Sự phát triển của khoa học – công nghệ đã trở thành tiền đề, điểm xuất phát trực tiếp cho những biến đổi to lớn trong kỹ thuật, sản xuất và tạo ra những ngành sản xuất mới; làm biến đổi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
PHÒNG ĐÀO TẠO SĐH-KHCN & QHĐN
BÀI TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
KINH TẾ TRI THỨC & KẾT CẤU GIAI - TẦNG
TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY
GVHD : TS BÙI VĂN MƯA HVTH : NGÔ VĂN LINH MSHV : CH1301021
TP.Hồ Chí Minh, tháng 8/2014
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 3 PHẦN 2: NỘI DUNG 5 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TRI THỨC VÀ ĐÔI NÉT VỀ KẾT CẤU GIAI - TẦNG XÃ HỘI 5
1.1 - Khái niệm về tri thức và nền kinh tế tri thức 5 1.2 - Đôi nét về kết cấu giai – tầng xã hội 6 1.3 - Vai trò của khoa học – công nghệ đối với sự phát triển nền kinh tế tri thức và thay đổi kết cấu giai – tầng xã hội 6
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ TRI THỨC VÀ KẾT CẤU GIAI - TẦNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY DƯỚI SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ 8
2.1 - Thực trạng nền kinh tế Việt Nam dưới góc độ của nền kinh tế tri thức 8 2.2 - Tình hình phát triển kinh tế tri thức của Việt Nam dưới ảnh hưởng của khoa học – công nghệ 8 2.3 - Kết cấu giai – tầng nước ta dưới ảnh hưởng của khoa học – công nghệ 9
CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ TRI THỨC TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI 11
3.1 - Những quan điểm và mục tiêu phát triển nền kinh tế tri thức 11 3.2 - Định hướng và chiến lược phát triển khoa học – công nghệ của Đảng Cộng Sản Việt Nam 12 3.3 - Nhiệm vụ và giải pháp phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam trong giai đoạn tới 12
PHẦN 3: KẾT LUẬN 15 PHỤ LỤC 17
Trang 3PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH CHỌN ĐỀ TÀI
Sự ra đời và phát triển của khoa học – công nghệ là một thành quả vĩ đại của trí tuệ con người Khoa học giữ một vai trò đặc biệt trong hoạt động của con người
và vai trò đó ngày càng tăng lên trong đời sống xã hội Trong thời đại ngày nay, mọi bước tiến quan trọng của lịch sử đều xuất phát từ tri thức khoa học và vai trò của nó trở nên to lớn đến mức có thể gọi thời đại ngày ngày nay là thời đại khoa học – công nghệ
Sự phát triển của khoa học – công nghệ đã trở thành tiền đề, điểm xuất phát trực tiếp cho những biến đổi to lớn trong kỹ thuật, sản xuất và tạo ra những ngành sản xuất mới; làm biến đổi sâu sắc vai trò của nó đối với sản xuất cũng như vị trí con người trong sản suất; không chỉ tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất mà còn tham gia trực tiếp vào các quá trình phát triển xã hội, khi mà sự phát triển của nó nói lên trình độ tri thức, văn hóa, dân trí của xã hội Điều đó cho thấy khoa học – công nghệ đã trở thành một thiết chế xã hội, một sức mạnh, một lực lượng cần thiết của
xã hội hiện đại
Bước vào thế kỷ XXI, thời đại của kỷ nguyên khoa học – công nghệ, thì nền kinh tế ki thức được xác định là một bộ phận quan trọng, là mục tiêu và xu hướng phát triển tất yếu của xã hội hiện đại Kinh tế tri thức là cách cửa mở ra cho các nền kinh tế đang phát triển, tiếp cận và rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển nếu biết đón bắt và tận dụng cơ hội Ngoài việc đẩy mạnh sự phát triển về mặt kinh tế, vị thế chính trị tăng cao thì kinh tế tri thức không chỉ thay đổi diện mạo đời sống kinh
