ nhất định thì để tăng lợi nhuận đòi hỏi các doanhnghiệp phải nâng cao hiệu quả kinh doanh Như vậy, hiệu quả kinh doanh làđiều kiện hết sức quan trọng trong việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của

Trang 25

Một cách nhìn khác là sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi

sự tạo ra hàng hoá, của cải vật chất và các dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xãhội, đồng thời tạo ra sự tích luỹ cho xã hội Để thực hiện được như vậy thìmỗi doanh nghiệp đều phải vươn lên để đảm bảo thu nhập đủ bù đắp chi phí

bỏ ra và có lãi trong quá trình hoạt động kinh doanh Có như vậy mới đáp ứngđược nhu cầu tái sản xuất trong nền kinh tế Và như vậy chúng ta buộc phảinâng cao hiệu quả kinh doanh một cách liên tục trong mọi khâu của quá trìnhhoạt động kinh doanh như là một yêu cầu tất yếu Tuy nhiên, sự tồn tại mớichỉ là yêu cầu mang tính chất giản đơn còn sự phát triển và mở rộng củadoanh nghiệp mới là yêu cầu quan trọng Bởi vì sự tồn tại của doanh nghiệpluôn luôn phải đi kèm với sự phát triển mở rộng của doanh nghiệp, đòi hỏiphải có sự tích luỹ đảm bảo cho quá trình tái sản xuất mở rộng theo đúng quiluật phát triển Như vậy để phát triển và mở rộng doanh nghiệp mục tiêu lúcnày không còn là đủ bù đắp chi phí bỏ ra để phát triển quá trình tái sản xuấtgiản đơn mà phải đảm bảo có tích luỹ đáp ứng nhu cầu tái sản xuất mở rộng,phù hợp với qui luật khách quan và một lần nữa nâng cao hiệu quả kinh doanhđược nhấn mạnh

Thứ hai, nâng cao hiệu quả kinh doanh là nhân tố thúc đẩy sự cạnh

tranh và tiến bộ trong kinh doanh Chính việc thúc đẩycạnh tranh yêu cầu cácdoanh nghiệp phải tự tìm tòi, đầu tư tạo nên sự tiến bộ trong kinh doanh.Chấp nhận cơ chế thị trường là chấp nhận sự cạnh tranh Trong khi thị trườngngày càng phát triển thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt

và khốc liệt hơn Sự cạnh tranh lúc này không còn là cạnh tranh về mặt hàng

mà cạnh tranh cả về chất lượng, giá cả và các yếu tố khác Trong khi mục tiêuchung của các doanh nghiệp đều là phát triển thì cạnh tranh là yếu tố làm cácdoanh nghiệp mạnh lên nhưng ngược lại cũng có thể là các doanh nghiệp

Trang 26

không tồn tại được trên thị trường Để đạt được mục tiêu là tồn tại và pháttriển mở rộng thì doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh trên thịtrường Do đó doanh nghiệp phải có hàng hoá dịch vụ chất lượng tốt, giá cảhợp lý Mặt khác hiệu quả kinh doanh là đồng nghĩa với việc giảm giá thànhtăng khối lượng hàng hoá bán, chất lượng không ngừng được cải thiện nângcao

Thứ ba, mục tiêu bao trùm, lâu dài của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi

nhuận Để thực hiện mục tiêu này, doanh nghiệp phải tiến hành mọi hoạt độngsản xuất kinh doanh để tạo ra sản phẩm cung cấp cho thị trường Muốn vậy,doanh nghiệp phải sử dụng các nguồn lực sản xuất xã hội nhất định Doanhnghiệp càng tiết kiệm sử dụng các nguồn lực này bao nhiêu sẽ càng có cơ hội

