Trang NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ Ở TRONG NƯỚC GIAI ĐOẠN 2007 – 2012 1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LƯU HUỲNH LÊN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG MÍA TRONG ĐIỀU KIỆN KHÔNG
Trang 1VIỆN NGHIÊN CỨU MÍA ĐƯỜNG
TUYỂN TẬP
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 2007 - 2012
Địa chỉ: Xã Phú An, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tel: +84 650 3562227 - Fax: +84 650 3562267
Email: info@vienmiaduong.vn
Trang 3BAN BIÊN TẬP
1 TS Nguyễn Đức Quang – Phó Viện trưởng phụ trách Viện NC Mía Đường
2 TS Cao Anh Đương – Phó Viện trưởng Viện NC Mía Đường
3 TS Lê Quang Tuyền – Trưởng Phòng Khoa học và HTQT
4 ThS Đoàn Lệ Thủy – Giám đốc Trung tâm Lai tạo giống mía
5 KS Nguyễn Thị Bạch Mai – Trưởng Bộ môn Di tuyền Giống mía
6 KS Trần Thị Mỹ Dung – Trưởng Bộ môn Bảo vệ thực vật
7 ThS Phạm Văn Tùng – Phó Trưởng Bộ môn phụ trách BM Kỹ thuật canh tác
8 ThS Thân Thị Thu Hạnh – Phó Trưởng Bộ môn phụ trách BM Công nghệ sinh học
9 ThS Nguyễn Đại Hương – Nghiên cứu viên Phòng Khoa học và HTQT
10 ThS Đỗ Đức Hạnh – Nghiên cứu viên Phòng Khoa học và HTQT
Trang 4Viện Nghiên cứu Mía Đường, tiền thân là Trạm Nghiên cứu Cây mía Bến Cát, được thành lập theo Quyết định số 243/NN-TC/QĐ ngày 23 tháng 08 năm
1977 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Viện là cơ quan nghiên cứu khoa học chuyên ngành mía đường duy nhất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, chuyên nghiên cứu về các lĩnh vực mía, đường trên phạm vi cả nước Trụ sở chính đặt tại
xã Phú An, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Được sự quan tâm giúp đỡ của lãnh đạo Bộ Nông nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), Viện Cây công nghiệp, Viện Kỹ thuật Nông nghiệp miền Đông Nam bộ (nay là Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam) và Ủy ban nhân dân tỉnh Sông Bé (nay là Bình Dương), Trạm Nghiên cứu Cây mía Bến Cát đã được xây dựng trên mảnh đất Tây Nam, khu “Tam giác sắt” một thời oanh liệt trong chiến tranh chống Mỹ Đây chính là nền móng đầu tiên hình thành nên Viện Nghiên cứu Mía Đường Bến Cát (1982-2005), sau đó là Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường (2006-2011) và hiện nay là Viện Nghiên cứu Mía Đường (2012 - nay)
Ba mươi lăm năm đã trôi qua, quãng thời gian không ngắn của một đời người, dù phải trải qua nhiều thăng trầm, khó khăn, thiếu thốn về cả vật chất lẫn tinh thần, song cán bộ công nhân viên của Viện Nghiên cứu Mía Đường vẫn luôn đoàn kết một lòng, không ngừng hoàn thiện chính mình và ngày một phát triển Nhiều cán bộ được đào tạo đã trưởng thành từ cái nôi ban đầu của Viện đã trở thành những cán bộ giữ vị trí quan trọng của ngành, của đảng, đoàn thể và chính quyền hoặc trở thành những chuyên gia giỏi giúp ích nhiều cho xã hội
Nhân dịp kỷ niệm 35 năm ngày thành lập và ra mắt Viện dưới tên gọi mới
“Viện Nghiên cứu Mía Đường” theo Quyết định số 88/QĐ-BNN-TCCB ngày 16/01/2012 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chúng tôi đã biên
tập cuốn “Tuyển tập kết quả nghiên cứu khoa học 2007-2012” nhằm ghi lại các kết
quả nghiên cứu khoa học, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong 5 năm qua (2007-2012) Đây là tập hợp các kết quả nghiên cứu của các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học, kết quả học tập và hợp tác,… được đăng tải trên các tạp chí liên ngành, chuyên ngành,…
ở trong và ngoài nước của các cán bộ đang làm việc tại Viện hoặc đã chuyển công tác khác Tuyển tập kết quả nghiên cứu khoa học là thành quả chung của Viện, giúp Quý độc giả biết được những hoạt động khoa học của Viện trong 5 năm qua, đồng thời là tài liệu tham khảo bổ ích về chuyên ngành khoa học mía đường
Do thời gian có hạn nên còn nhiều tài liệu không kịp sưu tầm và đưa vào tuyển tập Trong quá trình biên tập chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, Ban biên tập kính mong nhận được sự lượng thứ và đóng góp ý kiến của Quý độc giả
BAN BIÊN TẬP
Trang 5Trang
NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ Ở TRONG NƯỚC
GIAI ĐOẠN 2007 – 2012
1
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LƯU HUỲNH LÊN NĂNG SUẤT,
CHẤT LƯỢNG MÍA TRONG ĐIỀU KIỆN KHÔNG TƯỚI Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ
Nguyễn Đại Hương Phạm Văn Tùng, Lê Văn Sự
2
NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN GIỐNG ĐỂ TĂNG NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG
MÍA CHO VÙNG LONG AN
Đoàn Lệ Thủy Nguyễn Thị Bạch Mai
TỔNG QUAN NHỮNG YẾU TỐ CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ GIA TĂNG NHU
CẦU VÀ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ
Nguyễn Đại Hương
TUYỂN CHỌN CÁC GIỐNG MỚI CÓ NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CAO CHO
VÙNG NGUYÊN LIỆU MÍA PHÚ YÊN
Nguyễn Đức Quang, Nguyễn Thị Rạng, Phạm Văn Tùng, Vũ Văn Kiều, Nguyễn Đại Hương
50
ỨNG DỤNG KỸ THUẬT PCR TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH Leifsonia xyli subsp xyli, VI
KHUẨN GÂY BỆNH CẰN MÍA GỐC (RSD) Ở VÙNG ĐÔNG NAM BỘ
Hà Đình Tuấn, Lê Đình Đôn, Bùi Cách Tuyến
58
ỨNG DỤNG HỆ THỐNG NUÔI CẤY NGẬP CHÌM TẠM THỜI (PLANTIMA®)
TRONG VI NHÂN GIỐNG MÍA Ở VIỆT NAM
Cao Anh Đương, Trần Đông Hạ, Đỗ Đức Hạnh
67
KẾT QUẢ TUYỂN CHỌN GIỐNG MÍA K88-92 TẠI VÙNG LONG AN VÀ BẾN TRE
Đoàn Lệ Thủy và ctv
73
DETERMINING GAS SAMPLING TIME LINES FOR ESTIMATING EMISSION IN
SMALL CHAMBER INCUBATION EXPERIMENTS
Nguyen Dai Huong, Peter Grace, Clemens Scheer, David Rowlings
Ngô Gia Bôn, Cao Anh Đương, Trịnh Xuân Hoạt, Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Đức Quang,
Vũ Duy Hiện, Mai Văn Quân, Nguyễn Thanh Thủy, Đỗ Đức Hạnh, Nguyễn Đại Hương
90
HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP XỬ LÝ HOM BẰNG NƯỚC NÓNG PHÒNG TRỪ
BỆNH CẰN MÍA GỐC (RSD) TRONG SẢN XUẤT MÍA GIỐNG
Hà Đình Tuấn, Lê Đình Đôn, Bùi Cách Tuyến
95
Trang 6Chu Thị Bích Phượng, Trịnh Thị Phương Vy, Phạm Thị Minh Kiều,
Hà Đình Tuấn, Lê Đình Đôn, Bùi Cách Tuyến ẢNH HƯỞNG CỦA BỆNH CẰN MÍA GỐC (RSD) ĐẾN CÂY MÍA TRONG ĐIỀU KIỆN
TƯỚI BỔ SUNG NƯỚC VÀO MÙA KHÔ Ở VÙNG ĐÔNG NAM BỘ
Hà Đình Tuấn, Lê Đình Đôn, Bùi Cách Tuyến
111
NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ Ở NƯỚC NGOÀI GIAI
ĐOẠN 2007 – 2012
119
DETERMINACIÓN DEL ESTADO DEL RAQUITISMO DE LOS RETOÑOS DE LA
CAÑA DE AZÚCAR (RSD) EN EL SUDESTE DE VIETNAM
Ha Dinh Tuan, Bui Cach Tuyen, Le Dinh Don, Nguyen Duc Quang
SURVEY OF SUGARCANE MOTH BORERS IN SOUTHEAST VIETNAM
Cao Anh Duong, Do Ngoc Diep, Ha Quang Hung
132
IDENTIFICATION OF QUANTITATIVE TRAIT LOCI ASSOCIATED WITH SMALL
BROWN PLANTHOPPER (LAODELPHAX STRIATELLUS FALLÉN) RESISTANCE
IN RICE (ORYZA SATIVA L.)
