1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn quản trị kinh doanh Một số giải pháp tăng lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần TM và DV NAM SƠN

58 373 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 460 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình sản xuất, doanh nghiệp phải tiêu hao các loại vật tư,nguyên vật liệu, hao mòn máy móc thiết bị, trả công cho người lao động...Dovậy chi phí sản xuất của một doanh nghiệp

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nền kinh tế nước ta bướcsang nền kinh tế hàng hóa có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước thì hiệu quảkinh tế dược đặt lên hàng đầu với bất kỳ một doanh nghiệp nào và công tácquản trị kinh doanh ( QTKD ) là một trong những vấn đề được coi là quantrọng và cấp thiết Đây là một công việc cần được theo dõi chi tiết, thườngxuyên, qua đó những người sử dụng thông tin có thể đánh giá về tình hìnhhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đối với một sinh viênchuẩn bị làm công việc QTKD thì cần phải có những hiểu biết cụ thể và khảnăng thực hành công việc là tất yếu Do vậy thực tập tốt nghiệp có ý nghĩa rấtquan trọng Đây không chỉ là cơ hội cho tôi có thể tiếp cận một cách cơ bảnnhất về công việc QTKD mà còn là cơ hội cho tôi ứng dụng những kiến thứctrong trường làm bàn đạp tốt cho công việc sau này

Trong quá trình thực tập tôi đã tìm hiểu về công ty tôi nhận thấy rằng chiphí kinh doanh chiếm một bộ phận khá lớn trong toàn bộ chi phí của doanhnghiệp Mặt khác theo xu thế hiện nay chi phí kinh doanh của doanh nghiệpViệt Nam được đánh giá là cao so với nhiều nước trong khu vực, do đó đểgiảm chi phí có lẽ các doanh nghiệp Việt Nam hãy tìm ra biện pháp trướcnhất để giảm chi phí kinh doanh

Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên,tôi đã chọn đề :“Một số giải pháp tăng lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần TM và DV NAM SƠN”.

Trang 2

Bài viết này gồm ba phần chính:

Chương 1: Lợi nhuận của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Chương2: Thực trạng về lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần TM và DV NAM SƠN.

Chương 3: Giải pháp làm tăng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần TM và DV NAM SƠN.

Bài viết được hoàn thành dưới sự giúp đỡ của thầy cô giáo khoa Kinh tế

và quản trị kinh doanh, cũng như giám đốc và nhân viên trong Công ty cổphần và dịch vụ thương mại Nam Sơn

Tôi xinh chân thành cảm ơn!

Trang 3

CHƯƠNG 1 LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1 Lợi nhuận và vai trò của lợi nhuận đối với doanh nghiệp.

Từ những năm 90 trở lại đây, có rất nhiều loại hình doanh nghiệp khácnhau ra đời do cơ chế luật pháp thông thoáng, tư duy con người thay đổi vàphát triển Vậy doanh nghiệp là gì?

1 1.1 Lợi nhuận của doanh nghiệp

Lợi nhuận là thước đo, là chỉ tiêu để đánh giá sự làm ăn có hiệu quảhay không của doanh nghiệp

Đứng về phía góc độ doanh nghiệp, lợi nhuận là khoản còn lại củadoanh nghiệp sau khi trừ đi toàn bộ chi phí ( chi phí nguyên vật liệu, tiềnlương, thuế thu nhập doanh nghiệp

Vai trò của lợi nhuận.

Lợi nhuận không chỉ là yếu tố cần thiết cho sự tồn tại của doanh nghiệp

mà còn là nguồn dinh dưỡng chính nuôi dưỡng nền kinh tế của một quốc gia.Lấy gì để thu thuế khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ? Việc xtôi xét vai trò củalợi nhuận đối với từng đối tượng cụ thể sẽ làm chúng ta hiểu tầm quan trọngcủa nó

*Đối với doanh nghiệp

Mục tiêu của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nềnkinh tế thị trường là lợi nhuận và tối đa hoá lợi nhuận Nó là chỉ tiêu tổng hộpnói lên hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Lợi nhuận là động cơ, mụcđích của nhà đầu tư khi bỏ vốn ra để kinh doanh Điều này được thể hiện:Lợi nhuận là nguồn tích luỹ quan trọng để doanh nghiệp bổ sung vốn vào

mở rộng sản xuất kinh doanh Bởi vì có lợi nhuận thì mới có thể trích lợinhuận, lập các quỹ trong doanh nghiệp như: Quỹ khuyến khích phát triển sản

Trang 4

xuất, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi…Từ các quỹ này, doanh nghiệp có thể

bổ xung vốn lưu động, vốn cố định khi điều kiện sản xuất – kinh doanh đòihỏi Và cũng chính từ các quỹ này, doanh nghiệp mới có điều kiện nâng caođời sống của cán bộ công nhân viên về mọi mặt, góp phần khuyến khíchngười lao động gắn bó với công việc, thúc đẩy hoạt động sản xuất – kinhdoanh phát triển

Lợi nhuận đạt được cao hay thấp sẽ tác động trực tiếp đến khả năngthanh toán, có lợi nhuận doanh nghiệp mới có thể thực hiện được các nghĩa

vụ với Nhà nước thông qua thuế và các khoản phải nộp Lợi nhuận là nguồntài chính để doanh nghiệp trang trải các khoản thua lỗ trước kia hay các khoản

bị phạt do chậm nộp thuế, do vi phạm hợp đồng

Một số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ không đủ khả năng tái sản xuất giảnđơn( bù đắp hao phí trong quá trình sản xuất – kinh doanh) thì tình hình tàichính của doanh nghiệp sẽ xấu đi và hạn chế dần khả năng thanh toán củadoanh nghiệp

Ngược lại, doanh nghiệp làm ăn có lãi, thu được lợi nhuận cao thì khôngnhững có khả năng thanh toán vững chắc mà còn có điều kiện không ngừng đổimới máy móc thiết bị, ứng dung khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất –kinh doanh giúp cho doanh nghiệp có thể đứng vững trên thị trường và có uy tín

* Đối với người lao động

Lợi nhuận là nguồn chính để doanh nghiệp trích lập quỹ: quỹ trợ cấp mấtviệc làm, quỹ phúc lợi xã hội, quỹ khen thưởng, giải quyết nhu cầu xã hội chocán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp Nguồn để trích lập các quỹ nàycàng lớn thì doanh nghiệp càng có điều kiện nâng cao tinh thần, vật chất chocán bộ công nhân viên, từ đó khích lệ họ hăng say trong công tác, nâng caotính chủ động, sáng tạo trong quá trình làm việc Chính vì thế, việc sản xuất

có lãi ngày càng cao chẳng những là yêu cầu, là cơ sở của tái sản xuất mởrộng mà còn là quyền lợi thiết thựccủa CBCNV trong doanh nghiệp

Trang 5

Thực tế đã chứng minh: áp dụng tiền thưởng bằng lợi nhuận đã khuyếnkhích công nhân hăng say lao động, giảm bớt ngày nghỉ việc , có trách nhiệmđến cùng với sản phẩm, đặc biệt thúc đẩy năng suất lao động, cải tiến kỹthuật, tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu để hạ giá thành sản phẩm.