để thu được nhiều lợi nhuận bấy nhiêu Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phảnánh tính tương đối của việc sử dụng tiết kiệm các nguồn lực xã hội nên là điềukiện để thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài của doanh nghiệp Hiệu quả kinhdoanh càng cao càng phản ánh doanh nghiệp đã sử dụng tiết kiệm các nguồnlực sản xuất.Vì vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh là đòi hỏi khách quan đểdoanh nghiệp thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hoá lợi nhuận.Chính sự nâng cao hiệu quả kinh doanh là con đường nâng cao sức cạnh tranh

và khả năng tồn tại, phát triển của mỗi doanh nghiệp

1.3 Vai trò của chủng loại sản phẩm đối với việc nâng cao hiệu quả

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới và việc hội nhập vào các tổchức tự do hóa mậu dịch đã đưa hoạt động sản xuất kinh doanh của nước tasang một giai đoạn phát triển mới có nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp không ítcác khó khăn thử thách Do đó các doanh nghiệp cần phải đưa ra những chiến

Trang 27

quả sản xuất kinh doanh là một vấn đề đặt ra cho mọi doanh nghiệp trong nềnkinh tế thị trường

Trong điều kiện thị trường cạnh tranh, mỗi doanh nghiệp cần phải tìm chomình thứ vũ khí cạnh tranh hiệu quả nhất nhằm nâng cao hiệu quả kinhdoanh, giúp doanh nghiệp đứng vững trên thị trường Thực tế có ba loại vũkhí cạnh tranh thường được sử dụng là:

Chiến lược chủng loại sản phẩm đóng vai trò rất quan trọng trong việcnâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Sản phẩm là vũ khí cạnh tranh lâu bền và sắc bén nhất của doanh nghiệp,

do đó xác định đúng đắn chiến lược sản phẩm, bao gồm cả chiến lược chủngloại sản phẩm có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại của doanh nghiệp, nó là

bộ phận giữ vị trí xương sống, trụ cột, quyết định trực tiếp đến hiệu quả và uytín của nhà kinh doanh

Chiến lược chủng loại sản phẩm sẽ quyết định những vấn đề chủ yếu nhấttrong hoạt động kinh doanh Đó là phương hướng sản xuất, quy mô và tốc độphát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh

Nhờ có các hoạt động nghiên cứu thị trường và khách hàng, doanh nghiệp

có thể tạo ra những sản phẩm phù hợp với thị hiếu tiêu dùng, có chất lượng

Trang 28

cao, có khả năng cạnh tranh mạnh mẽ Nó còn giúp cho doanh nghiệp xâydựng được một cơ cấu sản phẩm tối ưu, làm cơ sở để đầu tư hợp lý, có hiệuquả.

Ngoài ra, một chiến lược sản phẩm đúng đắn sẽ giúp cho doanh nghiệp cóthể đẩy mạnh việc sản xuất các sản phẩm đáp ứng được nhu cầu đa dạng củakhách hàng, làm cho khối lượng sản phẩm tiêu thụ được ngày càng tăng lên,

từ đó tăng doanh thu và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanhnghiệp

Vị trí và thế lực của doanh nghiệp trên thị trường được phản ánh ở thịphần của nó cũng như uy tín của sản phẩm Muốn đững vững trên thị trường,bành trướng thế lực, chi phối thị trường, điều kiện đầu tiên nhà kinh doanhphải quan tâm đến là sản phẩm chứ không phải giá cả hay dịch vụ Sản phẩmđược người tiêu dùng chấp nhận và tin tưởng là cơ sở quan trọng nhất để thuhút khách hàng, mở rộng thị phần, tăng cường khả năng cạnh tranh

Mặt khác với việ xây dựng một hệ thống các chủng loại sản phẩm tốt cũngđồng nghĩa với việc kinh doanh khai thác được các thế mạnh, hạn chế nhữngkhó khăn bất lợi của mình Đây là điều kiện thuận lợi giúp các doanh nghiệpgiảm thiểu các rủi ro trong quá trình kinh doanh, góp phần thực hiện mục tiêu

an toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của mình

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ VIỆC THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC CHỦNG LOẠI SẢN PHẨM NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TRÀNG AN TRONG NHỮNG NĂM QUA

2.1 Tổng quan về công ty Tràng An

Trang 29

Công ty Cổ phần Tràng An là doanh nghiệp Nhà nước, tiền thân là: "Xínghiệp Công- tư hợp danh bánh kẹo Hà nội" được thành lập sau ngày giảiphóng thủ đô Với các tên gọi qua từng thời kỳ như sau:

