cầu trùng gà Coccidiosis do tính chất lây lan nhanh, mạnh, tỷ lệ chết rất cao nếu không được phát hiện và can thiệp kịp thời.Bệnh cầu trùng gà do ký sinh trùng đơn bào gây ra, chúng phát
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Bộ môn : BỆNH LÝ THÚ Y
Trang 2HÀ NỘI - 2012
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, nhờ sự dạy dỗ của các thầy cô giáo, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Thú Y, tôi đã được trang bị những kiến thức cơ bản về chuyên môn nghề nghiệp và tư cách đạo đức của một người cán bộ khoa học kỹ thuật tương lai Với những kiến thức tích luỹ được, cùng với sự hướng dẫn tận tình của TS Bùi Trần Anh Đào, tôi đã hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình
Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành nhất tới:
TS Bùi Trần Anh Đào – Cán bộ giảng dạy bộ môn Bệnh lý khoa Thú
Y, trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, thầy đã luôn quan tâm, hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực tập, giúp tôi hoàn thành tốt đề tài của mình
Các thầy cô trong bộ môn Bệnh lý – khoa Thú Y, trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã tạo những điều kiện tốt nhất để tôi tiến hành nghiên cứu, thực hiện đề tài
Bác Đào Xuân Hải – chủ trang trại Hải Đồi – Kim Long – Tam Dương – Vĩnh Phúc đã nhiệt tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập tại trại, giúp tôi tích luỹ thêm những kiến thức thực tế hữu ích
Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2012 Sinh viên
Đỗ Huyền Trang
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC HÌNH vii
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH CẦU TRÙNG Ở GÀ 3
2.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 3
2.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 5
2.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CẦU TRÙNG 7
2.2.1 Cấu trúc của Oocyst cầu trùng 7
2.2.2 Các loài cầu trùng ký sinh ở gà 7
2.2.3 Vòng đời của Cầu trùng 9
2.2.4 Tính chuyên biệt của Cầu trùng 12
2.2.5 Dịch tễ học bệnh Cầu trùng 13
2.2.6 Miễn dịch học bệnh Cầu trùng gà 14
2.2.7 Sinh bệnh học 16
2.2.8 Triệu chứng và bệnh tích của gà mắc bệnh Cầu trùng 17
2.2.9 Các phương pháp chẩn đoán bệnh Cầu trùng gà 19
PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 26
3.1.1 Địa điểm nghiên cứu 26
3.1.2 Thời gian nghiên cứu 26
3.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 26
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 26
3.3.1 Theo dõi tình hình bệnh Cầu trùng trên đàn gà Ai Cập tại trại gia cầm Hải Đồi 26
3.3.2 Theo dõi triệu chứng lâm sàng và bệnh tích gà Ai Cập mắc bệnh Cầu trùng 26
Trang 53.3.3 Xác định tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm và một số loài Cầu trùng
gây bệnh phổ biến trên đàn gà Ai Cập 27
3.3.4 Xây dựng quy trình phòng và điều trị bệnh Cầu trùng cho đàn gà .27
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
3.4.1 Tìm hiểu tình hình chăn nuôi và điều tra dịch tễ học bệnh Cầu trùng trên giống gà Ai Cập tại xã Kim Long – huyện Tam Dương 27
3.4.2 Theo dõi, quan sát biểu hiện triệu chứng lâm sàng ở gà Ai Cập mắc bệnh Cầu trùng 27
3.4.3 Quan sát bệnh tích gà Ai Cập mắc bệnh Cầu trùng 27
3.4.4 Xác định tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm và các loài Cầu trùng gây bệnh phổ biến trên 3 đàn gà bằng phương pháp xét nghiệm phân tìm noãn nang Cầu trùng 27
3.4.5 Làm tiêu bản vi thể kiểm tra mức độ tổn thương tổ chức của gà mắc Cầu trùng 29
PHẦN IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI GÀ TẠI TRẠI GIA CẦM HẢI ĐỒI – KIM LONG – TAM DƯƠNG – VĨNH PHÚC 33
4.2 TÌNH HÌNH BỆNH CẦU TRÙNG TRÊN GÀ AI CẬP TẠI TRẠI GIA CẦM HẢI ĐỒI – KIM LONG – TAM DƯƠNG – VĨNH PHÚC 33
4.2.1 Tỷ lệ nhiễm và tỷ lệ chết do bệnh Cầu trùng trên gà Ai Cập 34
4.2.2 Cường độ nhiễm Cầu trùng trên gà Ai Cập 35
4.2.3 Các loài Cầu trùng gây bệnh ở gà Ai Cập từ 1 – 90 ngày tuổi 37
4.3 MỘT SỐ TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG VÀ BỆNH TÍCH CỦA GÀ MẮC BỆNH CẦU TRÙNG 40
4.3.1 Một số triệu chứng lâm sàng chủ yếu ở gà mắc bệnh Cầu trùng .40 4.3.2 Bệnh tích đại thể của gà Ai Cập mắc bệnh Cầu trùng 40
4.3.3 Bệnh tích vi thể chủ yếu ở gà mắc bệnh Cầu trùng 46
4.4 ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH CẦU TRÙNG CHO GÀ AI CẬP 49
4.4.1 Biện pháp phòng bệnh Cầu trùng 49
4.4.2 Biện pháp trị bệnh Cầu trùng 49
4.4.3 Đánh giá hiệu lực của thuốc điều trị Cầu trùng 50
PHẦN V KẾT LUẬN – ĐỀ NGHỊ 53
5.1 KẾT LUẬN 53
5.2 ĐỀ NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Một số loại thuốc điều trị Cầu trùng đang lưu hành ở Việt Nam 25Bảng 4.1 Cơ cấu đàn gà tại trại gia cầm Hải Đồi 33Bảng 4.2: Tỷ lệ nhiễm và tỷ lệ chết do bệnh Cầu trùng
trên gà Ai Cập từ 1 – 90 ngày tuổi 34Bảng 4.3: Cường độ nhiễm Cầu trùng trên gà Ai Cập từ 1 – 90 ngày tuổi 36Bảng 4.4: Các loài Cầu trùng gây bệnh trên đàn gà tại trại Hải Đồi 38Bảng 4.5: Tỷ lệ nhiễm 5 loài Cầu trùng trên gà Ai Cập 38Bảng 4.6: Tỷ lệ biểu hiện bệnh tích đại thể trên gà Ai Cập
mắc Cầu trùng 41Bảng 4.7 Một số phác đồ điều trị Cầu trùng gà tại trại 50Bảng 4.8 Tỷ lệ xuất hiện noãn nang Cầu trùng trong phân
sau khi sử dụng thuốc điều trị 51
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ nhiễm và tỷ lệ chết do bệnh Cầu trùng
trên gà Ai Cập từ 1 – 90 ngày tuổi 35Biểu đồ 4.2 Cường độ nhiễm Cầu trùng trên gà Ai Cập
từ 1 – 90 ngày tuổi 37Biểu đồ 4.3 Tỷ lệ nhiễm 5 loài Cầu trùng trên gà Ai Cập tại trại 39Bảng 4.4 Tỷ lệ bệnh tích đại thể trên gà Ai Cập mắc Cầu trùng 44
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Vòng đời phát triển của Cầu trùng 11Hình 4.1 Một số triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thểtrên gà Ai Cập mắc Cầu trùng 45Hình 4.2 Hình ảnh bệnh tích vi thể trên gà Ai Cập mắc Cầu trùng 48
Trang 10Người chăn nuôi hiện nay đang đặc biệt chú trọng đầu tư cho chăn nuôi gà với nhiều giống gà và hướng chuyên dụng khác nhau, quy mô và hình thức chăn nuôi cũng rất phong phú Gà Ai Cập là một trong những giống gà hướng trứng đang được nuôi phố biến trong những năm gần đây do cho năng suất trứng cao và chất lượng trứng tốt Gà Ai cập được nhập vào nước ta tháng 4/1997, có năng suất trứng đạt 200 – 220 quả/năm, tỷ lệ lòng đỏ cao, mùi vị thơm ngon Gà Ai Cập có tầm vóc nhỏ, nhanh nhẹn, thịt chắc, chân cao, tiết diện hình nêm thể hiện rõ hướng chuyên dụng trứng.