* Đối với nền sản xuất xã hội

Trước hết ta thấy, thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước,nhằm thoả mãn nhu cầu nền kinh tế quốc dân, là nguồn duy trì bộ máy hànhchính, là nguồn củng cố và tăng cường nguồn lực quốc phòng, cải tiến đờisống vật chất, văn hóa tinh thần của nhân dân Muốn thu được thuế thì doanhnghiệp phải làm ăn có lãi Sự phát triển của các doanh nghiệp tạo ra sự tíchluỹ trong xã hội, tạo sự ổn định về mặt kinh tế cho một quốc gia, từ đó có sự

ổn định về chính trị

Lợi nhuận là yếu tố thúc đẩy sự phát triển xã hội, thông qua việc doanhnghiệp liên tục cải tiến khoa học kỹ thuật và mở rộng không ngừng để cóđược mức thu nhập như mong muốn Lấy ví dụ như trong thời kỳ bao cấp, sựtồn tại và phát triển của doanh nghiệp quốc doanh phụ thuộc hoàn toàn vào sựbao cấp của Nhà nước, vốn do Nhà nước cấp phát hoàn toàn, sử dụng hiệuquả như thế nào doanh nghiệp hoàn toàn không chịu trách nhiệm, lỗ đã cóNhà nước bù Vì thế trong thời kỳ này, doanh nghiệp làm ăn không năng động

do động lực kích thích bị thui chột, tình trạng thua lỗ kéo dài, từ đó nhìn toàncảnh xã hội là nghèo nàn, lạc hậu

Từ khi xoá bỏ chế độ kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, doanh nghiệpchuyển sang chế độ hoạch toán kinh doanh, bộ mặt nền kinh tế có sự thay đổihết sức tích cực Doanh nghiệp hoạt động có mục đích của nó, khiến cho nótrở nên năng động, sáng tạo và luôn đổi mới mình

Như vậy, có thể đi đến kết luận: lợi nhuận có vai trò vô cùng to lớn đối vớinền kinh tế, nó chính là động lực, mục tiêu để doanh nghiệp hoạt động và pháttriển, là nguồn tích luỹ của xã hội, là sự thể hiện sức mạnh của nền kinh tế

Trang 6

Trên đây, chúng ta thấy sự cần thiết khi doanh nghiệp làm ăn có lãi,nhưng việc tính toán một cách chính xác doanh nghiệp đó có thực sự cólợi nhuận hay không là việc không phải dễ dàng Ngày nay, người ta đưa

ra phương pháp để tính toán lợi nhuận của doanh nghiệp, ta sẽ xtôi xétphần tiếp theo:

1.2.Xác định lợi nhuận của doanh nghiệp.

1.2.1 Các yếu tố cấu thành lợi nhuận của doanh nghiệp.

Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuấtkinh doanh trong doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường năng động, đểtăng cường khả năng cạnh tranh, thu đựơc nhiều lợi nhuận, doanh nghiệp có

xu hướng đa dạng hoá hoạt động sản xuất – kinh doanh của mình trên nhiềulĩnh vực khác nhau Do đó, lợi nhuận của doanh nghiệp không chỉ đơn thuầnthu được từ quá trình sản xuất – kinh doanh mà có thể còn thu đựơc từ kết quảquá trình hoạt động tài chính hay là từ một hoạt động bất thường nào đó Lợinhuận của doanh nghiệp là tổng hợp của các lợi nhuận đó

Hoạt động kinh doanh là hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, hànghoá, dịch vụ của các ngành sản xuất - kinh doanh chính và sản xuất – kinhdoanh phụ Lợi nhuận thu được từ hoạt động trên gọi là lợi nhuận từ hoạtđộng sản xuất kinh doanh

Hoạt động tài chính là hoạt động đầu tư tài chính ngắn hạn, dài hạnnhằm mục đích kiếm lời như đầu tư chứng khoán, cho thuê tài sản, kinhdoanh bất động sản, buôn bán ngoại tệ Lãi thu được từ hoạt động trên gọi làlợi nhuận thu đựơc từ hoạt động tài chính

Những hoạt động trên đều đã được doanh nghiệp hoạch định từ trước, có

kế hoạch, có sự chuẩn bị các hoạt động theo ý muốn Tuy nhiên, trong quátrình hoạt động của doanh nghiệp, có rất nhiều hoạt động không được hoạchđịnh từ trước mà xảy ra bất ngờ như thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, giảiquyết tranh chấp về vi phạm hợp đồng kinh tế, xử lý tài sản thừa thiếu chưa rõ

Trang 7

nguyên nhân Những hoạt động này cũng đtôi lại cho doanh nghiệp nhữngkhoản thu nhập, khoản thu này sau khi đã trừ đi các chi phí cho những hoạtđộng bất thường này gọi là lợi nhuận từ hoạt động bất thường

Như vậy, lợi nhuận của doanh nghiệp bao gồm: lợi nhuận từ hoạt độngsản xuất – kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận từ hoạtđộng bất thường

Việc cần thiết bây giờ là làm thế nào có thể tính toán các khoản lợinhuận này? Chúng ta sẽ tính toán theo phương pháp sau:

1.2.2 Phương pháp xác định lợi nhuận của doanh nghiệp.

Như đã định nghĩa ở trên, lợi nhuận được hiểu là phần chênh lệch giữadoanh thu và chi phí, nhưng thực tế thì cũng không hoàn toàn như vậy, bởi vìphần thu nhập này lại phải chịu một phần thuế thu nhập do Nhà nước đánh Vìthế, ta sẽ đưa ra hai khái niệm sau:

* Lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp: bao gồm lợi nhuận từ hoạtđộng kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận từ hoạt độngbất thường

Lợi nhuận sau thuế( thu nhập sau thuế) của doanh nghiệp là chênh lệchgiữa lợi nhuận trước thuế và thuế thu nhập doanh nghiệp

Thuế TNDN = Thu nhập trước thuế x Thuế suất T.TNDN

Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận trước thuế _ Thuế TNDNTrong phần nghiên cứu dưới đây, lợi nhuận đề cấp là lợi nhuận trướcthuế, gọi chung là lợi nhuận của doanh nghiệp Như đã nói ở phần trên:

Trang 8

Chi phí hoạt động bất thường là những khoản chi như : chi phạt thuế, bịphạt vi phạm hợp đồng, chi cho thanh lý, nhượng bán tài sản cố định…