tế xã hội, mà còn làm cho kết cấu giai – tầng xã hội cũng thay đổi
Nước ta đang trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội nên khoa học – công nghệ có vị trí vô cùng quan trọng Do đó trong tầm nhìn dài hạn, phát triển nền kinh
tế tri thức được coi là nhiệm vụ mang tính chất sống còn đối với tương lai của Việt Nam
Trang 4Như vậy, nhiệm vụ của nước ta hiện nay đó là phát triển nền kinh tế tri thức như thế nào để thay đổi diện mạo đời sống kinh tế - xã hội và thúc đẩy công cuộc đổi mới toàn diện nước ta theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa Đó là lí do vì
sao em chọn đề tài: “Kinh tế tri thức & kết cấu giai - tầng trong xã hội Việt Nam
hiện nay” làm đề tài nghiên cứu tiểu luận môn Triết học
2 BỐ CỤC ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu giới thiệu lý do và mục đích chọn đề tài, bố cục đề tài, tài liệu tham khảo thì nội dung chính của bài tiểu luận được trình bày trong 3 chương như sau:
Chương I: tiểu luận tập trung nghiên cứu những cơ sở lý luận về nền kinh tế tri thức, đôi nét về kết cấu giai - tầng và vai trò của khoa học – công nghệ
Chương II: tiểu luận tập trung phân tích thực trạng nền kinh tế tri thức và kết cấu giai tầng của nước ta hiện nay dưới sự ảnh hưởng của khoa học – công nghệ
Chương III: tiểu luận tập trung đưa ra những quan điểm về kiến nghị và giải pháp nâng cao trình độ khoa học – công nghệ đối với sự phát triển nền kinh tế tri thức và thay đổi kết cấu giai – tầng trong xã hội Việt Nam hiện nay
3 TÀI LIỆU SỬ DỤNG
- Giáo trình triết học Mác – Lênin – chương trình cao cấp – tập 2, 3 – Học viện Chính trị Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
- Giáo trình triết học – TS Bùi Văn Mưa
- Tập bài giảng Triết học – TS Bùi Văn Mưa
- Tạp chí Cộng sản
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI của Đảng
- Sách trắng công nghệ thông tin và truyền thông từ năm 2013
- Internet
Trang 5PHẦN 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TRI THỨC VÀ ĐÔI NÉT
VỀ KẾT CẤU GIAI - TẦNG XÃ HỘI
1.1 - Khái niệm về tri thức và nền kinh tế tri thức
1.1.1 - Khái niệm về tri thức
Do quan điểm và thời điểm lịch sử khác nhau, cách tiếp cận khác nhau nên có nhiều quan niệm về tri thức nhưng tổng hợp lại chúng ta có thể hiểu khái niệm tri
thức đơn giản như sau: Tri thức là toàn bộ những sự hiểu biết của loài người được
hình thành trong lịch sử phát triển của mình thông qua kinh nghiệm hay thông qua quá trình học hỏi
Tri thức đóng vai trò rất lớn đối với sự phát triển của xã hội loài người Trong thời đại ngày nay, mọi bước tiến quan trọng của lịch sử đều xuất phát từ tri thức khoa học
1.1.2 - Khái niệm nền kinh tế tri thức
Thuật ngữ “Kinh tế tri thức” hình thành xuất phát từ việc thừa nhận vị trí mới
và ảnh hưởng quyết định của tri thức và công nghệ trong các nền kinh tế phát triển
Có nhiều định nghĩa khác nhau về nền kinh tế tri thức như: định nghĩa của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đưa ra năm 1996; định nghĩa của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) đưa ra năm 2000 Căn cứ vào bối cảnh chung của thế giới và tình hình thực tiễn của Việt Nam, giáo sư Đặng
Hữu đã định nghĩa như sau: “Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh
ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh
tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống”