Chăn nuôi với số lượng đàn càng lớn, người chăn nuôi càng cần chú trọng tới khâu phòng và điều trị bệnh để tránh gây ra những thiệt hại về kinh
tế Do đó, nắm rõ quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng chống bệnh cho đàn gà, chăn nuôi sẽ đạt được hiệu quả cao nhất
Tình hình dịch bệnh luôn diễn biến rất phức tạp Ngoài những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, bệnh kí sinh trùng cũng tác động một phần không nhỏ tới chất lượng cũng như hiệu quả chăn nuôi Đặc biệt nguy hiểm là bệnh
Trang 11cầu trùng gà (Coccidiosis) do tính chất lây lan nhanh, mạnh, tỷ lệ chết rất cao nếu không được phát hiện và can thiệp kịp thời.
Bệnh cầu trùng gà do ký sinh trùng đơn bào gây ra, chúng phát triển trong đường ruột và gây ra những tổn thương mô, ảnh hưởng tới việc ăn, tiêu hóa và hấp thu dưỡng chất, sự khử nước, mất máu và làm tăng tính mẫn cảm với các tác nhân gây bệnh khác Bên cạnh đó bệnh còn làm giảm sức đề kháng của đàn gà, mở đường cho các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác xâm nhập và bùng phát như Gumboro, Newcastle, E.coli…
Do tính chất nguy hiểm của bệnh nên đã có rất nhiều nghiên cứu khoa học trên thế giới cũng như ở Việt Nam để chế tạo vaccine phòng bệnh cầu trùng
và cũng có nhiều loại vaccine được sản xuất, lưu hành Tuy nhiên hiệu lực phòng bệnh chưa cao, chưa đem lại kết quả như mong đợi Do đó, việc phòng
và điều trị bệnh bằng thuốc vẫn giữ vị trí quan trọng, hạn chế đáng kể thiệt hại của bệnh trong quá trình chăn nuôi
Xuất phát từ các vấn đề trên, đồng thời để hiểu rõ hơn ảnh hưởng của tác nhân gây bệnh đến cơ thể ký chủ và tìm ra biện pháp hiệu quả để phòng chống bệnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“ Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý ở gà Ai Cập mắc bệnh Cầu trùng (Coccidiosis) và đề xuất biện pháp phòng, trị bệnh.”
1.2 Mục đích của đề tài
Xác định các đặc điểm bệnh lý chủ yếu (lâm sàng, đại thể, vi thể) ở gà
Ai Cập mắc bệnh Cầu trùng làm cơ sở cho việc chẩn đoán, phòng và điều trị bệnh
Trang 12PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH CẦU TRÙNG Ở GÀ
2.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Năm 1863, Rivolta phát hiện ra một loại ký sinh trùng có trong phân
gà Năm 1864, Eimeria đã xác đinh được đó là loài nguyên sinh động vật sinh
sản theo bào tử thuộc lớp Sprotozoa, bộ Coccidie, họ Eimeriadae.
Năm 1875, người ta đã xác định kết quả nghiên cứu của Eimeria và đặt tên cho loại ký sinh trùng này là Eimeria Ngày nay, nhiều loài cầu trùng được phát hiện trên các loài động vật khác nhau Sự ký sinh của cầu trùng có tính chất chuyên biệt trên mỗi ký chủ, thậm chí trên các cơ quan,
mô bào nhất định
Những loài thuộc giống Eimeria thường gây tổn thương ở đường ruột,
niêm mạc bị viêm, xuất huyết Bệnh làm cho gà tăng trưởng kém, còi cọc, chậm lớn, suy yếu và tiêu tốn thức ăn cao Hàng năm, chi phí cho thuốc phòng ngừa bệnh lên đến 90 triệu USD tại Mỹ, ở Ý là 20 triệu Lia, ở Hungary
Trang 13Cho tới nay, thế giới đã xác định được 12 loài Eimeria Theo Schrieider
(1881), có 9 loại cầu trùng gây nhiễm cho gà đã được xác định rõ tên, kích thước, mầu sắc Đó là:
Eimeria tenella ( Railliet và Lucet, 1891)
Eimeria acervulina, Eimeria maxima, Eimeria mitis (Tyzzer, 1929)
Eimeria necatrix, Eimeria praecox ( Jonhson, 1930)
Eimeria hagani ( Levine, 1938)
Eimeria brunetti ( Levine, 1942)
Eimeria mivati (Edgar và Siebol, 1969)
Một số tác giả ở Trung Âu và Liên Xô như Yakimoff, Kotlan đã đưa ra
một số công bố về 3 loài: Eimeria beachi, Eimeria tyzzeri, Eimeria Johnsoni.
Sau những năm 1990, các nhà khoa học như J.Eckert, R.Brawn, M.W.Shirley và P.Coudert đã viết những hướng dẫn nghiên cứu về cầu trùng
và bệnh cầu trùng gà
Nghiên cứu tính miễn dịch của Cầu trùng, Tyzzer (1929) cho biết: miễn dịch được tạo ra tương đối bền vững với loài phát triển sâu trong mô bào, miễn dịch kém bền vững với loài Cầu trùng chỉ phát triển trong lớp biểu bì niêm mạc
Năm 1962, Rose M.E và cộng sự đã chứng minh được tính miễn dịch đặc hiệu theo loài rất nghiêm ngặt ở Eimeria bằng phương pháp kết tủa
Singh.U.M (1996, 1997) đã nghiên cứu chế tạo vaccine cầu trùng mới
bao gồm: E.maxima, E acervulina, E.necatrix, E tennella đã được sử dụng
thử nghiệm tại Trung Quốc
Nyberg và Knapp (1976) qua kính hiển vi điện tử cho thấy, lớp ngoài cùng
có thể khử bằng dung dịch Sodium Hypocloride 2 – 3% trong vòng 15 phút
Pernard (1925) đã chứng minh noãn nang tiếp tục sinh bào tử sau nhiều ngày tiếp xúc với nhiều loại hóa chất, chất sát trùng nhưng lại không có khả năng phát triển trong điều kiện khô và nhiệt độ cao
Trang 14Long P.L và cs (1979) cho rằng Oocyst có thể tồn tại qua mùa đông giá lạnh nhưng không chịu được nhiệt độ cao và ánh nắng chiếu trực tiếp.