Thực ra đây là hợp đồng không thường xuyên và ít xảy ra trong doanhnghiệp nên tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động này thường rất nhỏ và có thể dễdàng hoạch toán trong một chu kỳ kinh doanh

Đối với những doanh nghiệp cho thuê tài chính, hay đối với các ngânhàng thì lợi nhuận thu được từ hoạt động này chiếm tỷ trọng lớn nhất Doanhthu từ hoạt động tài chính bao gồm: khoản thu từ việc mua bán trái phiếu, cổphiếu, thu nhập từ hoạt động liên doanh liên kết, thu nhập từ hoạt động chothuê tài sản, thu nhập từ hoạt động gửi tiền vào ngân hàng

Chi phí cho hoạt động tài chính là các chi phí cho việc mua bán chứngkhoán, chi phí cho hoạt động liên doanh, hợp doanh, góp vốn cổ phần, chi phícho hoạt động thuê tài chính…

Trong bài viết này, đang đứng nghiên cứu dưới góc độ doanh nghiệpthông thường, nên tỷ trọng từ hoạt động bất thường, hoạt động tài chínhchiếm tỷ trọng nhỏ, không phản ánh được kết quả kinh doanh của doanhnghiệp Phần lợi nhuận chiếm tỷ trọng lớn trong doanh nghiệp thông thường

là lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh, và cũng là mục đích nghiêncứu chính của bài viết này

Trang 9

Một sản phẩm được sản xuất ra, doanh nghiệp chưa thể coi là đã hoànthành công việc của mình, việc có bán được sản phẩm đó trên thị trường haykhông sẽ quyết định thắng lợi của doanh nghiệp Tiêu thụ sản phẩm củadoanh nghiệp coi là hoạt động xuất bán sản phẩm Cho đơn vị mua để nhậnđược số tiền về sản phẩm đó Quá trình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệpđược coi là hoàn thành khi doanh nghiệp được chấp nhận trả tiền của bên muahàng Việc hoàn thành quá trình tiêu thụ sản phẩm cũng có nghĩa là doanhnghiệp có doanh thu tiêu thụ sản phẩm Doanh thu của doanh nghiệp là số tiền

mà khách hàng chấp nhận trả Tuy nhiên khi khách hàng chấp nhận trả tiền ,thì khoản tiền đó cúng chưa chắc chắn được coi hoàn toàn là doanh thu củadoanh nghiệp, đôi khi hàng hoá có thể bị trả lại do kém chất lượng, hay domột vài lý do nào đó, khách hàng trả lại hàng , vì vậy doanh nghiệp phải giámgiá hàng bán, hoặc khấu cho khách

Do vậy trong nghị định 59 CP có quy định : “ Doanh thu từ hoạt độngkinh doanh là toàn bộ tiền bán sản phẩm , hàng hoá, cung ứng dịch vụ trên thịtrường sau khi đã trừ đi khác khoản chiết khấu bán hàng, giảm giá hàng bán,hàng bán bị trả lại ( nếu có chứng từ hợp lệ), thu từ phần trợ giá của Nhà nướckhi thực hiện việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ theo yêu cuầ của Nhà nước”.Các sản phẩm , hàng hoá, dịch vụ đtôi tặng, biếu, cho hoặc tiêudùng ngay trong nội bộ doanh nghiệp cũng phải được hạch toán để xácđịnh doanh thu

Thời điểm để xác định doanh thu là khi người mua hàng đã chấp nhận

Trang 10

thanh toán, không phụ thuộc đã thu hay chưa ở đây chiết khấu bán hàng là sốtiền thưởng tính trên tổng doanh thu mà doanh nghiệp trả cho khách hàng đãthanh toán tiền trước thời hạn quy định,

Giảm giá hàng bán là số tiền giảm trừ cho khách hàng ngoài hoá đơnhay cung cấp dịch vụ cho các nguyên nhân đặc biệt khác như hàng kém phẩmchất, không đúng quy cách Ngoài ra còn có khoản thưởng cho khách hàng đãmua một khối lượng lớn hàng hoá trong một đợt hay trong một khoảng thờigian nhất định

Hàng hoá bị trả lại là số hàng đã được coi là tiêu thụ ( đã chuyển giaoquyền sở hữu đã thu tiền hay chưa được chấp nhận thanh toán) nhưng bịngười mua từ chối, trả cho người bán không tôn trọng hợp đồng kinh tế đã kýkết do những nguyên nhân khác…

Chi phí hoạt động kinh doanh

-Doanh thu

thuần

Tổng doanh thu

Các khoản giảm trừ doanh thu-

=

=

Tổng doanh thu -

Chiết khấu bán hàng -

Giảm giá hàng bán

- Hàng bán bị trả lại

-Giảm giá hàng bán

- Thuế gián thu

Trang 11

nghĩa chung nhất là tất cả những gì làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp.Người ta có rất nhiều cách tiếp cận chi phí khác nhau,và từ đó cách phân loạikhoản chi của doanh nghiệp cũng khác nhau Có thể phân loại chi phí thànhchi phí sản xuất và chi phí tiêu thụ sản phẩm Chi phí cho hoạt động sản xuấtthì chỉ có ở những doanh nghiệp sản, và nó thường chiếm một tỷ trọng lớnnhất trong tổng các khoản chi phí của doanh nghiệp

Trong quá trình sản xuất, doanh nghiệp phải tiêu hao các loại vật tư,nguyên vật liệu, hao mòn máy móc thiết bị, trả công cho người lao động Dovậy chi phí sản xuất của một doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất cảcác hao phí về vật chất và về lao động mà doanh nghiệp phải bỏ ra để sản xuấtsản phẩm trong một thời kỳ nhất định Các chi phí này phát sinh có tínhthường xuyên và gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm Do đặc điểm củachi phí sản xuất là chi phí hàng ngày gắn liền với từng vị trí sản xuất, từngloại sản phẩm và từng loại hoạt động sản xuất kinh doanh, việc tổng hợp, tínhtoán chi phí sản xuất cần được tiến hành trong từng khoảng thời gian nhấtđịnh không phân biệt sản phẩm đã hoàn thành hay chưa hoàn thành Để quản

lý và kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các định mức chi phí, tính toán được kếtquả tiết kiệm chi phí ở từng bộ phận sản xuất và toàn doanh nghiệp, kiểm tra

và phân tích quá trình phát sinh chi phí và hình thành giá thành sản phẩmngười ta cần phân loại chi phí sản xuất Thông thường người ta sử dụng cácphân loại chi phí như sau:

Thứ nhất: phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố, tức là sắp xếp các chiphí có cùng tính chất kinh tế vào một loại, mỗi loại là một yếu tố chi phí, theocách phân loại này thì chi phí sản xuất bao gồm ba nhóm yếu tố sau:

+ Chi phí vật tư

+ Lương nhân công trực tiếp

+ Chi phí sản xuất chung

Thứ hai: phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục tính giá thành Cách

Trang 12

phân loại này dựa vào công dụng kinh tế và địa điểm phát sinh của chi phí đểsắp xếp chi phí thành những khoản mục nhất định, qua đó, phân tích tác độngcủa từng khoản mục của chi phí đến giá thành.

