1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu giáo dục tài chính cho giáo dục đại học

32 322 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 500,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số 5 năm 2008 T Chuyên đề về Tăng thuế hay tăng học phí, làm thế nào để đáp ứng tốt nhất nhu cầu tài chính của các trường, làm sao để giảm nhẹ gánh nặng nợ nần đang ngày càng tăng của s

Trang 1

NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC

sự

ài chính giáo dục đại học đang là một vấn đề nĩng Những chính sách chung quanh vấn đề tài chính cho giáo dục đại học một mặt phản ánh những quan niệm đang thay đổi trên thế giới ngày nay, mặt khác tác động một cách sâu sắc đến phương hướng phát triển của quốc gia, tác động đến từng gia đình, từng người Bản tin Tư liệu Tham khảo Giáo dục kỳ này xin giới thiệu một bài viết tổng quan về các

xu hướng chính trên thế giới trong vấn đề tài chính, và một bài viết về vấn đề tài chính của giáo dục đại học Việt Nam trên quan điểm đối chiếu với giáo dục đại học quốc tế

Số 5 năm 2008

T Chuyên đề về

Tăng thuế hay tăng học phí, làm thế nào để đáp ứng tốt nhất nhu cầu tài chính của các trường, làm sao để giảm nhẹ gánh nặng nợ nần đang ngày càng tăng của sinh viên… chỉ là một vài đề tài trong số những vấn đề nổi bật trong các cuộc tranh luận về giáo dục đại học ở tất cả các nước trên thế giới Những cuộc tranh luận này giờ đây diễn ra ở cả các nước cơng nghiệp hĩa phát triển lẫn các nước kém phát triển, dù cĩ thể với những trọng tâm khác nhau Trong các nước cơng nghiệp hĩa phát triển, vấn đề trọng tâm

TÀI CHÍNH CHO GIÁO DỤC ðẠI HỌC

XU HƯỚNG VÀ VẤN ðỀ

Arthur M Hauptman Arlington, Virginia, Hoa Kỳ

Trang 2

tiêu biểu là nâng cao chất lượng giảng

dạy và nghiên cứu trong các trường,

cũng như gia tăng cơ hội tiếp cận ñại

học cho những ñối tượng có hoàn cảnh

khó khăn trong xã hội ðối với những

nước kém phát triển- thu nhập ñầu

người thấp hơn hoặc bằng 3.000

USD/năm- vấn ñề thường tập trung vào

việc mở rộng giáo dục ñại học ñến chỗ

có khả năng ñáp ứng ñược nhu cầu của

mọi học sinh tốt nghiệp trung học

Bài này tập trung cụ thể vào một

trong những vấn ñề nổi bật nhất của tài

chính ñại học ở cả các nước phát triển

và kém phát triển khắp thế giới trong

thập kỷ vừa qua, ñược gọi là những bất

cập giữa sự tăng trưởng số lượng sinh

viên nhập học và khả năng của ngân

sách công cũng như tư trong việc ñáp

ứng nguồn tài chính cho sự tăng trưởng

ấy

Thật trớ trêu là trong lúc vấn ñề tài

chính ñang là chủ ñề tranh luận nóng

bỏng, thì số lượng những công trình

nghiên cứu khoa học về chủ ñề này lại

khá là khiêm tốn Những chủ ñề khác

như là duy trì chất lượng, bảo vệ tự do

học thuật, tăng cường quản lý có vẻ như

ñược nghiên cứu thường xuyên hơn

nhiều so với những vấn ñề về tài chính

trong những công trình nghiên cứu về

giáo dục ñại học Do vậy trong bài này

chúng tôi sẽ tổng hợp những hiểu biết

của mình về các vấn ñề và cơ cấu có thể

giúp xác ñịnh rõ cách thức mà các quốc

gia ñang cung cấp tài chính cho hệ

thống giáo dục ñại học của họ Bài này

bao gồm 5 chủ ñề chính: trước hết là

một số khái niệm kinh tế vĩ mô chủ yếu

và những ñiều cần lưu ý; hai là khảo sát

các nguồn tài chính công và tư của giáo

dục ñại học; ba là thảo luận về việc phát

triển những chương trình trợ giúp tài

chính cho sinh viên; bốn là xem xét tầm

quan trọng của việc nối kết giữa các chính sách tài chính khác nhau; và năm

là xác ñịnh những vấn ñề trọng yếu nhất hiện nay liên quan ñến sự bất cập giữa

sự phát triển của số lượng sinh viên và nguồn lực ñể ñáp ứng

Một số khái niệm kinh tế vĩ mô và những ñiều cần lưu ý

Một số khái niệm kinh tế vĩ mô sẽ giúp xác ñịnh rõ việc cung cấp tài chính cho hệ thống giáo dục ñại học của một quốc gia Chẳng hạn, các hệ thống có thể ñược ñịnh nghĩa theo mức ñộ hỗ trợ tổng thể của các nguồn lực nhà nước và

tư nhân ñối với giáo dục ñại học; theo

tỷ lệ ước lượng của hiệu quả ñầu tư vào giáo dục và giáo dục ñại học; theo mối quan hệ giữa mức ñộ tham gia và ñầu tư vào giáo dục ñại học

Mức ñộ hỗ trợ tổng thể

Mức ñộ tổng thể các nguồn lực dành cho giáo dục ñại học là nhân tố chủ yếu quyết ñịnh quy mô và chất lượng của toàn bộ sự nghiệp giáo dục Nói chung, càng có nhiều tiền cho giáo dục, càng

có thêm cơ hội tiếp cận cho nhiều người (vì có thêm chỗ học ñược tạo ra) Chất lượng cũng có khả năng sẽ tốt hơn khi

có nhiều nguồn lực hơn, vì sẽ có thêm nguồn tài chính ñể chi cho ñội ngũ, chi cho các dịch vụ và trang thiết bị

Nhưng so sánh giữa các nước về mức ñộ các nguồn lực ñầu tư cho giáo dục ñại học là một việc khó khăn vì nhiều lý do, ít nhất là vì quy ñịnh kế toán khác biệt khá nhiều giữa các nước Chẳng hạn, một vài nước như Hoa Kỳ tính luôn trong chi phí quốc gia dành cho giáo dục ñại học các khoản chi cho việc nghiên cứu thực hiện tại các trường, cũng như các khoản chi cho tiền

Trang 3

ăn ở của sinh viên và dịch vụ chăm sóc

sức khỏe cộng ñồng, nhưng phần lớn

các nước khác lại không tính những chi

phí ấy vào bản tổng hợp chi phí cho

giáo dục ñại học Một khả năng khác

gây phức tạp là nên dùng số liệu về số

tiền ñã ñược chi ra hay là tổng thu nhập

các cơ sở ñã nhận ñược Nhìn chung,

chúng ta quy ước là mức ñộ hỗ trợ có

khuynh hướng ñược tính theo số tiền ñã

ñược chi ra trong lúc tổng thu nhập của

các cơ sở ñược dùng nhiều hơn ñể xem

xét việc hệ thống ñã ñược hỗ trợ như

thế nào

Có nhiều cách ñể ño lường mức ñộ

hỗ trợ tổng thể về tài chính ñối với giáo

dục ñại học, mỗi cách ñều có những

ñiểm mạnh và ñiểm yếu Tuy nhiên,

thật là không có ích gì, và cũng không

thích hợp nếu chỉ ñặt câu hỏi một cách

ñơn giản là ñã có bao nhiêu tiền tổng

cộng ñược chi cho giáo dục ñại học, có

phần vì rất khó thu xếp ñồng tiền mà

không thiên kiến theo hướng này hay

hướng khác, nhưng ngay cả khi ñiều

này không thành vấn ñề, người ta vẫn

muốn ñặt tổng số tiền chi cho giáo dục

ñại học của một nước trong bối cảnh

kinh tế tổng thể của nước ñó

Một khó khăn khác trong việc khảo

sát về những cam kết tài chính cho giáo

dục ñại học là hầu hết các nước ñều có

báo cáo thống kê về chi ngân sách cho

giáo dục nhưng không thống kê cụ thể

bao nhiêu trong số ñó ñược dành cho

giáo dục ñại học, hoặc các nguồn lực tư

nhân ñã hỗ trợ bao nhiêu cho giáo dục

ñại học Bởi vậy một sự so sánh trên

phạm vi quốc tế về mức ñộ chi cho giáo

dục ñại học sẽ phải thực hiện qua hai

bước: trước hết là, chi ngân sách cho

giáo dục nói chung, sau ñó sẽ xác ñịnh

khoản chi cho giáo dục ñại học Về

tham số này, các nước có xu hướng chi

từ 2-5% tổng thu nhập quốc dân cho giáo dục, các nước ñang phát triển thì thường chi thấp hơn Về tỉ lệ chi cho giáo dục ñại học trên tổng chi cho giáo dục, con số trung bình là vào khoảng 15-20%, trong ñó các nước ñang phát triển chi ở tỷ lệ cao hơn (Báo cáo của Ngân hàng Thế giới, 2000)

