1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tăng cường quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện phúc thọ, thành phố hà nội

97 1K 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội và thực hiện luận văn thạc sỹ kinh tế với đề tài: “Tăng cường quản lý Nhà nước trong quá trình xây

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-o0o -

LÊ TIẾN HẢI

TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội – 2014

Trang 2

TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Trần Minh Yến

Các số liệu, tài liệu nêu ra trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học

Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng./

Hà Nội, ngày 24 tháng 4 năm 2014

Tác giả luận văn

Lê Tiến Hải

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà

Nội và thực hiện luận văn thạc sỹ kinh tế với đề tài: “Tăng cường quản lý Nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội”, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện

của tập thể lãnh đạo nhà trường, giảng viên và cán bộ các khoa, các phòng ban trong trường Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành về những sự giúp đỡ đó

Tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới TS Trần Minh Yến - Nguyên cán bộ Viện Kinh tế Việt Nam, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp của tôi đang công tác tại UBND huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này./

Hà Nội, ngày 24 tháng 4 năm 2014

Tác giả luận văn

Lê Tiến Hải

Trang 5

MỤC LỤC

Danh mục các từ viết tắt i

Danh mục bảng biểu ii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 8

1.1 Các khái niệm cơ bản 8

1.1.1 Khái niệm về nông thôn 8

1.1.2 Khái niệm về nông thôn mới 9

1.1.3 Khái niệm về xây dựng nông thôn mới 9

1.1.4 Khái niệm về quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới 10 1.2 Nội dung và nguyên tắc xây dựng nông thôn mới 11

1.2.1 Nội dung 11

1.2.2 Nguyên tắc 12

1.3 Nội dung, chức năng, nguyên tắc quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới 13

1.3.1 Nội dung 13

1.3.2 Chức năng 13

1.3.3 Nguyên tắc 13

1.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới16 1.4.1 Kinh nghiệm của huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định 16

1.4.2 Kinh nghiệm của huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội 18

1.4.3 Kinh nghiệm của huyện Phước Long, Tỉnh Bạc Liêu 22

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚC THỌ 27

2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội của huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội 27

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 27

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 28

Trang 6

2.2 Thực trạng công tác quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn

mới 37

2.2.1 Công tác tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới37 2.2.2 Công tác khảo sát, đánh giá thực trạng nông thôn (đánh giá theo 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới) 37

2.2.3 Công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch 38

2.2.4 Công tác triển khai và tổ chức thực hiện ( bao gồm cả công tác tuyên truyền, tập huấn, hướng dẫn) 39

2.2.5 Công tác quản lý và sử dụng các nguồn lực 41

2.2.6 Công tác quản lý về phát triển kinh tế 46

2.2.7 Công tác quản lý về phát triển hạ tầng kinh tế-xã hội 52

2.2.8 Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát 55

2.3 Đánh giá chung 56

2.3.1 Những thành tựu và nguyên nhân 56

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 59

2.3.3 Những vấn đề đặt ra 63

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚC THỌ 67

3.1 Thuận lợi và khó khăn của công tác quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Phúc Thọ 67

3.1.1 Thuận lợi 67

3.1.2 Khó khăn 67

3.2 Phương hướng xây dựng nông thôn mới của huyện Phúc Thọ 68

3.3 Các giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Phúc Thọ 69

3.3.1 Giải pháp về chỉ đạo, điều hành 69

3.3.2 Giải pháp về tuyên truyền, tập huấn, hướng dẫn 70

3.3.3 Giải pháp về quy hoạch và thực hiện quy hoạch 71

3.3.4 Giải pháp về tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội 71

3.3.5 Giải pháp về phát triển kinh tế 72

Trang 7

3.3.6 Giải pháp về nâng cao trình độ cán bộ quản lý và chất lượng lao động72

3.3.7 Giải pháp về quản lý, sử dụng và huy động vốn 73

3.3.8 Giải pháp về đôn đốc, kiểm tra, giám sát, đánh giá tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới 74

3.4 Một số kiến nghị và đề xuất 75

3.4.1.Về quan điểm và phương pháp quản lý 75

3.4.2.Tập trung quy hoạch sản xuất và hỗ trợ phát triển sản xuất 76

3.4.3 Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, giám sát, điều hành và đào tạo nghề cho lao động nông thôn 77

3.4.4 Về tiến độ triển khai 79

3.4.5.Về cơ chế chính sách 79

3.3.6 Nâng cao chất lượng nội dung các hoạt động 80

3.4.7 Xác định người dân là chủ thể trong xây dựng nông thôn mới 81

3.4.8 Tiếp tục gắn vai trò của hội, các tổ chức đoàn thể trong xây dựng nông thôn mới 81

3.4.9 Điều chỉnh một số tiêu chí cho phù hợp với thực tế 82

KẾT LUẬN 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 9

ii

DANH MỤC BẢNG BIỂU

1 Bảng 2.1 Tăng trưởng kinh tế chia theo khu vực giai đoạn 2011-2013 29

2 Bảng 2.2 Cơ cấu kinh tế giai đoạn 2011-2013 30

3 Bảng 2.3 Thực trạng dân số, diện tích của các xã tham gia xây dựng NTM 31

4 Bảng 2.4 Dân số và lao động huyện Phúc Thọ (số liệu năm 2009) 32

5 Bảng 2.5 Hiện trạng giao thông và nhu cầu 33

6 Bảng 2.6 Hiện trạng trường học và nhu cầu 34

7 Bảng 2.7 Hiện trạng cơ sở vật chất văn hoá và nhu cầu 36

8 Bảng 2.8 Khái toán vốn cho phát triển và tổ chức sản xuất 43

9 Bảng 2.9 Thu nhập bình quân giai đoạn 2011-2013 52

Trang 10

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Xây dựng nông thôn mới là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta Điều này đã được cụ thể hoá thông qua việc Chính phủ ban hành Chương trình

mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới với quan điểm chỉ đạo: “Nông

nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững, gìn giữ ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước Nông dân là chủ thể của quá trình phát triển; xây dựng nông thôn mới là căn bản, phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp

là khâu then chốt”

Cùng với cả nước, trong thời gian qua, việc triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội đã diễn ra một cách sâu rộng và đạt được những kết quả bước đầu Tuy nhiên, trên thực tế, việc triển khai xây dựng nông thôn mới của huyện đang gặp nhiều khó khăn, thách thức như tiến độ thực hiện đề án của các xã còn chậm, đến nay trên địa bàn huyện chưa có xã nào đạt chuẩn về nông thôn mới; công tác tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới chưa được làm thường xuyên, sâu rộng, nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa đầy đủ, chưa xác định rõ vai trò nhân dân là chủ thể trong xây dựng nông thôn mới; tiến độ triển khai các nội dung ở một số xã còn chậm, chưa thực sự sôi động và liên tục; việc phát triển sản xuất, thu hút đầu tư của các doanh nghiệp, chuyển dịch cơ cấu lao động trên địa bàn huyện còn khó khăn; nhu cầu về vốn rất lớn song khả năng của địa phương và nguồn đóng góp của nhân dân còn hạn chế

Trang 11

2

Đi kèm theo đó là công tác quản lý nhà nước đã bộc lộ nhiều khó khăn hạn chế Đối với các cơ quan quản lý nhà nước thì đây là công việc hoàn toàn mới, đòi hỏi mức độ quản lý, tầm nhìn quản lý, phương pháp quản lý và cách thức triển khai thực hiện không giống như những công việc vẫn thường làm Điều này dẫn tới có những lúng túng, khó khăn nhất định trong việc điều hành, tổ chức thực hiện trong Bộ máy quản lý chương trình từ huyện xuống các xã, các thôn, cụm dân cư