Thứ ba: phân loại chi phí sản xuất thành chi phí cố định và chi phí biếnđổi Phân loại chi phí theo cách này để có phương thức quản lý phù hợp vớitừng loại chi phí

Để quản lý tốt chi phí, ngoài phân loại chi phí, các doanh nghiệp cầnphải xtôi xét cơ cấu chi phí sản xuất để định hướng thay đổi tỷ trọng mỗi loạichi phí sản xuất

Cơ cấu chi phí sản xuất là tỷ trọng giữa các yếu tố chi phí trong tổng sốchi phí sản xuất Các doanh nghiệp trong cùng một ngành và giữa các ngànhkhác nhau có chi phí sản xuất khác nhau Cơ cấu chi phí sản xuất chịu tácđộng của nhiều yếu tố như: loại hình và quy mô sản xuất của từng doanhnghiệp, trình độ kỹ thuật, trang thiết bị, điều kiện tự nhiên, công tác tổ chức,năng lức quản lý, trình độ tay nghề của công nhân

Việc nhiên cứu cơ cấu chi phí có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó giúp chodoanh nghiệp:

-Xác định tỷ trọng và xu hướng thay đổi của từng yếu tố chi phí sản xuất-Kiểm tra gía thành sản phẩm và có biện pháp hạ giá thành sản phẩm.Đối với một doanh nghiệp sản xuất thì ngoài chi phí cho hoạt động sảnxuất ra các sản phẩm còn có:

Chi phí tiêu thụ sản phẩm

Đối với các doanh nghiệp, tiêu thụ sản phẩm là hết sức quan trọng Khốilượng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ ảnh hưởng quyết định tới quy mô sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp Để thực hiện tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệpcũng phải bỏ các chi phí nhất định

Chi phí lưu thông sản phẩm bao gồm: Chi phí trực tiếp tiêu thụ sảnphẩm; chi phí hỗ trợ Marketing và phát triển

Trang 13

Chi phí trực tiếp tiêu thụ sản phẩm bao gồm: chi phí chọn lọc, đónggói; chi phí vận chuyển, bao bì, vận chuyển, bảo quản; chi phí thuê khobến bãi vv

Chi phí hỗ trợ Marketing và phát triển bao gồm: chi phí điều tra nghiêncứu thị trường; chi phí quảng cáo, giới thiệu sản phẩm; chi phí bảo hành sảnphẩm vv tỷ trọng của chi phí này có xu hướng tăng trong điều kiện nền kinh

tế thị trường phát triển

Nghiên cứu chi phí trong quá trình hoạt động kinh doanh cho biết lượngchi phí cần thiết bỏ ra trong toàn bộ quá tình sản xuất và tiêu thụ sản phẩmtuy nhiên nó lại không thể cho ta biết, một sản phẩm sản xuất ra thì cần baonhiêu chi phí Mặt khác, trong hoạt động kinh doanh, khi quyết định lựa chọnphương án kinh doanh một loại sản phẩm nào đó, doanh nghiệp cần phải tínhđến lượng đến lượng chi phí bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm hoặcmột khối lượng sản phẩm đó Do vậy, doanh nghiệp cần phải xác định giáthành sản phẩm:

Giá thành sản phẩm được hiểu theo nghĩa chung nhất là biểu hiện bằngtiền toàn bộ chi phí của doanh nghiệp bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất hoặc

để sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm nhất định

Giữa giá thành sản phẩm và chi phí sản xuất có sự giống nhau và khácnhau: chi phí sản xuất hợp thành giá thành sản phẩm, nhưng không phải toàn

bộ chi phí sản xuất phát sinh sản xuất trong kỳ đều được tính vào giá thànhsản phẩm trong kỳ Giá thành sản phẩm phản ánh lượng chi phí để hoàn thànhsản xuất hoặc sản xuất và tiêu thụ một đơn vị hay một khối lượng sản phẩmnhất định, còn chi phí sản xuất và lưu thông sản phẩm thể hiện số chi phí màdoanh nghiệp bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong một thời kỳ nhấtđịnh, thời kỳ này thường là một năm

Trong phạm vi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, có thể phân biệt giá thànhsản xuất sản phẩm và giá thành tiêu thụ sản phẩm Giá thành sản xuất tiều thụ

Trang 14

sản phẩm( đối với sản phẩm xây dựng là giá thành thi công ) bao gồm toàn bộchi phí bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất sản phẩm Giá thành tiêu thụ sảnphẩm còn được gọi là giá thành toàn bộ sản phẩm bao gồm toàn bộ chi phí đểhoàn thành cả sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

Trên góc độ kế hoạch hoá, giá thành sản phẩm của doanh nghiệp đượcphân biệt thành giá thành kế hoạch và giá thành thực tế

Các doanh nghiệp hoạt động luôn phải quan tâm tới việc giảm chi phí, hạgiá thành sản phẩm Hạ giá thành sản phẩm là điều kiện cơ bản để doanhnghiệp thực hiện tốt tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp có thể hạ giá bán để tiêuthụ sản phẩm và thu hồi vốn nhanh Đồng thời, hạ giá thành là yếu tố để tănglợi nhuận

Hạ giá thành sản phẩm trong kỳ được xác định cho những sản phẩm sosánh được qua hai chỉ tiêu: mức giảm giá thành và tỷ lệ hạ giá thành sảnphẩm

Riêng đối với sản phẩm xây dựng cơ bản, người ta chỉ so sánh giá thànhthực tế với giá thành kế hoạch hoặc giá thành dự toán của khối lượng sảnphẩm trong cùng một kỳ

Các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm doanhnghiệp:

- Sự tiến bộ khoa học-kỹ thuật và công nghệ

- Tổ chức lao động khoa học và chiến lược sử dụng lao động

- Tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh và quản lý tài chính

Ngoài cách phân loại trên, thường được các doanh nghiệp sản xuất ưathích, người ta còn có cách phân loại sau:

Chi phí hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm các chi phí có liên quanđến quá trình hoạt động sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp Đây cũng làmột cách tiếp cận phổ biến trong nền kinh tế thị trường

Trang 15

Dựa vào tính chất các yếu tố chi phí: chi phí hoạt động kinh doanh đượcchia thành : Chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu, động lực( gọi tắt là chi phí vậttư) Chi phí vật tư phụ thuộc vào 2 yếu tố là mức tiêu hao vật tư và giá vật tư.Chi phí khấu hao tài sản cố định (KHTSCĐ), lưu ý là chi phí KHTSCĐ đượcxác định dựa vào nguyên giá TSCĐ cần tính khấu hao và tỷ lệ KHTSCĐ Chiphí tiền lương và các khoản phụ cấp có tính chất lương Chi phí bảo hiểm xãhội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn Chi phí dịch vụ mua ngoài Thuế vàcác chi phí khác.