Tuy nhiên, việc tiêu tiền nhiều hơn cho giáo dục ñại học trong tổng chi giáo dục có thể dẫn ñến những sai lạc, mặc

dù Ngân hàng Thế giới và các nhóm nghiên cứu khác có xu hướng dựa vào con số này ñể ñánh giá mức ñộ gắn bó của một quốc gia ñối với hệ thống giáo dục ñại học của mình Thật vậy, nhiều nhân tố bổ sung khác cần ñược xem xét, trong ñó có mối tương quan giữa mức chi cho giáo dục và việc tăng hay giảm con số ñó qua từng thời kỳ Một phương thức tốt hơn ñể ño lường những cam kết về tài chính là so sánh số tiền chi cho các trường và chi cho sinh viên với tổng sản lượng nội ñịa (GDP) của một nước Rất tiếc là nhiều nước không

có số liệu này, và có sự khác biệt khá lớn trong cách thu thập số liệu của từng nước, từ 0,1-0,2% GDP ở các nước kém phát triển ñến 2,5-3% GDP ở các nước phát triển trong ñó có Hoa Kỳ, New Zealand và Canada Nói chung, tỉ lệ trung bình của GDP dành cho giáo dục ñại học trên toàn thế giới là vào khoảng 1%

Một phương pháp thường ñược dùng

ñể so sánh mức ñộ cam kết về tài chính

là tổng số tiền chi trên mỗi ñầu sinh viên Cách tính toán này có thuận lợi là ñặt tổng số tiền chi cho giáo dục ñại học trong tương quan với số lượng sinh viên mà ngân sách ñang hỗ trợ Mặt khó khăn là cách tính này ñòi hỏi sự quy ñổi

tỉ giá Một lần nữa, chúng ta lại thấy sự khác nhau lớn lao giữa các nước, trong

Trang 4

lúc nhiều nước kém phát triển chi thấp

hơn 1.000 USD thì các nước phát triển

chi trung bình 10.000 USD mỗi sinh

viên (số liệu năm 2000), riêng Hoa Kỳ

chi gấp ñôi con số ñó! (OECD, 2003)

Một cách tiếp cận khác là kết hợp

hai cách tính trên ñây ñể xem xét số

tiền chi cho mỗi sinh viên so với tỉ lệ

GDP trên ñầu người Cách tính này

cung cấp một cái nhìn toàn cảnh có tính

ñến cả hai nhân tố số lượng sinh viên

nhập học và số tiền chi cho giáo dục ñại

học trong tương quan với tổng thể nền

kinh tế Tuy vậy, những con số tính

toán với tư cách là một con số tuyệt ñối

ñôi khi chẳng có nghĩa gì, dù có thể hữu

dụng chút ít cho những phép so sánh cơ

bản Như một công thức chung, tỉ lệ chi

ngân sách cho mỗi sinh viên so với

GDP tính trên ñầu người ñối với các

nước phát triển là dưới 50%, trong lúc ở

các nước ñang phát triển con số này là

từ 40-50% nhưng cũng có thể lên ñến

1.000 % (Số liệu của Ngân hàng Thế

giới năm 2000)

Tỉ lệ hoàn vốn

Các nguồn lực dành cho giáo dục

ñại học, tuy ñã ñược ño lường, cần

ñược gắn kết một cách chắc chắn với sự

ñánh giá chung của xã hội về hiệu quả

của nó Những quyết ñịnh của xã hội về

việc nên chi như thế nào cho giáo dục

ñại học là một quyết ñịnh có tính chất

ñầu tư cho tương lai dù có ñược tuyên

bố hiển ngôn hay không, và gắn với

việc ñánh giá những lợi ích mà giáo dục

mang lại cho xã hội Câu hỏi về việc

các nguồn lực xã hội nên ñược phân bổ

như thế nào cho giáo dục ñại học và cho

giáo dục nói chung có ý nghĩa tổng quát

hơn và có mối liên hệ cốt lõi với những

khái niệm kinh tế về tỉ lệ hoàn vốn

Các nhà kinh tế học có xu hướng tính toán lợi ích mà giáo dục hoặc các thứ hàng hóa dịch vụ khác tạo ra bằng cách tính tỉ lệ hoàn vốn- những lợi ích

về mặt kinh tế và xã hội ñược tạo ra trong một ñơn vị thời gian nhất ñịnh ñược tính tỉ lệ so với nguồn lực ñược tiêu thụ ñể tạo ra những lợi ích ñó ðiều rắc rối trong cách tính tỉ lệ hoàn vốn của giáo dục ñã ñược thảo luận nhiều một cách rất chi tiết Có thể nói rằng cả nhà nước và tư nhân ñều gặt hái lợi ích

từ thành quả của giáo dục Những lợi ích chung ñối với xã hội mà giáo dục mang lại có thể bao gồm việc có một lớp công dân có giáo dục hơn (một thứ giá trị rất khó ño ñạc, liên quan tới một khái niệm kinh tế là “những giá trị ngoại biên”) Lợi ích các cá nhân thu ñược ñối với giáo dục thì có thể ño lường dễ dàng hơn, bằng thu nhập tăng lên do ñược ñào tạo tốt hơn, dù rằng cũng khó mà tính ñược những giá trị ngoại biên khác như sự cải thiện chất lượng sống của những người ñược thụ hưởng giáo dục sau trung học Những người thu nhập cao sẽ ñóng thuế nhiều hơn, xã hội có nhiều công dân có giáo dục sẽ bớt phải chi phí cho nhà tù, cho chăm sóc sức khỏe, cho những vấn nạn

xã hội.v.v ñó cũng là những thứ có thể tính ñược dễ dàng như là lợi ích của giáo dục ñối với xã hội (Leslie & Brinkman,1988)

Mức ñộ các nguồn lực dành cho giáo dục ñại học sẽ liên quan chặt chẽ với sự ñánh giá của xã hội về những lợi ích mà giáo dục, cụ thể là giáo dục ñại học mang lại Có những nền văn hóa ñánh giá vai trò của giáo dục cao hơn nhiều

so với những nền văn hóa khác và ñiều này ñược phản ánh một cách tiêu biểu trong số tiền mà họ muốn ñầu tư cho giáo dục ðây là một vấn ñề nguyên tắc

mà các nhà kinh tế học cần quan tâm

Trang 5

khi thử ựánh giá hiệu quả của hệ thống

giáo dục trong việc cải thiện chất lượng

sống

Về tỉ lệ hoàn vốn của giáo dục ựại

học so với giáo dục cơ bản, ựánh giá

chung của các nhà kinh tế học dựa trên

nhiều năm phân tắch là tỉ lệ hoàn vốn

của giáo dục phổ thông vượt xa những

gì ựổ vào ựầu tư cho giáo dục ựại học

Kết quả là hầu hết các nước có xu

hướng ựầu tư cho giáo dục cơ bản thay

vì giáo dục ựại học, như chúng ta có thể

tắnh toán ựược bằng nhiều cách khác

nhau Quan ựiểm kinh tế này cũng giải

thắch tại sao những tổ chức quốc tế như

Ngân hàng Thế giới (WB) trong nhiều

năm qua ựã dành phần lớn nguồn lực

của họ cho việc phát triển giáo dục phổ

thông hơn là giáo dục ựại học, dù rằng

quan ựiểm này có thay ựổi chút ắt qua

thời gian, ắt ra là tại WB, và trong

những năm gần ựây họ ựã dành nhiều

nguồn lực hơn cho giáo dục ựại học

Mức ựộ ựầu tư và tham gia

Mức ựộ tham gia vào giáo dục ựại

học của một quốc gia, cũng như mức ựộ

cam kết về mặt tài chắnh, có thể ựược

tắnh toán bằng nhiều cách Một cách

thường ựược dùng là tỉ lệ học sinh trung

học ựược tiếp tục theo ựuổi việc học

sau khi tốt nghiệp phổ thông Những

nước có ắt hơn một phần năm học sinh

tốt nghiệp phổ thông ựược vào ựại học,

cao ựẳng hay trường nghề ựược coi là

những nước mà ựại học là hệ thống tinh

hoa; những nước có tới một nửa học

sinh tốt nghiệp phổ thông ựược học lên

nữa thì ựược coi là có một hệ thống

giáo dục ựại chúng, trong khi ựó những

nước có trên một nửa học sinh tốt

nghiệp phổ thông ựược tiếp tục học lên

ựang trở thành phổ biến trên toàn cầu

(Trow, 2005)