Le Quang Tuyen, Yuqiang Liu, Ling Jiang, Baoxiang Wang Qi Wang,
Than Thi Thu Hanh, Jianmin Wan
145
FINE MAPPING OF STABLE QTLS RELATED TO EATING QUALITY IN RICE
(ORYZA SATIVA L.) BY CSSLS HARBORING SMALL TARGET CHROMOSOMAL
SEGMENTS
Jingjing Li, Wenwei Zhang Hongkai Wu, Tao Guo, Xiaolu Liu, Xiangyuan Wan,
Jiansheng Jin, Than Thi Thu Hanh, Nguyen Thi Nhu Thoa, Mingjiang Chen, Shijia Liu, Liangming Chen, Xi Liu, Jiankang Wang, Huqu Zhai, Jianmin Wan
158
水 稻 黑 条 矮 缩 病 抗 性 资 源 的 筛 选 和 抗 性 QTL 的 定 位
王 宝 祥 (Vương Ngọc Tường), 江玲 (Giang Linh), 陈 亮 明 (Trần Lượng Minh),
卢 百 关 (Lư Bách Quan), 王 琦 (Vương Kỳ), 黎 光 泉 (Lê Quang Tuyền),
Trang 7Giống mía LK92-11 196
NHỮNG TIẾN BỘ KỸ THUẬT DO VIỆN NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐƯỢC CÔNG NHẬN
TRONG GIAI ĐOẠN 2007 – 2012
200
Biện pháp bón phân bã bùn dạng hoai mục và phun chế phẩm phân bón lá K-Humate cho
cây mía
221
Trang 8NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐÃ CÔNG BỐ Ở TRONG NƯỚC
GIAI ĐOẠN 2007 - 2012
Trang 9KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LƯU HUỲNH LÊN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG MÍA TRONG ĐIỀU KIỆN KHÔNG
TƯỚI Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ 1
Nguyễn Đại Hương2, Phạm Văn Tùng2, Lê Văn Sự2
Tóm tắt
Lưu huỳnh (S) là nguyên tố quan trọng thứ 4 sau đạm, lân và kali Lưu huỳnh có ảnh hưởng tích cực lên chất lượng nông sản Đặc biệt, S có tác động trực tiếp đến chất lượng của nhiều loại cây trồng như cây lấy dầu, cây sắn, lúa mỳ và mía Lá cây thiếu S có biểu hiện xanh vàng và triệu chứng xuất hiện trên lá non trước Một thí nghiệm được bố trí trên đất xám bạc màu tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường với 5 nghiệm thức như sau: Bón 41,5 (đối chứng), 70, 80, 90
và 100 kg S/ha trên nền N:P:K là 180:70:150 (kg/ha) ở mía vụ tơ và bón 35 (đối chứng), 45, 55,
65, và 75 kg S/ha trên nền N:P:K là 220:60:80 (kg/ha) ở vụ mía gốc I (quy trình canh tác mía của Trung tâm NC & PT Mía Đường) Sau 1 vụ tơ và 1 vụ gốc, năng suất tăng 34,3 và 29,3% so với đối chứng khi mía được bón 70 và 100 kg S/ha ở mía tơ Năng suất mía cũng tăng 11,7 đến 28,4% ở những nghiệm thức bón 55-75 kg S/ha ở mía gốc Sử dụng phân amôn sunfát giúp cây sinh trưởng tốt hơn
Từ khóa: Lưu huỳnh, mía, mía gốc, amôn sunfát
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Lưu huỳnh (S) là nguyên tố trung lượng được mệnh danh là nguyên tố đa lượng thứ tư sau N, P và K (ICAR, 2004; Tandon, 1993a;b) Do đó, lưu huỳnh là một phần quan trọng của cân bằng dinh dưỡng vì ở những khu vực thiếu S, việc bón đủ NPK không đảm bảo sẽ đạt năng suất và chất lượng cao trừ khi được bổ sung đầy đủ S
S còn được biết như là dinh dưỡng của năng suất và chất lượng Từ kết quả nghiên cứu qua nhiều năm tại Ấn Độ cho thấy bón lưu huỳnh đầy đủ đã đem lại năng suất, chất lượng cao và tăng thu nhập cho người nông dân (ICAR, 2004)
Triệu chứng thiếu lưu huỳnh gần giống triệu chứng thiếu đạm như lá trên ngọn vàng tái hoặc xanh vàng Điều khác là thiếu S xuất hiện trước trên lá non và vẫn duy trì cho đến khi cung cấp đủ đạm Cây thiếu S thân thường ngắn, mảnh khảnh, sự sinh trưởng chậm lại Mía bị thiếu S lá non có màu xanh vàng không
đồng bộ Sau đó lá non và lá già hơi ngả màu tím tái (Khan et al., 2006) Thân thon
Trang 10Bài viết này giới thiệu kết quả nghiên cứu tìm hiểu mức độ tác động của lưu huỳnh đến năng suất và chất lượng mía trong điều kiện không có tưới trên đất xám miền Đông Nam bộ Từ đó, xác định liều lượng, chủng loại phân bón thích hợp cho cây mía
II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP:
1 Nội dung
Thí nghiệm gồm 05 nghiệm thức, 3 lần nhắc lại, bố trí theo kiểu khối đủ hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) Mật độ canh tác 40.000 hom 3 mắt/ha, khoảng cách hàng 1,0m
Ghi chú: Phân bón sử dụng cho mía tơ và gốc: Urea, SA, Lân Long Thành ) Phân lân Long Thành có hàm lương như sau:13,5% P 2 O 5 và 8%S
Các nghiệm thức trên được bố trí trên nền 1 tấn vôi (30%CaO) và 10 tấn phân chuồng cho mía tơ Diện tích ô thí nghiệm: 5 hàng x 10m = 50m2 Giữa các lần nhắc
có 2 hàng cách ly Giữa hai nghiệm thức có 2m cách ly
2 Thời gian và địa điểm:
Thí nghiệm không tưới được bố trí tháng 11/2005 (Đông xuân 2005-2006) Thí nghiệm theo dõi 1 vụ tơ, 1 vụ gốc tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường, tọa độ 106,80Đ110B, cao trình 40 m so với mực nước biển Thí nghiệm tiến hành trên giống VN84-4137 có năng suất ổn định và thích nghi rộng Phân bón sử dụng bao gồm urea, sunfat amon, DAP, super lân, kali, vôi và phân chuồng
* Chỉ tiêu theo dõi: Phân tích đất trước thí nghiệm, tỷ lệ nảy mầm (mía tơ),
tỷ lệ mọc mầm (mía gốc), mật độ cây, tỷ lệ sâu bệnh hại vào thời điểm đầu vươn lóng Các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất lý thuyết, năng suất thực thu và chỉ tiêu chất lượng
III KẾT QUẢ THẢO LUẬN:
1 Tình hình dinh dưỡng đất trước thí nghiệm
Bảng 1 Kết quả phân tích đất trước thí nghiệm
(%)
T số (%)
D.tiêu (mg/100g)
T số (%)
D.tiêu (mg/100g) (mol/kg)
Trang 11Từ Bảng kết quả phân tích đất cho thấy đất khá chua, hàm lượng các chất N,P,K tổng số thấp, nhưng hàm lượng chất dễ tiêu cao
2 Theo dõi lượng mưa trong thời gian thí nghiệm diễn ra:
Bảng 2 Lượng mưa hàng tháng trong thời gian bố trí thí nghiệm
và trung bình 5 năm liền kề
TB 2001-05 110,5 37,3 6,5 6,0 23,5 86,4 205,2 250,2 219,1 224,2 242,7 290,6 05-06 152,0 69,5 5,0 10,5 0,0 90,8 107,2 156,0 128,0 339,5 314,3 297,1
* Số liệu lượng mưa do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía đường quan trắc
Tình hình lượng mưa trong thời gian 11/2005 đến trước lúc thu hoạch tháng 10/2006 thể hiện qua Bảng 2 cho thấy lượng mưa trong tháng 11/2005 tương đối khá, đủ ẩm để làm đất và mía mọc mầm Tổng lượng mưa trong vụ mía vào khoảng 1.670mm, lượng mưa này tương đương tổng lượng mưa trung bình 5 năm liền kề (2001-2005) Nhìn chung, lượng mưa phân bố từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm Lượng mưa này không đáp ứng đủ nhu cầu nước cho cây mía trong điều kiện không
có tưới bổ sung Tuy nhiên, lượng mưa này ở mức chấp nhận được
3 Đánh giá trên vụ mía tơ
a Các chỉ tiêu sinh trưởng cơ bản:
Bảng 3 Các chỉ tiêu sinh trưởng chủ yếu:
mầm (%)
Mật độ sau đẻ nhánh (1.000c/ha) Tỷ lệ sâu hại (%)
* Các chữ cái giống nhau trong cùng 1 cột không sai khác về mặt thống kê
Qua Bảng 3 cho thấy tất cả các nghiệm thức có tỷ lệ nảy mầm trên 50%, riêng 2 nghiệm thức đối chứng và 100S có tỷ lệ nảy mầm gần xấp xỉ 60% Tỷ lệ nảy nảy mầm của các nghiệm thức khác biệt không đáng kể Mật độ cây sau đẻ nhánh đạt từ 135 ngàn cây đến 149 ngàn cây/ha Nghiệm thức 70S có mật độ thấp nhất 135 ngàn cây, cao nhất là nghiệm thức 80S với 149 ngàn cây Hai nghiệm thức 90S và 100S có mật độ xấp xỉ đối chứng Tỷ lệ sâu hại dao động trong khoảng 3,55% đến 6,74% Các nghiệm thức đều có tỷ lệ sâu hại thấp hơn đối chứng Nhìn chung, liều
Trang 12lượng và chủng loại phân bón không có ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ mọc mầm, mật
độ cây sau đẻ nhánh và tỷ lệ sâu bệnh hại
b Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
Bảng 4 Các chỉ tiêu nông học cơ cấu năng suất và năng suất thực thu
(1.000c/ha)
TL cây (kg/cây)
NSLT (tấn/ha)
NSTT (tấn/ha)
NS 10CCS (tấn/ha)
* Các chữ cái giống nhau trong cùng 1 cột không sai khác về mặt thống kê