Glullough.N (1952) cho biết, ở nhiệt độ cao Oocyst có khả năng đề kháng như nhau Chúng đều bị tiêu diệt ở 400C/ 96 giờ, ở 450C/ 3 giờ và ở
500C/ 30 phút Khi Oocyst theo phân ra ngoài môi trường, ẩm độ có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến thời gian hình thành bào tử và khả năng tồn tại của Oocyst Cầu trùng
Ellis C.C (1986) cho biết, khi nhiệt độ không thay đổi, Oocyst sẽ bị chết khi ẩm độ giảm Nhiệt độ từ 18 – 400C, ẩm độ 21 – 30% thì Oocyst dễ bị chết sau 4 – 5 ngày
Horton Smith (1963) đã nghiên cứu và cho thấy, Cầu trùng sống ở sân chơi ngoài trời 14 tuần và tồn tại lâu trong đất ở độ sâu 5 – 7 cm Ở trong đất, Oocyst duy trì sức sống từ 4 – 9 tháng, ở sân chơi râm mát từ 15 – 18 tháng
Theo nghiên cứu của Fish (1932) trong phòng thí nghiệm cho thấy, Oocyst bị tiêu diệt khi chiếu tia tử ngoại vừa phải
2.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, bệnh cầu trùng được đi sâu nghiên cứu từ những năm đầu thập kỷ 70, khi mà chăn nuôi gà theo hướng công nghiệp phát triển mạnh
Theo Dương Công Thuận (1973), có 4 loại cầu trùng gậy bệnh ở các
trại gà: E tenella, E maxima, E mitis, E necatrix.
Đào Hữu Thanh (1975) đã nghiên cứu về bệnh cầu trùng gà ở các trang trại nuôi tập trung công nghiệp và đưa ra một số kết quả về tình hình dịch tễ của bệnh cầu trùng gà
Hồ Thị Thuận (1985) cho biết, gà nuôi công nghiệp ở một số trại gà
phía Nam nhiễm 5 loại cầu trùng: E tenella, E maxima, E mitis, E necatrix,
E brunetti.
Trang 15Phạm Văn Chức và cs (1991) đã tìm thấy 4 loài: E tenella, E maxima,
E mitis, E necatrix và đã thử nghiệm sản xuất vaccine phòng bệnh cầu trùng
bằng phương pháp chiếu xạ gamma với 4 loại này
Lê Tuyết Minh (1994) đã nghiên cứu về tình hình nhiễm Eimeria và bệnh cầu trùng gà ở một số trại gà tại một vài vùng của Hà Nội đã xác định có
4 loại cầu trùng trên gà thịt là E tenella, E maxima, E mitis, E necatrix.
Hoàng Thạch (1999) xác định rằng, có 6 loại cầu trùng ký sinh ở gà tại
TP Hồ Chí Minh và một số vùng phụ cận, đó là các loài: E tenella, E
maxima, E mitis, E necatrix, E brunetti, E acervulina.
Lê Văn Năm (2003) cho biết, nhiệt độ thích hợp cho quá trình phát triển bào tử nang ngoài cơ thể là 15 – 350C, bào tử nang sẽ chết ở nhiệt độ lạnh – 150C và nóng > 400C Môi trường ẩm ướt, nhiệt độ vừa phải trong khoảng 22 – 230 là điều kiện thuận lợi cho Cầu trùng phát triển, ở nhiệt độ này chỉ mất 16 – 18 giờ để Cầu trùng phát triển thành bào tử nang, khi đã hình thành bào tử nang, chúng tồn tại rất lâu trong môi trường thiên nhiên, hàng năm hoặc lâu hơn, chúng chịu được tất cả các chất khử trùng, tiêu độc, các tác động lý hóa …
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và Trần Thu Nga (2005), tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng có sự khác nhau theo tình trạng vệ sinh thú y trong chăn nuôi Gà nuôi trong điều kiện vệ sinh kém có tỷ lễ nhiễm cao nhất
Bệnh Cầu trùng thường xảy ra vào muà hè và mùa xuân Tuy nhiên, vào mùa thu và mùa đông bệnh vẫn có thể xảy ra ở các trại chăn nuôi lớn, có mật độ đông và chăm sóc vệ sinh kém Theo trung tâm nghiên cứu gia cầm Trung ương, mùa xuân có tỷ lệ nhiễm là 30,6%, mùa hè là 12,14%, mùa đông
là 7,25%
Trang 162.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CẦU TRÙNG
2.2.1 Cấu trúc của Oocyst cầu trùng
Oocyst (noãn nang) cầu trùng có nhiều hình dạng khác nhau: hình cầu, gần tròn, hình trứng hay hình ovan, có khi có hình quả lê, … kích thước cũng khác nhau thay đổi theo từng loài Tuy nhiên, phần lớn Oocyst cầu trùng có đặc điểm cấu tạo như sau:
Oocyst màu sáng hoặc không màu, màu vàng nhạt hoặc nâu nhạt Lớp
vỏ ngoài thường nhẵn, có loài xù xì (E spinosa) Vỏ được chia thành 2 lớp:
Vỏ ngoài dày, vỏ trong mỏng Vỏ ngoài và vỏ trong có thể tách rời nhau bằng cách làm nóng Oocyst ở trong nước hoặc xử lý bằng acid sulfuric
Vỏ ngoài là lớp quinonon protein, vỏ trong là lớp Lipid kết hợp với Protein để tạo nên khúc xạ kép (Lipoprotein) Lớp trong của vỏ Oocyst chiếm 80% gồm: Một lớp Glycoprotein (dày 90µm), được bao bọc bởi một lớp Lipid dày 10µm Lớp Lipid chủ yếu là Phospho lipid, chính lớp này bảo vệ Oocyst cầu trùng chống lại sự tấn công về mặt hóa học
Một số loại cầu trùng ở phía đầu nhọn có một cái nắp khúc xạ được gọi
là Micropyle cap Micropyle là vị trí có khe hở của màng bao quanh Macrogamete khi thụ tinh Sau khi thụ tinh thì khe hở đóng lại và vì vậy nhiều loài cầu trùng không thấy Micropyle nữa
2.2.2 Các loài cầu trùng ký sinh ở gà
Cầu trùng được phân loại dựa vào các đặc điểm sau:
1 Vùng tổn thương gây ra ở ruột
2 Tổng thể sự xuất hiện các tổn thương
3 Hình thái của Oocyst cầu trùng
4 Thời gian tối thiểu để hình thành bào tử
5 Thời gian ngủ tối thiểu
6 Kích thước và vị trí phát triển của Schizont
7 Vùng ký sinh ở biểu mô vật chủ
Trang 178 Kiểm tra sự miễn dịch chéo
Trong 12 loài Eimeria, 9 loài đã được xác định hình thái, cấu trúc, màu sắc, kích thước như sau:
1 Eimeria tenella ( Raillet và Sucet, 1891)