Một cách khác ựể ựo lường mức ựộ tham gia có lẽ phản ánh thực tế ắt chắnh xác hơn, nhưng dễ tắnh toán hơn nhiều,

là chia tổng số sinh viên ựang học cho tổng số dân của một quốc gia Trong những nước phát triển, tỉ lệ này là khoảng từ 3 ựến 5%, trong lúc ựó ở các nước kém phát triển con số này chỉ khoảng 1% hoặc ắt hơn (WB, 2000)

Một vấn ựề trọng yếu trong việc so sánh các hệ thống giáo dục ựại học trên phạm vi quốc tế là mức ựộ tương quan giữa ựầu tư và việc tham gia giáo dục ựại học đã có nhiều cuộc thảo luận về những cách ựể tắnh toán mức ựộ tham gia và mức cam kết tài chắnh So sánh những số liệu này có thể là một nội dung quan trọng trong các cuộc tranh luận về giáo dục ựại học ở nhiều nước Những cuộc tranh luận này nảy sinh trên cơ sở của câu hỏi liệu việc tiêu nhiều tiền hơn cho giáo dục ựại học có mối tương liên nào với việc gia tăng số lượng người ựi học hay không Một câu hỏi liên quan là mức thu học phắ thấp (do ngân sách ựã hỗ trợ phần lớn) liệu

có dẫn ựến số người ựi học cao hơn hay không Về câu hỏi sau, khó lòng thấy một mối tương liên rõ ràng Có những nước hoặc tiểu bang với học phắ thấp có

số người tham gia giáo dục ựại học cao, nhưng cũng không ắt trường hợp học phắ thấp và mức ựộ tham gia cũng thấp Trong một số trường hợp, chẳng hạn, ở nhiều nước châu Âu như Pháp và đức, học phắ thấp hoặc miễn học phắ là biểu hiện của một hệ thống giáo dục ựại học tinh hoa điều này hẳn không phải là trùng hợp Khi các nước cung cấp nguồn tài chắnh dồi dào ựể bao cấp cho giáo dục ựại học nhằm giữ mức học phắ thấp, nói chung họ chỉ có thể bảo ựảm chỗ ngồi cho một số ắt sinh viên trong phạm vi ngân sách tổng thể dành cho giáo dục

Trang 6

Nhìn chung mức ñộ cam kết tài

chính cao có tương quan với mức ñộ

tham gia việc học cao là ñiều có thật

Các nước tiêu nhiều tiền hơn cho giáo

dục ñại học có xu hướng có số người ñi

học cao hơn ðiều khó khái quát hóa

hơn là những cam kết tài chính này có

ñược do ñầu tư của tư nhân hay nhà

nước Trừ một vài ngoại lệ, mức ñộ

tham gia cao có mối tương liên với

những nước mà học phí và các nguồn

lực tư nhân chiếm một tỉ trọng lớn trong

tổng số tiền tài trợ cho giáo dục ñại học

ðiều này thường xảy ra ở những nước

hay tiểu bang mà các nguồn lực tư nhân

bổ sung thêm cho ngân sách nhà nước

một cách ñáng kể, tạo ra kết quả là có

nhiều nguồn lực hơn, ñến lượt nó lại tạo

ñiều kiện cho nhiều người có thể tham

gia giáo dục ñại học hơn Ngược lại,

như ñã ñề cập ở phần trên, những nước

có mức học phí thấp và ñầu tư ngân

sách thấp sẽ có khuynh hướng có mức

ñộ ñi học thấp hơn

Sự hỗ trợ của nhà nước và tư nhân

ñối với các trường

Hệ thống giáo dục ñại học ở khắp

nơi trên thế giới phụ thuộc vào sự kết

hợp giữa các nguồn lực nhà nước và tư

nhân nhằm cung cấp tài chính cho hoạt

ñộng của các trường Có một sự khác

biệt rất lớn giữa các nước trong tỉ trọng

giữa các nguồn lực nhà nước và tư nhân

mà các trường nhận ñược Ở nhiều

nước, nguồn tài chính chủ yếu của các

trường là do nhà nước cung cấp, dưới

hình thức hỗ trợ của chính phủ; học phí

và các nguồn hỗ trợ tư nhân khác thì

không ñáng kể hoặc không hề có Ở ñầu

bên kia của dải quang phổ ñầy màu sắc

là những nước như Hoa Kỳ, nơi các

nguồn lực tư nhân tạo nên một nửa hay

hơn thế nữa tổng số các nguồn lực dành

cho giáo dục ñại học

Những nguồn lực hỗ trợ từ nhà nước

Ở hầu hết các nước, những nguồn lực hỗ trợ của nhà nước là những nguồn lực lớn nhất của các trường Phương thức phân phối những nguồn tài chính này và những dấu hiệu mà các nguồn tài chính này ñưa ra cho các viên chức

ở các cơ quan là những yếu tố cốt lõi ñể xác ñịnh cơ cấu tài chính của một quốc gia Một số vấn ñề có thể giúp chúng ta hình dung sự hỗ trợ của nhà nước ñối với giáo dục ñại học là:

- Các hoạt ñộng nghiên cứu, các chi phí hoạt ñộng thường xuyên, các nguồn vốn ñược cung cấp tài chính như thế nào

- Những vấn ñề quản lý tài chính trong ñó có việc ai chịu trách nhiệm phân bổ tài chính

- Phương thức giao trách nhiệm

- Nhiều nước tài trợ cho nghiên cứu cùng với giảng dạy bằng cách cấp một khoản trọn gói cho các trường Lý do căn bản của cách làm này là khó mà chia cắt việc nghiên cứu ra khỏi chức năng giảng dạy và do ñó nên cung cấp tài chính cho hai việc ñó cùng với nhau Tuy vậy, cách làm này có một trở ngại

là các quan chức nhà nước ñã từ bỏ

Trang 7

quyền ñược quyết ñịnh các trường nên

nghiên cứu những ñề tài gì thay vì ñáng

lẽ họ phải coi ñây là một vấn ñề của

hoạch ñịnh chính sách Một số ít quốc

gia cung cấp tài chính cho việc nghiên

cứu riêng nhìn chung cũng có những

kinh nghiệm quý báu trong việc này

- Ngay cả khi những nghiên cứu

thực hiện ở các trường ñược cung cấp

tài chính riêng tách khỏi nguồn tài

chính cho giảng dạy, vẫn có câu hỏi về

việc nên cung cấp tài chính theo từng

dự án, thường là qua thủ tục ñẳng duyệt

(peer review)1, hoặc là nguồn tài chính

nên ñược giao về cho các trường dựa

trên một số tiêu chí nhất ñịnh Hệ thống

tài chính của Anh là một ví dụ về việc

cung cấp tài chính cho nghiên cứu dựa

trên ñánh giá chất lượng tổng thể và

khả năng nghiên cứu của từng trường

Hệ thống liên bang Hoa Kỳ là một ví dụ

về cơ chế ñẳng duyệt theo từng dự án

Trái lại, việc cung cấp tài chính cho

nghiên cứu ở cấp tiểu bang thì lại ñược

thực hiện cùng với tài chính cho giảng

dạy và các hoạt ñộng khác

- Một vấn ñề khác nữa là có nên

dùng nguồn thu từ học phí, ñể chi trả

cho việc nghiên cứu và các hoạt ñộng

liên quan hay không, kể cả chi gián tiếp

cho ñào tạo sau ñại học, như thường

thấy ở Mỹ, khi các nghiên cứu sinh vẫn

ñược miễn học phí và ñược nhận một

khoản sinh hoạt phí ñược trả bằng

nguồn thu học phí của sinh viên bậc ñại

học

- Ở một số nước, ngày càng nhiều

các dự án nghiên cứu do các trường

thực hiện ñang ñược các công ty tư

nhân cung cấp tài chính nhằm ñược

1

Thuật ngữ “peer review” có người dịch là bình duyệt

“Bình” có thể bị hiểu nhầm thành ra “bình luận” thay vì

phải hiểu “ngang hàng, cùng cấp” cho nên chúng tôi

tạm dịch là “ñẳng duyệt” (“ñẳng”: bằng nhau)