Như vậy, kinh tế tri thức là trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất xã hội Trong nền kinh tế tri thức, những ngành kinh tế có tác động to lớn tới sự phát triển là những ngành dựa vào tri thức, dựa vào những thành tựu mới của khoa học,
Trang 6công nghệ và được hiểu là nền kinh tế chủ yếu dựa vào tri thức, trên cơ sở phát triển khoa học và công nghệ cao
Từ hai cơ sở lý luận trên chúng ta có thể thấy rằng: Tri thức khoa học và cách mạng khoa học – công nghệ giữ một vai trò quan trọng cho sự phát triển của xã hội,
là nền tảng cho nền kinh tế tri thức vận hành và phát triển trong xã hội hiện đại
1.2 - Đôi nét về kết cấu giai – tầng xã hội
Mỗi xã hội về thực chất đều không phải là đơn nhất, thuần nhất mà là một chỉnh thể phức tạp, đa chiều, đa cấp độ, đa khía cạnh Mặt khác, xã hội không phải
là một cái gì đồng nhất, ngang bằng nhau về vị thế, vai trò, địa vị, cơ hội, thăng tiến hay sút giảm giữa các thành viên Xã hội luôn được sắp xếp tổ chức, phân chia thành các tầng bậc cao thấp
Mác cho rằng bên cạnh cấu trúc tầng bậc chính của xã hội là sự phân chia giản đơn những người lao động thành những người lao động thành thạo và những người lao động không thành thạo, sự khác biệt giữa lao động trí óc và lao động chân tay, giữa lao động công nghiệp với lao động nông nghiệp, Bên cạnh đó, Mác đã hết sức chú trọng phân tích những động thái và phương thức tạo ra sự biến đổi trong nội bộ của những cơ cấu xã hội hiện thực như chuyển dịch xã hội từ nghề này sang nghề khác, từ những việc có trình độ kỹ năng thấp lên những công việc có trình độ, chuyên môn, kỹ năng cao hơn …
Trong thời đại ngày nay, cách mạng khoa học – công nghệ đã tạo nên bước nhảy vọt về lực lượng sản xuất làm ảnh hưởng tới các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Công nghệ sản xuất, nhất là việc ứng dụng công thệ thông tin, điện tử
đã làm thay đổi cơ cấu ngành nghề bên trong mỗi nước và trên cả phương diện quốc
tế Điều đó đã tạo nên sự thay đổi cơ cấu xã hội – giai tầng trong mỗi nước
1.3 - Vai trò của khoa học – công nghệ đối với sự phát triển nền kinh tế tri thức
và thay đổi kết cấu giai – tầng xã hội
Cách đây gần 2 thế kỷ, C.Mác đã đưa ra nhận định về xu thế nhất thể hoá
giữa khoa học và sản xuất bằng luận điểm nổi tiếng: "Khoa học trở thành lực lượng
sản xuất trực tiếp” Điều này đang ngày càng diễn ra mạnh mẽ và trở thành xu thế
Trang 7tất yếu trong sự phát triển của nền sản xuất hiện đại trên thế giới Khoa học – công nghệ ngày càng đóng vai trò quan trọng, to lớn trong nền sản xuất xã hội và trong đời sống nhân loại, đồng thời là một đặc điểm nổi bật của thời đại ngày nay và là yếu tố đặc trưng cho lực lượng sản xuất hiện đại
Vậy khoa học – công nghệ là gì mà có vai trò quan trọng như vậy, dựa trên những khái quát sơ lược trên chúng ta có thể thấy:
Khoa học: là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hiện thực dưới dạng logic
trừu tượng, đem lại những tri thức và được kiểm nghiệm qua thực tiễn
- Là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội, và tư duy
- Là một hoạt động xã hội nhằm tìm tòi, phát hiện những qui luật, làm sáng rõ kết cấu, tính chất của sự vật và hiện tượng tồn tại trong thế giới; để vận dụng chúng sáng tạo ra các phương thức, đưa ra các giải pháp… tác động vào sự vật và hiện tượng, nhằm biến đổi trạng thái của chúng phục vụ lợi ích cho con người