Dựa vào nội dung các yếu tố chi phí: chi phí hoạt động kinh doanh đượcchi phí gián tiếp

Chi phí sản xuất trực tiếp bao gồm: Chi phí vật tư trực tiếp Chi phí nhâncông trực tiếp Chi phí sản xuất chung ,… Việc tính toán các khoản mục nàycho ta biết tổng chi phí cần bỏ ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinhdoanh, tuy nhiên việc tính toán giá thành sản xuất cúng hết sức cần thiết đểquyết định giá bán của sản phẩm

Ngoài việc tính giá thành sản xuất ra, trong doanh nghiệp sản xuấtthường tính toán chỉ tiêu là giá vốn hàng bán

Ngoài các khoản chi phí trên, còn có các khoản chi phí khác như:

* Chi phí bán hàng: gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụsản phẩm hàng hoá và dịch vụ như: tiền lương, các khoản phụ cấp phải trảcho nhân viên bán hàng, tiếp thị, đóng gói, bảo quan, khấu khao TSCĐ, chiphí vật liêu, bao bì, dụng cụ, đồ dụng, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bảohành, quảng cáo

* Chi phí quản lý doanh nghiệp: gồm các chi phí quản lý kinh doanh,quản lý hành chính và các chi phí chung khác có liên quan tới toàn bộ hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp: tiền lương và các khoản phụ cấp trả choBan giám đốc và nhân viên quản lý ở các phòng ban, chi phí vật liệu để dùngcho văn phòng, KHTSCĐ dùng chung cho doanh nghiệp, các khoản thuế, lệ

Trang 16

phí, bảo hiểm, chi phí dịch vụ mua ngoài thuộc văn phòng doanh nghiệp vàcác chi phí khác chung cho toàn bộ doanh nghiệp như: lãi vay, dự phòng, phíkiểm toán, tiếp tân, tiếp khách, công tác phí

Phân loại các khoản mục chi phí trên được áp dụng cho các doanhnghiệp sản xuất, việc tính toán đưa ra công thức trên có vẻ khá đơn giản tuynhiên thực tế thì khó khăn hơn Cồn đối với các doanh nghiệp thương mạitính toán chi phí được thực hiện đơn giản hơn Giá vốn hàng bán trong cácdoanh nghiệp thương mại được tính theo công thức sau:

Giá vốn hàng hoá = Giá mua vào + Chi phí vận chuyện

Còn các khoản mục chi phí khác thì hoàn toàn tương tự

Các công thức trên để tính toán doanh nghiệp có thể thu được bao nhiêulợi nhuận trong kỳ hoạch toán, tuy nhiên nó không thể thực sự đánh giá đượcdoanh nghiệp có làm ăn hiệu quả hay không Bởi vì lợi nhuận là chỉ tiêu tàichính cuối cùng, nên nó chịu tác động rất nhiều của các nhân tố chủ quan,khách quan khác Để đánh giá chất lượng sản xuất – kinh doanh của doanhnghiệp chỉ tiêu lợi nhuận và nhóm chỉ số khác nữa

1.2.3 Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp.

Đây là nhóm chỉ tiêu phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất- kinhdoanh và hiệu quả quản lý của doanh nghiệp Nó báo gồm một nhóm chỉtiêu như:

Doanh lợi tiêu thụ sản phẩm là tỷ số giữa thu nhập sau thuế trên doanhthu, phản ánh số lợi nhuận sau thuế có trên một đồng doanh thu Tỷ suất nàycàng lớn thì doanh nghiệp được đánh giá là làm ăn có lãi, có thể sử dụng chỉtiêu này để so sánh giữa các thời kỳ khác nhau, cũng thấy phần nào hiệu quảlàm ăn của doanh nghiệp

* Tỷ số thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu ( Doanh lợi vốn chủDoanh lợi tiêu

thụ sản phẩm =

Trang 17

sở hữu) : ROE =

Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng vốn tự bỏ vào kinh doanh thì thuđược bao nhiêu lợi nhuận sau thuế Nó phản ánh khả năng sinh lợi của vốnchủ sở hữu, đây là chỉ tiêu đặc biệt được các nhà đầu tư quan tâm khi họquyết định bỏ vốn vào đầu tư

Chỉ tiêu này được so sánh qua các thời kỳ khác nhau của doanh nghiệp

và so với chỉ tiêu trung bình ngành Nếu chỉ tiêu này cao hơn qua các thờikỳvà cao hơn so với trung bình ngành thể hiện sự làm ăn có hiệu quả củadoanh nghiệp Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu là mục tiêu quan trọngnhất trong hoạt động quản lý tài chính của doanh nghiệp

Vấn đề khó khăn là tỷ lệ trung bình ngành của các chỉ tiêu không phải

dễ dàng có thể xác định được và độ chính xác không phải là tuyệt đối Nhưthực tế ở Việt Nam ta hiện nay, các tỷ số trung bình ngành của các tỷ số trênhầu như chưa được tính toán đến

*Doanh lợi tài sản:

*Tỷ suất lợi nhuận giá thành

Tỷ suất lợi nhuận trên giá thành là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận so với giáthành toàn bộ của sản phẩm hàng hoá tiêu thụ

Trang 18

Công thức ;

t

Z

P g

Việc sử dụng nhóm chỉ tiêu trên giúp chúng ta thấy được hiệu qủa hoạtđộng sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp qua các thời kỳ và so với cácdoanh nghiệp khác cùng lĩnh vực Tuy nhiên, nó không giúp ta thấy đượcnhững nhân tố nào ảnh hưởng tới lợi nhuận Để làm được việc này cấn phải

sử dụng phương pháp phân tích tài chính Dupont Với phương pháp này, nhàphân tích tài chính sẽ biết được nguyên nhân dẫn tới hiện tượng tốt xấu tronghoạt động của doanh nghiệp Bản chất của phương pháp này là tách một tỷ sốtổng hợp phản ánh mức sinh lợi của doanh nghiệp như doanh lợi vốn chủ sởhữu (ROE) hay doanh lợi tài sản (ROA) thành tích các tỷ số có quan hệ nhânquả với nhau

ROE = = x = ROA x TÔITÔI gọi là số nhân vốn, phản ánh mức độ huy động vốn từ bên ngoài củadoanh nghiệp TÔI càng cao chứng tỏ khả năng huy động vốn của doanhnghiệp càng lớn

ROE phản ánh mức sinh lợi của một đồng VCSH – mức tăng tài sản chovốn chủ sở hữu Còn ROA ( Thu nhập sau thuế trên tài sản) phản ánh mứcsinh lợi của toàn bộ danh mục tài sản của doanh nghiệp