Mặt khác, việc triển khai nghiên cứu để đánh giá thực trạng công tác quản

lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội và đề xuất những giải pháp thực hiện là một trong những việc làm quan trọng Song, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này

Xuất phát từ thực tế và tình hình trên, học viên nhận thấy sự cần thiết phải

nghiên cứu đề tài: “Tăng cường quản lý Nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội”

2 Tình hình nghiên cứu:

Trong những năm gần đây , thực tế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về nông nghiệp, nông thôn cũng như xây dựng nông thôn mới Tiêu biểu

là một số công trình cơ bản sau:

“Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam - Hôm nay và mai sau” của

tác giả Đặng Kim Sơn (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2008), đã nêu bật thực trạng các vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay, những thành tựu cũng như những khó khăn vướng mắc trong quá trình xây dựng và phát triển, trong đó các vấn đề về kinh tế-xã hội nông thôn như thu nhập và khả năng tích lũy, điều kiện sống của các hộ nông dân; các tổ chức xã hội, quan hệ cộng đồng, môi trường làng xã;quan hệ giữa nông thôn với đô thị và công nghiệp đã được tác giả nghiên cứu và làm rõ

Trang 12

3

Đề tài “Một số vấn đề về nông thôn Việt Nam trong điều kiện mới” do

Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển nông nghiệp, nông thôn chủ trì, TS Đặng Kim Sơn làm chủ nhiệm Đề tài đã tập trung vào các vấn đề: Tổng quan về các chính sách phát triển nông thôn Việt Nam trong điều kiện mới; phân tích một

số vấn đề nổi bật trong phát triển nông thôn nước ta như: tập trung ruộng đất, lao động và di chuyển lao động nông thôn, các vấn đề về tổ chức sản xuất và kinh doanh ở nông thôn Trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện chính sách và chiến lược phát triển nông thôn Việt Nam đến năm 2020

“Kỷ yếu hội thảo: Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam-những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Hà Nội, 2012, trong

đó gồm nhiều bài tham luận về xây dựng nông thôn mới nói chung và ở một số địa phương nói riêng

“Kỷ yếu tổng kết chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới (2009-2011), Ban Chỉ đạo chương trình xây dựng nông thôn mới, Hà Nội, tháng

01/2012, trong đó gồm các báo cáo, các bài viết tổng kết, đánh giá việc triển khai thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại 11 xã thí điểm thuộc Chương trình chỉ đạo của Ban Bí thư

Ngoài ra, còn có một số bài viết, bài tham luận Hội thảo như: Bài viết của

tác giả Nguyễn Sinh Cúc về “Chương trình xây dựng nông thôn mới, sau hai

năm thí điểm” đăng trên Báo Hà Nội mới, ngày 26/01/2012 Bài của tác giả

Nguyễn Quang Dũng: “Nghiên cứu hỗ trợ xây dựng mô hình phát triển nông

thôn dựa vào cộng đồng để làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất chính sách phát triển nông thôn mới trong điều kiện của Việt Nam” (Viện Quy hoạch và thiết kế

nông nghiệp, Hà Nội, 2010) Bài của tác giả Nguyễn Tuấn Anh, “Nghiên cứu

ứng dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng để xây dựng phương pháp và tiêu chí giám sát, đánh giá kết quả thực hiện xây dựng mô

Trang 13

4

hình nông thôn mới” (Hội Thuỷ lợi Việt Nam, Hà Nội, 2011) Bài của tác giả Đỗ

Kim Chung, Kim Thị Dung: “Chương trình nông thôn mới ở Việt Nam – Một số

vấn đề đặt ra và kiến nghị”, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 262, tháng 8/2012 Hồ

Xuân Hùng- Về Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, Tạp chí Cộng sản, số 832, tháng 2/2012

Bên cạnh đó, còn có nhiều bài trên các báo điện tử viết về vấn đề này với nhiều nội dung khác nhau, như:

- Ngọc Lê (2011), Những kinh nghiệm quý để làm nông thôn mới; Báo điện tử danviet.vn ngày 13/11/2011

- Ths Huỳnh Ngọc Điền, Ths Lã Sơn Ka (2011), Kết quả bước đầu trong

xây dựng nông thôn mới tại xã điểm Tân Lập, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước

- Vũ Thành (2011), Xuân Trường gắn phát triển kinh tế với xây dựng nông

thôn mới; http://www.nhandan.com.vn/kinhte/tin-tuc ngày 03/10/2011

- Ths Phạm Huy Thông (2011), Sự cần thiết phải điều chỉnh một số tiêu

chí về xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay

- Phạm Xuân Liêm (2011), Phong trào đổi mới nông thôn của Hàn Quốc;

- Ths Ngô Văn Toại (2011), Kinh nghiệm thành công của Hàn Quốc về

phát triển nông thôn

- Phạm Anh, Văn Lợi (2011), Xây dựng nông thôn mới: Bài học và kinh

nghiệm từ Trung Quốc;http://nongthonmoi.gov.vn ngày 08/12/2011

- Quốc Trị (2013), Những bất cập trong quy hoạch xây dựng nông thôn

mới; http://www.nhandan.com.vn/xahoi/tin-tuc ngày 15/6/2013

Tuy nhiên, cho đến nay hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và hệ thống về xây dựng nông thôn mới và công tác quản

lý nhà nước trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà

Trang 14

5

Nội Chính vì vậy, luận văn sẽ kế thừa các kết quả nghiên cứu trên, lấy đó làm

cơ sở lý thuyết và thực tiễn để nghiên cứu, tìm hiểu quá trình xây dựng nông thôn mới, từ đó đưa ra các giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội

Xuất phát từ tình hình nghiên cứu như trên, học viên đưa ra các câu hỏi nghiên cứu như sau:

- Thực trạng công tác quản lý trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Phúc Thọ? Nguyên nhân nào dẫn đến xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội vẫn còn chậm tiến độ?

- Giải pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội

là gì?

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

- Mục đích nghiên cứu : Làm rõ thực trạng và đánh giá kết quả công tác quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội

- Nhiệm vụ nghiên cứu : Tập trung nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Phúc Thọ tính đến thời điểm hiện tại, những kết quả đã đạt được cũng như khó khăn, vướng mắc, những tồn tại, hạn chế để từ đó đưa ra được các giải pháp, hướng đi nhằm tăng cường hơn nữa công tác quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới, sớm đưa huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội về đích trong công cuộc xây dựng nông thôn mới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Công tác quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội

Trang 15

5 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp thu thập số liệu: là phương pháp dùng để thu thập số liệu, tài liệu nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài

- Phương pháp phân tích và tổng hợp: được dùng để phân tích các vấn đề

lý luận và thực tiễn của đề tài trên cơ sở thông tin thu thập được từ sách, báo, tài liệu, các công trình khoa học đã được công bố, từ khảo sát thực tiễn của địa bàn nghiên cứu

- Phương pháp phỏng vấn và chuyên gia: phương pháp này được sử dụng nhằm tham khảo ý kiến của các cán bộ quản lý, những người tổ chức thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện và một số cán bộ chủ chốt của các xã để nắm bắt thông tin thực tế, làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng đó