Công nghệ là tập hợp các giải pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, có kèm theo
công cụ và phương tiện để biến đổi các nguồn lực, cải tiến một giải pháp đã tồn tại, đạt một mục đích, hay thực hiện một chức năng cụ thể nhằm phục vụ đời sống con người
- Là một loại hoạt động nhằm giải quyết một vấn đề kỹ thuật được đặt ra
- Là một loại phương tiện thống nhất trong mình bốn yếu tố: kỹ thuật, thông tin, con người và tổ chức
Dưới sự dẫn đường của khoa học, cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại
đã biến đổi tận gốc lực lượng sản xuất hiện đại, thể hiện qua toàn bộ chu trình:
“Khoa học – Công nghệ – Sản xuất – Con người – Môi trường”
Như vậy, khoa học – công nghệ là một bộ phận không thể tách rời sự phát triển của xã hội, là yếu tố then chốt cho nền kinh tế tri thức phát triển bền vững Nó
đã và đang đem lại sự thay đổi to lớn trong sự phát triển của xã hội, tạo ra những bước nhảy vọt chưa từng thấy trong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất và năng suất lao động xã hội, làm xuất hiện nhiều ngành sản xuất mới, làm thay đổi cơ
Trang 8cấu kinh tế dẫn đến thay đổi kết cấu giai – tầng và tâm trạng - ý thức con người trong xã hội
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ TRI THỨC VÀ KẾT CẤU GIAI - TẦNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY DƯỚI SỰ ẢNH HƯỞNG
CỦA KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ
2.1 - Thực trạng nền kinh tế Việt Nam dưới góc độ của nền kinh tế tri thức
Trong hơn hai mươi năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng khá nhanh, cơ cấu kinh tế đã có bước chuyển dịch đáng kể theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hoá (xem phụ lục đính kèm)
Theo số liệu trên thì chúng ta thấy chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và tính cạnh tranh của nền kinh tế tăng ở nhóm ngành công nghiệp và xây dựng, mà đáng kể nhất là nhóm dịch vụ Qua đó, ta thấy nền tảng phát triển kinh tế ít nhiều đã dựa vào tiến bộ khoa học - công nghệ Nhất là các ngành công nghệ cao như: công nghệ thông tin, sinh học, vật liệu mới, tự động hóa, …
2.2 - Tình hình phát triển kinh tế tri thức của Việt Nam dưới ảnh hưởng của khoa học – công nghệ
2.2.1 - Thành tựu
Đánh giá nền kinh tế tri thức phát triển như thế nào, người ta dựa trên các chỉ số: môi trường kinh doanh và thể chế, đổi mới, giáo dục và đào tạo, ICT (hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông)
Đề cập vần đề trong phạm vi tiểu luận, chúng ta nói sâu về chỉ số ICT, bởi đây là yếu tố quan trọng, là một điểm sáng trong phát triển kinh tế tri thức với tỷ trọng đóng góp cao trong các tiêu chí phát triển kinh tế tri thức của Việt Nam Sự lớn mạnh của ICT Việt Nam không chỉ thể hiện ở thứ hạng mà còn cả quy mô ngành
và thị trường cũng như tốc độ phát triển
Tại hội thảo Chính phủ điện tử 2014 tổ chức tại Đà Nẵng ngày 17/7, Tập đoàn Dữ liệu IDG Việt Nam cho biết: Theo Báo cáo bảo mật thông tin của Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU), trong năm 2013, Việt Nam đứng thứ 81/161 về chỉ
số phát triển CNTT-TT (ICT Development Index) So với các nước khác ở Đông
Trang 9Nam Á, Việt Nam đứng thứ 4 chỉ sau Malaysia, Brunei và Singapore; đứng thứ 12 trên tổng số 27 quốc gia trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã có những tiếp cận phát triển kinh tế dựa vào ứng dụng khoa học – công nghệ như:
- Trong lĩnh vực nông nghiệp: Đó là những cánh đồng năng suất cao dựa vào