Kết quả ở Bảng 4 cho thấy mật độ cây hữu hiệu biến động khá rõ nét từ 70,33 ngàn đến 85,67 ngàn cây/ha Tất cả các nghiệm thức đều có mật độ hữu hiệu cao hơn đối chứng từ 6.000 đến 15.340 cây/ha Nghiệm thức 100S có mật độ cao nhất với trên 85 ngàn cây/ha, vượt đối chứng 21,8% Hai nghiệm thức 70S và 90S
có cùng 82,67 cây/ha, vượt đối chứng 17,5% Khối lượng cây nhìn chung không sai khác vì giống VN84-4137 có tính ổn định và đồng đều rất cao, dao động trong khoảng 0,98 – 1,02kg/cây Từ mật độ hữu hiệu và Khối lượng cây, ta tính được năng suất lý thuyết Năng suất lý thuyết dao động trong khoảng từ 68,61 tấn đến 87,09 tấn/ha Năng suất thực thu là điều cốt lõi trong mọi thí nghiệm cũng như sản xuất, nó phản ánh được kết quả thiết thực của vấn đề và thỏa mãn mong đợi của người sản xuất Từ số liệu ghi nhận cho thấy, năng suất thu được dao động trong khoảng từ 61,9 tấn đến 75,27 tấn/ha Các nghiệm thức đều có kết quả cao hơn đối chứng (61,9 tấn/ha) Nghiệm thức 70S có năng suất thô cao nhất 75,27 tấn/ha, tiếp theo là nghiệm thức 100S và 90S với năng suất tương ứng là 72,02 và 73,07 tấn/ha
Từ năng suất thô, quy đổi sang năng suất tiêu chuẩn 10CCS, cho thấy các nghiệm thức đều cao hơn đối chứng từ 22,5% đến 34,3%
c Chất lượng mía sau thu hoạch
Bảng 5 Kết quả phân tích chất lượng mía sau thu hoạch
Trang 13Chất lượng mía quyết định phần lớn năng suất thô thu được vì sự chênh lệch chữ đường làm tăng hoặc giảm chất lượng nông sản và giá thành sản phẩm Dù nghiệm thức đối chứng có độ Brix cao nhất và chênh lệch với nghiệm thức 80S thấp nhất khoảng 2,2%, nhưng độ thuần AP thấp nhất (81,68%) và CCS đối chứng cũng thấp nhất (11,58%) Nhìn chung, các nghiệm thức thí nghiệm đều có độ thuần (>88%) cao hơn hẳn đối chứng CCS là chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng mía dao động trong khoảng 11,58 (ĐC) đến 13,11% Nghiệm thức có hàm lượng CCS cao nhất là 100S 13,11, tiếp theo là 70S có 12,81% Hai nghiệm thức 80S và 90S cùng có CCS tương đương nhau (0,981%) Tóm lại, Các nghiệm thức bổ sung lưu huỳnh đều cao hơn khác biệt có ý nghĩa với đối chứng mức xác suất P0,01
4 Đánh giá trên vụ mía gốc 1
a Ảnh hưởng của lưu huỳnh đối với chất lượng mía vụ gốc 1
Kết quả Bảng 6 cho thấy ở vụ mía gốc 1 CCS (%) biến động trong khoảng từ 13,71 – 14,87 % Cao nhất ở nghiệm thức bón 65 kg S và thấp nhất ở nghiệm thức đối chứng bón 35 kg S Với kết quả như trên chúng ta thấy rằng không có sự khác biệt lớn về CCS Kết quả xử lý thống kê với mức ý nghĩa P0,05 cũng cho thấy không
có sự khác biệt về CCS Điều này chứng tỏ trong khoảng bón từ 35 kg – 75 kg S chất lượng mía không có sự thay đổi rõ rệt
b Ảnh hưởng của lưu huỳnh đối với năng suất mía vụ gốc 1
Đối với năng suất mía vụ gốc 1, kết quả thí nghiệm cho thấy năng suất thực thu biến động từ 94,88 tấn/ha ở nghiệm thức bón 35 kg S đến 81,96 tấn/ha ở nghiệm thức bón 65 kg S Có một điều chúng ta dễ nhận thấy năng suất mía tăng dần khi chúng ta tăng lượng bón S từ mức 35 kg lên đến 65 kg/ha sau đó năng suất mía giảm khi lượng bón tăng lên Kết quả xử lý thông kê cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa giữa mức bón 65 kg so với mức bón 35-45 kg S (P0,05)
Bảng 6 Ảnh hưởng của lưu huỳnh đối với năng suất mía vụ gốc 1
thực thu
Năng suất quy 10 CCS
dù có CCS đứng ở mức trung bình
Trang 14IV KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
1.Kết luận:
Ở vụ tơ cho thấy yếu tố dinh dưỡng lưu huỳnh có những tác động đáng kể đến năng suất cũng như chất lượng mía thu hoạch Biểu hiện rõ ràng khi tăng lượng lưu huỳnh năng suất đã tăng từ 7 tấn đến 24 tấn quy 10CCS trên mỗi hecta, vượt đối chứng 22-34% Năng suất mía đạt cao nhất khi tăng lượng bón lên 70 và 100 kg S ở
vụ mía tơ và từ 35 kg S lên 65 kg S ở vụ mía gốc I, với năng suất vượt đối chứng trên 28% Bón sunfat amôn thay cho urea để bổ sung lưu huỳnh giúp nâng cao lượng lưu huỳnh cần bón cho cây
2 Đề nghị:
Khuyến cáo bón lượng bón 70 kg S trên nền N:P:K 180:70:150 cho mía vụ
tơ và 55 – 65 kg S trên nền N:P:K 220:60:180 cho mía vụ gốc trên diện rộng
Tiếp tục đánh giá ở vụ gốc 2 để có cơ sở kết luận chắc chắn hơn Mặt khác, cần bố trí thêm các thí nghiệm cân đối nhu cầu lưu huỳnh và ba nguyên tố N, P và
K cùng với các chủng loại phân có hàm lượng lưu huỳnh ổn định để có cơ sở khuyến cáo lâu dài Để ứng dụng trên các vùng sinh thái khác nhau cũng cần bố trí thí nghiệm khảo nghiệm trên các nền đất khác nhau
TÀI LIỆU THAM KHẢO
(1) Haq, I.U., Zuhar, D., and Karim, J (1988) Effect of sulfur application on
the yield of wheat Sarhad Journal of Agriculture, 4 (5): 123–132
(2) Haq, I.U., Zuhar, D., and Hussain, M.Z (1989) Effect of sulfur fertilization on the yield of maize Sarhad Journal of Agriculture, 5 (3):
5663
(3) Hội Khoa học Đất Việt Nam, 2000 Đất Việt Nam Nhà xuất bản Nông
nghiệp, Hà Nội
(4) ICAR, 2004 Handbook of Agriculture Indian Council of Agricultural
Research, New Delhi p.975
(5) Tandon, H.L.S., 2002 Practical Sulphur Guide The Sulphur Institute,
Washington, DC
(6) Tandon, H.L.S (Ed), 1993a, Fertilizer Management in Commercial crops Fertilizer Development and Consultation Organization, New Delhi
(7) Tandon, HLS (Ed), 1993b, Fertilizer Management in Food crops
Fertilizer Development and Consultation Organization, New Delhi
(8) Tandon, H.L.S., 1995, Fertilizer and Integrated Nutrient Recommendations for Balance and Efficiency Fertilizer Development and
Consultation Organization, New Delhi
(9) Tisdale, S.L., Nelson, W.L., and Beaton, J.D (1985) Soil Fertility and Fertilizers; Macmillan Publishing Company: New York, 75–79
Trang 15EFFECTS OF SULFUR ON THE YIELD AND QUALITY OF SUGARCANE IN
RAINFED CULTIVATION IN SOUTHERN REGION
Nguyen Dai Huong, Pham Van Tung, Le Van Su
Summary
Sulfur (S) is the forth major nutrient after nitrogen, phosphorus and potassium Sulfur nutrient positively affects to the quality of agricultural products Specially, S concerns the quality of many crops such as oilseed crops, cassava, wheat, sugarcane, etc The S deficient leaves are in yellowish green and the symptom presents in the young leaves first An experiment was conducted
in impoverished soil at Sugarcane Research and Development Centre (106.8E 11N, 40 m a.s.l.) There were 5 treatments as followings: 41.5 (control), 70, 80, 90 and 100S on the base of N:P:K 180:70:150 for planting cane and 35 (control), 45, 55, 65 and 75S on the base of N:P:K 220:60:180 for ratoon cane After a planting and a ratoon cane showed that the yield increased by 34.3 and 29.3%, respectively when S was applied 70 and 100 kg S ha-1 in planting cane and 11.7% to 28.4%
in the treatments of 55-75 kg S ha-1 in ratoon cane It is recommended that application of 70 kg S
ha-1 in planting cane and 55-75 kg S ha-1 in ratoon cane Using of amonium sunfat fertilizer instead
of urea is to supply S for plants growing well
Keywords: Sulfur, sugarcane, planting, ratoon, ammonium sulfate
Người phản biện: TS Bùi Duy Hiền
Trang 16NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN GIỐNG ĐỂ TĂNG NĂNG SUẤT VÀ
CHẤT LƯỢNG MÍA CHO VÙNG LONG AN 1
Đoàn Lệ Thủy24 , Nguyễn Thị Bạch Mai2
Tóm tắt