+ 18/04/1975: Xí nghiệp Kẹo Hà nội, thuộc Sở Công nghiệp Hà nội, đóng tại

204 Đội Cấn, quận Ba Đình, Hà nội

+ 01/08/1989: Nhà máy kẹo Hà nội, gồm 2 cơ sở đóng tại phường Quan Hoa

và phường Nghĩa Đô, Cầu giấy, Hà nội

+ 08/12/1992: Công ty bánh kẹo Tràng An được thành lập theo quyết định số3128/QĐ - UB của UBND Thành phố Hà Nội đóng tại Số 1 - Phùng Chí Kiên

- Nghĩa Đô - Cầu giấy - Hà Nội

+ 01/10/2004: Chính thức Cổ phần hoá theo quyết định của UBND thành phố

HN thành Công ty Cổ phần Tràng An Trụ sở chính: Số 1 - Phố Phùng ChíKiên - phường Nghĩa Đô - Cầu giấy - Hà nội

Trải qua gần 40 năm kinh nghiệm, Công ty Cổ phần Tràng An đãkhông ngừng phát triển lớn mạnh và trở thành một trong những doanh nghiệp

hàng đầu Việt nam, đặc biệt là thương hiệu "Tràng An" đã thành thương hiệu uy

tín chất lượng được công nhận và đứng vững trên thị trường

Tên doanh nghiệp: CÔNG TY CỔ PHẦN TRÀNG AN

Tên giao dịch đối ngoại: TrangAn Joint stock Company

Tên giao dịch đối ngoại viết tắt : TRANGAN JSC

Trụ sở chính: Số 1- Phố Phùng Chí Kiên - Nghĩa Đô - Cầu Giấy – Hà NộiTài khoản : 10A - 00042 Ngân hàng Công thương Cầu Giấy

Trang 30

+ Xí nghiệp kẹo: Sản xuất kẹo cứng cao cấp (Lillipop, Lạc xốp, hoa quả),tổng hợp, kẹo mềm cao cấp - Toffee, Hương cốm, Sôcôla sữa, Cà phê sữa,Sữa dừa

+ Xí nghiệp bánh: Sản xuất Bánh quy, Bánh quế, Snacks, Gia vị…

+ Xí nghiệp cơ nhiệt: Xí nghiệp phục vụ (Cơ - Nhiệt - Điện)

+ Xí nghiệp bánh mỳ kiểu Pháp: sản xuất bánh mỳ TYTI-Sức sống mới

- Quy mô hiện tại của Công ty Cổ phần Tràng An

- Dịch vụ, đầu tư, tư vấn, tạo nguồn vốn đầu tư, nghiên cứu đào tạo,chuyển giao công nghệ, thiết kế, chế tạo, xây, lắp đặt thiết bị và công trìnhchuyên ngành công nghiệp thực phẩm

- Kinh doanh khách sạn, chung cư, nhà hàng, đại lý cho thuê văn phòng,

du lịch, hội chợ, triễn lãm, thông tin, quảng cáo

- Tham gia mua, bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán

* Chức năng

- Công ty có chức năng cơ bản là sản xuất bánh kẹo và một số mặt hàngthực phẩm khác Hàng năm công ty sản xuất khoảng 4000 tấn với 40-50

Trang 31

bánh Snack, bánh quế Công ty có thể thay đổi chủng loại và mẫu mã sảnphẩm theo nhu cầu của thị trường.

- Giới thiệu và đưa sản phẩm của công ty tới nguời tiêu dùng cuối cùngthông qua các kênh phân phối

* Nhiệm vụ

- Nghiên cứu thị trường, nhu cầu khách hàng để sản xuất những sảnphẩm phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của khách hàng và phải xây dựng chomình kế hoạch sản xuất kinh doanh hợp lý

- Không ngừng cải tiến cơ cấu quản lý, trang thiết bị sản xuất, đa dạnghóa các chủng loại sản phẩm để phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của kháchhàng

- Sử dụng hiệu quả bảo toàn vốn, cơ sở vật chất kĩ thuật, kinh doanh trên

cơ sở có lãi để tái mở rộng sản xuất

- Hoàn thành tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước, người lao động và khôngngừng nâng cao trình độ của cán bộ công nhân viên