chia sẻ lợi ích từ những khám phá trong nghiên cứu cơ bản cũng như trong nghiên cứu ứng dụng ðiều này có thuận lợi là làm tăng nguồn lực tài chính cho việc nghiên cứu của các trường, làm giảm mức ñộ dựa cậy vào nguồn ngân sách nhà nước, nhưng nó làm nảy sinh những câu hỏi về mặt ñạo ñức về quyền của các tổ chức tư nhân trong việc xác lập những ưu tiên trong nghiên cứu

Các khoản chi cho hoạt ñộng thường xuyên ñược cung cấp như thế nào?

Một vấn ñề tài chính trọng yếu ở tất

cả các nước là ngân sách nhà nước phân

bổ tài chính cho các cơ quan dựa trên những cơ sở nào Quan sát thực tiễn ở các nước qua nhiều thời kỳ, có thể thấy

sự tiến triển của các chính sách tài chính:

Phân bổ có tính chất lịch sử/chính trị Hầu hết các nước bắt ñầu bằng việc cung cấp tài chính cho các cơ quan, ñơn

vị dựa trên cơ sở lịch sử hoặc chính trị Tổng số tiền một ñơn vị nhận ñược từ ngân sách ñược căn cứ phần nhiều vào chỗ năm ngoái họ ñã ñược nhận bao nhiêu, hoặc bạn bè của họ trong chính phủ có sức mạnh quyền lực cỡ nào Cách cấp phát tài chính này có xu hướng “linh hoạt” hơn những cách làm khác, và cơ bản là dựa trên chi phí cho ñội ngũ nhân sự cũng như “nhu cầu” về

cơ sở hạ tầng của các cơ quan

Cung cấp tài chính dựa trên các công thức Bước kế tiếp trong quá trình tiến hóa là chuyển từ việc phân bổ tài chính dựa trên lịch sử hay chính trị sang

sử dụng những công thức, thường là dựa trên số lượng sinh viên và chi phí tính trên ñầu sinh viên Bằng cách chuyển sang dựa trên số lượng sinh

Trang 8

viên nhập học, cách dùng công thức này

tiêu biểu cho một sự dịch chuyển từ

phân bổ theo kiểu “linh hoạt” sang phân

bổ theo hướng căn cứ vào sinh viên, dù

rằng việc sử dụng cách tính chi phí trên

ñầu sinh viên cũng vẫn phải duy trì mối

liên hệ với ñầu vào

Cung cấp tài chính theo ñịnh hướng

của các chính sách Bước tiếp theo nữa

là áp dụng cách phân bổ tài chính theo

công thức như một cách ñể ñưa các

tham tố về mặt chủ trương, chính sách

vào quá trình phân bổ tài chính Một ví

dụ của cách phân bổ tài chính theo

chính sách là số tiền cho mỗi ñầu sinh

viên ở một số ngành học nào ñó ñược

quy ñịnh cao hơn mức thông thường

bởi vì nhân lực ngành ñó ñang thiếu

Một ví dụ khác là khi các nước dùng

mức chi có tính chất quy chuẩn trên ñầu

sinh viên ñể xác ñịnh ngân sách cần

phải cấp cho các trường thay vì cách

làm truyền thống dựa trên chi phí thực

sự trên ñầu sinh viên Thêm một ví dụ

khác khi các nước cung cấp nguồn tài

chính cho giáo dục ñại học căn cứ vào

sự khác nhau giữa các trường về khả

năng lôi cuốn những nhóm sinh viên

nhất ñịnh phù hợp với mục tiêu chiến

lược của quốc gia, chẳng hạn như công

thức chi cho nhóm sinh viên có hoàn

cảnh kinh tế khó khăn nhiều hơn những

nhóm khác Khái niệm cấp phát ngân

sách theo chủ trương chính sách cũng

có thể ñược nhắc tới như là cung cấp tài

chính dựa trên mức ñộ xác ñáng hay

quan yếu của các vấn ñề

Hệ thống do Hội ñồng Tài chính

Giáo dục ðại học Quốc gia của Anh lập

ra nhằm cung cấp nguồn tài chính cho

việc giảng dạy là một ví dụ hoàn hảo

của việc cung cấp tài chính theo ñịnh

hướng chủ trương, chính sách Hệ

thống này trả cho các trường nhiều tiền

hơn ñối với những sinh viên thuộc những lĩnh vực nghiên cứu ưu tiên, dùng mức chi quy chuẩn ñể tính mức ngân sách phải cấp, và nâng lên mức cao hơn cho những sinh viên sống tại vùng sâu vùng xa nơi có nhiều gia ñình thu nhập thấp

Phân bổ tài chính dựa trên hoạt ñộng Bước ñi gần ñây nhất trong quá trình tiến triển của việc phân bổ ngân sách cho giáo dục ñại học là những công thức cấp phát dựa trên cả sự công nhận ñầu ra chứ không chỉ dựa trên ñầu vào Một ví dụ của cách làm này là nguồn tài chính sẽ ñược cấp trọn gói hoặc từng phần dựa trên số sinh viên tốt nghiệp, hoặc số sinh viên hoàn tất ñược một năm học, thay vì dựa trên số lượng sinh viên ñược nhận vào học tại trường Trong hơn một thập kỷ, Vương quốc Anh ñã thực hiện cách cấp phát dựa trên số sinh viên hoàn tất ñược một năm học, và ñã thu ñược những kết quả rất tốt (Hauptman, 2004) ðan Mạch còn ñi

xa hơn khi ñặt phần lớn nguồn tài chính cấp cho các trường dựa trên số sinh viên tốt nghiệp

Ở Hoa Kỳ, sự chuyển ñổi sang cấp phát ngân sách dựa trên hoạt ñộng ít bị

áp lực gay gắt và có tính chất hỗn hợp hơn Các tiểu bang là những ñơn vị nhà nước có trách nhiệm cấp phát kinh phí cho các trường ở Hoa Kỳ, nhưng khoảng một phần tư các tiểu bang ñã chuyển sang cấp phát theo hoạt ñộng, nhưng ñó chỉ là một phần nhỏ của tổng

số ngân sách dành cho giáo dục ñại học

và nói chung là không thông qua những công thức công thức phân bổ tài chính

cơ bản

Phân bổ ngân sách vô ñiều kiện và

có tính chất cạnh tranh Ngoài việc dùng những công thức phân bổ tài

Trang 9

chắnh, nhiều quốc gia thực hiện một

phần hỗ trợ của nhà nước dưới hình

thức các quỹ có tắnh chất vô ựiều kiện

và ựược cấp phát qua cạnh tranh

Những hỗ trợ vô ựiều kiện ựiển hình là

các khoản tài trợ ựể ựáp ứng những ựề

xuất của các trường hoặc cá nhân các

giảng viên, thường nhằm mục ựắch

khuyến khắch nâng cao chất lượng hoặc

cải tiến hoạt ựộng Những chương trình

vô ựiều kiện này là một hình thức cấp

phát kinh phắ có tắnh chất truyền thống

ở nhiều nước trước khi có các công

thức phân bổ Các quỹ cạnh tranh là

một xu hướng gần ựây hơn nhiều, khi

các nước bắt ựầu khuyến khắch việc

nâng cao chất lượng, kể cả ựổi mới và

nâng cấp trang thiết bị, những mục

không mấy thắch hợp với các công thức

phân bổ tài chắnh

Hoa Kỳ là một trong những nước

ựầu tiên áp dụng các quỹ cạnh tranh từ

năm 1972 với việc sáng lập Quỹ Nâng

cao Chất lượng Giáo dục Trung học

Khoảng một thập kỷ trở lại ựây, nhiều

nước phát triển và ựang phát triển cũng

ựã lập ra những quỹ cạnh tranh nhằm

nâng cao chất lượng giảng dạy, cải cách

và quản lý Ngân hàng Thế giới (WB)