Đề tài “Nghiên cứu tuyển chọn giống và biện pháp quản lý cây trồng tổng hợp (ICM) để tăng năng suất, chất lượng mía” được thực hiện tại xã Lương Hòa, huyện Bến Lức từ năm 2006 đến nay Khảo nghiệm giống được tiến hành trong chu kỳ mía 2 vụ (vụ mía tơ và vụ mía gốc I) và qua 2 bước, đó là khảo nghiệm cơ bản kiểu RCBD, 3 lần lặp lại với diện tích 0,25 ha và khảo nghiệm sản xuất kiểu sản xuất đại trà với diện tích 1,5 ha Kết quả khảo nghiệm giống cho thấy các giống Suphanburi 7, KU60-1, K95-156 và KU00-1-61 cho năng suất trên 115 tấn/ha, chất lượng cao, trên
13 CCS, năng suất quy 10 CCS vượt đối chứng K84-200 trên 10% Do đó, đề nghị công nhận cho sản xuất thử tại Long An đối với các giống mía này K95-156 là giống chín trung bình (chín ở 13 tháng tuổi) và các giống KU60-1, Suphanburi 7 và KU00-1-61 chín trung bình muộn (chín lúc 14 tháng tuổi) Về ưu điểm, Suphanburi 7 làm lóng và vươn cao sớm, KU60-1 to cây, không trổ cờ và
có chất lượng tốt, KU00-1-61 khá to cây và có tốc độ vươn cao mạnh, K95-156 khá to cây, ít nhiễm sâu và chống chịu đổ ngã Về nhược điểm, Suphanburi 7 có nhiễm bệnh trắng lá, KU60-1 làm lóng chậm và nhiễm rệp nhẹ, K95-156 có nhiễm bệnh trắng lá và sinh trưởng hơi chậm trong giai đoạn đầu, KU00-1-61 có mật độ cây hữu hiệu không cao
Từ khóa: Chín trung bình, chín trung bình muộn, chữ đường, giống mía, khảo nghiệm cơ bản, khảo nghiệm sản xuất, năng suất, năng suất quy 10 CCS, tuyển chọn
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo định hướng phát triển mía đường, vùng Tây Nam bộ là một trong bốn vùng mía trọng điểm (Bắc Trung bộ, Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên, Đông Nam bộ và Tây Nam bộ theo Quyết định số 26/2007/QĐ-TTg ngày 15/2/2007 của Thủ tướng Chính phủ)
Toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long có 52.500 ha mía, chiếm khoảng 18% diện tích mía của cả nước (khoảng 290.000 ha), đạt 3,8 triệu tấn/vụ với năng suất bình quân khoảng 72 tấn/ha và chữ đường 8,5 CCS, còn thấp so với tiềm năng năng suất 103 tấn/ha và chữ đường 9,4 CCS
Việc nghiên cứu tuyển chọn những giống mía có năng suất, chất lượng cao nhằm cung cấp cho sản xuất của vùng là hết sức cần thiết
Từ năm 2006, đề tài “Nghiên cứu tuyển chọn giống và biện pháp quản lý cây trồng tổng hợp (ICM) để tăng năng suất, chất lượng mía” bắt đầu được thực hiện ở một số vùng mía chính, bao hàm cả vùng Long An, vùng mía lớn nhất trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long với 13.700 ha mía Bài báo này giới thiệu kết quả tuyển chọn giống mía cho vùng Long An
II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Nội dung, địa điểm và thời gian thực hiện
Trang 17a Khảo nghiệm cơ bản giống
Công thức thí nghiệm (7 công thức): KU60-1, KU00-1-61, KK2, Suphanburi
7, K95-156, ROC27 và đối chứng K84-200 Địa điểm: Xã Lương Hòa, huyện Bến Lức, tỉnh Long An Thời gian (chu kỳ 2 vụ): Trồng ngày 04/02/2007, thu hoạch vụ
tơ ngày 06/01/2008 (11 tháng tuổi) và thu hoạch vụ gốc I ngày 03/3/2009 (14 tháng tuổi)
b Khảo nghiệm sản xuất giống
Công thức thí nghiệm: Qua vụ tơ, các giống triển vọng được đưa vào khảo nghiệm sản xuất giống bao gồm KU60-1, KU00-1-61, K95-156 và Suphanburi 7 Địa điểm: Xã Lương Hòa, huyện Bến Lức, tỉnh Long An Thời gian (vụ tơ): Trồng ngày 15/01/2008, thu hoạch ngày 04/3/2009 (13,5 tháng tuổi)
2 Phương pháp nghiên cứu
b Các chỉ tiêu theo dõi và đánh giá:
- Tỷ lệ mọc mầm, sức tái sinh, sức đẻ nhánh, mật độ cây, chiều cao cây, tốc
độ vươn cao, tỷ lệ cây trổ cờ, thời điểm trổ cờ, khả năng chống chịu, các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và chất lượng mía
- Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Excel và MSTATC
c Kỹ thuật canh tác:
- Mật độ trồng: 5 hom 3 mắt mầm/m dài với khoảng cách hàng 1,0 m đối với khảo nghiệm cơ bản giống và 4 hom 3 mắt mầm/m dài với khoảng cách hàng 0,8 m đối với khảo nghiệm sản xuất giống
- Lượng phân bón: 1 tấn vôi, 2 tấn phân hữu cơ vi sinh, 500 kg urea, 1.000
kg super lân, 400 kg KCl, 20 kg thuốc trừ sâu Basudin 10 H; bón lót toàn bộ vôi + phân hữu cơ vi sinh + super lân và 1/3 lượng urea + KCl; bón thúc 2 lần với lượng phân còn lại
III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 Kết quả khảo nghiệm cơ bản giống
a Khả năng mọc mầm, tái sinh và đẻ nhánh
Sức tái sinh (mầm/gốc)
Sức đẻ nhánh (nhánh/cây mẹ)
Trang 18Vụ mía tơ Vụ mía gốc I
(%)
Sức đẻ nhánh (nhánh/cây mẹ)
Sức tái sinh (mầm/gốc)
Sức đẻ nhánh (nhánh/cây mẹ)
Về sức đẻ nhánh, không có sự sai khác nhau giữa các giống ở vụ mía tơ Ở
vụ mía gốc I, K95-156 và KK2 đẻ trên 1 nhánh/cây mẹ, cao hơn so với đối chứng K84-200 (0,79 nhánh/cây mẹ) K95-156 có khả năng đẻ nhánh mạnh hơn các giống còn lại KK2 có sức đẻ nhánh ở vụ gốc cao do mật độ cây mẹ không cao, kết quả từ sức tái sinh thấp
b Diễn biến mật độ cây qua các giai đoạn sinh trưởng chính (Bảng 2)
Ở vụ mía tơ trong giai đoạn đầu sinh trưởng, mật độ cây của các giống khảo nghiệm không cao; trước thu hoạch, các giống K95-156 và KK2 tương đương đối chứng (79,88 ngàn cây/ha) Trong vụ mía gốc I, so với đối chứng K84-200, mật độ cây của KU60-1 thấp hơn và K95-156 cao hơn, đạt 95,56 ngàn cây/ha
Nhìn chung qua cả chu kỳ, K95-156 là giống có ưu thế về mật độ cây
Bảng 2 Diễn biến mật độ cây qua các giai đoạn sinh trưởng (ngàn cây/ha)
Kết thúc tái sinh
Kết thúc
đẻ nhánh
Trước thu hoạch
Trang 19c Chiều cao cây và tốc độ vươn cao
Bảng 3 Chiều cao cây và tốc độ vươn cao
tuổi
9 tháng tuổi
Tốc độ vươn cao (cm/tháng)
5 tháng tuổi
11 tháng tuổi
Tốc độ vươn cao (cm/tháng)
d Khả năng chống chịu sâu bệnh hại
Bảng 4 Tỷ lệ cây chết do sâu hại ở vụ mía tơ (%)
mầm
Kết thúc đẻ nhánh
Giữa vươn lóng
Trước thu hoạch
Trang 20Các giống khảo nghiệm có khả năng chống chịu sâu hại, trừ KK2 dễ nhiễm sâu hại cục bộ (Bảng 4 và Bảng 5) KU60-1 và đối chứng K84-200 bị rệp hại nhẹ Nhện đỏ gây hại nhiều trên ROC27 và đối chứng K84-200
Tất cả các giống tham gia khảo nghiệm đều bị bệnh đốm lá nhẹ Bệnh trắng
lá xuất hiện trên các giống KK2, Suphanburi 7, K95-156 và ROC27 với tỷ lệ rất thấp KK2 bị thối đỏ nhẹ trên lá và trung bình ở thân Chưa thấy xuất hiện bệnh than
Suphanburi 7 trổ cờ nhiều nhất, có năm trổ cờ đến 22,5%, kế đến là
KU00-1-61 (dưới 10%) và K95-156 (dưới 5%) Suphanburi 7 và K95-156 bắt đầu trổ cờ vào đầu tháng 11, sớm hơn so với đối chứng K84-200 (cuối tháng 11) KU00-1-61 bắt đầu trổ cờ vào cuối tháng 11 đến đầu tháng 12
Về bản chất, khả năng chống đổ ngã của KK2 kém (đổ ngã đến 45% với mức
đổ cấp 2 và cây dễ ra rễ thân khi bị đổ) và của K95-156 tốt (không đổ ngã) Thế nhưng, ở vụ tơ, hầu hết các giống khảo nghiệm bị đổ ngã do mưa kèm theo lốc xoáy
f Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết
Bảng 7 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết
vụ mía tơ 11 tháng tuổi
Công thức
Chiều cao cây nguyên liệu (cm)
Đường kính thân (cm)
Khối lượng cây (kg)
Mật độ cây hữu hiệu (ngàn cây/ha)
Năng suất lý thuyết (tấn/ha)
Trang 21Công thức
Chiều cao cây nguyên liệu (cm)
Đường kính thân (cm)
Khối lượng cây (kg)
Mật độ cây hữu hiệu (ngàn cây/ha)
Năng suất lý thuyết (tấn/ha)
Đường kính thân (cm)
Trọng lượng cây (kg)
Mật độ cây hữu hiệu (ngàn cây/ha)
Năng suất lý thuyết (tấn/ha)
Qua chu kỳ 2 vụ cho thấy các giống khảo nghiệm có tiềm năng năng suất tương đương hoặc cao hơn đối chứng K84-200 (trên 109 tấn/ha), các giống nổi bật bao gồm K95-156, KU00-1-61, Suphanburi 7 và KU60-1
g Năng suất thực thu
Bảng 9 Năng suất thực thu (tấn/ha)
Trang 22156 và Suphanburi 7 vừa có năng suất cao vừa ổn định Nhìn chung, vụ mía gốc I
có năng suất cao hơn so với vụ mía tơ do có khối lượng cây cao