- Phương pháp tiếp câ ̣n dựa vào cô ̣ng đồng : Tiếp câ ̣n những người dân đi ̣a phương, là những người trực tiếp tham gia thực hiê ̣n xây dựng nông thôn mới nhằm thu thập những ý kiến khách quan về kết quả và hạn chế, thuận lợi và khó khăn, những vấn đề vướng mắc trong quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới

- Nguồn số liệu thực tế sử dụng trong đề tài luận văn được cung cấp từ Ban thường trực xây dựng nông thôn mới của huyện và UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Phúc Thọ

Trang 16

7

6 Những đóng góp của luận văn

Trên cơ sở kế thừa và phát triển các công trình nghiên cứu trước đây, lấy

đó làm cơ sở lý thuyết và thực tiễn về phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới, gắn với việc đánh giá thực tế công tác quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại các phòng, ban chuyên môn và UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Phúc Thọ, luận văn đã đưa ra những giải pháp, đề xuất để góp phần vào việc tăng cường hiệu quả quản lý, nâng cao chất lượng và tính bền vững khi thực hiện xây dựng nông thôn mới tại huyện Phúc Thọ

7 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 03 chương :

- Chương 1: Một số vấn đề chung về quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới

- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Phúc Thọ

- Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Phúc Thọ

Trang 17

8

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm về nông thôn

“Nông thôn” là một khái niệm thông dụng, nhưng có nội hàm rộng và có thể khác nhau ở các quốc gia Theo Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAO), một trong những phương pháp chính để định nghĩa nông thôn là phương pháp sử dụng định nghĩa địa chính trị, theo đó, thành thị được xác định gồm các trung tâm của tỉnh, huyện, và các vùng còn lại được định nghĩa là nông thôn Tuy nhiên, cũng có một số quốc gia sử dụng cách tính mức độ sẵn có của các loại hình dịch vụ để xác định vùng thành thị, phần còn lại là nông thôn

Theo từ điển bách khoa toàn thư thế giới thì “Nông thôn là khu vực mà ở

đó tập trung dân cư sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp”

Ở Việt Nam, theo quy định về hành chính và thống kê, thì nông thôn là những địa bàn thuộc xã (những địa bàn thuộc phường hoặc thị trấn được quy định là khu vực thành thị) Cho đến nay, nông thôn ở nước ta được hiểu là nơi sinh sống và làm việc của một cộng đồng bao gồm chủ yếu là nông dân, là vùng sản xuất nông nghiệp là chính Nông thôn có cơ cấu hạ tầng, trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản xuất hàng hoá thấp hơn so với thành thị

Hiện nay, khái niệm nông thôn đã được nêu rõ tại Thông tư số 54 ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản

lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã”

Trang 18

9

1.1.2 Khái niệm về nông thôn mới

Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW đưa ra mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức

tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch

vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị

ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”

Như vậy, nông thôn mới trước tiên nó phải là nông thôn, không phải là thị

tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo các nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, đó là làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; đảm bảo không gian nông thôn phải mang đặc trưng nông thôn với khuôn viên, cảch quan của làng xã, của hộ gia đình nông thôn

Thứ hai, sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hoá; thu nhập đảm bảo, công ăn việc làm ổn định, không có hộ nghèo đói

Thứ ba, đời sống về vật chất và tinh thần của dân nông thôn ngày càng được nâng cao

Thứ tư, bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ và phát triển môi trường, bảo tồn và khai thác cảnh quan tự nhiên, duy trì cân bằng sinh thái

Thứ năm, bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và phát triển, trong đó, bảo tồn và phát triển các di sản văn hoá truyền thống của các dân tộc, các địa phương

Thứ sáu, xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ

1.1.3 Khái niệm về xây dựng nông thôn mới

Việc xây dựng nông thôn mới nhằm phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế của quê hương, đất nước trong giai đoạn mới Sau 25 năm thực hiện đường lối

Trang 19

10

đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta

đã đạt nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên, nhiều thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế: Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng như giao thông, thuỷ lợi, trường học, trạm y tế, cấp nước… còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm Đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, chênh lệch giào nghèo giữa nông thôn và thành thị còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc Không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp và nông thôn còn lạc hậu và đời sống nhân dân còn thấp

Vì vậy, “xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan

trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá quê hương, đất nước; đồng thời, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân sinh sống ở địa bàn nông thôn”

Nông thôn mới = Nông dân mới + Nền nông nghiệp mới

Nếu chỉ chú trọng vào xây dựng người nông dân mới hoặc nền nông nghiệp mới là cần nhưng chưa đủ Đó chỉ là một phần của việc xây dựng nông thôn mới Xây dựng nông thôn mới có phạm vi rộng và bao quát đầy đủ cả nông nghiệp và nông dân mới

1.1.4 Khái niệm về quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới

Quản lý nhà nước theo nghĩa rộng là toàn bộ mọi hoạt động của nhà nước nói chung, mọi hoạt động mang tính chất nhà nước, nhằm thực hiện các nhiệm

vụ, chức năng của nhà nước Còn theo nghĩa hẹp thì đó là hoạt động quản lý do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện, hay còn gọi là hoạt động chấp hành

và điều hành nhà nước

Trang 20

11

Quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới là hoạt động tổ chức, điều hành của cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng nông thôn mới; là tập hợp tất cả các hoạt động của các

cơ quan nhà nước tác đô ̣ng vào khu vực nông nghiê ̣p, nông thôn, nông dân nhằm hướng đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế và đảm bảo cho cuô ̣c sống của người dân ngày càng tốt đẹp hơn

Công tác quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới phải xác định là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới cùng tham gia chung sức thực hiện từ khâu lập đề án, quy hoạch, kiểm tra, giám sát đến triển khai, tham gia và hưởng thụ

Để thực hiện được mục tiêu trên, đòi hỏi phải kiên trì, trong thời gian dài với sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị, phát huy cao độ vai trò của người dân và các cấp chính quyền đìa phương, nhất là cấp cơ sở (xã, thôn) Hệ thống chính trị ở cơ sở phải thường xuyên được củng cố, hiệu quả hoạt động ngày càng được nâng lên; thực hiện tốt qui chế dân chủ cơ sở, sức mạnh tổng hợp của quần chúng ngày càng phát huy; an ninh chính trị và trật tự xã hội được giữ vững ổn định

1.2 Nội dung và nguyên tắc xây dựng nông thôn mới

1.2.1 Nội dung

Xây dựng nông thôn mới là nhằm tạo ra những giá trị mới của nông thôn Việt Nam, một nông thôn hiện đại hàm chứa những giá trị kinh tế mới, có văn hoá nông thôn văn minh, hiện đại nhưng vẫn giữ gìn, bảo tồn được bản sắc văn

Trang 21

Như vậy, xây dựng nông thôn mới phải đạt được những nội dung cơ bản sau: làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hoá; đời sống về vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được nâng cao; bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ

Ở nước ta hiện nay, xây dựng nông thôn mới là một cuộc vận động lớn, một chương trình “khung” toàn diện nhất để cộng đồng chung sức xây dựng một nông thôn mới hiện đại, phát triển toàn diện, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân nông thôn

1.2.2 Nguyên tắc

- Xây dựng nông thôn mới theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ

để quyết định và tổ chức thực hiện

- Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác

Trang 22

13

đang triển khai ở nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần thiết; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư

- Được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy hoạch và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêu

chuẩn kinh tế, kỹ thuật do các Bộ chuyên ngành ban hành)

- Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp uỷ Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch,

tổ chức thực hiện; hình thành cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” do Mặt trận tổ quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng nông thôn mới