là một lực lựơng chủ chốt trong việc

xúc tiến ựẩy mạnh các quỹ cạnh tranh ở

các nước ựang phát triển, ựặc biệt là ở

Nam Mỹ (Argentina, Bolivia và Chile)

và đông Âu (Bulgaria và Hungary) Lý

do căn bản khiến WB ựẩy mạnh các

quỹ này là vì phương thức hoạt ựộng

của nó cho phép một mức ựộ linh hoạt

cao hơn nhiều trong việc ựáp ứng nhu

cầu của những mục tiêu ựang ựược

nhắm ựến, so với những công thức cấp

phát tài chắnh truyền thống hay những

chương trình cung cấp tài chắnh vô ựiều

kiện nhằm giúp một số loại trường nào

ựó

Việc nâng cấp cơ sở hạ tầng, trang thiết

bị ựược cung cấp tài chắnh như thế nào?

Cải thiện nguồn vốn, hay là nâng cấp cơ sở hạ tầng, trang thiết bị trong giáo dục ựại học, cụ thể hơn là việc xây sửa cơ sở vật chất hay trang bị mới các thứ thiết bị hiện ựại có xu hướng ựược cung cấp tài chắnh theo nhiều cách Một

số nước chi trả cho loại chi phắ này với cùng một cơ chế cấp phát tài chắnh cho giảng dạy, hoạt ựộng, và các dự án nghiên cứu khả dĩ Nhưng trong nhiều trường hợp khác, chi phắ về cơ sở vật chất thường ựược trả thông qua các nguồn lực tư nhân, qua phát hành trái phiếu mà việc hoàn trả dựa trên nguồn thu từ các khoản ủng hộ liên quan, hoặc qua quyên góp và hiến tặng ở những nước mà tư nhân là một nguồn lực tài chắnh quan trọng Khoản chi cho trang

bị cũng có thể dựa trên học phắ, như một nguồn tài chắnh chủ yếu cho cơ sở vật chất Nhìn chung, tốt hơn là các chi phắ về cơ sở vật chất, hạ tầng, trang thiết bị không nên ựược cấp phát tài chắnh với cùng một cơ chế như chi giảng dạy và chi thường xuyên, vì việc chi trả cho những nhu cầu ngắn hạn có thể hạn chế chi trả cho những nhu cầu dài hạn và phù hợp với quy chế về nâng cấp cơ sở

Những vấn ựề về quản lý tài chắnh

Cách thức quản lý ngân sách cũng giúp làm rõ ựặc ựiểm hệ thống tài chắnh của một quốc gia, trong ựó có:

- Mức ngân sách tổng thể cấp cho từng cơ quan, ựơn vị ựược xác ựịnh như thế nào Một số tổ chức sẽ chịu trách nhiệm về việc xác ựịnh cần dành cho giáo dục ựại học một ngân sách là bao nhiêu trong số những thứ mà ngân quỹ

Trang 10

nhà nước có chức năng chi trả Những

thể do chắnh phủ tạo ra Như một quy

tắc chung, quyết ựịnh cần chi bao nhiêu

cho giáo dục ựại học là thuộc về các

quan chức chắnh trị chứ không phải

thuộc về những người do các tổ chức

chắnh trị bổ nhiệm

- Ngân sách ựược phân bổ về cho

các trường như thế nào? Quyết ựịnh về

việc phân bổ ngân sách cho các trường

có thể do nhà nước trung ương quyết

ựịnh, hoặc do Bộ Giáo dục, hoặc một tổ

chức trung gian ựể giúp cho việc

thương lượng giữa nhà cầm quyền và

các viên chức lãnh ựạo các trường Trái

với vấn ựề nên dành bao nhiêu tiền

trong ngân sách nhà nước cho giáo dục

ựại học, những quyết ựịnh về việc nên

phân bổ ngân sách về cho từng trường

như thế nào cần ựược cách ly với quá

trình chắnh trị đây là giá trị chủ yếu

của các tổ chức trung gian ựược tạo ra

ựể thực hiện các quyết ựịnh về phân bổ

quyền hạn của các viên chức các trường

trong việc sử dụng nguồn ngân sách

Các nước khác nhau khá nhiều trong

vấn ựề này, từ chỗ các trường bị nhà

nước kiểm soát chi li ựến toàn quyền

quyết ựịnh trong việc sử dụng ngân

sách cấp cho trường Vấn ựề quyền tự

chủ cần gắn chặt với vấn ựề trách

nhiệm; quyền chủ ựộng trong sử dụng

ngân sách chỉ ựược coi là thắch ựáng

khi có những cơ chế bảo ựảm rằng việc

sử dụng ấy là thắch hợp Mặt khác, nếu chưa có ựầy ựủ những tiêu chuẩn cụ thể

về trách nhiệm, sự chủ ựộng ấy sẽ gây

ra nhiều nguy hiểm thực sự

Phương thức quy trách nhiệm Vấn

ựề giải trình trách nhiệm là một vấn ựề trọng yếu trong việc sử dụng ngân sách nhà nước cho giáo dục ựại học, dù rằng nhiều khi bị chú mục xem xét quá nhiều trong những nỗ lực sử dụng hết ngân sách nhanh chóng Như một quy tắc cơ bản, ở nhiều nước người ta nói quá nhiều về tắnh trách nhiệm trong giáo dục ựại học mà thực tế làm thì ắt ựể bảo ựảm cho ngân sách ựược sử dụng một cách có hiệu lực và mang lại hiệu quả tốt nhất để cân nhắc vấn ựề này trong bối cảnh của nó, có thể xem xét bốn loại trách nhiệm sau ựây:

1- Kiểm toán và kiểm tra ựịnh lượng đây là loại giải trình trách nhiệm cơ bản nhất, bảo ựảm ngân sách ựược chi theo ựúng mục ựắch dự ựịnh

Nó cũng ựược nhắc tới như là kiểu giải trình trách nhiệm Ộbảo vệ sau lưng bạnỢ Nó cũng là kiểu quy trách nhiệm nổi trội hiện nay ở hầu hết các nước

2- đánh giá hoạt ựộng thường kỳ Những lời kêu gọi gia tăng trách nhiệm khoảng một thập kỷ gần ựây ở khắp nơi trên thế giới ựã ựưa ựến kết quả là các chắnh phủ có nhiều nỗ lực ựánh giá hoạt ựộng của các trường theo nhiều cách, trong ựó có tỉ lệ tốt nghiệp, tỉ lệ nợ vay sinh viên, tỉ lệ thành công của giảng viên, và những thứ tương tự đôi khi, những tỉ lệ này ựược kết hợp trong sự sắp xếp nguồn tài chắnh, hoặc như một

sự khắch lệ với các trường, hoặc thường thấy hơn là như một sự trừng phạt nếu các trường không ựạt những tiêu chuẩn nào ựó