Là loài cầu trùng phổ biến nhất, có độc lực cao, noãn nang hình trứng, vỏ bọc màu xám trắng hoặc xanh nhạt, kích thước 14,2 – 31,2 x 9,5 – 24,8 µm., không có lỗ noãn Thời gian hình thành bào tử nang kéo dài 24 – 48h Phát triển nội sinh ở manh tràng và có thể ở các phần ruột khác, phá hủy màng niêm mạc gây chảy máu
2 Eimeria praecox (Johnson, 1930)
Là loài cầu trùng có độc lực yếu, noãn nang hình bầu dục, không màu, kích thước 10,6 – 27,7 x 14,8 – 19,4 µm, không có lỗ noãn Thời gian hình thành bào tử từ 24 – 36h Phát triển nội sinh tại tế bào biểu bì lớp niêm mạc phần đầu ruột non
3 Eimeria necatrix (Johnson, 1930)
Là loài Cầu trùng có độc lực cao, song mức phổ biến và khả năng gây bệnh của nó thấp hơn Eimeria tenella Noãn nang có hình tròn hoặc Ovan, nhân phân hạt, kích thước 13,0 – 22,7 x 11,3 – 18,3 µm, vỏ cứng Bào tử nang hình thành trong 48h Cầu trùng ký sinh chủ yếu ở ruột non ngay sau tá tràng Gà con từ 2 – 5 tuần tuổi cảm thụ mạnh nhất với loài cầu trùng này
4 Eimeria mitis (Tyzzer, 1929)
Là loài Cầu trùng có độc lực yếu Noãn nang có hình tròn hoặc gần tròn, vỏ bọc không màu, kích thước 11,0 – 19,0 x 10,0 – 17,1 µm Thời gian hình thành bào nang trong môi trường bên ngoài là 48h Chúng ký sinh ở phần đầu của ruột non: Tá tràng và phần dưới tá tràng
5 Eimeria maxima (Tyzzer, 1929)
Là loài có độc lực gây bệnh nhẹ và trung bình Noãn nang hình trứng hoặc hình Ovan, vỏ bọc xù xì, màu vàng nhạt, kích thước 21,4 – 42,5 x 16,5 – 29,8
Trang 18µm Thời gian sinh bào tử là 30 – 18 giờ Cầu trùng ký sinh trong các tế bào biểu mô bề mặt và các lớp sâu của cơ ruột non, ký sinh ở phần giữa ruột non
là chủ yếu
6 Eimeria brunetti (Levine, 1942)
Là loài có độc lực cao gần như E tenella và E necatrix Noãn nang có hình bầu dục, không màu, kích thước 20,7 – 30,3 x 18,1 – 24,2 µm Thời gian sản sinh bào tử là 24h Trong nang trứng có một cực hay một số hạt cực, trong thời kỳ nội sinh phát triển chủ yếu trong ruột già, phần cuối ruột non, trực tràng, lỗ huyệt cũng có thể bị nhiễm
7 Eimeria acervulina (Tyzzer, 1929)
Là loài có độc lực yếu Noãn nang hình trứng hoặc hình Ovan, vỏ bọc nhẵn, kích thước 17,7 – 20,2 x 13,7 – 16,3 µm Thời gian hình thành bào tử nang ở bên ngoài là 24 giờ Chúng ký sinh chủ yếu ở tá tràng gây ra viêm cấp tính
8 Eimeria mivati (Levine, 1938)
Là loài có độc lực yếu Noãn nang hình trứng hoặc hình bầu dục, khồng màu, một trong hai đầu có lỗ noãn, kích thước 10,7 – 20,0 x 10,1 – 15,3 µm Thời gian sản sinh bào tử là 18 – 24 giờ Thời kỳ phát triển nội sinh của Cầu trùng gây tổn thương tế bào biểu mô nhung mao, tạo những khe, hốc trên ruột non
9 Eimeria hagani (Levine, 1938)
Là loài có độc lực yếu, nang trứng hình bầu dục, lớp vỏ nhẵn, không màu, không có lỗ noãn, có hạt cực, kích thước 15,8 – 20,5 x 14,3 – 19,5 µm, phát triển nội sinh chủ yếu trong tá tràng Thời gian sản sinh bào tử là 24 – 48 giờ
Ký sinh ở phần đầu ruột non
2.2.3 Vòng đời của Cầu trùng
Coccidae là một loại nội ký sinh trong tế bào vật chủ nhưng lại có quá
trình sinh trưởng, phát triển hết sức phức tạp
Vòng đời phát triển của Cầu trùng Eimeria gồm 3 giai đoạn:
Trang 19Giai đoạn 1 : Sinh sản vô tính (Schizogonie)
Giai đoạn 2 : Sinh sản hữu tính (Gametogonie)
Giai đoạn 3: Hình thành bào tử từ noãn nang (Sporogonie)
Giai đoan 1 và 2 xảy ra trong tế bào biểu mô vật chủ Giai đoạn 3 xảy ra ở môi trường bên ngoài cơ thể
Giai đoạn 1:
Khi các bào tử nang Cầu trùng xâm nhập vào cơ thể gà qua đường tiêu hóa, dưới tác dụng của dịch tiêu hóa, vỏ nang bị phá hủy, giải phóng các bào tử thể Các bào tử thể nhanh chóng xâm nhập vào trong các tế bào biểu mô ruột, thận, mật,… đôi khi vào mô bào dưới niêm mạc Tại đây, cùng với sự phân chia của hạt nhân, các bào tử thể lớn lên nhanh chóng, có hình tròn, hình ovan hoặc hình elip với nhiều nhân gọi là thể phân lập thuộc thế hệ 1 (Schizont 1).Schizont 1 tiến hành phân chia nguyên sinh chất tạo ra nhiều tế bào có hình elip dài được gọi là Merozoite Các Merozoite sinh trưởng rất nhanh làm tan
vỡ tế bào biểu mô vật chủ Khi các tế bào biểu mô nơi cư trú bị phá hủy, các Merozoite lập tức tấn công sang các tế bào biểu mô mới và quá trình phát triển này được lặp lại như cũ Đến đây, các ký sinh này thuộc thế hệ thứ 2 và được goại là Schizont 2 Tùy theo chủng Cầu trùng và loại vật chủ mà có thể hình thành tiếp các thế hệ Schizont 3, Schizont 4, … một cách ồ ạt theo cấp số nhân kiểu dây chuyền nguyên tử làm cho hàng loạt tế bào biểu mô của vật chủ
bị phá vỡ, gây tổn thương nặng nề cho niêm mạc nơi bị phơi nhiễm
Giai đoạn 2:
Khi các Schizont thuộc thế hệ cuối cùng được hình thành thì chúng bắt đầu định hướng phát triển thành giao tử đực (Microgamete) và giao tử cái (Macrogamete) Giao tử đực hình quả lê, kích thước nhỏ, một đầu có vòi sinh dục Giao tử cái có kích thước lớn hơn, ít chuyển động hơn, có một lỗ sinh dục gọi là Micropyle Giao tử đực chui qua lỗ Micropyle vào giao tử cái để
Trang 20hình thành hợp tử Sau đó hợp tử rơi vào lòng ruột biến thành một noãn nang chưa chín gọi là Oocyst.