1.3 Nội dung, chức năng, nguyên tắc quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới

1.3.1 Nội dung

Quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới là các hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước đối với quá trình xây dựng nông thôn mới nhằm đạt được mục tiêu, yêu cầu đề ra là xây dựng nông thôn mới giàu đẹp, văn minh, sản xuất phát triển, thu hẹp khoảng cách với thành thị

1.3.2 Chức năng

Chức năng quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới được thể hiện trong việc ban hành Nghị quyết, Quyết định; xây dựng cơ chế, chính sách; hướng dẫn xây dựng đề án, dự án, tổ chức thực hiện; đồng thời đôn đốc, kiểm tra, chỉ đạo thực hiện

Trang 23

14

1.3.3 Nguyên tắc

Dưới góc độ của luật hành chính, nguyên tắc quản lý nhà nước là tập hợp các quy phạm pháp luật có nội dung là tư tưởng chủ đạo làm cơ sở định hướng cho việc tổ chức và thực hiện hoạt động quản lý nhà nước

Theo đó, nguyên tắc quản lý nhà nước trong xây dựng nông thôn mới chính là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của các cấp từ Trung ương xuống địa phương với nội dung chủ đạo là nền tảng tư tưởng để định hướng, chỉ đạo việc tổ chức, triển khai thực hiện quá trình xây dựng nông thôn mới

Các nguyên tắc trong quá trình xây dựng nông thôn mới bao gồm:

- Nguyên tắc Đảng lãnh đạo: Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới các cấp do Đảng thành lập và trực tiếp làm trưởng ban Các tổ chức Đảng ở cơ sở, các chi bộ thôn, xóm chịu trách nhiệm phát huy vai trò của các tổ chức chính trị -

xã hội, các đoàn thể quần chúng, tập hợp, huy động sức dân xây dựng NTM Bên cạnh đó, vai trò của các cấp ủy, chi bộ còn thể hiện rõ trong thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” để quản lý, sử dụng các nguồn lực do dân đóng góp bảo đảm công khai, dân chủ, minh bạch và hiệu quả, tránh

để thất thoát, dẫn đến đơn thư khiếu kiện Ngoài ra, các cấp ủy đảng, chi bộ lãnh đạo cũng phải giải quyết mối hài hòa giữa phát triển kinh tế gắn liền với xây dựng đời sống văn hóa mới; giữa phát triển công nghiệp dịch vụ gắn với giữ gìn nét đẹp truyền thống văn hóa trong mỗi làng, xã

- Nguyên tắc nhân dân tham gia: Để kết quả của chương trình xây dựng nông thôn mới sát thực và đáp ứng được các yêu cầu đề ra thì sự tham gia của người dân vào toàn bộ các hoạt động là vô cùng quan trọng Mọi việc trong xây dựng nông thôn mới phải được “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân hưởng thụ”

Trang 24

15

Điển hình như trong công tác quy hoạch xây dựng nông thôn mới, yêu cầu đặt ra là bộ mặt nông thôn vừa phải kế thừa được truyền thống văn hoá của địa phương, truyền thống hàng nghìn năm của nông thôn Việt Nam nhưng cũng phải đáp ứng được với nhu cầu hiện đại đổi mới của đất nước, phù hợp với sự phát triển của quốc tế Để làm được điều này, ngay từ khi tiến hành lập quy hoạch, người dân cần tham gia vào các hoạt động ngay từ đầu Người dân phải tham gia bàn luận, bởi họ là người sống và hiểu truyền thống tại cộng đồng nhất,

mà các công trình được triển khai tại cộng đồng người dân lại là những người được hưởng thụ kết quả từ những hoạt động hay những công trình đó

Người dân phải chủ động ra quyết định làm cái gì? Công việc nào ưu tiên làm trước, công việc nào có thể làm sau Bởi sau khi bàn luận, phân tích được điểm mạnh, điểm yếu, những thuận lợi và khó khăn của cộng đồng nơi họ đã sính sống làm ăn bao đời nay do đó việc ra quyết định của người dân là rất quan trọng Bởi sự lựa chọn của người dân sẽ phù hợp với nguồn lực của chính họ, phù hợp nguồn lực của địa phương và của Trung ương hỗ trợ để các hoạt động đạt hiệu quả cao nhất

Người dân phải thể hiện được quyền làm chủ của mình, tuỳ thuộc vào điều kiện và khả năng của chính họ, một số hoạt động tại địa phương người dân

có thể đảm nhiệm để có cơ hội đóng góp công sức tiền của cho quê hương trong xây dựng nông thôn mới Bên cạnh đóng góp cho cộng đồng, họ còn có thể có thêm thu nhập từ những hoạt động của chương trình thay vì phải đi thuê từ bên ngoài cộng đồng

Người dân cũng phải tự giác chính trang nhà cửa, sân vườn, cổng ngõ của

họ theo quy hoạch chung của địa phương, đóng góp cho văn minh sạch đẹp của làng, xã từ chính nhà mình Xây đủ các công trình vệ sinh, bố trí khu chăn nuôi hợp vệ sinh, cải tạo ao, ngõ, tường rào để có cảnh quan đẹp Không thể có nông

Trang 25

- Nguyên tắc tập trung dân chủ: Quá trình xây dựng nông thôn mới cần phải được thực hiện một cách công khai, minh bạch, đảm bảo sự công bằng để nhân dân bàn bạc một cách dân chủ, từ đó tạo được sự đồng thuận trong nhân dân Phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội để xây dựng nông thôn mới, xem đây là nhiệm vụ trọng tâm, để không một ai đứng ngoài cuộc, phải thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở để “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và hưởng thụ”

Xây dựng nông thôn mới cần rất nhiều nguồn lực và sự tham gia giám sát của người dân Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ sẽ huy động được đa dạng các nguồn lực cùng chung tay xây dựng nông thôn mới

1.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới

1.4.1 Kinh nghiệm của huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định

Chỉ sau hơn 2 năm thực hiện xây dựng nông thôn mới, huyện Hải Hậu đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ Huyện có 35 xã với 546 xóm (thôn)

Từ xuất phát ban đầu mới đạt 8 tiêu chí, đến nay toàn huyện đạt 17 tiêu chí, có 2

xã, thị trấn đạt 20 tiêu chí (xã Hải Toàn, TT Thịnh Long); 1 thị trấn đạt 19 tiêu chí (TT Cồn); 5 xã đạt 18 tiêu chí; 13 xã, thị trấn đạt 17 tiêu chí; 11 xã đạt 16

Trang 26

17

tiêu chí; 1 xã đạt 15 tiêu chí; 2 xã đạt 13 tiêu chí; 12 xã, thị trấn hoàn thành tiêu chí số 20 về xây dựng xóm NTM; 342/546 xóm, tổ dân phố đạt tiêu chí xóm nông thôn mới và hết năm 2013 có 20/35 xã, thị trấn sẽ hoàn thành xây dựng nông thôn mới Đời sống của người dân từng bước được nâng lên, thu nhập bình quân đầu người năm 2012 đạt 17,58 triệu đồng/người, tăng 8,38 triệu so với năm

2008 - thời điểm trước khi triển khai xây dựng nông thôn mới Huyện đang từng bước chuyển dịch từ sản xuất nông nghiệp sản lượng sang sản xuất nông nghiệp

có giá trị kinh tế cao Đặc biệt, hưởng ứng phong trào của địa phương, người dân trong huyện đã hiến hàng triệu ngày công, gần 400ha đất làm đường giao thông nội đồng, giao thông thôn xóm

Kinh nghiệm và bài học từ kết quả bước đầu trong xây dựng nông thôn mới ở Hải Hậu thời gian qua đó là:

- Huyện đã phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị; xác định xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của Đảng bộ và các tầng lớp nhân dân Huyện cũng đã xây dựng đề án nông thôn mới sát với tình hình thực tế của địa phương, đảm bảo tính khả thi và khả năng huy động nguồn lực của địa phương; triển khai thực hiện đề án đảm bảo công khai, dân chủ, minh bạch

- Để thực hiện thành công nông thôn mới, trước hết phải nghiên cứu kỹ và quán triệt sâu rộng chủ trương của Trung ương, của tỉnh về xây dựng nông thôn mới và vận dụng sáng tạo vào điều kiện thực tế của địa phương một cách sáng

tạo (Huyện Hải Hậu đã cụ thể hóa 19 tiêu chí quốc gia thành 20 tiêu chí xây

dựng xóm (thôn) đạt thôn nông thôn mới, trong đó có 12 tiêu chí xóm nông thôn mới, 8 tiêu chí gia đình nông thôn mới) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận

động bằng nhiều hình thức để mỗi người dân hiểu được mục đích, ý nghĩa và lợi ích thiết thực “Cống hiến và tự hưởng” khi xây dựng nông thôn mới

Trang 27

18

- Trong quá trình tổ chức thực hiện phải huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc kiên quyết; phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của mỗi cấp ủy, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể từ huyện đến cơ sở Phân cấp, phân công nhiệm

vụ cụ thật cụ thể gắn với trách nhiệm và sự nỗ lực, gương mẫu thực hiện của mỗi cán bộ, đảng viên, hội viên, đoàn viên Ví dụ: Hội cựu chiến binh mỗi người ủng

hộ 100kg xi măng, Hội viên hội nông dân tự nguyện hiến đất xây dựng giao thông, xây dựng nhà văn hoá, ngày công nạo vét cống rãnh… Xác định nhiệm

vụ trọng tâm của từng năm để tập trung chỉ đạo thực hiện, không dàn trải Chủ trương và khẩu hiệu xây dựng nông thôn mới Hải Hậu là: „Thực hiện từ đồng về nhà, từ nhà ra xóm và từ xóm ra xã” Thực hiện nghiêm túc phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân hưởng thụ”; thường xuyên kiểm tra việc tổ chức thực hiện, kịp thời và kiên quyết xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm, khuyết điểm làm ảnh hưởng đến phong trào xây dựng nông thôn mới…

Với chủ trương đúng, cách làm sáng tạo, dân ủng hộ, xây dựng nông thôn mới của huyện Hải Hậu đã trở thành một phong trào thi đua sôi nổi giữa các gia đình, các xóm và các xã Đã huy động nhân dân đóng góp hàng triệu ngày công, hiến tặng gần 400 ha đất làm đường nội đồng, đường xóm và trên 500 tỷ đồng để cùng với nguồn hỗ trợ của trên cải tạo, nâng cấp gần 400km đường thôn xóm,

250 km đường giao thông nội đồng theo tiêu chí nông thôn mới, 170 km thoát nước khu dân cư, xây dựng mới 42 nhà văn hoá xóm, nâng cấp hệ thống trường học, trạm xá Làm thay đổi cảnh quan làng xóm và bộ mặt nông thôn ngày càng khởi sắc Kinh tế phát triển, văn hoá đời sống của nhân dân được cải thiện nâng lên rõ rệt

Trang 28

19

1.4.2 Kinh nghiệm của huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội

Đan Phượng là huyện ngoại thành nằm ở phía Tây thủ đô Hà Nội, quê hương khởi nguồn của phong trào “Phụ nữ Ba đảm đang” thời kháng chiến chống Mỹ Ngày nay, Đan Phượng đang là điểm sáng về phong trào xây dựng nông thôn mới của TP Hà Nội

Ngay khi có Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) và Chương trình 02 về xây dựng nông thôn mới của Thành ủy Hà Nội, các cấp ủy đảng, chính quyền huyện Đan Phượng đã có một loạt các chỉ đạo và hành động để tập trung xây dựng nông thôn mới Theo đó, huyện đã phát động "Phong trào toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới", "Phong trào làm đường ngõ, xóm" và đến năm

2013 huyện phát động "Phong trào xây dựng huyện nông thôn mới và xây dựng đường trục thôn, giao thông, thủy lợi nội đồng" Xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào thi đua sôi nổi trong toàn huyện Trong đó, phong trào làm đường giao thông, xây dựng đường làng, ngõ xóm đã trở thành một phong trào điển hình, thu được những kết quả rất đáng khích lệ

Toàn huyện đã có 16 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế; bệnh viện đa khoa được công nhận là bệnh viện hạng II Các trường học trong toàn huyện được xây dựng khang trang, sạch đẹp, chất lượng dạy và học được nâng lên Năm 2012, có 32 trường học được thành phố công nhận đạt chuẩn quốc gia Năm 2013, huyện tập trung xây dựng Trường Tiểu học thị trấn Phùng đạt chuẩn quốc gia, trở thành huyện đầu tiên trong toàn thành phố có 100% trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia Cùng với sự chỉ đạo sáng tạo, quyết liệt của các cấp ủy đảng, chính quyền và sự “nhập cuộc” nhiệt tình của người dân, qua 3 đợt triển khai xây dựng hệ thống giao thông nông thôn đã tiết kiệm cho ngân sách nhà nước trên

190 tỷ đồng trên tổng dự toán được duyệt là trên 324 tỷ đồng, tương đương 58,7% Điển hình như năm 2013, UBND huyện chấp thuận đầu tư xây dựng 116

Trang 29

20

tuyến giao thông nội đồng với tổng chiều dài gần 72km với mức đầu tư trên 66

tỷ đồng Chỉ trong vòng 1 tháng, đến tháng 5/2013, 90% các tuyến đường giao thông nội đồng đã kịp hoàn thành phục vụ nhân dân thu hoạch vụ xuân năm

2013 làm nhân dân rất phấn khởi, tin tưởng

Thực hiện chủ trương “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân đồng tình ủng hộ”, ngay từ đầu năm 2012, thực hiện chỉ đạo của thành phố Hà Nội, Huyện ủy Đan Phượng đã ra chỉ thị về xây dựng đường làng ngõ xóm và nhận được sự đồng thuận của nhân dân Chỉ trong 2 tháng cuối năm 2012, huyện đã đầu tư nâng cấp hơn 130.000m đường làng ngõ xóm với mức tổng đầu tư hơn

183 tỷ đồng, trong đó huyện đầu tư 100% nguyên vật liệu, còn lại do xã hội hóa Đến nay, 100% các ngõ xóm được nâng cấp, cải tạo bê tông hóa, là huyện đứng đầu trong 29 quận, huyện của thành phố Hà Nội làm tốt công tác xây dựng, cải tạo đường làng, ngõ xóm

Để phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân, toàn huyện Đan Phượng tập trung vào 3 lĩnh vực: Sản xuất nông nghiệp tập trung, phát triển tiểu thủ công nghiệp dịch vụ và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn Mặc dù diện tích gieo trồng của huyện có xu hướng giảm do phát triển công nghiệp đô thị, song tổng sản lượng lương thực vẫn đạt ở mức cao, nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao được đưa vào sản xuất như: Rau, hoa, cây ăn quả… Tính riêng năm 2012, giá trị sản xuất nông nghiệp của toàn huyện đạt 281 tỷ đồng, thu bình quân từ nông nghiệp, thủy sản trên 1ha canh tác đạt 204 triệu đồng/năm