Trang 11

3- Cung cấp tài chính theo hoạt

ñộng ðặt việc cung cấp tài chính trên

cơ sở các hoạt ñộng là loại giải trình

trách nhiệm thứ ba Nó không ñược sử

dụng thường xuyên cho lắm, nhưng

theo ý kiến của tác giả bài này, nên

ñược dùng nhiều hơn Như ñã thảo luận

ở phần trên, loại giải trình trách nhiệm

ít tính chất truyền thống này kế thừa

việc chi trả cho các trường trên cơ sở

những gì họ ñạt ñược, hơn là bao nhiêu

sinh viên họ tiếp nhận hoặc ñơn giá ñào

tạo mỗi ñầu sinh viên là bao nhiêu Cấp

phát tài chính dựa trên hoạt ñộng cũng

có thể kế thừa việc trợ giúp tài chính

cho sinh viên dựa trên việc học tập hay

tốt nghiệp của họ thay vì dựa trên việc

họ ñược nhận vào học (như cách làm

truyền thống hiện nay)

4- Chiến lược dựa vào thị trường

Xây dựng những chính sách nhằm tái

tạo những ñiều kiện kiểu thị trường tiêu

biểu cho loại giải trình trách nhiệm thứ

tư, dù nó không phải là một ý tưởng

hợp thời thông thường Nhưng làm cho

các trường lệ thuộc nhiều hơn vào áp

lực của thị trường là cách ñể giới lãnh

ñạo các trường có tinh thần trách nhiệm

nhiều hơn và bị ràng buộc trách nhiệm

hơn ñối với các quyết ñịnh của họ Áp

lực thị trường có vai trò ông chủ hình

thành các ràng buộc trách nhiệm ñối với

các trường tư nhưng thường không ñặc

trưng cho những áp lực mà các trường

công phải chịu Cuộc tranh luận về việc

có nên chuyển sang cơ chế dựa trên thị

trường nhiều hơn hay không ñã diễn ra

ở nhiều quốc gia và rất ñáng ñược cân

nhắc liệu chuyển sang hướng ấy có giúp

tăng thêm trách nhiệm hay không ðiều

này cần ñược cân bằng với những hậu

quả tiêu cực khi giáo dục ñại học trở

thành phụ thuộc vào thị trường một

cách quá ñáng Lịch sử của các cuộc

tranh luận về việc quy trách nhiệm ở

hầu hết các nước tập trung vào sự tiến hóa từ những nỗ lực kiểm toán và quản

lý sang xây dựng những chuẩn mực hoạt ñộng thường xuyên, mà những chuẩn mực này ñôi khi ñược dùng ñể xác ñịnh một phần ngân sách ñược cấp Chỉ một số quốc gia ñi xa hơn trong việc sử dụng những ñịnh mức thường xuyên ñể xem xét ngân sách thực sự ñược cấp, trực tiếp dựa trên những sản phẩm mà các trường tạo ra Một số nước thì ñã hoặc ñang chuyển sang cơ chế dựa trên thị trường nhiều hơn, thường là như một cách ñể giáo dục ñại học giảm bớt sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước Khi xác ñịnh ñây là hướng mà các nước nên theo – cung cấp ngân sách theo kết quả hoạt ñộng

và dựa theo nhu cầu thị trường- cũng cần nói rằng cần có thêm các cơ chế bảo vệ ñể tránh hoặc hạn chế những hậu quả tiêu cực

Những chính sách dựa trên các quy ñịnh về thuế Một hình thức khác ñể hỗ trợ giáo dục ñại học của nhà nước- ngày càng phổ biến ở các nước- là dùng chính sách thuế ñể hỗ trợ các trường Những chính sách dựa trên các quy ñịnh về thuế bao gồm miễn thuế ñối với các khoản ñóng góp có tính chất từ thiện cho nhà trường, các khích lệ miễn giảm hoặc ưu ñãi thuế ñối với các công

ty hoặc tổ chức thực hiện các dự án nghiên cứu trong phạm vi trường ñại học, cũng như ñối với các hoạt ñộng có tầm quan trọng ñối với ñịa phương hoặc ñối với quốc gia do trường ñại học thực hiện

Chính phủ liên bang Hoa kỳ ñã nhiều năm nay cho phép các cá nhân ñược giảm thuế ñối với những gì họ hiến tặng cho những tổ chức phi lợi nhuận như nhà thờ, bệnh viện, và

Trang 12

trường ñại học Chính sách miễn thuế

này là nhân tố trọng yếu khiến các

khoản thu từ những hiến tặng từ thiện

trở thành một nguồn thu quan trọng của

các trường ñại học Mỹ Rất ít quốc gia

có một chính sách thuế ñặc biệt có lợi

cho các trường ñại học như vậy Hoa

Kỳ cũng ñi ñầu trong mấy thập kỷ gần

ñây về việc tạo những ưu ñãi về thuế

cho các tổ chức vì lợi nhuận (chẳng hạn

các công ty) ñối với các khoản chi phí

hoặc ñầu tư mà họ ñổ vào các trường

ñại học, nhất là ñối với các dự án

nghiên cứu ñược tổ chức thực hiện tại

các trường ñại học Một ñiểm hạn chế

của cách làm này là những nước dựa

phần nhiều vào thuế thu nhập ñể chi trả

cho các dịch vụ công, như Hoa Kỳ

chẳng hạn, sẽ giảm sút tiềm năng ñối

với việc cung cấp tài chính cho giáo

dục ñại học và những tổ chức phi lợi

nhuận khác Tương tự như vậy, các

trường ñại học ở nhiều nước sẽ nhận

ñược những lợi ích từ thuế nếu họ

không phải chịu thuế giá trị gia tăng và

thuế bán hàng do cương vị phi lợi

nhuận của họ

Những nguồn tài chính tư nhân

Các trường ñại học ở khắp nơi trên

thế giới phụ thuộc vào nhiều nguồn tài

chính tư nhân khác nhau ñể trang trải

các hoạt ñộng và nâng cao chất lượng

cơ sở vật chất, hạ tầng Những nguồn

tài chính này gồm có: học phí, quà tặng

dưới nhiều hình thức của các tổ chức từ

thiện, thu từ các hoạt ñộng dịch vụ,

thương mại hóa các nghiên cứu do

trường tổ chức thực hiện và hỗ trợ các

doanh nghiệp tư nhân

Học phí Học phí ở hầu hết các nước

tiêu biểu cho nguồn thu từ tư nhân lớn

nhất của giáo dục ñại học Nó cũng tiêu

biểu cho ñiểm gặp nhau gần như trực

tiếp giữa những lực lượng cung và cầu trong cán cân tài chính Xét về nguồn cung, học phí và hỗ trợ của ngân sách nhà nước ñối với các trường là hai nguồn chính trang trải cho hoạt ñộng của các trường công ðối với các trường tư, phi lợi nhuận, học phí là nguồn thu chính, cùng với quỹ hiến tặng, tài trợ, các khoản thu từ dịch vụ khác là các nguồn bổ sung Ở các trường vì lợi nhuận, học phí là nguồn thu cơ bản Cho nên, học phí ở tất cả các loại trường ñều có thể dùng ñể xác ñịnh quy mô của trường thông qua số chỗ ngồi mà trường ấy có khả năng cung cấp Với trường công, học phí thường là một nguồn tài chính nhỏ hơn

so với trường tư, vì ở hầu hết các nước,

hỗ trợ của nhà nước ñối với giáo dục ñại học còn vượt xa những nguồn thu phát sinh trong các trường tư

Về mặt nhu cầu, học phí là thành phần chủ yếu của tổng chi phí cho việc tham dự chương trình học- cái giá mà sinh viên và gia ñình họ phải trả cho giáo dục ñại học, cùng với chi phí về nơi ở, ăn uống và các chi phí sinh hoạt khác ñể có thể theo ñuổi việc học Trong những chi phí kể trên thì học phí chiếm khoản lớn nhất, do vậy cũng là ñòi hỏi có tính chất quyết ñịnh ñối với sinh viên Một yếu tố quyết ñịnh khác

là số tiền nhà nước trợ giúp cho sinh viên, vì nó làm giảm nhẹ gánh nặng học phí mà họ phải trả do ñó ảnh hưởng tích cực tới khả năng của họ trong việc ñáp ứng nhu cầu

Có những vấn ñề có thể giúp xác ñịnh cấu trúc học phí ở một nước, trong

ñó có:

Ai xây dựng mức học phí? ðối với các trường tư, không có vấn ñề ai ñặt ra mức học phí- ñương nhiên ñó là lãnh