Giai đoạn 3:
Noãn nang (Oocyst) sau khi được bài xuất theo phân ra ngoài môi trường sẽ hình thành bào tử Do tác động của các yếu tố môi trường, các noãn nang hình thành một lớp vỏ bọc cứng giúp cho chúng có thể tồn tại lâu trong tự nhiên Mỗi noãn nang hình thành 4 bào tử nguyên bào, trong mỗi bào tử nguyên bào lại có 2 bào tử thể Noãn nang khi có đủ 8 bào tử thể hoàn chỉnh sẽ có khả năng gây nhiễm bệnh cho gà
Hình 2.1 Vòng đời phát triển của Cầu trùng
Trang 212.2.4 Tính chuyên biệt của Cầu trùng
Theo Dougald L.M và Reid W.M (1986), bệnh Cầu trùng khác với các bệnh do vi khuẩn và virus về bản chất tự giới hạn trong quá trình sinh trưởng
và phát triển của nó Điều đó có được là do tính chuyên biệt của Cầu trùng
Tính chuyên biệt của Cầu trùng là sự thích nghi phức tạp và lâu dài của Cầu trùng với cơ thể ký chủ hoặc cụ thể hơn đối với các cơ quan, mô bào hay
tế bào nhất định phù hợp cho sự tồn tại và phát triển của chúng (Lê Văn Năm (2003) )
Thời gian gần đây, có nhiều dẫn chứng chứng tỏ rằng : Giống Cầu trùng Eimeria có tính chuyên biệt nghiêm ngặt và chỉ có thể nhiễm vào loại
ký chủ mà chúng đã thích nghi trong quá trình tiến hóa Ví dụ như các loài Cầu trùng cừu không thể nhiễm sang trâu, bò và các loài gia súc khác được Cầu trùng thỏ chỉ ký sinh ở thỏ mà không gây bệnh cho các loài khác Cầu trùng gà không gây bệnh cho gà tây và ngược lại
Theo N.A.Kolapxki và cs (1980), tính chuyên biệt của Cầu trùng giống Eimeria biểu hiện không chỉ đối với ký chủ của chúng mà còn đối với nơi chúng ký sinh trong cơ thể gia súc Ví dụ : E.tenella chỉ sống trong màng niêm mạc manh tràng gà, còn E.acervulina trong tá tràng của gà, E.bukidnonensis ký sinh ở niêm mạc ruột non bò trong khi E.cylindrica cũng
ở ký sinh trong đường tiêu hóa của bò nhưng lại ký sinh ở niêm mạc ruột già
Tính chuyên biệt của Cầu trùng biểu hiện rõ rệt ở giống Eimeria, tính chuyên biệt đó được hình thành trong quá trình thích ứng lâu dài của ký sinh trùng đối với một ký chủ nhất định cũng như đối với từng cơ quan, mô bào riêng biệt
Như vậy, tùy theo loại Cầu trùng mà chúng có thể sống ở trên vật chủ này hay vật chủ khác, hoặc các vị trí ký sinh khác nhau trên cùng một cơ thể Điều này có ý nghĩa quan trọng giúp phân loại Cầu trùng được chính xác
Trang 222.2.5 Dịch tễ học bệnh Cầu trùng
Tuổi mắc bệnh: Bệnh thường xảy ra ở những đàn nằm trong độ tuổi 10
– 90 ngày, nhưng nặng nhất là ở gà con từ 18 – 45 ngày tuổi
Bệnh Cầu trùng gà rất phổ biến, hầu như không có đàn gà nào không bị nhiễm một trong các loài thuộc giống Eimeria Bệnh chủ yếu xảy ra đối với gà con,
gà dò, gà mới trưởng thành
Thời gian ủ bệnh ngắn từ 4 – 7 ngày phụ thuộc vào chủng loại Cầu trùng, nơi khu trú và mức độ nhiễm bệnh, số lượng căn nguyên xâm nhập vào cơ thể và tình trạng sức khỏe của đàn gà
Đường truyền lây:
- Lây nhiễm trực tiếp: Gà nhiễm Cầu trùng do nuốt phải noãn nang Cầu trùng
có sức gây nhiễm Những noãn nang này có từ phân gà nhiễm và phân bố nhiều ở nền chuồng, sân chơi, dụng cụ chăn nuôi
Gà ốm và gà khỏi bệnh mang trùng là nguồn bệnh tiềm tàng lâu dài, nguy hiểm nhất
- Lây nhiễm gián tiếp: Vật môi giới trung gian truyền bệnh như chuột, chó, mèo, chim sẻ và một số côn trùng có thể mang mầm bệnh từ đàn này sang đàn khác hoặc qua các dụng cụ chăn nuôi, người chăn nuôi, giầy dép, phương tiện vẫn chuyển, …đã mang noãn nang Cầu trùng từ bên ngoài khu vực chuồng nuôi vào
Các yếu tố vệ sinh thú y, chăm sóc nuôi dưỡng kém, thiếu các Vitamin, các nguyên tố vi lượng, đặc biệt là việc nuôi chung gà con với gà lớn sẽ thúc đẩy bệnh ngày càng nặng nề, bệnh bùng nổ triền miên và kéo dài
Gà nuôi nền, nhất là những chuồng đã nuôi nhiều lứa, bệnh Cầu trùng rất dễ xảy ra Theo Bạch Mạnh Điều (2001) khi nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm Cầu trùng của gà trong điều kiện nuôi trên sàn lưới và nuôi trên nền có sử dụng chất độn chuồng cho thấy: Gà nuôi trên sàn lưới - tỷ lệ nhiếm bệnh là
Trang 2312,14%, gà nuôi trên nền có sử dụng chất độn chuồng - tỷ lệ nhiễm trung bình
là 23,93%
Sức đề kháng: Ở ngoài môi trường thiên nhiên, noãn nang Cầu trùng
tồn tại rất lâu Theo Kogan (1959), chúng có thể giữ được khả năng gây bệnh sau 5 tháng, đem thấy khô ở 400C sau 4 ngày, giữ trong điều kiện thiếu không khí được 30 ngày
Ở châu Âu và châu Mỹ, bệnh mang tính thời vụ rõ rệt, thường xảy ra từ tháng 5 đến tháng 8 Theo Lê Văn Năm (2003), ở Việt Nam, bệnh xảy ra quanh năm, mang tính dịch cao, tỷ lệ mắc bệnh cao vào các tháng mùa xuân mưa ẩm Mức độ nhiễm Cầu trùng trong các mùa đều tương đối cao, tỷ lệ nhiễm trung bình ở các mùa từ 25,82 – 26,83% Do đó cần có biện pháp phòng bệnh chu đáo cho đàn gà vào các mùa
2.2.6 Miễn dịch học bệnh Cầu trùng gà
Nhiều nhà khoa học thấy rằng, miễn dịch đối với bệnh Cầu trùng là miễn dịch mang trùng và do sự tái nhiễm thường xuyên đã đảm bảo cho sự ổn đinh mầm bệnh trong cơ thể gà có miễn dịch