việc ứng dụng khoa học – công nghệ cao, những khu nông nghiệp công nghệ cao, những thành tựu đạt được trong ngành thủy sản, những vùng miền phát triển kinh tế nông nghiệp dựa vào tri thức
- Những đơn vị phát triển dựa vào tri thức: Công ty Cổ phần FPT; Công ty
Phát triển phụ gia và sản phẩm dầu mỏ (APP),… là những tấm gương điển hình những đơn vị phát triển dựa vào tri thức khoa học – công nghệ
- Những khu công nghệ cao: Khu Công nghệ Cao thành phố Hồ Chí Minh,
Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, Khu công nghệ phần mềm Quang Trung,…
- Chưa huy động được nguồn lực trí tuệ cho hoạt động khoa học – công nghệ
- Cơ chế quản lý hoạt động khoa học – công nghệ chậm đổi mới
- Công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển khoa học & công nghệ chưa gắn liền với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, cơ chế tài chính còn chưa hợp lý
- Thị trường khoa học & công nghệ phát triển chậm, chưa gắn kết chặt chẽ với kết quả nghiên cứu
2.3 - Kết cấu giai – tầng nước ta dưới ảnh hưởng của khoa học – công nghệ
Dưới sự dẫn đường của khoa học, cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại
đã biến đổi tận gốc lực lượng sản xuất hiện đại, thể hiện qua toàn bộ chu trình:
“Khoa học – Công nghệ – Sản xuất – Con người – Môi trường”
Trang 10Đề cập về con người, công cuộc đổi mới và sự gia tăng công nghệ cao trong công nghiệp chế tạo khiến sản phẩm và dịch vụ của nó góp phần đẩy mạnh sự cải tạo và hiện đại hoá các lĩnh vực kinh tế khác Cơ cấu kinh tế chuyển đổi dẫn đến sự thay đổi của cơ cấu xã hội Giai cấp công nhân, giai cấp công nhân và tầng lớp trí thức xã hội có nhiều biến đổi rõ rệt
- Trình độ của người lao động đã tiến bộ, với sự vận dụng nhiều trí lực, giai
cấp công nhân “áo xanh” giảm đi; lao động kỹ thuật, dịch vụ, trừu tượng tăng lên
- Sự xích lại gần nhau về tính chất lao động giữa các giai cấp, tầng lớp Điều này thể hiện thông qua việc phát triển cuộc cách mạng về khoa học và công nghệ, áp dụng những thành tựu mới vào quá trình phát triển lực lượng sản xuất, rút ngắn khoảng cách của sự khác biệt giữa các lực lượng xã hội trong quá trình lao động
- Xoá bỏ dần mâu thuẫn giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay Thay đổi quan hệ giữa các khu vực trong nền sản xuất xã hội
- Xoá bỏ hiện tượng bất bình đẳng trong xã hội, đưa đến sự xích lại gần nhau giữa các giai cấp, tầng lớp cơ bản trong xã hội, đặc biệt là giữa công nhân, nông dân, trí thức, tạo tiền đề thay đổi dần một số khía cạnh của quan hệ sở hữu
- Đời sống tinh thần giữa các giai cấp xích lại gần nhau Điều này thể hiện trực tiếp thông qua cách mạng XHCN trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa làm cho các giai tầng xích lại gần nhau
Sự gia tăng các khu công nghiệp trên khắp cả nước cho thấy, lực lượng lao động trong đó đa số là công nhân tri thức Họ là những người vừa nghiên cứu vừa sản xuất Song song đó, cuộc cách mạng thông tin (điểm sáng của khoa học công nghệ) cũng góp phần đẩy mạnh sự đổi mới tư duy của con người để theo kịp thời đại mới Trong khi công nghệ thông tin thẩm thấu vào các ngành kinh tế tạo ra công nghệ cao cho các ngành kinh tế sẽ hỗ trợ, thúc đẩy quá trình đổi mới tư duy, tạo ra
cả quá trình cách mạng trong các quan niệm và các cách tiếp cận Nó đòi hỏi con người phải đổi mới cách nghĩ, cách làm thích nghi và làm chủ sự phát triển của chính mình lẫn của xã hội