2.1.3 Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty

Cơ cấu tổ chức có vai trò rất quan trọng đối với quá trình hoạt động củaDoanh nghiệp Cơ cấu tổ chức là một hệ thống bao gồm nhiều bộ phận cóquan hệ chặt chẽ với nhau và được phân thành các cấp quản lý với chức năng

và quyền hạn nhất định nhằm thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu của Công ty

Để đáp ứng ngày càng tốt hơn những yêu cầu của quá trình sản xuất kinhdoanh, bộ máy tổ chức của Công ty không ngừng được hoàn thiện

Trang 32

Lu n văn t t nghi p ận văn tốt nghiệp ốt nghiệp ệp

Sơ đồ cơ cấu bộ máy tổ chức của công ty cổ phần Tràng An

SV: Nguy n Th Nhung ễn Thị Nhung ị Nhung

Trang 33

* Chức năng và nhiệm vụ cụ thể:

- Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản lý Công ty, toàn quyền nhân danh công

ty quyết định đến mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công tynhư chiến luợc kinh doanh, phuơng án đầu tư; bổ, miễn nhiệm, cách chứcGiám đốc,

- Tổng giám đốc: là người chịu trách nhiệm chính trước Đại hội đồng cổ đông

và hội đồng quản trị về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và

là ngưới điều hành quản lý chung

- Phó Tổng giám đốc : có nhiệm vụ tham mưu cho Tổng giám đốc , là trợ lý

giúp việc gần nhất và là người điều hành quản lý công ty

* Khối Văn phòng:

- Phòng Tổ chức nhân sự: Nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển nguồn

nhân lực, hoàn thiện cơ cấu nhân sự, cơ cấu quản lý phù hợp với hoạt độngcủa Công ty trong từng thời kỳ Xác định nhu cầu đào tạo tuyển dụng và bốchí cán bộ, nhân viên Lựa chọn các tiêu chuẩn, phương pháp tuyển chọn phùhợp

- Phòng Hành chính: Thực hiện quản lý hành chính; quản lý hồ sơ văn thư lưutrữ và các thiết bị văn phòng, nhà khách, tổ chức công tác thi đua tuyêntruyền

- Phòng Y tế: Thực hiện công tác Y tế dự phòng và hồ sơ chăm sóc sức khoẻ

- Phòng Bảo vệ: An ninh trật tự, hướng dẫn kiểm soát ra vào

- Phòng Kế hoạch – sản xuất: lập kế hoạch điều độ sản xuất, giá thành kếhoạch Xây dựng kỹ thuật công nghệ, quy trình công nghệ, quy trình tái chế,các hành động khắc phục và phòng ngừa trong các dây truyền sản xuất Thanhtra định kỳ quá trình sản xuất của các phân xưởng quản lý các dụng cụ trongphòng chế thử Cung cấp hơi đốt điện

* Khối sản xuất và kinh doanh:

Trang 34

- Khối sản xuất bao gồm: 4 bộ phận trưc thuộc làm nhiệm vụ sản xuất bánhkẹo:

+ Xí nghiệp kẹo gồm: xí nghiệp kẹo 1 và xí nghiệp kẹo 2 có nhiệm vụ sảnxuất kẹo các loại

+ Xí nghiệp bánh gồm xí nghiệp bánh 1 và xí nghiệp bánh 2 có nhiệm vụ sảnxuất các loại bánh

- Phòng Kế toán- Tài chính: chịu trách nhiệm thống kê, kế toán, theo dõi cácnguồn tài sản trong công ty, quản trị tài chính, ngân sách, kiểm tra, kiểm toán

- Phòng nghiên cứu và đầu tư phát triển:

+ Báo cáo các hoạt động kỹ thuật hàng tháng, quý theo yêu cầu

+ Đăng ký chất lượng, mã số mã vạch, hệ thống quản lý chất lượng

- Nghiên cứu: Chiến lược, nghiên cứu phân tích bên ngoài và bên trong côngty

-Phát triển: Dự án đầu tư mới, phát triển sản phẩm Hoàn thiện quy trình sảnxuất đồng thời nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới Báo cáo các hoạt động

kỹ thuật theo từng tháng, quý theo yêu cầu Đăng ký chất lượng, mã số mãvạch, hệ thống quản lý chất lượng