Trang 13

ñạo nhà trường- dù ở một số nước,

chính phủ có các quy ñịnh hướng dẫn

hoặc thậm chí can thiệp cụ thể vào quá

trình xây dựng mức học phí ở các

trường tư phi lợi nhuận Ở Philippines

chẳng hạn, nơi có tỉ lệ sinh viên theo

học trường tư cao nhất thế giới, các

viên chức chính phủ duyệt xét mức học

phí của các trường tư như một bộ phận

trong quy chế hoạt ñộng của trường

ðối với các trường công, có khá

nhiều dạng thức ña dạng trong việc xây

dựng mức học phí Trong một số trường

hợp, các quan chức lãnh ñạo trường

công có trách nhiệm quy ñịnh mức học

phí nhưng thường với sự duyệt xét của

các viên chức chính phủ Hầu hết là do

các viên chức chính phủ chịu trách

nhiệm về việc xây dựng mức học phí

cho các trường công

- Tỉ lệ phần trăm của chi phí trên

ñầu sinh viên

- Mức học phí mà các trường cùng

loại, cùng cấp hiện ñang thu

- Những chỉ số kinh tế tổng quát,

chẳng hạn như GDP trên ñầu người

hoặc thu nhập bình quân của dân trong

vùng

ðối với một số lớn các nước xác

ñịnh mức học phí như một phần trong

chi phí ñào tạo cho mỗi ñầu sinh viên,

khoản phí này ñược xem xét cơ bản như

một phương tiện trang trải cho hoạt

ñộng ñào tạo của nhà trường và ñược

coi như khoản thu nhằm bù ñắp chi phí,

một thuật ngữ rất thường ñược dùng

trong vốn từ vựng quốc tế Nhiều dự án

của Ngân hàng Thế giới ñã ñề xuất xây dựng hoặc mở rộng mức học phí như một cách ñể bù ñắp chi phí tốt hơn Trái lại ở Hoa Kỳ khi học phí ñược quy ñịnh dựa trên mức thu của các trường tương

tự ở các tiểu bang khác, thì ñó là một khái niệm có tính chất dựa trên thị trường hơn nhiều Khi xác ñịnh mức học phí dựa trên những chỉ số của nền kinh tế tổng thể, hay dựa trên khả năng chi trả- như tỉ lệ GDP trên ñầu người, hay thu nhập trung bình của các gia ñình, hay tiền lương trung bình của người lao ñộng, học phí thành ra một khái niệm về khả năng chi trả dựa trên sinh viên

Mức thu học phí.Có một sự khác nhau rất lớn trên thế giới về mức thu học phí giữa các trường công và tư Ở hầu hết các nước, trường công không thu học phí, hoặc thu học phí ở mức rất thấp- 10% hoặc ít hơn chi phí thường xuyên trên ñầu sinh viên Nhưng ở nhiều nước khác, con số này có thể là 20% hoặc hơn, như một cách ñể bù ñắp chi phí và gia tăng nguồn lực tổng thể tốt hơn

Cũng có một sự khác biệt rất ñáng

kể trên thế giới về học phí của các trường tư Những thay ñổi về học phí ở các trường tư có xu hướng gắn với những thay ñổi của ñiều kiện thị trường, như sự cạnh tranh với trường công, xu thế của các nguồn thu khác từ tư nhân như các quỹ hiến tặng hay quyên góp,

và sự gia tăng chi phí trong thực tế khi các trường tăng thêm những trợ giúp tài chính cho sinh viên Học phí ở các trường tư thường vượt xa con số 50% chi phí thường xuyên cho mỗi sinh viên, nhiều trường thu ñủ bù chi (nhất

là những trường tư vì lợi nhuận) Ở những nước như Philipines hay ở Bờ Tây và Gaza- nơi hầu hết các trường là

Trang 14

trường tư- học phắ là nguồn thu chủ yếu

của các trường

Ai ựược giữ lại và sử dụng học

phắ?Có hai phương thức chắnh: Các

trường có thể giữ lại học phắ hoặc gửi

ựến cơ quan hữu trách của chắnh phủ và

số tiền ựó sẽ quay lại trường như một

phần của ngân sách ựược cấp Về nhiều

mặt, giữ lại và sử dụng học phắ thì dễ

hơn nhiều so với xây dựng mức học

phắ, vì những lý do sau: khi học phắ

ựược ựặt ra cao vượt quá chi phắ ựào

tạo, việc giữ lại học phắ là một ựộng lực

ựể nhà trường thu nhận thêm sinh viên

Trái lại, ngay cả khi học phắ tương ựối

cao, nếu nhà nước giữ lại khoản thu này

nhà trường sẽ có ắt ựộng lực nhận thêm

sinh viên vì họ không thấy rõ trực tiếp

nguồn thu ựược tạo ra thêm nhờ học phắ

cao

Kiểu cơ cấu học phắ Cũng như

trường hợp mức thu học phắ và việc giữ

lại học phắ, có rất nhiều kiểu cơ cấu học

phắ khác nhau một cách ựáng kể trên

thế giới Bốn loại ựiển hình là:

Ớ Học phắ truyền thống: Cơ cấu

học phắ áp dụng ở hầu hết các nước là

các trường tự thu học phắ trực tiếp do

sinh viên và gia ựình của họ ựóng Mức

phắ có thể giống nhau ựối với mọi sinh

viên, và cũng có thể khác nhau tùy theo

ngành học hoặc bậc học (vắ dụ: bậc cao

học ựóng tiền nhiều hơn bậc ựại học)

Nhưng ựặc ựiểm chung ở ựây là lãnh

ựạo nhà trường quyết ựịnh mức thu,

cũng như tổ chức thu, giữ lại và sử

dụng học phắ cho hoạt ựộng của nhà

trường

Ớ Học phắ do nhà nước cấp: Ở một

số nước, chắnh phủ thay mặt sinh viên

thanh toán học phắ và thu lại số tiền này

từ sinh viên qua hệ thống thuế sau khi

họ tốt nghiệp và có việc làm Australia

là một vắ dụ của cách làm này, áp dụng

từ thập kỷ 80 như một cách ựể bù ựắp chi phắ mà không tạo áp lực học phắ với sinh viên khi họ bắt ựầu vào học Nhiều nước khác nhìn vào mô hình này như một phương cách tài chắnh khả thi và ựã xuất hiện trường hợp Anh Quốc ựang

có kế hoạch chuyển sang phương thức này trong một vài năm tới

Ớ Học phắ song song: Một phương thức khác mà phần lớn sinh viên có thể chỉ phải trả một mức tương ựối thấp là nhà nước bao cấp một phần ựối với những sinh viên không ựủ tiêu chuẩn ựể ựược miễn học phắ Học phắ song song

là cách các trường dùng ựể có thêm nguồn thu; họ giữ lại các khoản thu này trong khi nhà nước quản lý nguồn thu học phắ của những sinh viên trong chỉ tiêu ngân sách cấp cho trường Cơ chế này thường ựược áp dụng ở các nước đông Âu

Ớ Cấu trúc học phắ kiểu hai bậc: Gần ựây có xu hướng phát triển loại cấu trúc học phắ hai bậc, nghĩa là phần lớn sinh viên sẽ trả học phắ theo mức ựã ựược nhà nước bao cấp phần lớn, một

số chỗ ngồi khác sẽ ựược trả học phắ theo mức thị trường điều này ựã ựược thực hiện ở Hoa Kỳ từ lâu, những sinh viên sinh trưởng tại tiểu bang cấp ngân sách cho trường ựược hưởng mức học phắ bao cấp, trong lúc những sinh viên ựến từ bang khác sẽ phải trả mức học phắ cao hơn- trong thực tế mức này bằng với chi phắ ựào tạo Ở hầu hết các nước cũng như vậy, sinh viên nước ngoài phải trả học phắ cao hơn sinh viên bản xứ Một vắ dụ của cơ cấu này là ở Australia, khi học phắ của hầu hết sinh viên là do nhà nước chi trả trong khi tất