h Chất lượng và năng suất quy 10 CCS
Bảng 10 Chữ đường và năng suất quy 10 CCS
14 tháng tuổi
Trung bình chu kỳ 2 vụ Năng suất quy 10
% vượt đối chứng
Chữ đường (CCS) tấn/ha
% vượt đối chứng
Năng suất quy 10 CCS (tấn/ha)
% vượt đối chứng
2 Kết quả khảo nghiệm sản xuất giống
a Khả năng mọc mầm, đẻ nhánh, trổ cờ và chống đổ ngã
Trang 23Bảng 11 Tỷ lệ mọc mầm, sức đẻ nhánh, trổ cờ và đổ ngã
(%)
Sức đẻ nhánh (nhánh/cây mẹ)
Tỷ lệ cây trổ cờ (%)
Tỷ lệ cây đổ ngã (%)
Tất cả các giống khảo nghiệm đều bị đổ ngã với tỷ lệ từ 13,40 – 26,70% và
đổ ngã ở mức độ nhẹ, K95-156 có khả năng chống đổ ngã tốt nhất
Theo diễn biến mật độ cây cho đến thời điểm trước thu hoạch cho thấy, Suphanburi 7 có mật độ cây cao (89,50) và thấp nhất là K95-156 (74,80 ngàn cây/ha)
b Chiều cao cây và tốc độ vươn cao
Bảng 12 Chiều cao cây và tốc độ vươn cao
tuổi
7 tháng tuổi
11 tháng tuổi
4 – 7 tháng tuổi
7 – 11 tháng tuổi Trung bình
c Khả năng chống chịu sâu bệnh hại
Kết quả nghiên cứu xác định giống K95-156 nhiễm sâu hại nhẹ hơn các giống khảo nghiệm còn lại Chỉ thấy bệnh trắng lá xuất hiện trên K95-156 và Suphaburi 7 với tỷ lệ không đáng kể (dưới 2%)
d Các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và chất lượng
Kết quả khảo nghiệm ghi ở Bảng 13 cho thấy, giống KU60-1 có đường kính thân và khối lượng cây cao nhất (tương ứng 2,91 cm và 1,92 kg) nhưng mật độ cây hữu hiệu thấp nhất (62,40 ngàn cây/ha), trái ngược so với các giống khảo nghiệm còn lại
Trang 24Các giống khảo nghiệm có năng suất thực thu trên 115 tấn/ha, chênh lệch nhau không nhiều và chữ đường đạt trên 14 CCS, ngoại trừ KU00-1-61 đạt 13,67 CCS Quy 10 CCS, năng suất các giống khảo nghiệm đạt 162,4 – 177,8 tấn/ha, cao nhất là Suphanburi 7 và thấp nhất là KU00-1-61, sai khác nhau dưới 9%
Bảng 13 Các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và chất lượng
mía tơ 13,5 tháng tuổi
Các yếu tố cấu thành năng suất
Công thức cây nguyên Chiều cao
liệu (cm)
Đường kính thân (cm)
Khối lượng cây (kg)
Mật độ cây hữu hiệu (ngàn cây/ha)
Năng suất thực thu (tấn/ha)
Chữ đường (CCS)
Năng suất quy
10 CCS (tấn/ha)
K95-156 là giống chín trung bình (13 tháng tuổi) và các giống KU60-1, Suphanburi 7 và KU00-1-61 chín trung bình muộn (14 tháng tuổi) Về ưu điểm, Suphanburi 7 làm lóng và vươn cao sớm, KU60-1 to cây, không trổ cờ và có chất lượng tốt, KU00-1-61 khá to cây và có tốc độ vươn cao mạnh, K95-156 khá to cây,
ít nhiễm sâu và chống chịu đổ ngã Về yếu điểm, Suphanburi 7 có nhiễm bệnh trắng
lá, KU60-1 làm lóng chậm và nhiễm rệp nhẹ, K95-156 có nhiễm bệnh trắng lá và sinh trưởng hơi chậm trong giai đoạn đầu, KU00-1-61 có mật độ cây hữu hiệu không cao
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2009 Khoa học và công nghệ phục vụ
phát triển mía đường giai đoạn 2006 – 2008 Tài liệu hội thảo ngày 07/5/2009 tại Hà Nội
Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn và Cơ quan Phát triển Pháp, tháng 5/1999
Nghiên cứu ngành mía đường Việt Nam đến 2010 – 2020 (Tập 1 và 2)
Trang 25SELECTION RESEARCH INTO SUGARCANE VARIETIES TO INCREASE
CANE YIELD AND QUALITY IN LONG AN REGION
Doan Le Thuy, Nguyen Thi Bach Mai
Summary
Selection research into sugarcane varieties to increase cane yield and quality in Long An region belonging to the subject “Selection research into sugarcane varieties and integrated crop management (ICM) to enhance cane yield and quality” was carried out at Luong Hoa Village, Ben Luc District from 2006 up to now Varietal trials were realized in a two-crop cycle (plant crop and 1stratoon) through two steps involving basic experiment of 0.25 ha with RCBD and three replications, and large-scale trial of 1.5 ha with production design on a large scale The trial results showed sugarcane varieties such as Suphanburi 7, KU60-1, K95-156, KU00-1-61 yielded over 115 tons/ha, high quality with above 13 CCS and conversion cane yield of 10 CCS overcoming over 10% compared to the check K84-200 Therefore these varieties are proposed to get admission for test production in Long An region K95-156 was a medium ripening variety (ripening period at 13 month old) and sugarcane varieties named KU60-1, Suphanburi 7, KU00-1-61 are late-medium ripening ones (ripening period at 14 month old) For varietal strong points, Suphanburi 7 could form and prolong internodes early, KU60-1 was characterized thick stalks, non-flowering and high quality, KU00-1-61 expressed pretty thick stems and high prolongation, K95-156 performed pretty thick stalks, light borer infection and logging resistance For varietal weak points, Suphanburi 7 was infected by white leaf, KU60-1 formed internodes late and was slightly susceptible to aphides, K95-
156 was infected by white leaf and grew slowly in former stage, KU00-1-61 was possess of low millable stalks
Key words: Basic experiment, cane yield, CCS (Commercial Cane Sugar), conversion cane yield of
10 CCS, large-scale trial, late ripening, medium ripening, selection, sugarcane varieties
Người phản biện: GS.TSKH, Trần Thế Tục
Trang 26TUYỂN CHỌN GIỐNG ĐỂ TĂNG NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG MÍA CHO VÙNG SÓC TRĂNG 1
Đoàn Lệ Thủy26 , Nguyễn Thị Bạch Mai2
ít nhiễm sâu và đổ ngã, trổ cờ nhiều và sớm; ROC27 to cây trung bình và không đều cây, làm lóng sớm, không trổ cờ, chữ đường rất cao, chín sớm, tái sinh gốc không cao, nhiễm bệnh trắng lá, bị vàng mép lá và đổ ngã nặng; K88-65 chín muộn, có cây to và nặng, ít mẫn cảm sâu, ít trổ cờ; QĐ21 chín sớm, nhỏ cây, có mật độ cây cao, vươn cao mạnh, trổ cờ nhiều và sớm
Từ khóa: Bộ giống, chín muộn, chín sớm, chín trung bình, chữ đường, đầu vụ ép, khảo nghiệm cơ bản, khảo nghiệm sản xuất, năng suất, năng suất quy 10 CCS
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Sóc Trăng là vùng mía lớn thứ ba trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đứng sau vùng mía Long An và Hậu Giang với 11300 ha mía, không những cung cấp nguyên liệu cho nhà máy đường Sóc Trăng trong tỉnh mà còn cung cấp cho các nhà máy khác trong vùng như nhà máy đường Kiên Giang, Trà Vinh, Phụng Hiệp,
Vị Thanh Đây là vùng mía có đất đai và khí hậu khá thuận lợi, người dân có kinh nghiệm trồng mía lâu năm và có trình độ kỹ thuật thâm canh cao, vì thế trong nhiều năm liền năng suất mía nơi đây đạt cao nhất nước
Tuy nhiên, diện tích mía có xu hướng giảm do sự cạnh tranh của các cây trồng khác như lúa, khoai mỡ, khoai lang Nhật Các giống mía phổ biến VĐ86-368, QĐ11, ROC16 và R570 đã nhiễm sâu bệnh như sâu đục thân, rệp sáp, bệnh than, bệnh chồi cỏ, bệnh thối đỏ, vì vậy mà ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng mía Nhìn chung, cơ cấu giống còn nghèo nàn, chưa phát huy hết tiềm năng cho năng suất và chất lượng của vùng cũng như chưa đáp ứng được nhu cầu rãi vụ, kéo dài thời gian ép, đặc biệt là thiếu giống ép đầu vụ (Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường, tháng 3/2007) Chính vì thế, việc tuyển chọn giống mía có năng suất trên 120 tấn/ha, chất lượng trên 11 CCS và rãi vụ cho vùng Sóc Trăng thuộc đề tài
“Nghiên cứu tuyển chọn giống và biện pháp quản lý cây trồng tổng hợp (ICM) để tăng năng suất, chất lượng mía” đã được thực hiện từ năm 2006 cho đến nay
II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Nội dung, địa điểm và thời gian thực hiện
a Khảo nghiệm cơ bản giống