+ Phát triển thị trường mới Phát triển kinh doanh

+ Thiết kế mẫu bao bì, phân tích đánh giá thị trường

+ Xúc tiến thương mại Quảng cáo các mặt hàng

Trang 35

- Phòng kiểm tra chất lượng: Kiểm tra đảm bảo chất lượng nguyên liệu đầuvào Xây dựng các phương pháp kiểm tra Kiểm tra đảm báo chất lượng bánthành phẩm nhập kho hàng ngày Kiểm tra chất lượng thành phẩm bảo quảntrong kho, thành phẩm trả về của các đại lý và tổ bán hàng Báo cáo tổng kếtchất lượng sản phẩm toàn công ty hàng tháng, quý theo yêu cầu.

2.1.4 Nhóm sản phẩm thế mạnh của công ty.

* Kẹo Chewy cao cấp các loại: Được sản xuất từ sữa tươi nguyên chất

trên dây chuyền thiết bị công nghệ hiện đại nhất Việt nam, theo nguyên lý côchân không màng siêu mỏng đảm bảo sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao nhờ

dinh dưỡng, dễ ăn và thích hợp với mọi lứa tuổi

* Kẹo cứng hoa quả, Lolipop: Mang hương vị hoa quả đặc trưng, đadạng của miền nhiệt đới, kẹo que lôly đặc biệt được các em nhỏ yêu thích vì

có que cắm ăn hợp vệ sinh, rất phù hợp với picnic

* Bánh quế: Là sản phẩm bánh quế số 1 Việt nam, bán chạy nhất trênthị trường trong nhiều năm qua

* Teppy snack: Đi vào thị trường và có ấn tượng tốt với người tiêudùng vì chất lượng cao, sản xuất trên dây chuyền thiết bị của Cộng hoà Phápvới công nghệ đùn ép, rất an toàn cho sức khoẻ, đặc biệt do công nghệ mớisnack không qua chiên ở nhiệt độ cao có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khoẻnhư 1 số sản phẩm khác theo khuyến cáo của WHO

* Bánh quy Golden coin: Sản phẩm được người tiêu dùng ưa thích nhờchất lượng cao và chủng loại đa dạng

* Bánh Pháp- Paris Pancake: Công nghệ của Pháp, là sản phẩm lần đầu

tiên được sản xuất tại Việt nam Với các vị kem đa dạng làm từ nguyên liệucao cấp của Châu Âu, sản phẩm đem lại cho người tiêu dùng cảm giác thơmngon, bổ dưỡng

Trang 36

* Bánh mỳ PhápTYTI sức sống mới: Bánh mỳ dinh dưỡng, hệ thống

quản lý an toàn thực phẩm HACCP Code 2003, sản phẩm bảo quản lâu, baogói tiện dụng, có thể mang theo mọi lúc mọi nơi, thích hợp với mọi lứa tuổi

2.1.5 Kết quả kinh doanh của công ty cổ phần Tràng An

Bảng 1 Kết quả hoạt động kinh doanh

Đơn vị tính: Đồng Việt Nam

Ngày đăng: 19/05/2015, 10:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Danh mục các loại sản phẩm được mở rộng sản xuất từ năm 1990-nay - luận văn quản trị kinh doanh  Một số giải pháp về chủng loại sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty cổ phần Tràng An
Bảng 2 Danh mục các loại sản phẩm được mở rộng sản xuất từ năm 1990-nay (Trang 42)
BẢNG 3:CƠ CẤU SẢN PHẨM CHÍNH TRONG 3 NĂM 2010- 2012 Đơn vị: Tấn - luận văn quản trị kinh doanh  Một số giải pháp về chủng loại sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty cổ phần Tràng An
BẢNG 3 CƠ CẤU SẢN PHẨM CHÍNH TRONG 3 NĂM 2010- 2012 Đơn vị: Tấn (Trang 46)
Bảng 4: Doanh thu các sản phẩm của công ty Tràng An từ năm 2010- 2010-2012 - luận văn quản trị kinh doanh  Một số giải pháp về chủng loại sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty cổ phần Tràng An
Bảng 4 Doanh thu các sản phẩm của công ty Tràng An từ năm 2010- 2010-2012 (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w