Ta có thể phân tích phương pháp Dupon:

Trang 19

Nhìn vào sơ đồ trên, thấy được yếu tố nào trực tiếp, gián tiếp ảnh hưởngtới doanh lợi vốn chủ, để từ đó có những biện pháp hạn chế tác động xấu tới

tỷ số này và kích thích những nhân tố có tác động tốt

(:)(:)

Doanh thu Tổng chi

Chi phí QLDN

Chi phí HĐTC

Chi phí bất thường

Giá trị CLTSCĐ

Đầu tư TC dài hạn

Tiền

Đầu tư TC ngắn hạn

Phải thu

Tồn kho

TSLĐ khác

DL vốn chủ

Trang 20

Nhìn vào vế trái của sơ đồ trên ta cũng có thể thấy được nhân tố nào làmtăng, nhân tố nào làm giảm thu nhập sau thuế của doanh nghiệp Ngoài nhữngphương pháp để tính toán khi nào doanh nghiệp làm ăn có lãi, người ta còn sửdụng phương pháp phân tích điểm hoà vốn.

Phân tích điểm hoà vốn:

Điểm hoà vốn là tại đó, doanh thu bán hàng bằng chi phí bỏ ra, hoặc làmột điểm mà tại đó lợi nhuận bằng không Như vậy, trên điểm hoà vốn sẽ cólãi và dưới điểm hoà vốn sẽ bị lỗ Phân tích điểm hoà vốn sẽ giúp cho các nhàquản trị tài chính xtôi xét kinh doanh trong mối liên hệ giữa nhiều yếu tố tácđộng tới lợi nhuận, cho phép xác định rõ ràng vào thời điểm nào trong kỳkinh doanh, hay mức sản xuất tiêu thụ bao nhiêu sản phẩm công ty không bị

lỗ, từ đó có các quyết định chủ động và tích cực để hoạt động kinh doanh đạthiệu quả cao Về mặt toán học thì điểm hoà vốn là điểm giao nhau của đườngbiểu diễn doanh thu với đường biểu diển tổng chi phí:

Vậy∑chi phí khả biến là: VQ, ∑chi phí sản xuất là : y1 = F + vQ

∑ doanh thu tại thời điểm hoà vốn : y2 = gQ

Tại điểm hoà vốn ta có:

∑Dthu =∑ Chi phí

Q x g = F + vQ

Qg - vQ = FQ(g – v ) = F

Q =

Trang 21

Đồ thị của điểm hoà vốn được vẽ như sau:

Trục tung phản ánh doanh thu ( hay tổng chi phí ), trục hoành phản ánhsản lượng hoạtđộng Doanh thu được tượng trưng bởi đường thẳng xuất phát

từ góc độ 0, đường tổng chi phí luôn xuất phát tại F và độ dốc của nó nhỏ hơn

độ dốc của đường doanh thu Hai đồ thị này cắt nhau tại điểm M, diểm M( với ∑doanh thu y2 = ∑chi phí y1 tương ứng với sản lượng q0 ) được gọi làđiểm hoà vốn và Q0 được gọi là sản lượng hoà vốn Những gía trị nào của Q <

Q0 phản ánh phạm vi sản lượng bị lỗ ngược lại giá trị nào của Q > Q0 phảnánh phạm vi sản lượng có lãi

Hình 1: Đồ thị điểm hoà vốn

Cũng như các công cụ quản lý tài chính khác, mô hình phân tích điểmhòa vốn cũng có những hạn chế của nó Nghiên cứu mô hình này phải đặttronh những điệu kiện giả thiết nhất định:

- Toàn bộ chi phí được phân biệt hợp lý thành hai bộ phận là chi phíbiến đổi và chi phí cố định

- Định phí luôn cố định trong mọi mức độ sản lượng

Trang 22

- Biến phí đơn vị không thay đổi với bất kể số lượng sản xuất là baonhiêu.

- Giá bán như nhau ở mọi mức độ của sản lượng tiêu thụ

- Doanh nghiệp chỉ tiêu thụ một loại sản phẩm

Tuy có những hạn chế nhát định nhưng lý thuyết về điểm hoà vốn vẫn cógiá trị nghiên cứu trong lý luận và thực tiễn

Từ những phân tích trên, ta thấy được những nhân tố nào ảnh hưởng đêndoanh thu và chi phí thì cũng sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp

1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp

* Nhóm nhân tố thuộc về doanh thu

- Khối lượng sản phẩm

Khối lượng sản phẩm tiêu thụ có ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu vì;

Theo quan hệ toán, thì rõ ràng khối lượng sản phẩm tiêu thụ tỷ lệthuận với doanh thu, do đó khối lượng sản phẩm tiêu thụ tăng thì doanhthu tăng, khối lượng sản phẩm tiêu thụ sản phẩm giảm thì doanh thugiảm Trên thực tế, doanh nghiệp phải bán được nhiều hàng thì mới hivọng thu được nhiều tiền

Không phải doanh nghiệp cứ nhập về bao nhiêu hàng là có thể tiêu thụđược hết số sản phẩm đó Khối lượng hàng hoá tiêu thụ phụ thuộc vào nhiềuyếu như quy mô của doanh nghiệp, tình hình tổ chức công tác tiêu thụ sảnphẩm, việc ký hợp đồng với khách hàng, việc giao hàng, vận chuyển vàthanh toán tiền hàng

+ Giá cả sản phẩm

Nhìn vào công thức tính doanh thu tiêu thụ sản phẩm ta thấy giá cả cũng

tỷ lệ thuận với doanh thu và ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu tiêu thụ sản

Doanh thubán hàng =

Khối lượng sảnphẩm tiêu thụ +

Giá bán đơn vịsản phẩm

Trang 23

phẩm Nếu giá cả tăng thì doanh thu tiêu thụ tăng và ngược lại( đối với từngmặt hàng) Cùng một loại sản phẩm nhưng nếu doanh nghiệp bán ở các mứcgiá khác nhau thì doanh thu khác nhau Để đạt được doanh thu mong muốndoanh nghiệp phải linh hoạt trong việc xác định mức giá hợp lý, vừa khuyếnkhích được mọi người tiêu dùng, vừa trang trải được chi phí bỏ ra.