Công thức thí nghiệm (9 công thức): K95-156 (PL310 x U-Thong 1),
Trang 273 (Co775 x K84-200), Đại Ưu Đường (không rõ), ROC27 (F176 x CP58-48), Suphanburi 7 (85-2-352 x K84-200), K88-65 (Co775 x PL310), KK2 (85-2-352 x K84-200), QĐ21 (Mía Trương 76-65 x Mía Nhại 71-374) và đối chứng QĐ11 (CP49-50 x Co419)
Địa điểm: Xã Tân Hưng, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng Thời gian (chu kỳ
2 vụ): Trồng ngày 27/12/2006, thu hoạch vụ tơ ngày 20/11/2007 (11 tháng tuổi) và thu hoạch vụ gốc I ngày 05/12/2008 (12,5 tháng tuổi)
b Khảo nghiệm sản xuất giống
Công thức thí nghiệm: Qua vụ tơ, các giống triển vọng được đưa vào khảo nghiệm sản xuất giống bao gồm ROC27, QĐ21, Suphanburi 7, K88-65, K95-156
Địa điểm: Xã Tân Hưng, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng Thời gian (vụ tơ): Trồng ngày 27/11/2007, thu hoạch ngày 25/11/2008 (12 tháng tuổi)
2 Phương pháp nghiên cứu
b Các chỉ tiêu theo dõi và đánh giá:
- Tỷ lệ mọc mầm, sức tái sinh, sức đẻ nhánh, mật độ cây, chiều cao cây, tốc
độ vươn cao, tỷ lệ cây trổ cờ, thời điểm trổ cờ, khả năng chống chịu, các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và chất lượng mía
- Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm Excel và MSTATC
c Kỹ thuật canh tác:
- Mật độ trồng: 5 hom 3 mắt mầm/m dài, khoảng cách hàng 1,2 m
- Lượng phân bón: 1 tấn vôi, 2 tấn phân hữu cơ vi sinh, 500 kg urea, 1000 kg super lân, 400 kg KCl, 20 kg thuốc trừ sâu Basudin 10 H; bón lót toàn bộ vôi + phân hữu cơ vi sinh + super lân và 1/3 lượng urea + KCl; bón thúc 2 lần với lượng phân còn lại
III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 Kết quả khảo nghiệm cơ bản giống
a Khả năng mọc mầm, sức tái sinh và đẻ nhánh
Sức tái sinh (mầm/gốc)
Sức đẻ nhánh (nhánh/cây mẹ)
Trang 28Vụ mía tơ Vụ mía gốc I
(%)
Sức đẻ nhánh (nhánh/cây mẹ)
Sức tái sinh (mầm/gốc)
Sức đẻ nhánh (nhánh/cây mẹ)
Kết quả ghi ở Bảng 1 cho thấy: Các giống khảo nghiệm mọc mầm ở mức độ
từ thấp đến trung bình, tỷ lệ mọc mầm biến động 35,6 – 50,8% Các giống có khả năng mọc mầm tương đương đối chứng QĐ11 (52,0%) gồm Suphanburi 7, Đại Ưu Đường và KK2
KU60-3, ROC27 và K95-156 tái sinh kém hơn so với đối chứng QĐ11 (0,93 mầm/gốc)
Sức đẻ nhánh ở vụ mía tơ trên 1,00 nhánh/cây mẹ, cao hơn so với vụ mía gốc I; trong đó, QĐ21 và K95-156 đẻ nhánh mạnh hơn đối chứng QĐ11 (1,24 nhánh/cây mẹ) Không có sự sai khác về sức đẻ nhánh ở vụ mía gốc I (0,79 – 1,11 nhánh/cây mẹ)
b Diễn biến mật độ cây qua các giai đoạn sinh trưởng
Bảng 2 Diễn biến mật độ cây qua các giai đoạn sinh trưởng (ngàn cây/ha)
Kết thúc tái sinh
Kết thúc
đẻ nhánh
Trước thu hoạch
Trang 29Nhìn chung, các giống QĐ21, KK2, Đại Ưu Đường có mật độ cây cao; Suphanburi 7, K95-156 và K88-65 có mật độ cây ổn định, tỷ lệ cây vô hiệu thấp
c Chiều cao cây và tốc độ vươn cao
Bảng 3 Chiều cao cây và tốc độ vươn cao
Chiều cao cây (cm)
Chiều cao cây (cm) Công thức
6 tháng tuổi
11 tháng tuổi
Tốc độ vươn cao (cm/tháng) 6 tháng
tuổi
12 tháng tuổi
Tốc độ vươn cao (cm/tháng)
vụ gốc I thấp hơn so với vụ mía tơ, đặc biệt KU60-3 (tương ứng 280 so với 322 cm
và 23,3 so với 39,6 cm/tháng)
Các giống K95-156, Suphanburi 7 và QĐ21 vừa vươn cao mạnh (tương ứng 32,0; 28,2 và 25 cm/tháng) vừa đạt chiều cao cây cao, trên 300 cm
d Khả năng chống chịu sâu bệnh hại
Nhìn chung, trong suốt quá trình sinh trưởng của vụ mía tơ, các giống có tỷ
lệ cây chết do sâu hại thấp do tác động của việc đánh lá mía và diệt các mầm vô hiệu
K95-156 và K88-65 ít nhiễm sâu hơn so với các giống khảo nghiệm còn lại,
tỷ lệ cây chết do sâu lúc cao nhất cũng dưới 8%, KK2 và ROC27 mẫn cảm sâu, nhất
là KK2 (trên 15,00% ở thời kỳ thu hoạch)
Chưa thấy xuất hiện bệnh than và bệnh xoắn cổ lá trong khảo nghiệm, bệnh trắng lá xuất hiện trên giống Suphanburi 7, Đại Ưu Đường và ROC27 với tỷ lệ không đáng kể, ROC27 bị khô mép lá và vàng lá nặng, đối chứng QĐ11 bị vàng lá nhẹ hơn, các giống trong khảo nghiệm đều bị bệnh đốm lá ở mức nhẹ đến trung bình trong vụ mía tơ và vụ mía gốc I bị bệnh nặng hơn so với vụ mía tơ
Trang 30Bảng 4 Tỷ lệ cây chết do sâu hại ở vụ mía tơ (%)
Giữa vươn lóng
Trước thu hoạch
6 tháng tuổi
8 tháng tuổi
Trước thu hoạch
Trang 31Các giống ROC27, KK2 và đối chứng QĐ11 không trổ cờ trong cả chu kỳ mía 2 vụ K88-65 không trổ cờ trong vụ mía tơ và trổ cờ ít ở vụ mía gốc I (3,62%) K95-156, QĐ21 và KU60-3 trổ cờ sớm vào giữa tháng 10 đến đầu tháng 11 và trổ
cờ nhiều, trên 16% Suphanburi 7 và Đại Ưu Đường trổ cờ khá (trên 9 và trên 16% theo thứ tự) và muộn (từ giữa đến cuối tháng 11) tương tự so với K88-65
Nhìn chung, các giống khảo nghiệm đều bị đổ ngã từ 4,6 đến 28,3%, trong
đó, ROC27, Đại Ưu Đường, KK2 đổ ngã nặng hơn đối chứng, các giống còn lại đổ ngã nhẹ, đặc biệt, K95-156 có khả năng chống đổ ngã tốt nhất với tỷ lệ cây đổ ngã dưới 12,0%
f Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết
Nhìn chung, các giống khảo nghiệm có chiều cao cây nguyên liệu trội hơn so với đối chứng QĐ11 (257 và 240 cm theo thứ tự vụ mía tơ và vụ mía gốc I) Trong
đó, các giống K95-156, Suphanburi 7, K88-65 và QĐ21 vẫn duy trì được đặc điểm này trong vụ mía gốc I Về đường kính thân, K88-65 là giống to cây (đường kính thân trên 2,95 cm), các giống Đại Ưu Đường, ROC27, KK2 và QĐ21 nhỏ cây (dưới 2,5 cm trừ ROC27 ở vụ gốc I) Ở vụ gốc I, đối chứng QĐ11 có đường kính thân thấp trong khi K95-156 và KU60-3 thì ngược lại, tức là có đường kính thân cao Các giống có khối lượng cây cao hơn đối chứng QĐ11 bao gồm K88-65, KU60-3, K95-156 và Suphanburi 7 (từ 1,88 kg trở lên)
QĐ21 có mật độ cây hữu hiệu cao, trên 100 ngàn cây/ha, do đó cây nhỏ Trong vụ mía gốc I, đối chứng QĐ11 bị giảm mật độ cây nhiều trong khi các giống KK2, Đại Ưu Đường và Suphanburi 7 duy trì mật độ cây khá tốt nên các giống này trội hơn so với đối chứng QĐ11 (68 ngàn cây/ha)
Do sự suy thoái của đối chứng QĐ11 nên ở vụ mía gốc I, tất cả các giống khảo nghiệm đều có tiềm năng năng suất cao hơn rõ rệt so với đối chứng QĐ21 trong khi ở vụ mía tơ, chỉ có 4/8 giống khảo nghiệm trội hơn đối chứng đáng kể, đó
là các giống KU60-3, Suphanburi7, QĐ21 và K95-156
Bảng 7 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết
vụ mía tơ 11 tháng tuổi
Công thức
Chiều cao cây nguyên liệu (cm)
Đường kính thân (cm)
Khối lượng cây (kg)
Mật độ cây hữu hiệu (ngàn cây/ha)
Năng suất lý thuyết (tấn/ha)
Trang 32Bảng 8 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất lý thuyết
vụ mía gốc I 12 tháng tuổi
Công thức
Chiều cao cây nguyên liệu (cm)
Đường kính thân (cm)
Khối lượng cây (kg)
Mật độ cây hữu hiệu (ngàn cây/ha)
Năng suất lý thuyết (tấn/ha)
g Năng suất thực thu
Hình 1 Năng suất thực thu
(44,8%)
149 (47,8%) 112
(10,9%)
157 (56,2%)
153 (52,2%)
129 (27,9%)
148 (46,8%)
60-3
ROC27
Suph
anbu
ri 7
K88-65 K 2
Tấn/ha
Vụ mía tơ 11 tháng tuổi
Vụ mía gốc I 12,5 tháng tuổiTrung bình chu kỳ 2 vụ
Vụ mía tơ: CV = 9,5%; LSD 0,05 = 23; P = 0,007
Vụ mía gốc I: CV = 8,9%; LSD 0,05 = 21; P = 0,0000
Trang 33Trong vụ gốc I, ROC27 giảm năng suất rất rõ so với vụ tơ (giảm 36,0%), thứ đến là đối chứng QĐ11 (giảm 20,5%) trong khi đó, các giống K88-65 và QĐ21 có năng suất tăng 22,1 và 18,5% theo thứ tự Trừ ROC27, các giống khảo nghiệm còn lại cao hơn đối chứng QĐ11 về năng suất thực thu bình quân trong chu kỳ 2 vụ (vụ mía tơ và vụ mía gốc I), đạt trên 128 tấn/ha, vượt từ 27,9 đến 63,7% (Hình 1)