Đan Phượng đang tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, công nghệ cao, sinh thái bền vững Toàn huyện

đã chuyển đổi được 267ha lúa sang trồng cây ăn quả, hoa, rau an toàn có giá trị

Trang 30

có 7 làng nghề được công nhận đầy đủ các tiêu chí đang phát triển khá tốt, người dân làm nghề có thu nhập cao Điển hình như làng nem Phùng, sản xuất đồ gỗ ở Liên Hà…

Để nâng cao đời sống nhân dân, huyện Đan Phượng đã có chính sách mở kêu gọi các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư, sản xuất tại địa phương Đến nay, toàn huyện có 591 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho hơn 10.000 lao động, góp phần nâng cao đời sống nhân dân

Một điểm nổi bật khác trong xây dựng nông thôn mới ở Đan Phượng đó

là vấn đề quy hoạch và xử lý môi trường Hiện nay, huyện đang dẫn đầu trong các huyện ngoại thành về xây dựng hồ, ao môi trường, thu gom xử lý chế biến rác thải Toàn huyện đã quy hoạch được 108 hồ, ao môi trường, xây dựng 30 hồ,

ao và 9 bãi trung chuyển rác thải có phương tiện đưa về nhà máy xử lý, chế biến rác thải công suất 200 tấn/ngày tại xã Phương Đình

Hiện nay, đến bất kỳ làng, xã nào của huyện Đan Phượng đều thấy đường làng, ngõ xóm, khang trang, hiện đại, sạch sẽ; đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân được nâng cao Nếu như năm 2009, thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn huyện mới đạt 11,8 triệu đồng/người/năm thì ước đến hết năm

2013 đã đạt 22 triệu đồng/ người/năm Sự đổi thay đó là minh chứng cho những bước đi đúng hướng và hiệu quả của chương trình “tam nông” mà huyện đã triển khai thực hiện

Trang 31

22

Kinh nghiệm của huyện Đan Phượng đúc kết ra đó là:

- Lãnh đạo huyện, các phòng, ban của huyện, các xã, thôn phải thực sự vào cuộc, sát từng cụm dân cư, phát hiện và tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn triển khai thực hiện nhiệm vụ Phân công cụ thể nhiệm vụ cho từng ngành, từng cá nhân, hướng dẫn giúp các xã, các thôn triển khai thực hiện nhiệm vụ Đồng thời huyện có chính sách động viên, khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân có thành tích ngay tại các thôn, cụm dân cư

- Trong quá trình triển khai thực hiện, huyện xác định những vấn đề bức xúc nhất, cần thiết nhất để bàn bạc với nhân dân thực hiện trước Đến nay, huyện

đã đầu tư 24 điểm trung chuyển sinh hoạt rác thải, xây dựng 30 ao môi trường và dành 30 tỷ đồng/năm để thực hiện việc thu gom, xử lý rác thải, vệ sinh vườn hoa, đường giao thông, nơi công cộng

- Cùng với sự tham gia nhiệt tình của người dân là đóng góp rất lớn của các doanh nghiệp Sau lễ phát động toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới, huyện đã huy động được 19 doanh nghiệp tham gia ủng hộ Chương trình Trong

đó, các doanh nghiệp ứng vật tư, máy móc, nhân công trước với giá thấp để thi công các hạng mục công trình đường làng, ngõ, xóm, giao thông nội đồng và các công trình cơ sở vật chất trường học, y tế Nhờ vậy, không chỉ rút ngắn được thời gian thực hiện, tiết kiệm hàng chục tỷ đồng mà còn giảm và đỡ cho nhân dân được hàng nghìn ngày công lao động

1.4.3 Kinh nghiệm của huyện Phước Long, Tỉnh Bạc Liêu

Năm 2010, Phước Long được Ban chỉ đạo Trung ương chọn là 1 trong 5 huyện chỉ đạo điểm của cả nước về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 -

2015 Ý thức được trọng trách của mình, huyện đã vận dụng sáng tạo chủ trương xây dựng nông thôn mới vào điều kiện thực tế của địa phương, tập trung chỉ đạo

Trang 32

Bên cạnh đó, vận dụng một số tiêu chí nông thôn mới có liên quan trực tiếp đến hộ dân, Ban chỉ đạo huyện cụ thể hóa thành 13 tiêu chí xây dựng gia đình nông thôn mới, in ấn tài liệu cấp phát đến từng hộ, treo tại vị trí thuận lợi quan sát, để mỗi thành viên thường xuyên đối chiếu việc tổ chức thực hiện của gia đình mình, từ đó có hướng phấn đấu thực hiện tốt hơn nữa trong thời gian tới Kết quả trong 3 năm, huyện đã công nhận 8.094 hộ đạt 13 tiêu chí gia đình nông thôn mới Đây chính là những hạt nhân tiêu biểu cho các phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới và tạo nên sức lan tỏa, vận động mọi người cùng thi đua xây dựng nông thôn mới

Trang 33

24

Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, ngoài việc vận động nhân dân hiến đất xây dựng các công trình, huyện còn vận dụng đồng bộ nhiều giải pháp và sáng tạo trong việc huy động nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ thi công, hoàn thành các công trình, như quan hệ với các doanh nghiệp trong khu vực đồng bằng sông cửu long mua trả chậm một phần xi măng, sắt thép để xây dựng lộ và cầu bê-tông Đối với những công trình bức xúc cần xây dựng ngay, huyện ký hợp đồng với các doanh nghiệp bỏ vốn ra làm trước, thanh toán 50%, số còn lại thanh toán vào các năm tiếp theo Với lộ bê-tông trục ấp - liên ấp, huyện đã vận dụng phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm Theo đó, mở nhiều đợt ra quân sôi nổi, với quy mô trên phạm vi toàn huyện, huy động trên 10.000 lao động từ cán bộ, công chức, viên chức các ngành cấp huyện, các xã, thị trấn và nhân dân trong huyện tham gia Trung bình mỗi ngày ra quân, huyện huy động khoảng 250 người tham gia Trong thời gian cao điểm, huyện huy động gần 3.000 người tham gia Từ đó không phải thuê mướn đơn vị thi công, chỉ thuê một số thợ hồ

có tay nghề cao và đầu tư sắt, cát, đá, xi măng để xây dựng lộ Với cách làm này, chất lượng công trình không những được tăng lên, mà chi phí còn giảm đáng kể (khoảng 40%)

Ngoài ra, để tháo gỡ khó khăn về vốn, huyện đã vận động cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân đóng góp quỹ An sinh xã hội - xây dựng nông thôn mới Trong 3 năm qua, ngoài nguồn vốn cấp trên đầu tư, vốn tín dụng, vốn doanh nghiệp, vốn ngân sách huyện và vốn nhân dân đóng góp trên 2.000 tỷ đồng, huyện còn vận động quỹ An sinh xã hội - xây dựng nông thôn mới gần 77

tỷ đồng

Trang 34

25

Từ nguồn vốn và những giải pháp sáng tạo nêu trên, huyện đã thực hiện rất nhiều công trình giao thông nông thôn, đầu tư hạ tầng cho phát triển sản xuất, xây dựng nhiều mô hình xanh - sạch - đẹp, làm khởi sắc bộ mặt nông thôn

Đến nay, các xã của huyện đều đạt được từ 13/19 tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, trở lên Riêng xã Vĩnh Thanh đạt 19/19 tiêu chí, xã Phước Long

và Phong Thạnh Tây B đạt 16/19 tiêu chí, các tiêu chí còn lại thực hiện được từ

60 - 70% Qua đó, diện mạo nông thôn của huyện Phước Long đã thay đổi rõ nét; đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng lên Thu nhập bình quân đầu người của huyện đến cuối năm 2013 đạt gần 29 triệu đồng/người/năm, tăng gấp 1,5 lần so với năm 2010