Từ những năm 1929, Turo đã xác định rằng miến dịch được tạo ra tương đối bền vững đối với các loài Cầu trùng khi các giai đoạn phát triển của chúng tiến triển và xâm nhập sâu trong các mô bào và miễn dịch kém bền vững khi các giai đoạn của chúng chỉ phát triển trong lớp biểu bì niêm mạc ruột Với những nghiên cứu của Turo (1929), lần đầu tiên đã chứng minh tính đặc hiệu của miễn dịch trong bệnh Cầu trùng Ông thấy rằng, những gà khỏi bệnh với loại Cầu trùng này thì không miễn dịch với các loài Cầu trùng khác.Long và Rose (1962) đã nghiên cứu chi tiết hơn tính đặc hiệu này bằng phương pháp kết tủa trên thạch và đã chứng minh tính đặc hiệu theo loài rất nghiêm ngặt ở các loài E.tenella, E.necatrix, E.acervulina và E.maxima, …Kaplin đã phát hiện ra khả năng tạo ra miễn dịch thụ động khi tiêm huyết thanh lấy từ máu gà con chưa có miến dịch, ở chúng xuất hiện miễn dịch yếu,
Trang 24tăng cao tỷ lệ nuôi sống, ở những con gà này, số mầm bệnh loại thải ra ngoài
ít hơn so với số mầm bệnh Cầu trùng gây nhiễm cho chúng so với những con
gà đối chứng
Theo Tyzzer (1929), bằng kỹ thuật gây bệnh thực nghiệm, ông đã chứng minh được tính đặc hiệu của miễn dịch bệnh Cầu trùng Nhưng ông nhận thấy rằng, những gà khỏi bệnh với một loại Cầu trùng này thì không miễn dịch với loài Cầu trùng khác Ông còn chứng minh được rằng, cường độ miễn dịch không đều phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: loài Cầu trùng, liều Cầu trùng gây nhiễm, phương thức gây nhiễm
Morehouse (1983), Oclop (1940), Watrendorfer (1958), Sackmann (1963), và nhiều nhà khoa học khác thấy rằng, miễn dịch đối với bệnh Cầu trùng gà là miễn dịch có trùng và do sự tái nhiễm thường xuyên đã đảm bảo cho sự ổn định mầm bệnh trong cơ thể gà có miễn dịch Trạng thái miễn dịch trong bệnh Cầu trùng cũng như các bệnh nguyên sinh động vật khác gọi là miễn dịch dự phòng hay miễn dịch có trùng Cường độ miễn dịch trong bệnh Cầu trùng không đồng đều và phụ thuộc vào loại Cầu trùng, trạng thái cơ thể
gà và nhiều yếu tố khác Cường độ miễn dịch cũng phụ thuộc vào đặc điểm phát triển các giai đoạn nội sinh của các loại Cầu trùng khác nhau
Nghiên cứu về thời gian miễn dịch chống bệnh Cầu trùng, có nhiểu ý kiến khác nhau Theo Sacmen (1953), miễn dịch chống bệnh Cầu trùng có thời gian miễn dịch ngắn và khi cơ thể gà thải hết mầm bệnh thì gà lại bắt đầu cảm thụ bệnh
Theo Song Hondon – Smith, Beatle, Long (1961), tính miễn dịch trong bệnh Cầu trùng là tương đối dài và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là phương thức tạo miễn dịch cho chúng như : Nếu tiêm cho gà một lượng lớn nang trứng Cầu trùng thì tới ngày thứ 14 ở chúng có sức đề kháng và có thể tự bảo vệ khi tiêm cho chúng một liều trên liều chết ngay cả khi tiêm liều Cầu trùng được 3 tháng và gà còn được bảo vệ không bị tái nhiễm
Trang 25Hiện nay, có 3 hướng tạo miễn dịch cho gà được lựa chọn:
- Cho gà nhiếm Cầu trùng liều thấp để kích thích cơ thể sản sinh kháng thể chống tái nhiễm
- Cho gà nhiếm Cầu trùng rồi cho thuốc điều trị để con vật sản sinh kháng thể chống tái nhiễm Đây là hướng được coi là hiệu quả nhất và được
áp dụng nhiều nhất hiện nay
- Cho gà nhiễm nang trứng đã sinh bào tử được giảm độc lực bằng các yếu tố vật lý, hóa học để kích thích gà sản sinh kháng thể Đây là hướng chủ động có nhiều triển vọng nhằm sản xuất vaccine phòng bệnh Cầu trùng gà
2.2.7 Sinh bệnh học
Theo Vandonin Berke (1957), quá trình sinh bệnh học trước hết là do tác động trực tiếp của mầm bệnh qua các giai đoạn phát triển nội sinh trong
cơ thể gà Cầu trùng ký sinh trong các tế bào biểu mô, quá trình sinh trưởng
và phát triển của chúng làm cho các tế bào biểu mô bị phá vỡ theo kiểu dây chuyền hết sức nhanh chóng và đồng loạt gây tổn thương nghiêm trọng niêm mạc nơi khu trú, các mạch quản, thần kinh bị hủy hoại, gây xuất huyết và tạo điều kiện thuận lợi cho hệ vi sinh vật phát triển và gây bệnh thêm cho gà
Do sự phá hủy hàng loạt các tế bào niêm mạc ruột gây ra các ổ hoại tử lớn, nhiều đoạn ruột không tham gia vào quá trình tiêu hóa, con vật thiếu máu trầm trọng Protein tổng số của huyết thanh và đường huyết giảm, một số enzyme bị giảm hoạt tính nhất là hoạt tính Phosphataza kiềm ở niêm mạc ruột non, do đó gà mắc bệnh Cầu trùng sẽ rối loạn quá trình hấp thu các acid amin, giảm sức lớn và sự phát triển
Dưới tác động của Cầu trùng làm cho các mô bào đường tiêu hóa bị tổn thương, biến đổi, tạo điều kiện cho các vi khuẩn có hại xâm nhập như Clostridium perfringens, Salmonelle typhimurium cùng với một số bệnh ghép khác làm cho bệnh càng nặng nề và phức tạp
Trang 26Theo Lê Văn Năm, E.coli gây bại huyết luôn xuất hiện đồng thời với cầu trùng Trong đó cầu trùng đóng vai trò quyết định, E.coli đóng vai trò thúc đẩy Trường hợp gà bị Cầu trùng, nhất là Cầu trùng cấp thì 100% số đàn
bị bệnh đều bị bội nhiễm với E.coli bại huyết
Cơ chế sinh bệnh được giải thích như sau: Do tác động của Cầu trùng làm phá
vỡ cấu trúc niêm mạc ruột gây rối loạn tiêu hóa, viêm ruột xuất huyết, chức năng hấp thu của ruột bị ảnh hưởng, nhu động của ruột cũng thay đổi, … Tất
