LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Xoá đói giảm nghèo XĐGN là một trong những chính sách xã hội cơ bản của Quốc gia, những năm qua, Tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện bằng Chương trình Xoá đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
***
NGUYỄN ĐĂNG MINH XUÂN
GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH NÂNG CAO HIỆU
QUẢ CÔNG TÁC XOÁ ĐÓI GIẢM
NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
MÃ NGÀNH: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS PHAN MỸ HẠNH
TP.HCM, năm 2009
Trang 2Đề tài luận văn: Giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả công tác xoá
đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Long An
Những điểm mới hoặc kết quả đạt được khi nghiên cứu đề tài luận văn
Qua nghiên cứu luận văn, có một số điểm mới và kết quả đạt được như sau:
- Đề tài đã nghiên cứu một cách có hệ thống lý luận về nghèo đói và xoá đói giảm nghèo dưới góc độ tài chính Phân tích một cách có hệ thống kết quả thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Long An dưới góc độ tài chính Qua đó, đề xuất những giải pháp về tài chính nhằm nâng cao hiệu quả công tác xoá đói giảm nghèo trên địa bàn Tỉnh trong thời gian tới
- Qua nghiên cứu, Luận văn đã có một số khuyến cáo với tỉnh Long
An trong việc chỉ đạo thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh trong thời gian tới
- Đề tài cũng đã có những đề xuất với Trung ương để nâng cao hiệu quả công tác xoá đói giảm nghèo
- Đề tài được Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ đánh giá là có tính thời sự; viết công phu, nghiêm túc; giải pháp toàn diện và khả thi
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Chương I: TỔNG QUAN VỀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ CHIẾN
LƯỢC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA VIỆT NAM
1.1 NGHÈO VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO.
1.1.1 Khái niệm đói, nghèo ….……… 3
1.1.2 Ý nghĩa công tác xoá đói giảm nghèo……… 4
1.1.3 Giải pháp tài chính để thực hiện công tác XĐGN……… 5
1.2 CHỦ TRƯƠNG CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ XOÁ ĐÓI GIẢM
NGHÈO GIAI ĐOẠN 1998 – 2010
1.2.1 Phương pháp tiếp cận chuẩn nghèo đói của Việt Nam…… 5
1.2.2 Thực trạng đói nghèo của Việt Nam vào giai đoạn
1998-2000……… 6
1.2.3 Nguyên nhân nghèo đói và Chủ trương của Nhà nước
Việt Nam về xoá đói, giảm nghèo giai đoạn 1998 - 2010… ……… 8
1.2.4 Một số giải pháp chính để thực hiện chiến lược XĐGN… 14
1.3 KINH NGHIỆM VỀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA TRUNG
QUỐC:
1.3.1 Kinh nghiệm công cuộc xoá đói, giảm nghèo ở Trung
Quốc……… 17
1.3.2 Chính sách tài chính đối với công cuộc xoá đói giảm
nghèo ở Trung Quốc: ……… 20
1.4 KINH NGHIỆM CUNG CẤP TÍN DỤNG CHO HỘ NGHÈO CỦA
1.5 SO SÁNH CHIẾN LƯỢC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO GIỮA VIỆT
NAM VÀ TRUNG QUỐC
Trang 41.5.1 Điểm khác nhau ……… 24
1.5.2 Điểm giống nhau……… 24
1.5.3 Ưu điểm ……… 24
1.5.4 Hạn chế ……… 25
Kết luận chương I 26 Chương II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN (GIAI ĐOẠN 1998 – 2008) 2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH LONG AN TỪ NĂM 1998 ĐẾN 2008: 2.1.1 Vị trí địa lý:……… ……… 28
2.1.2 Tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội:……… 29
2.2 HIỆN TRẠNG VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ NGUYÊN NHÂN ĐÓI NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN NĂM 1998 2.2.1 Hiện trạng đói nghèo năm 1998:…… ……… 30