Qua 3 năm chỉ đạo thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, huyện Phước Long đã rút ra một số kinh nghiệm chỉ đạo Đó là, nơi nào cấp ủy, chính quyền đoàn kết, chung sức, đồng lòng quan tâm chỉ đạo thực hiện chương trình, được nhân dân đồng thuận, tích cực hưởng ứng, tự giác thực hiện phong trào, thì chương trình xây dựng nông thôn mới ở nơi đó sẽ đạt được kết quả tốt Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của

cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, mà chủ thể là nhân dân Vì vậy, để phát huy tốt vai trò chủ thể của người dân, đòi hỏi các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể phải làm tốt công tác tuyên truyền, vận động sâu rộng chủ trương xây dựng nông thôn mới đến từng hộ gia đình và mỗi người dân Đồng thời thực hiện công khai, dân chủ tất cả mọi công việc có liên quan đến nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, để mọi người dân trên địa bàn đều được tham gia bàn bạc, quyết định, giám sát và tổ chức thực hiện Quá trình chỉ đạo triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới phải biết lựa chọn làm trước, hoàn thành trước những tiêu chí dễ làm, dễ thực hiện, dễ hoàn thành, cần

Trang 35

26

ít vốn hoặc không cần vốn của Nhà nước Còn những tiêu chí khó sẽ thực hiện sau Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài Do vậy, quá trình chỉ đạo thực hiện phải kiên trì, bền bỉ, không nôn nóng, không chạy theo thành tích, làm tới đâu chắc tới đó Và cuối cùng là phải đạt được mục tiêu theo Quyết định 800 của Thủ tướng Chính phủ

Trang 36

27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚC THỌ

2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội của huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Phúc Thọ là huyện đồng bằng Bắc Bộ, nằm bên bờ hữu ngạn của cả hai con sông: sông Hồng và sông Đáy, của hệ thống sông Hồng Phúc Thọ có ranh giới phía Tây giáp thị xã Sơn Tây, phía Nam giáp huyện Thạch Thất, phía Đông Nam (lần lượt từ Nam lên Đông) giáp các huyện Quốc Oai và Hoài Đức, phía Đông giáp huyện Đan Phượng Ranh giới phía Đông của huyện với các huyện Đan Phượng và Hoài Đức, gần như chính là con sông Đáy, tên cổ là con sông Hát, là phân lưu của sông Hồng Về phía Bắc, sông Hồng là ranh giới của huyện,

mà tính từ đông sang tây gồm có: Mê Linh (ở góc phía Đông Bắc), các huyện của tỉnh Vĩnh Phúc như Yên Lạc (ở phía Bắc), Vĩnh Tường (ở góc phía Tây Bắc) Góc phía Đông Bắc huyện, trên ranh giới với các huyện Mê Linh và Đan

Phượng, tại vị trí các xã Vân Hà, Vân Nam và Hát Môn, huyện có cửa Hát Môn,

vốn là ngã ba sông phân lưu nước sông Hồng vào sông Đáy Huyện có diện tích

tự nhiên 117km2, là vùng đất có truyền thống lâu đời và bề dày lịch sử, cái tên huyện Phúc Thọ đến nay đã có 192 năm

2.1.1.2 Địa hình, khí hậu

Huyện Phúc Thọ nằm trong vùng châu thổ sông Hồng, địa hình chủ yếu là đồng bằng, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa; lượng mưa bình quân hàng năm 1.500 - 1.600mm, thường tập trung từ tháng 5 đến tháng 9 Bình quân

Trang 37

28

hàng năm thường có từ 3 - 5 cơn bão kèm theo mưa lớn gây ngập lụt Trên địa bàn có 8 xã nằm trong vùng phân lũ, chậm lũ của Trung Ương Nguồn cung cấp nước phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân chủ yếu từ sông Hồng, sông Tích, sông Đáy

Với đặc điểm địa hình và khí hậu trên, huyện Phúc Thọ có điều kiện thuận lợi để phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá đa dạng, phong phú Nhưng cũng

là nguyên nhân tạo ra những rủi ro, gây bất lợi đối với phát triển kinh tế và đời sống của nhân dân trong huyện, nhất là trong mùa mưa bão

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế

Trong những năm gần đây, kinh tế của huyện có những bước phát triển tương đối khá, tăng trưởng bình quân đạt trên 9%/năm

Năm 2013, tổng giá trị sản xuất ước 1.450 tỷ đồng (giá thực tế), tăng 6,4% cùng kỳ Trong đó kinh tế tập thể ước 39 tỷ đồng chiếm 2,7%, tăng 9%; kinh tế

tư nhân ước 221 tỷ đồng chiếm 15,2%, tăng 6,2%; kinh tế cá thể ước 1.190 tỷ đồng chiếm 82,1%, tăng 6,5% Một số ngành chủ đạo như: Sản xuất chế biến thực phẩm ước 183,5 tỷ đồng, chiếm 12,6% (tăng 16,1%); sản xuất trang phục ước 364 tỷ đồng chiếm 25,1% (tăng 15,2%); chế biến gỗ, sản phẩm mộc, giường

tủ bàn ghế ước 401 tỷ đồng chiếm 27,7% (giảm 0,5%); sản phẩm từ kim loại đúc sẵn ước đạt 187 tỷ đồng chiếm 12,9% (giảm 0,7%); sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim ước 199 tỷ đồng chiếm 13,7% (giảm 15,8%); tổng diện tích gieo trồng

cả năm 14.685ha, đạt 97% kế hoạch, bằng 105% cùng kỳ, sản lượng lương thực ước 60.440 tấn, đạt 100,8% kế hoạch, bằng 98,2% cùng kỳ, năng suất lúa bình quân đạt 60tạ/ha, ngô 56tạ/ha, đậu tương 19tạ/ha, lạc 18tạ/ha, trong đó: Vụ Đông: Gieo trồng 3.523ha, đạt 88,1% kế hoạch, bằng 125% cùng kỳ, sản lượng

lương thực đạt 3.558 tấn; giá trị 162,4 tỷ đồng, tăng 56,9% cùng kỳ; vụ Xuân:

Trang 38

đồng, tăng 13% (Nguồn: Phòng Kinh tế huyện Phúc Thọ)

Bảng 2.1: Tăng trưởng kinh tế chia theo khu vực giai đoạn 2011-2013

Nguồn: Văn phòng HĐND&UBND huyện Phúc Thọ

Huyện Phúc Thọ đang tập trung thực hiện 7 nhiệm vụ trọng tâm, 2 khâu đột phá và 6 chương trình công tác lớn xuyên suốt nhiệm kỳ Chương trình xây dựng nông thôn mới và dồn điền đổi thửa được chỉ đạo quyết liệt và có nhiều khởi sắc Sau dồn điền đổi thửa (phấn đấu hoàn thành trong năm 2014), huyện sẽ tập trung vào cơ giới hóa, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tổ chức lại sản xuất, nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp để nâng cao

giá trị gia tăng trên diện tích đất canh tác của nông dân

Trang 39

30

Hiện nay, huyện Phúc Thọ được thành phố Hà Nội quy hoạch là vùng sinh

thái, phát triển du lịch và nông nghiệp sạch, chất lượng cao

2.1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế của huyện có sự chuyển dịch theo hướng tích cực Giá trị sản xuất nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng bình quân từ 2,0 - 3,0%/năm, giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác đạt 75 triệu đồng Khu vực nông thôn hiện có 56/79 làng có nghề, trong đó có 5 làng được công nhận là làng nghề đó là (Làng nghề may Thượng Hiệp xã Tam Hiệp, Bún, bánh Linh chiểu xã Sen chiểu, sản xuất tinh bột sắn Hiếu hiệp xã Liên Hiệp, dệt thảm thôn Đông xã Phụng Thượng), giá trị sản xuất sản phẩm từ các làng nghề đã góp phần quan trọng vào tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn

Bảng 2.2: Cơ cấu kinh tế giai đoạn 2011-2013

Trang 40

31

Bảng 2.3: Thực trạng dân số, diện tích của các xã tham gia xây dựng NTM

STT Xã (người) Dân số Thôn, cụm dân cư Diện tích tự nhiên (ha)

Ngày đăng: 19/05/2015, 09:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Chí Kiên (2012), Phúc Thọ gỡ khó cho xây dựng nông thôn mới, Hà Nội mới, ngày 23/11/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phúc Thọ gỡ khó cho xây dựng nông thôn mới
Tác giả: Chí Kiên
Năm: 2012
4. Đặng Kim Sơn, “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam- Hôm nay và mai sau”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam- Hôm nay và mai sau”
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
5. Đỗ Kim Chung, Kim Thị Dung: “Chương trình nông thôn mới ở Việt Nam – Một số vấn đề đặt ra và kiến nghị”, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 262, tháng 8/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chương trình nông thôn mới ở Việt Nam – Một số vấn đề đặt ra và kiến nghị”
7. Hồ Xuân Hùng - Về Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, Tạp chí Cộng sản, số 832, tháng 2/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới
11. Nguyễn Tuấn Anh (2011), “Nghiên cứu ứng dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng để xây dựng phương pháp và tiêu chí giám sát, đánh giá kết quả thực hiện xây dựng mô hình nông thôn mới”, Hội Thuỷ lợi Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu ứng dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng để xây dựng phương pháp và tiêu chí giám sát, đánh giá kết quả thực hiện xây dựng mô hình nông thôn mới”
Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh
Năm: 2011
12. Nguyễn Quang Dũng (2010), “Nghiên cứu hỗ trợ xây dựng mô hình phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng để làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất chính sách phát triển nông thôn mới trong điều kiện của Việt Nam”, Viện Quy hoạch và thiết kế nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu hỗ trợ xây dựng mô hình phát triển nông thôn dựa vào cộng đồng để làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất chính sách phát triển nông thôn mới trong điều kiện của Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Quang Dũng
Năm: 2010
15. Thành uỷ Hà Nội (2011), Chương trình 02-CTr/TU về “Phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, từng bước nâng cao đời sống nông dân” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình 02-CTr/TU về “Phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, từng bước nâng cao đời sống nông dân
Tác giả: Thành uỷ Hà Nội
Năm: 2011
17. Trần Minh Yến (2013), Xây dựng nông thôn mới - Khảo sát và đánh giá, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nông thôn mới - Khảo sát và đánh giá
Tác giả: Trần Minh Yến
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2013
18. Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Hà Nội (2012), “Kỷ yếu hội thảo: Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kỷ yếu hội thảo: Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam - những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Hà Nội
Năm: 2012
1. Ban Chỉ đạo chương trình xây dựng nông thôn mới Hà Nội (2012), “Kỷ yếu tổng kết chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới (2009- 2011) Khác
3. Chính phủ (2009), Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới Khác
6. HĐND huyện Phúc Thọ khoá khoá XVII (2010), Nghị quyết số 80/2010/NQ-HĐND về xây dựng nông thôn mới huyện Phúc Thọ giai đoạn 2010 - 2020 Khác
8. Huyện uỷ Phúc Thọ (2010), Nghị quyết số 04-NQ/HU về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Khác
9. Huỳnh Ngọc Điền, Ths. Lã Sơn Ka (2011), Kết quả bước đầu trong xây dựng nông thôn mới tại xã điểm Tân Lập, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước Khác
10. Ngô Văn Toại (2011), Kinh nghiệm thành công của Hàn Quốc về phát triển nông thôn Khác
13. Phạm Huy Thông (2011), Sự cần thiết phải điều chỉnh một số tiêu chí về xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay Khác
14. Phạm Xuân Liêm (2011), Phong trào đổi mới nông thôn của Hàn Quốc Khác
16. Trần Hoàng Duyên (2014), Huyện Phước Long: Những bài học kinh nghiệm rút ra qua 3 năm xây dựng nông thôn mới Khác
19. UBND huyện Phúc Thọ (2013), Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết số 03/2010/NQ-HĐND về xây dựng nông thôn mới thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 - 2020, định hướng 2030 Khác
20. UBND huyện Phúc Thọ (2011), Đề án xây dựng nông thôn mới huyện Phúc Thọ giai đoạn 2010-2020 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1  Bảng 2.1  Tăng trưởng kinh tế chia theo khu vực giai - tăng cường quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới  trên địa bàn huyện phúc thọ, thành phố hà nội
1 Bảng 2.1 Tăng trưởng kinh tế chia theo khu vực giai (Trang 9)
Bảng 2.1: Tăng trưởng kinh tế chia theo khu vực giai đoạn 2011-2013 - tăng cường quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới  trên địa bàn huyện phúc thọ, thành phố hà nội
Bảng 2.1 Tăng trưởng kinh tế chia theo khu vực giai đoạn 2011-2013 (Trang 38)
Bảng 2.2: Cơ cấu kinh tế giai đoạn 2011-2013 - tăng cường quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới  trên địa bàn huyện phúc thọ, thành phố hà nội
Bảng 2.2 Cơ cấu kinh tế giai đoạn 2011-2013 (Trang 39)
Bảng 2.3: Thực trạng dân số, diện tích của các xã tham gia xây dựng NTM - tăng cường quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới  trên địa bàn huyện phúc thọ, thành phố hà nội
Bảng 2.3 Thực trạng dân số, diện tích của các xã tham gia xây dựng NTM (Trang 40)
Bảng 2.4: Dân số và lao động huyện Phúc Thọ (số liệu năm 2009) - tăng cường quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới  trên địa bàn huyện phúc thọ, thành phố hà nội
Bảng 2.4 Dân số và lao động huyện Phúc Thọ (số liệu năm 2009) (Trang 41)
Bảng 2.5. Hiện trạng giao thông và nhu cầu - tăng cường quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới  trên địa bàn huyện phúc thọ, thành phố hà nội
Bảng 2.5. Hiện trạng giao thông và nhu cầu (Trang 42)
Bảng 2.6: Hiện trạng trường học và nhu cầu - tăng cường quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới  trên địa bàn huyện phúc thọ, thành phố hà nội
Bảng 2.6 Hiện trạng trường học và nhu cầu (Trang 43)
Bảng 2.7: Hiện trạng cơ sở vật chất văn hoá và nhu cầu - tăng cường quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới  trên địa bàn huyện phúc thọ, thành phố hà nội
Bảng 2.7 Hiện trạng cơ sở vật chất văn hoá và nhu cầu (Trang 45)
Bảng 2.8:  Khái toán vốn cho phát triển và tổ chức sản xuất - tăng cường quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới  trên địa bàn huyện phúc thọ, thành phố hà nội
Bảng 2.8 Khái toán vốn cho phát triển và tổ chức sản xuất (Trang 52)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w