h Chất lượng và năng suất quy 10 CCS
Bảng 9 Chữ đường và năng suất quy 10 CCS
Vụ mía tơ 11 tháng tuổi Vụ mía gốc I 12 tháng
tuổi
Trung bình chu kỳ
2 vụ Năng suất quy 10
đối chứng
Năng suất quy
10 CCS (Tấn/ha)
% vượt đối chứng
vụ Các giống ROC27, Đại Ưu Đường và KK2 có chữ đường cao hơn đối chứng từ
1 CCS trở lên, KU60-3 có chất lượng không cao, các giống còn lại đạt trên 12 CCS mặc dù có một số giống trổ cờ tương đối nhiều Trong chu kỳ 2 vụ, các giống khảo nghiệm có năng suất quy 10 CCS trên 150 tấn/ha, vượt đối chứng QĐ11 từ 12,2% trở lên, cao nhất là K95-156 (53,7%) Tuy nhiên, KU60-3 chín quá muộn, chữ đường lại không cao, KK2 và Đại Ưu Đường có khả năng chống chịu đổ ngã kém,
dễ ra rễ thân lại không được chuộng do quá nhỏ cây, KK2 còn mẫn cảm với sâu đục thân Do đó, các giống này không được chuyển sang bước khảo nghiệm sản xuất
2 Kết quả khảo nghiệm sản xuất giống
a Khả năng mọc mầm, đẻ nhánh, trổ cờ và chống chịu đổ ngã
Trang 34Bảng 10 Tỷ lệ mọc mầm, sức đẻ nhánh, tỷ lệ cây trổ cờ và đổ ngã
Công thức
Tỷ lệ mọc mầm (%)
Sức đẻ nhánh (nhánh/cây mẹ)
Tỷ lệ cây trổ cờ (%)
Tỷ lệ cây đổ ngã (%)
mẹ ROC27 không trổ cờ và K88-65 trổ cờ ít (5,3%), các giống còn lại trổ cờ từ 26,1 đến 56,4% Tất cả các giống đều bị đổ ngã nhưng với tỷ lệ không cao, trừ
ROC27 bị đổ ngã 20,7%
b Diễn biến mật độ cây qua các giai đoạn sinh trưởng chính
Kết quả nghiên cứu cho thấy: QĐ21 và ROC27 có mật độ cây cao (trước thu hoạch đạt trên 91,0 ngàn cây/ha), các giống K95-156, Suphanburi 7, K88-65 có mật
độ cây và diễn biến mật độ cây tương tự nhau Trong giai đoạn thu hoạch, khả năng duy trì mật độ cây của QĐ21 không tốt, ROC27 có mật độ cây cao nhất đạt 101,5 ngàn cây/ha, các giống còn lại đạt 82,4 – 91,8 ngàn cây/ha
c Chiều cao cây và tốc độ vươn cao
Bảng 11 Chiều cao cây và tốc độ vươn cao
Chiều cao cây (cm) Công thức
6 tháng tuổi 9 tháng tuổi 11 tháng tuổi
Tốc độ vươn cao (cm/tháng)
Trang 35d Khả năng chống chịu sâu bệnh hại
Các giống thí nghiệm có tỷ lệ cây bị chết do sâu hại ở mức thấp, dưới 8% Các giống K96-156 và K88-65 ít bị sâu hại nhất, dưới 5,5% Tất cả các giống khảo nghiệm không bị bệnh than, bệnh thối đỏ và nhiễm bệnh đốm vòng ở mức độ nhẹ
e Các yếu tố cấu thành năng suất
Sự chênh lệch về chiều cao cây nguyên liệu giữa các giống khảo nghiệm không nhiều, thấp nhất là K88-65 đạt 258 cm và cao nhất là ROC27 đạt 272 cm Đường kính thân của QĐ21 bé nhất (2,39 cm), của ROC27 trung bình và các giống khảo nghiệm còn lại to cây Các giống Suphanburi 7 và K88-65 có khối lượng cây cao (tương ứng 1,90 và 1,89 kg)
Các giống khảo nghiệm có mật độ cây hữu hiệu dao động trong khoảng 79 –
84 ngàn cây/ha, rõ ràng không có sự sai khác nhau (Bảng 12)
Bảng 12 Các yếu tố cấu thành năng suất
Công thức
Chiều cao cây nguyên liệu (cm)
Đường kính thân (cm)
Khối lượng cây (kg)
Mật độ cây hữu hiệu (ngàn cây/ha)
f Chữ đường, năng suất thực thu và năng suất quy 10 CCS
Bảng 13 Chữ đường, năng suất thực thu và năng suất quy 10 CCS
Trang 36IV KẾT LUẬN
Các giống mía Suphanburi 7, K95-156, ROC27, K88-65 và QĐ21 có năng suất cao, chất lượng tốt, kháng sâu bệnh hại, thích hợp với khí hậu, đất đai và có thể được đưa vào sản xuất thử trong vùng Sóc Trăng
Trong đó, Suphanburi 7 chín trung bình, vươn cao mạnh, nhiễm bệnh trắng
lá, chữ đường cao; K95-156 chín trung bình, vươn cao mạnh, ít nhiễm sâu và đổ ngã, trổ cờ nhiều và sớm; ROC27 to cây trung bình và không đều cây, làm lóng sớm, không trổ cờ, tái sinh gốc không cao, nhiễm bệnh trắng lá, bị vàng mép lá và
đổ ngã nặng, chữ đường rất cao, chín sớm; K88-65 chín muộn, có cây to và nặng, ít mẫn cảm sâu, ít trổ cờ; QĐ21 nhỏ cây, có mật độ cây cao, vươn cao mạnh, trổ cờ nhiều và sớm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2006 Hội nghị tổng kết mía đường niên
vụ 2005/2006
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2009 Khoa học và công nghệ phục vụ
phát triển mía đường giai đoạn 2006 – 2008 Tài liệu hội thảo ngày 07/5/2009 tại Hà Nội
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Mía Đường, tháng 3/2007 Điều tra hiện trạng
sản xuất mía tại Hậu Giang – Sóc Trăng (thuộc đề tài Nghiên cứu tuyển chọn giống và biện pháp quản lý cây trồng tổng hợp (ICM) để tăng năng suất, chất lượng mía)
VARIETAL SELECTION TO INCREASE CANE YIELD AND QUALITY
IN SOC TRANG REGION
Doan Le Thuy, Nguyen Thi Bach Mai
Summary
Varietal selection to increase cane yield and quality in Soc Trang region belonging to the subject
“Selection research into sugarcane varieties and integrated crop management (ICM) to enhance cane yield and quality” was carried out at Tan Hung Village, Long Phu District from 2006 up to now Varietal trials were performed through two steps involving basic experiment of 0.25 ha with RCBD and three replications in a two-crop cycle (plant crop and 1st ratoon), and large-scale trial of 1.5 ha with production design on a large scale in plant crop period Sugarcane varieties such as Suphanburi 7, K95-156, ROC27, K88-65 and QD21 yielded over 125 tons/ha, and high quality with above 12.5 CCS, far overcoming to mentioned requirements which were in a degree of 120 tons/ha
of cane yield and 11 CCS of sugar content, resulting in their conversion cane yields of 10 CCS overcoming over 12% compared to the check QD11 Hence these varieties are proposed to get admission for test production in Soc Trang region Where Suphanburi 7 was characterized by medium ripening, strong growth, high CCS but white leaf infection; K95-156, a medium ripening and logging resistance variety, was resistant to borers and prolongated fast but flowered abundantly and early ROC27 showed unequal medium stalks, early internode formation, non- flowering, very high CCS, early ripening but low regeneration of ratoon, white leaf infection, considerably leaf-edge yellowing and stem logging K88-65 possessed thick and heavy stalks, light borer infection and flowering, and late ripening QD21 was a early ripening and thin stem variety which was characterized by high population and prolongation but profusely and early bloom The
Trang 37varietal series will not only contribute to increase in cane yield and quality but also be of service to scatter season and lengthen processing duration effectively due to early-ripening or sugar- accomulable varieties
Key words: Basic experiment, cane yield, CCS (Commercial Cane Sugar), conversion cane yield of
10 CCS, early ripening, large-scale trial, late ripening, medium ripening, varietal series, beginning
of the processing season
Người phản biện: GS.TSKH Trần Thế Tục
Trang 38TỔNG QUAN NHỮNG YẾU TỐ CHÍNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN
SỰ GIA TĂNG NHU CẦU VÀ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ 1 7
Nguyễn Đại Hương28
Tóm tắt
Trang trại sản xuất nông nghiệp hữu cơ (NNHC) được xem là loại hình canh tác có nhiều ưu điểm như thân thiện với môi trường, thúc đẩy đa dạng sinh học, canh tác bền vững và tăng độ phì đất một cách tự nhiên Sản phẩm từ hệ thống sản xuất NNHC không có chứa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật giúp tránh ngộ độc thực phẩm cho con người Môi trường xung quanh không bị tác động
và ô nhiễm do phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật và những chất kích thích sinh trưởng Chất lượng hàng hóa NNHC được đánh giá là cao hơn các sản phẩm nông nghiệp truyền thống (NNTT)