cả các hiện tượng trên đều dẫn tới phá vỡ cân bằng sinh học, làm cho các chủng E.coli có lợi bị tiêu diệt, các chủng E.coli có hại sinh sản nhanh và thâm nhập ồ ạt vào đường máu qua các vùng niêm mạc ruột đã bị tổn thương
do Cầu trùng gây nên làm gà bị nhiễm trùng huyết cấp tính Do đó gà bị sốt cao, háo nước Khi E.coli dung huyết vào hệ tuần hoàn không có điều kiện sống, chúng bị chết và giải phóng ra một loại nội độc tố gọi là Endotoxin gây nhiễm độc toàn thân và hạ thân nhiệt làm gà suy sụp nhanh chóng Endotoxin cũng làm tăng khả năng chảy máu ở các vùng niêm mạc ruột đã bị vỡ, khiến cho máu đổ dồn vào lòng ruột nhiều, gà bài xuất máu tươi toàn phần Đây cũng là lý do cơ bản làm gà bệnh chết nhanh khi chưa kịp gầy sút
Dựa vào cơ chế sinh bệnh của Cầu trùng, khi tiến hành điều trị, ngoài việc sử dụng các loại thuốc đặc trị Cầu trùng, chúng ta cần phải sử dụng các thuốc điều trị triệu chứng, bệnh ghép (nếu có)
2.2.8 Triệu chứng và bệnh tích của gà mắc bệnh Cầu trùng
2.2.8.1 Triệu chứng
Triệu chứng lâm sàng của gà bị bệnh Cầu trùng thay đổi tùy thuộc vào
độ tuổi của gà, loài Cầu trùng, số lượng Oocyst có mặt trong từng cá thể gà.Bệnh có thể biểu hiện ở 3 thể: cấp tính, mạn tính, mang trùng (không có triệu chứng lâm sàng)
Nhiều tác giả cho rằng, bệnh Cầu trùng có thời gian nung bệnh từ 4 – 7 ngày
Trang 27* Thể cấp tính
Thường xảy ra ở gà từ 14 – 40 ngày tuổi Gà có biểu hiện ủ rũ, lười vận động, hay nằm, lông xù, bỏ ăn, uống nhiều nước, thường tụ tập lại ở góc chuồng Lúc đầu mới bị bệnh gà ỉa khó, ỉa phân sống, sau đó chuyển sang ỉa phân loãng (vàng trắng hoặc vàng xanh) hoặc ỉa toàn nước Tiếp đến phân chuyển sang màu nâu có lẫn máu, nhiều con ỉa ra máu tươi hoàn toàn, hậu môn dính bết máu Một số gà có triệu chứng thần kinh hoặc bại liệt chân, cánh
Gà thường chết sau 6 – 7 ngày bị nhiễm bệnh, tỷ lệ chết từ 50% trở lên
Tỷ lệ chết có thể lên đến 90 – 95% ,thậm chí 100% nếu không can thiệp điều trị kịp thời
* Thể mạn tính
Thường gặp ở gà từ 45 – 90 ngày tuổi Triệu chứng giống như thể cấp tính nhưng mức độ biểu hiện nhẹ hơn, thời gian ốm kéo dài hơn, tỷ lệ chết khoảng từ 25 – 45%
* Thể mang trùng
Theo nhiều tác giả, thể mang trùng thường xảy ra ở những đàn gà lớn
đã trưởng thành Khi quan sát bề ngoài thì thấy gà hoàn toàn khỏe mạnh, ăn uống, đi lại bình thường Triệu chứng biểu hiện có thể quan sát thấy là đôi khi
gà bị ỉa chảy, tỷ lệ đẻ không đều, năng suất trứng giảm 15 – 25% Khi xét nghiệm phân gà thấy có nhiều noãn nang Cầu trùng
Trang 28Trường hợp dưới cấp tính hoặc mạn tính thì xác gà ướt, xung quanh lỗ huyệt dính bết đầy phân, gà chết rất gầy và thiếu máu.
Gà bị bệnh Cầu trùng dù ở thể cấp hay mạn tính thì các bệnh tích đặc trưng đều tập trung ở đường ruột Cần chú ý vị trí của các đoạn ruột và mức
độ tổn thương của niêm mạc các đoạn ruột đó khác nhau tùy theo từng loài Cầu trùng, tùy theo độ tuổi gà và mức độ nhiễm Cầu trùng ở gà
Bệnh tích chủ yếu có ở 3 vị trí là: Manh tràng, ruột non, trực tràng.+ Manh tràng: Viêm, xung huyết, xuất huyết, phình to, có chứa đầy phân và máu Niêm mạc bị phá hủy làm vách manh tràng mỏng đi nhiều
+ Ruột non: Nhìn từ bên ngoài có những đốm xuất huyết lấm tấm kéo dài, ruột non căng phồng chứa đầy chất không tiêu hóa được Niêm mạc có nhiều nốt xuất huyết và hoại tử, thành ruột dày, mỏng gồ ghề Khi bị kế phát bởi E.coli chùng O78 thì cả ruột non phình to, chứa nhiều hơi và phân lẫn máu
+ Trực tràng: Bị tổn thương từng điểm nhỏ, viêm, xuất huyết, nạo chất chứa cho lên phiến kính soi thì có thể thấy E brunetti
Dựa vào những triệu chứng, bệnh tích nêu trên, chúng ta có thể sơ bộ chẩn đoán nhanh được bệnh Cầu trùng và đưa ra hướng điều trị phù hợp và kịp thời
2.2.9 Các phương pháp chẩn đoán bệnh Cầu trùng gà
Muốn chẩn đoán chính xác bệnh Cầu trùng gà, cần kết hợp nhiều biện pháp chẩn đoán bao gổm: điều tra dịch tễ, chẩn đoán dựa vào quan sát triệu chứng lâm sàng, mổ khám kiểm tra bệnh tích và xét nghiệm phân tìm noãn nang Cầu trùng
Trang 29Xét nghiệm phân: Mục đích khẳng định bệnh và phân loại Cầu trùng
Có 3 phương pháp phổ biến: Xét nghiệm phân trực tiếp, Fulleborn, Darling
Để đánh giá cường độ nhiễm Cầu trùng, có thể dùng phương pháp định tính hoặc phương pháp định lượng sử dụng buồng đếm Mc Master
* Đối với gà đã chết
Chẩn đoán dựa vào quan sát các bệnh tích mổ khám kết hợp với phương pháp soi trực tiếp ( dùng phiến kính nạo nhẹ niêm mạc ruột non rồi đem soi kính để tìm noãn nang Cầu trùng)
Dựa vào các bệnh tích đặc trưng ở đương ruột, làm tiêu bản vi thể để xác định các tổn thương bệnh lý ở mức độ vi thể và phát hiện các noãn nang của Cầu trùng ở các giai đoạn phát triển trong cơ thể gà
2.2.10 Phòng và điều trị bệnh Cầu trùng
2.2.10.1 Phòng bệnh bằng các biện pháp vệ sinh thú y
Trên cơ sở những kiến thức về chu kỳ phát triển của Cầu trùng giống Eimeria, người ta đề ra phương pháp phòng bệnh bằng cách tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu vệ sinh thú y