Hầu hết những sản phẩm có vai trò quan trọng, có tính chất chiến lượcđối với nền kinh tế quốc dân thì nhà nước sẽ còn định giá, còn các sản phẩmkhác căn cứ vào cung cầu thị trường và quyết định giá bán

Nhìn chung, nếu đảm bảo được chất lượng sản phẩm thì giá cả sẽ trởthành một vũ khí cạnh tranh khá sắc bén của mỗi doanh nghiệp Các doanhnghiệp làm tốt công tác quản lý, tiết kiệm, giảm được chi phí, hạ giá thành thì

có thể hạ giá bán so với nhiều khách hàng, mở rộng thì trường, không ngừngnâng cao được doanh thu để từ đó nhằm tăng lợi nhuận

+Kết cấu mặt hàng tiêu thụ

Một doanh nghiệp có thể nhập về nhiều loại hàng hoá với tỷ trọng khácnhau Hầu hết hiện nay các doanh nghiệp đều sử dụng chính sách “đa dạnghoá sản phẩm”, tức là nhiều loại sản phẩm Mỗi loại có nhiều chủng loại, kích

cỡ, mầu sắc giá cả khác nhau để đáp ứng nhu cầu khác nhau Nếu mặt hàng cógiá bán cao và chiếm tỷ trọng lớn mà sản lượng tiêu thụ tăng nhanh thì doanhthu tiêu thụ sản phẩm tăng nhanh, ngược lại mặt hàng có giá bán thấp vàchiếm tỷ trọng nhỏ mà sản lượng tăng nhanh thì doanh thu tiêu thụ sản phẩm

có tăng nhưng tăng chậm

Việc thay đổi kết cấu sản phẩm tiêu thụ của doanh nghiệp không chỉ phụthuộc vào giá cả mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện sản xuất cụ thểcủa doanh nghiệp, nhu cầu thị trường mặt hàng này tăng, mặt hàng kia giảm Việc thay đổi kết cấu tiêu thụ trước hết là do tác động của nhu cầu thịtrường, tức là do tác động của các nhân tố khách quan Mặt khác, để đáp ứngđược nhu cầu thường xuyên biến động, bản thân doanh nghiệp phải vận động

Trang 24

từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ, bán hàng và khi đó tác động này lại là tácđộng mang yếu tố chủ quan trong công tác quản lý của công ty Từ sự tácđộng của nhân tố này doanh nghiệp sẽ phải nắm bắt nhu cầu thị trường để đưa

ra những quyết định điều chỉnh hợp lý

Như vậy, để có được kết cấu mặt hàng tiêu thụ hợp lý, đảm bảo doanhthu tiêu thụ sản phẩm không ngừng nâng cao lợi nhuận, các doanh nghiệp cầnphải bám sát thị trường

+ Chất lượng hàng hoá bán ra thị trường

Chất lượng sản phẩm là yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tiêu thụ sảnphẩm nên nó ảnh hưởng gián tiếp đến doanh thu tiêu thụ

Hiện nay, khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, đời sống con người ngàycàng được nâng cao, kéo theo nhu cầu tiêu dùng cũng ngày càng đa dạng vàphong phú, đòi hỏi sản phẩm tiêu dùng phải tốt về mọi mặt, chất lượng cao,giá cả vừa phải, hợp thị hiếu, điều kiện sử dụng, tiện lợi, đa dạng Cho dù sửdụng trong thời gian ngắn hay dài hình thức sản phẩm ra sao thì người tiêudùng vẫn luôn mong muốn được sử dụng những sản phẩm tốt về chất lượng

Do vậy trong nền kinh tế thị trường yếu tố chất lượng sản phẩm bị đòi hỏi gắtgao và yếu tố cạnh tranh cơ bản của doanh nghiệp

Muốn tiêu thụ được hàng, muốn thu hút được khách hàng thì doanhnghiệp phải dành được uy tín về chất lượng sản phẩm để tạo ra ưu thế cạnhtranh chiếm lĩnh thị trường Một doanh nghiệp có thể có nhiều loại sản phẩmvới nhiều phẩm cấp khác nhau và các thứ hạng phẩm cấp đó đều được phéptiêu thụ trên thị trường với giá cả phù hợp từng phẩm cấp Giả sử các yếu tốkhác không đổi, khi nâng cao chất lượng sản phẩm thì chắc chắn sẽ tăng tỷ lệsản phẩm loại I, mà giá bán sản phẩm loại I bao giờ cũng cao hơn giá bán thứphẩm Nên cùng một khối lượng sản phẩm tiêu thụ nhưng doanh thu tiêu thụ

đã được nâng cao hơn

Như vậy, chất lượng sản phẩm là yếu tố giúp doanh nghiệp có thể thu

Trang 25

hút được đông đảo khách hàng, làm tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ, tạođiều kiện cho doanh nghiệp tăng giá bán sản phẩm một cách hợp lý Chấtlượng sản phẩm là vũ khí cạnh tranh lợi hại, góp phần khẳng định thế đứngcủa doanh nghiệp trên thị trường.

Công tác thanh toán tiền bán hàng

Trong công tác thanh toán tiền bán hàng doanh nghiệp có thể sửdụng nhiều hình thức thanh toán khác như thanh toán bằng tiền mặt,chuyển khoản

Trong quá trình tiêu thụ, doanh nghiệp thường bán hàng cho rấtnhiều khách hàng khác nhau, có điều kiện kinh tế và ở vị trí địa lý khácnhau Việc đa dạng hoá các hình thức thanh toán tiền hàng sẽ tạo điềukiện thuận lợi cho khách hàng khi thanh toán cho doanh nghiệp nhậndoanh thu kịp thời, đầy đủ trong công tác thanh toán, doanh nghiệp cần cónhững hình thức động viên khuyến khích khách hàng để khách hàng thanhtoán ngay, nhanh gọn, để tránh hiện tượng doanh nghiệp bị chiếm dụngvốn mà lại thu hút được nhiều khách hàng

Mặt khác, trong tình hình thanh toán tiền hàng doanh nghiệp phảilàm tốt công tác kiểm tra tình hình chấp hành về điều khoản thanh toán ,thời hạn thanh toán, thể thức thanh toán, đảm bảo thu đúng thu đủ, thu kịpthời doanh thu

*Nhóm các nhân tố thuộc chi phí

Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, chi phí có quan hệ tỷ lệngịch với lợi nhuận: chi phí tăng lợi nhuận giảm và ngược lại Do vậy, lợinhuận chịu sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí như sau:

+ Giá vốn hàng bán hay giá thành sản phẩm tiêu thụ

Thực chất ảnh hưởng của nhân tố này là ảnh hưởng của giá thành sảnphẩm tiêu thụ Như chúng ta đã biết, giá thành sản phẩm cao hay thấp, tănghay giảm là tuỳ thuộc vào kết quả của việc quản lý và sử dụng lao động, vật

Trang 26

tư tiền vốn trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp, do đó nó là tác độngcủa nhân tố chủ quan trong công tác quản lý của doanh nghiệp Đối với nhữngdoanh nghiệp

Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, nếu doanh nghiệp tiết kiệmđược chi phí sản xuất, chi phí thu mua,… liên quan đến hàng tiêu thụ sẽ làmcho lợi nhuận tăng lên và ngược lại Do vậy doanh nghiệp cần có những biệnpháp tích cực giảm chi phí và quản lý tốt các khoản mục chi phí của giá thànhsản phẩm tiêu thụ