cả về mặt dinh dưỡng và độ an toàn Ngày càng nhiều người tiêu dùng tiếp cận sản phẩm NNHC biểu thị rằng tỷ lệ người dùng sản phẩm hữu cơ tăng theo thời gian Do đó, diện tích canh tác NNHC tăng từ 17 triệu ha năm 2002 lên hơn 30,5 triệu ha năm 2007 Sản xuất NNHC thúc đẩy sự phát triển bền vững hệ vi sinh vật đất, giảm tính mẫn cảm của cây trồng và tái sử dụng tàn dư thực vật Tuy nhiên, năng suất thấp và mẫu mã hàng hóa không bắt mắt là những trở ngại của sản xuất NNHC Những yếu điểm này có thể khắc phục trong điều kiện sản xuất NNHC lâu dài
Từ khóa: nông nghiệp hữu cơ, trang trại hữu cơ, nông nghiệp truyền thống, phân bón, thuốc trừ sâu, thiện chí chi trả
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Nông nghiệp hữu cơ được hình thành và phát triển từ khi con người biết canh tác và trồng trọt Tuy nhiên, sự gia tăng như vũ bão của dân số thế giới ở những năm đầu thế kỷ XX đòi hỏi một lượng lương thực khổng lồ Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp hóa chất tổng hợp trong những năm 1930-1940, trong đó có
sự tổng hợp phân đạm và thuốc trừ sâu đã làm tăng đáng kể về năng suất và sản lượng lương thực Kể từ đó, NNHC bị đẩy lùi bởi việc sử dụng phân bón và thuốc hóa học tràn lan
Nông nghiệp ngày nay gọi là nông nghiệp truyền thống sử dụng phương pháp làm đất truyền thống và dùng phân bón, thuốc hóa học và chất điều hòa sinh trưởng (Kaval, 2004) Các tồn dư của thuốc hóa học và phân bón tổng hợp là nguồn gây ô nhiễm đất, nước ngầm và lương thực Nó là nguồn căn của sự thoái hóa đất trồng, ô nhiễm môi trường, ngộ độc thực phẩm, phá hủy hệ sinh thái, mất cân bằng loài, v.v… Hơn nữa, sự xuất hiện của cây biến đổi gen cũng là yếu tố làm “nhiễm tạp” NNHC
Do những ảnh hưởng không mong muốn của nông nghiệp dùng nhiều hóa chất đến sức khỏe con người, môi trường và đa dạng sinh học, các nhà khoa học khuyến khích phát triển nền nông nghiệp thay thế, được gọi là nông nghiệp hữu cơ
Mục đích của báo cáo này là tổng quan các kết quả nghiên cứu về các yếu tố chính ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên sản xuất và tiêu thụ sản phẩm NNHC Những nhận thức và hiểu biết về các sản phẩm có nguồn gốc hữu cơ và thị trường
Trang 39thực phẩm hữu cơ cũng được so sánh giữa các nước phát triển và đang phát triển Tuy nhiên, báo cáo này chỉ nêu lên các khía cạnh liên quan đến cây trồng, không đề cập đến các sản phẩm liên quan đến chăn nuôi
II ĐỊNH NGHĨA NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ
Hệ thống NNHC được định nghĩa khá kỹ bởi Liên đoàn Quốc tế Vận động NNHC (IFOAM), Ủy ban Tiêu chuẩn Hữu cơ quốc gia của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) và Ủy hội Codex của Tổ chức Lương nông Liên Hợp Quốc (FAO) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) Nông nghiệp hữu cơ là hệ thống nông nghiệp thúc đẩy
đa dạng sinh học trong toàn hệ thống; gia tăng và duy trì ổn định độ phì và sinh vật đất; tái sử dụng các phế phẩm của thực vật và động vật để làm phì nhiêu dinh dưỡng đất trong khi giảm thiểu sử dụng các nguồn hóa chất tổng hợp; sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất, không khí và nước Hay nói cách khác, NNHC là phương thức sản xuất không sử dụng hóa chất tổng hợp như thuốc trừ sâu bệnh, phân hóa học, phân bón liên quan đến chất thải công nghiệp trên cây trồng và hóc môn sinh trưởng và kháng sinh trên gia súc, gia cầm (theo USDA) NNHC cũng không chấp nhận cây biến đổi gen bởi vì cây biến đổi gen làm lẫn tạp nguồn gen và gây ô nhiễm nguồn gen của cây trồng truyền thống và sinh vật bản địa Do đó, NNHC còn được gọi là nông nghiệp sinh thái, hay nông nghiệp tái sinh hay nông nghiệp không hóa chất
Theo McCoy (2006), một nông trại hữu cơ hiện đại là một hệ thống quản lý nông trại tổng hợp mà các hoạt động sinh học trong đất và môi trường xung quanh cân bằng một cách tự nhiên để sản sinh ra năng suất ổn định mà không cần dùng hóa chất và các chất điều hòa sinh trưởng Ở những nông trại này, hạn chế làm đất
để giảm xói mòn đất và rửa trôi; phân hữu cơ được bón để làm tăng độ phì của đất, tăng khả năng giữ ẩm và các hoạt động của sinh vật đất (biota); cỏ dại được xử lý bằng tay hoặc luân canh; sâu hại được xử lý bằng bẫy pheromon, luân canh cây trồng và dùng thuốc có nguồn gốc thực vật như các chiết xuất từ cây neem, dùng giống kháng và nuôi thả thiên địch Thiên địch thường xuất hiện rất ít ở ruộng dùng thuốc trừ sâu nhưng xuất hiện với mật độ cao và đa dạng thành phần loài ở ruộng
sản xuất NNHC (Bengtsson et al., 2005) Kristiansen và Merfield (2006) chỉ ra rằng
canh tác cây trồng có dùng tác nhân sinh học có thể quản lý dịch hại Ở những đồng ruộng như vậy, hệ sinh thái được bảo tồn, thành phần loài rất phong phú
III XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NÔNG TRANG HỮU CƠ
Nông nghiệp hữu cơ được nhìn nhận như là một phương pháp sản xuất nông nghiệp có lợi về mặt sinh học Nhiều tổ chức nghiên cứu và quản lý NNHC như Viện Nghiên cứu NNHC ở Thụy Sỹ, Đức và Áo vào năm 1974, Trung tâm Nghiên
cứu Nông trại Elm năm 1982 (Watson et al., 2008), IFOAM vào năm 1982
(IFOAM, 1982) Từng quốc gia có tiêu chuẩn và quy tắc riêng cho việc sản xuất, tiêu thụ, ghi nhãn hàng hóa, nhập khẩu và xuất khẩu sản phẩm hữu cơ Chẳng hạn, ở
Mỹ Quốc hội thông qua Đạo luật sản xuất thực phẩm hữu cơ năm 1990 trong khi Bộ Nông nghiệp Mỹ chịu trách nhiệm xây dựng các tiêu chuẩn quốc gia về sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm NNHC
Trang 40Hình 1 Diễn biến diện tích trang trại sản xuất NNHC ở một số nước có diện tích
lớn (Nguồn Yussefi, 2002-2007, Willer 2008, 2009) NNHC phát triển nhanh chóng và chiếm lĩnh thị trường hàng tỷ đô-la Mỹ Thị trường NNHC tăng lên nhanh chóng trong những năm tiếp theo NNHC hiện có mặt tại 120 quốc gia và vùng lãnh thổ với diện tích canh tác là 31 triệu ha và giá trị sản xuất khoảng 31,3 tỷ đô-la Mỹ năm 2005 và tỷ lệ tăng trưởng ước tính từ 10-30%/năm (McCoy, 2006) Theo thống kê của IFOAM qua các năm từ 2002 đến
2007, Australia là nước có diện tích NNHC cao nhất, khoảng 7,6 triệu ha năm 2002, tăng lên 12,3 triệu ha vào năm 2008 (Yussefi, 2002; Willer, 2008) Giá trị kinh tế của các nông trại NNHC của Australia đem lại khoảng 300 – 400 triệu đô-la Mỹ và tăng 15-30%/năm (McCoy, 2006) Tỷ lệ tăng trưởng NNHC hàng năm tăng từ 20%
ở Mỹ, 25% ở châu Âu và ở Nhật Bản năm 1992 lên 36% ở Mỹ năm 1997 và 55% ở Anh năm 1999 (Lotter, 2003) Nhìn chung, thị trường NNHC thế giới tăng từ 5 đến 40%/năm, trong khi ở Mỹ, tỷ lệ này là 20-30%/năm Sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm NNHC là thị trường đầy tiềm năng
Các nước Australia, Ac-hen-ti-na, Ý, Mỹ và Trung Quốc sở hữu gần một nửa diện tích trang trại sản xuất NNHC của thế giới (Yussefi, 2007) Khoảng 95% NNHC sản xuất ở Mỹ tiêu thụ tại thị trường trong nước còn 5% phục vụ xuất khẩu (Lotter, 2003) Với một phần ba diện tích nông trại hữu cơ thế giới thuộc 2.400 nông hộ được chứng nhận về mặt hữu cơ, giá trị sản xuất NNHC của Australia đạt khoảng 140,7 triệu đô-la Mỹ năm 2003 (Haplin, 2004) và 300 triệu đô la Mỹ vào năm 2005 (McCoy, 2006) Việt Nam hiện có hơn 1.000 trang trại hữu cơ với diện
tích 21.867 ha chiếm khoảng 0,23% tổng diện tích canh tác nông nghiệp (Willer et al., 2008) Phần lớn sản phẩm hữu cơ của Australia tiêu thụ trong nước, phần còn