Để phòng bệnh Cầu trùng, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng không nên nuôi gà con chung với gà lớn và gà đẻ trong cùng một chuồng nuôi hay một khu nuôi Cần nuôi gà con dễ cảm thụ bệnh ở những nơi mà trong một thời gian dài không nuôi gà lớn Thay độn chuồng thường xuyên, định kỳ phun thuốc sát trùng môi trường bên ngoài Chậu, máng ăn, máng uống không được nhiễm bẩn Nước uống phải đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh thú y Trước khi đưa
gà vào nuôi, chuồng trại và tất cả các dụng cụ phục vụ cho chăn nuôi phải được tiêu độc, khử trùng bằng việc quét dọn cơ học sạch sẽ, sau đó phun Crezin 5%, sau 1 tuần lại phun Formol 1,5%, sau 2 ngày quét vôi đặc
Mọi dụng cụ sau khi rửa sạch được ngâm trong Crezin 5% trong 2 – 5h, sau
đó phơi khô Chất độn chuồng phải phơi khô, phun Formol 1,5% rồi mới đưa vào chuồng Sau đó cả chuồng và dụng cụ đều được hun sấy bằng hỗn hợp
Trang 30thuốc tím – formol với tỷ lệ ngang nhau: 10m3 chuồng cần 10gram thuốc tím pha với 10ml formol 30 – 38%, có thể đổ thêm 10ml nước để giảm phản ứng, giữ khói thuốc tím lâu hơn trong chuồng để khử trùng tốt hơn và hiệu quả hơn Để trống chuồng 2 ngày mới đưa gà vào nuôi Trước cửa chuồng gà nên
có chậu thuốc khử trùng hoặc hố thuốc sát trùng
Tại chuồng và xung quanh chuồng nuôi phải có biện pháp tiêu diệt và hạn chế các vật môi giới có khả năng mang mầm bệnh Cầu trùng như chuột, chim bồ câu, chim sẻ,…
Cách ly triệt để gà bị bệnh Xác gà chết phải nhặt ngay ra khỏi chuồng,
Tất cả các loại vaccine dù được sản xuất ở nước nào cũng đều là hỗn hợp kháng nguyên của 3 chủng Cầu trùng: E tenella, E maxima, E necatrix Nói chính xác hơn, vaccine Cầu trùng là vaccine sống nhược độc gồm các nguyên bào tử của 3 chủng Cầu trùng ký sinh sâu trong lớp niêm mạc ruột Hiện nay, ngoài 3 chủng Cầu trùng nêu trên còn có thêm 1 – 2 chủng nữa
Phương pháp sử dụng vaccine là cho uống qua đường miệng lúc gà được 7 – 8 ngày tuổi và có thể lặp lại khi gà được 15 – 18 ngày tuổi
Việc dùng vaccine chế từ các chủng có độc tính ( Coccivac, Immococ)
dễ gây ô nhiễm cho cơ sở chăn nuôi và đưa vào những chủng có thể ở đó chưa
Trang 31có Còn vaccine thu được từ những chủng biến đổi đã làm giảm khả năng gây bệnh thì an toàn hơn nhưng công nghệ phức tạp hơn và giá thành cao.
Hiện nay các loại vaccine Cầu trùng do các nước sản xuất đang lưu hành tại nước ta đã có khá nhiều cơ sở chăn nuôi sử dụng Tuy nhiên việc sử dụng vaccine vẫn còn nhiều bất cập và kết quả chưa được như mong đợi Nhiều chủ chăn nuôi cho biết, sau khi sử dụng vaccine, gà rất mệt mỏi, ủ rũ, kém ăn và thậm chí chậm lớn hơn so với những đàn gà cùng lứa tuổi, nuôi cùng dãy chuồng và bệnh Cầu trùng nhiều khi vẫn xảy ra
Nhìn chung, vaccine Cầu trùng hiện nay còn rất nhiều tồn tại, chưa được sử dụng rộng rãi và chưa mang lại hiệu quả thiết thực trong chăn nuôi
2.2.10.3 Phòng và trị bệnh Cầu trùng bằng thuốc
Trong khi việc phòng bệnh bằng vaccine còn chưa hoàn thiện thì việc phòng, trị bệnh bằng thuốc vẫn giữ vị trí quan trọng và đem lại hiệu quả không nhỏ cho ngành chăn nuôi Cơ sở sinh học của biện pháp này là dùng thuốc ức chế các giai đoạn phát triển trong chu kỳ sinh học của Cầu trùng
Đã có nhiều công trình nghiên cứu thử nghiệm tác dụng của thuốc bằng nhiều phương pháp: Kiểm tra tác dụng invitro, kiểm tra qua gây bệnh thực nghiệm, thử nghiệm thuốc trong sản xuất đại trà,… Các tác giả đã đánh giá hiệu quả của thuốc qua theo dõi tỷ lệ gà nuôi sống, tăng trọng, biểu hiện bệnh tích hay đếm noãn nang thái ra phân… Qua đó khẳng định hiệu quả của các loại thuốc đối với các loại Cầu trùng khác nhau là không giống nhau
Để phòng và trị Cầu trùng, cho đến nay người ta đã khẳng định có 11 nhóm thuốc và hóa chất bao gồm hàng trăm loại nguyên liệu có khả năng ức chế và tiêu diệt căn nguyên Cầu trùng
* Nhóm Sulfamid
Nhóm này rất phổ biến và được sử dụng rộng rãi, bao gồm: Sulfathiazol, Sulfadimidin, Sulfadimethoxin, Sulfaquinoxalin, Sulfaguanidin, Sulfachlorpyrazin
Trang 32Nhóm này tác dụng theo cơ chế cạnh tranh hóa học Do Sulfamid có cấu tạo tương tự như PABA (Para amino benzoic acid) là một yếu tố sinh trưởng của Cầu trùng Khi thuốc được hấp thu vào cơ thể gà, nhóm Sulfamid
sẽ cạnh tranh và thế vào vị trí của PABA nên Cầu trùng không tổng hợp được acid Folic, Cầu trùng ngừng phát triển
* Nhóm Pyridin
Tiêu biểu cho nhóm này là Clopidol có tác dụng trị Cầu trùng rất hiệu quả Sự kháng thuốc xuất hiện chậm sau 6 năm, thường được phối hợp với Methylbenzoquat phòng bệnh Cầu trùng ở gia cầm và gà tây
Thuốc có cơ chế ngăn trở quá trình trao đổi năng lượng của Cầu trùng Thuốc tác động trực tiếp lên Cầu trùng bằng cách phong bế hệ thống enzyme
có nhóm – SH biến dưỡng glucose của Cầu trùng, làm cho Cầu trùng không thể phát triển được ở tất cả các giai đoạn Ngoài ra, thuốc còn kết hợp mạnh với hệ thống vận chuyển điện tử trong sự phân chia bào tử, do đó không có năng lượng cho quá trình phân chia điện tử
* Nhóm kháng sinh
Nhóm này gồm: Salinomycin, Monenzin, Chlortetracyclin, Tetracyclin, Semduramycin,… Trong đó hiệu quả tốt nhất là Salinomycin, Monenzin