+ Chi phí bán hàng và chi phí quản lý

Chi phí bán hàng và chi phí quản lý về thực chất cũng giống như ảnhhưởng của nhân tố giá vốn hàng bán, tức là chi phí bán hàng và chi chí caohay thấp tăng hay giảm là tuỳ thuộc vào kết quả của việc quản lý và sử dụng,vật tư tiền vốn trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp, do đó nó là tácđộng của nhân tố chủ quan trong công tác quản lý của doanh nghiệp

Để tiết kiệm được chi phí bán hàng và chi phí quản lý thì các doanhnghiệp phải xây dựng được các định mức chi phí này cho từng loại sản phẩm.Các định mức này sẽ được điều chỉnh từ năm này qua năm khác theo xuhướng biến động của thị trường

Trên đây là những nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới doanh thu tiêu thụ sảnphẩm( hay doanh thu bán hàng) của một doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng tớilợi nhuận Doanh nghiệp cần phải xtôi xét các yếu tố đó một cách toàn diện từnhiều góc độ khác nhau và trong mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau để tìm ramức độ ảnh hưởng của từng yếu tố trong hoàn cảnh cụ thể của mình Từ đódoanh nghiệp sẽ tìm ra phương hướng, giải pháp tối ưu để phát huy ảnhhưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu của các yếu tố đối với việcthực hiện các chỉ tiêu tài chính, đặc biệt là hai chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuận

* Nhóm các yếu tố khác

Ngoài các nhóm nguyên nhân trên còn có rất nhiều các nhân tố khác tác

Trang 27

động đến chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuận như: biến động nền kinh tế thịtrường ví dụ như sự biến động về tỷ giá có ảnh hưởng rất lớn đến hoạtđộngkinh doanh của những doanh nghiệp xuất- nhập khẩu, hoạt động đầu tư trênthị trường tài chính, lãi suất ngân hàng, tâm lý lao động, việc phân phối lợinhuận trong doanh nghiệp, sự

Nếu như doanh nghiệp thực hiện tốt kế hoạch phân phối tức là đảm bảoquyền lợi của người lao động và thực hiện tốt công tác quản lý, lãnh đạo thìdoanh nghiệp sẽ tạo ra môi trường làm việc cho người lao động, tạo động lựclàm việc cho người lao động

Chính điều này sẽ là điều kiện tôt cho doanh ngiệp thực hiện cácmục tiêu của mình, đặc biệt là các chỉ tiêu tài chính như doanh nghiệp vàlợi nhuận

Trên đây là toàn bộ những lý luận chung về doanh thu bán hàng và lợinhuận Để hiểu rõ hơn thì chúng ta phải xtôi xét việc thực hiện hai chỉ tiêunày như thế nào trong điều kiện thực tế cụ thể ở một doanh nghiệp

Trang 28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN

DỊCH VỤ VÀ THƯƠNG MẠI NAM SƠN

2.1 Tổng quan về Cụng ty Cổ phần TM và DV NAM SƠN

2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của công ty NAM SƠN

Công ty Cổ phần TM và DV NAM SƠN được thành lập ngày28/7/2005, theo giấy phép kinh doanh số 0103008747 của sở kế hoạch và đầu

tư thành phố Hà Nội cấp Công ty chuyên kinh doanh mặt hàng:

- Đại lý bảo hiểm

- Mua bán phụ tùng, các bộ phận phụ trợ của xe có động cơ và trang trínội thất xe

- Đại lý mua , đại lý bán, ký gửi hàng hóa

- Dịch vụ cứu hộ

- Vận tải hàng hóa

- Xuất nhập khẩu các mặt hàng Công ty kinh doanh

- Mua bán xe có động cơ, xe ô tô, xe tải, rơ moóc

- Mua bán thiết bị điện tử viễn thông, thiết bị điện tử điều khiển, thiết bịphát sóng, linh kiện điện thoại

Công ty chủ yếu vẫn kinh doanh buôn bán, bảo dưỡng sửa chữa, muabán phụ tùng các bộ phận phụ trợ của xe có động cơ, đại lý bảo hiểm, dịch vụcứu hộ và vận tải hàng hóa

Mặt hàng của công ty hầu hết là các hàng hoá được mua ở các công ty và

cơ sở sản xuất trong nước có uy tớn Sản phẩm của công ty được tiêu thụ tạithị trường Hà Nội và các tỉnh phía bắc lân cận Hà Nội như: Quảng Ninh,Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hoà Bình, Thái Bình, Hải Dương,

Công ty Cổ phầnTM và DV NAM SƠN Thành lập từ năm 2006 với khởiđầu chỉ có 20 người, đến nay nhân viên trong toàn công ty là hơn 200 người

Trang 29

Trong đó có trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp và cũn rất trẻ.

Nhờ vậy, công ty có đội ngũ nhân viên rất năng động, sáng tạo luônkhẳng định được mình trong mọi điều kiện làm việc

Công ty có tên đầy đủ : Công ty Cổ phần TM và DV NAM SƠN

Trụ sở : P108 B19, tập thể Kim Liên, phường Kim Liên, quận Đống Đa,thành phố Hà Nội

Điện thoại : 043.5567568 Fax: 043,5567566

Tài khoản số 1400206004902 Tại ngân hàng Nông Nghiệp và Phát TriểnNông Thôn Việt Nam

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của công ty

Là một doanh nghiệp tư nhân, có quy mô vừa, Công ty NAM SƠN tổchức quản lý theo mô hình một cấp: đứng đầu là Tổng giám đốc Công ty, tiếpđến là các phòng ban, có nhiệm vụ trực tiếp giúp việc cho Tổng giám đốc

Biểu 1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của Công ty NAM SƠN

Ban giám đốc gồm;

- Tổng Tổng giám đốc Công ty (Ông Nguyễn Thành Nam), người nắmgiữ một phần hai vốn góp là người đứng đầu Công ty, đại diện và chịu mọitrách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của công ty

Phó tổng Tổng giám đốc ( Ông Vũ Trường Sơn), người nắm giữ phầnvốn góp còn lại, là người giúp việc cho Tổng giám đốc trong các hoạt độngkinh doanh hàng ngày, là người chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc, phápluật về phạm vi và quyền hạn của mình

BAN GIÁM ĐỐC

Ngày đăng: 19/05/2015, 09:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị của điểm hoà vốn được vẽ như sau: - luận văn quản trị kinh doanh  Một số giải pháp tăng lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần TM và DV NAM SƠN
th ị của điểm hoà vốn được vẽ như sau: (Trang 21)
Biểu 1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của Công ty NAM SƠN - luận văn quản trị kinh doanh  Một số giải pháp tăng lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần TM và DV NAM SƠN
i ểu 1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của Công ty NAM SƠN (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w