cả sinh viên nước ngoài ựều phải trả mức học phắ cao hơn và trả trước mỗi

Trang 15

năm học Trong mấy năm gần ñây

Australia ñã mở rộng cấu trúc học phí

hai bậc này bằng cách thu học phí theo

mức thị trường với tất cả sinh viên

trong một số ngành không ñược nhà

nước bao cấp

Những nguồn hỗ trợ tư nhân khác

Trong lúc học phí là nguồn lực tư nhân

chủ yếu hỗ trợ cho các trường ñại học,

vẫn có một số nguồn lực tư nhân khác

ngày càng chi phối nhiều trường ðể

bắt ñầu, có thể nói ở Hoa Kỳ và những

nước mà các trường tư ñang ñào tạo

một tỉ lệ sinh viên khá lớn, các quỹ từ

thiện theo truyền thống là một nguồn tài

chính quan trọng của giáo dục ñại học

Các khoản này thường ñến dưới hình

thức quà tặng cho trường và sau ñó

thành một phần quan trọng của quỹ

hiến tặng (một thứ quỹ vốn dự trữ

chung thường ñược ñem ñi ñầu tư và

tạo ra nguồn thu ñể sử dụng cho nhiều

mục ñích khác nhau) Một trong các

khoản chi chính yếu ñược trang trải

bằng nguồn tài chính từ thiện này là các

khoản chi không thường xuyên trong ñó

có xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất,

trang bị mới các thiết bị hiện ñại, cung

cấp tài chính thường trực cho các vị trí

cán bộ khoa học chủ chốt Trong mấy

thập kỷ gần ñây quà tặng ủng hộ

thường nhằm vào việc ñáp ứng những

nhu cầu cụ thể chẳng hạn như mở rộng

quỹ học bổng ðồng thời những cuộc

huy ñộng vốn quy mô lớn ñã trở thành

phổ biến hơn nhiều ở Hoa Kỳ cũng như

những nước mà các trường tư ñang tìm

cách mở rộng quy mô quỹ hiến tặng của

mình

Trong những thập kỷ qua, nhiều

trường công ở Hoa Kỳ nhất là những

trường lớn và danh tiếng ñã cạnh tranh

với sự thành công của những trường tư

tương tự như họ trong các hoạt ñộng

gây quỹ bằng cách sáng lập ñủ loại quỹ (nhằm né luật ở nhiều tiểu bang không cho phép các ñơn vị nhà nước có hoạt ñộng gây quỹ) và bắt ñầu huy ñộng vốn cho họ Trường công ở những nước khác cũng gia tăng hoạt ñộng gây quỹ bằng những nỗ lực tăng nguồn lực tư nhân như một cách làm giảm mức bao cấp của ngân sách ñối với giáo dục ñại học

Các dịch vụ bổ sung, chăm sóc sức khỏe và các hoạt ñộng giao khoán.Các trường ñại học ở nhiều nơi trên thế giới quản lý nhiều dịch vụ bổ sung tạo ra một nguồn thu ñáng kể chẳng hạn như

ký túc xá sinh viên, căn-tin, nhà sách,

và các hoạt ñộng khác liên quan tới ñời sống sinh viên Một số trường ñại học Hoa Kỳ (cũng như ở vài nước khác) làm chủ hoặc ñiều hành cả những bệnh viện tạo ra một nguồn thu ñáng kể (và gây ra những vấn ñề về chi phí và quản

lý cũng ñau ñầu không kém) Những nguồn thu ñáng kể khác từ tư nhân còn

có thể là những dự án hợp tác nghiên cứu do nhà trường tổ chức thực hiện và những sáng kiến ñại loại như vậy Ở Hoa Kỳ và nhiều nước khác, dựa vào tài chính tư nhân là một xu hướng ngày càng phát triển trong những thập kỷ gần ñây, vì các trường ñang tìm cách làm giảm sự phụ thuộc vào nhà nước và học phí trong việc duy trì và mở rộng tầm hoạt ñộng của mình

Những chiến lược hỗ trợ sinh viên và gia ñình họ

Trong nhiều thập kỷ qua, những chiến lược giúp ñỡ sinh viên và gia ñình

họ trang trải chi phí của giáo dục ñại học ñã trở thành một bộ phận ngày càng quan trọng hơn trong việc cung cấp nguồn tài chính cho sự nghiệp giáo dục ñại học trên toàn thế giới Những chiến

Trang 16

lược này gồm có các khoản hỗ trợ của

nhà nước, của bản thân nhà trường,

hoặc của các cá nhân và tổ chức khác,

như sẽ ñược thảo luận sau ñây

Hỗ trợ Tài chính Sinh viên do Nhà

nước cấp

Khoản này có thể ñược cấp dưới

nhiều hình thức như:

khoản tài trợ hoặc học bổng dựa trên

nhu cầu tài chính của sinh viên hoặc gia

ñình họ; cũng như học bổng sinh viên

giỏi hay học bổng nghiên cứu sinh, là

những khoản dựa trên tiêu chuẩn thành

tích hơn là dựa trên nhu cầu

nhiều loại tín dụng sinh viên (nhiều

người không coi ñó là một hình thức hỗ

trợ vì ñây là các khoản vay phải trả)

sinh viên trang trải cho chi phí sinh hoạt

như những công việc thực tập hay dịch

vụ mà sinh viên có thể ñược trả tiền

công lao ñộng thấp hơn giá thị trường

(cũng như trên, nhiều người không coi

ñây là hình thức trợ giúp của nhà nước,

vì nó có tính chất bồi hoàn công lao

ñộng nhiều hơn)

số nước, cụ thể là Hoa Kỳ, bao gồm các

khoản tín dụng và giảm thuế cho các

khoản tiền ñể dành ñược dùng cho giáo

dục ñại học

Những vấn ñề chung trong các nỗ lực

của nhà nước nhằm trợ giúp sinh viên

Gần như ở mọi quốc gia, các

khoản trợ giúp sinh viên của nhà nước

ñều chỉ chiếm một phần nhỏ dễ nhận

thấy trong tất cả những hỗ trợ mà nhà

nước dành cho giáo dục ñại học Trong

hầu hết các trường hợp, ngân sách nhà nước cấp cho khoản trợ giúp sinh viên chỉ chiếm không ñầy một phần năm những khoản chi trực tiếp của nhà nước cho giáo dục ñại học Các cuộc tranh luận quanh chủ ñề những chính sách trợ giúp này nên dựa trên sinh viên hay là dựa trên nhà trường thường tập trung vào vấn ñề liệu có cần dành nhiều ngân sách cho trợ giúp sinh viên hơn cùng với việc giảm trực tiếp hỗ trợ cho các trường hay không

Sự pha trộn của tài trợ, cho vay, và thù lao thực tập

Một câu hỏi cơ bản của các nhà hoạch ñịnh chính sách về việc xác ñịnh vai trò của nhà nước trong việc giúp ñỡ sinh viên và gia ñình họ trang trải chi phí theo học ñại học là sự pha trộn giữa các nguồn trợ giúp có hoàn lại, không hoàn lại, thu nhập của sinh viên từ những cơ hội việc làm liên quan với quá trình học, một sự pha trộn có thể thay ñổi khá nhiều qua thời gian Trong khi người ta có khuynh hướng nghĩ rằng trợ giúp tài chính là một phạm trù khác, thực tế là những chương trình trợ giúp tài chính ở nhiều nước ñều kết hợp giữa tài trợ, tín dụng, và cung cấp cơ hội việc làm bán thời gian theo nhiều cách khác nhau Một số nước công nghiệp hóa có những chương trình trong ñó tài trợ biến thành khoản cho vay hoặc khoản cho vay sẽ biến thành tài trợ nếu sinh viên ñáp ứng ñược những ñiều kiện nhất ñịnh

Một cách khác ñể kết hợp các kiểu tài trợ là vấn ñề cho vay và việc làm Khái niệm tự giúp mình ñã ñược bước ñầu áp dụng tại Hoa Kỳ ñặt cơ sở trên ý tưởng sinh viên có thể lựa chọn giữa vay nợ hoặc làm việc ñể tự giúp mình trước khi ñược nhận các khoản hỗ trợ

Ngày đăng: 18/05/2015, 22:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hỡnh  thức,  nhưng  cựng  chung  một  ủặc - Nghiên cứu giáo dục tài chính cho giáo dục đại học
nh thức, nhưng cựng chung một ủặc (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w