2.2.2 Một số đặc điểm và nguyên nhân về đói nghèo trên địa bàn tỉnh………….……… 31
2.3 TÌNH HÌNH TỔ CHỨC THỰC HIỆN XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN GIAI ĐOẠN 1998 – 2008 2.3.1 Khái quát các giai đoạn thực hiện chủ trương xoá đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh……… ……… 36
2.3.2 Tổ chức thực hiện xoá đói giảm nghèo (giai đoạn 1998 - 2000) … ……… 37
2.3.3 Thực hiện chương trình XĐGN-GQVL (giai đoạn 2001- 2005)… ……… 41
2.3.4 Chương trình Xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm của Tỉnh giai đoạn 2006 – 2010……… ………… 46
2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO GIAI ĐOẠN (1998 – 2008) 2.4.1 Một số thành tựu nổi bật ……… 50
Trang 52.4.2 Một số tồn tại - hạn chế……… ……… 52
2.4.3 Bài học kinh nghiệm.……… ……… 55
Kết luận chương II 57 Chương III: GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN 3.1 MỘT SỐ THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN TRONG THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO TRONG THỜI GIAN TỚI: 3.1.1 Thuận lợi:……… 59
3.1.2 Khó khăn:……… ……… 60
3.2 CƠ SỞ, QUAN ĐIỂM ĐỂ RA NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO: 3.2.1 Những cơ sở đề ra những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xoá đói giảm nghèo……… 61
3.2.2 Các quan điểm đề ra giải pháp:……… 63
3.3 GIẢI PHÁP TÀI CHÍNH NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN 3.3.1 Giải pháp về tài chính………….……… 64
3.3.2 Các giải pháp bổ trợ khác……… ….……… 70
3.4 MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ ĐỐI VỚI TỈNH:……… 76
3.5 KIẾN NGHỊ VỚI TRUNG ƯƠNG……… 77
Kết luận chương III 78 KẾT LUẬN……… ……… 79
Phụ lục
Tài liệu tham khảo
Trang 6DANH MỤC PHỤ LỤC
Bảng 1: Chi tiêu cho đời sống bình quân đầu người một tháng theo
giá thực tế phân theo thành thị, nông thôn và phân theo vùng 1
Bảng 2: Tỷ lệ nghèo phân theo khu vực cả nước 2
Bảng 3: Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá thực tế
phân theo thành thị, nông thôn và phân theo vùng 3
Bảng 4: Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu giai đoạn 2000 –
Bảng 5: Chỉ tiêu tăng trưởng - giảm nghèo (giai đoạn 1998-2008) 5
Bảng 7: Năng lực đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn
Bảng 8: Tình hình đời sống người dân trong vùng giải phóng mặt
Ảnh 1: Cụm dân cư Tà Nu – xã Hưng Điền A - huyện Vĩnh Hưng,
Ảnh 2: Lễ trao tặng nhà “Đại đoàn kết” tại Huyện Mộc Hoá –
Ảnh 3: Đêm vận động “Nối Vòng Tay Nhân Ái” 10
Kết quả điều tra hộ nghèo tỉnh Long An năm 1997 11-24
Chương trình Giải quyết việc làm – Xoá đói giảm nghèo (giai đoạn
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Growth Strategy Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo
Tổng sản phẩm nội địa
5 ODA Official Development Assistace
Hỗ trợ phát triển chính thức
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Biểu 1.1: Quy mô và tỷ lệ nghèo đói phân theo thành thị và
nông thôn năm 2000
8
2 Biểu 1.2: Quy mô nghèo đói phân theo vùng năm 2000 8
3 Biểu: 2.3 Bản đồ hành chính tỉnh Long An 28
4 Biểu 2.4: Tỷ trọng hộ nghèo sống ở nông thôn tỉnh Long
6 Biểu 2.6 Tỷ trọng số hộ và số hộ nghèo của nhóm huyện
nghèo nhất so với các huyện còn lại 32
7 Biểu 2.7: Hiện trạng nguyên nhân chính tác động đến
nghèo đói của các hộ gia đình năm 1998
33
8 Biểu 2.8: Ngành nghề chính của các hộ nghèo năm 1998 33
9 Bảng 2.9 Hiện trạng nghèo tỉnh Long An năm 1998 34
10 Bảng 2.10 Kết quả tổ chức thực hiện XĐGN giai đoạn
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Xoá đói giảm nghèo (XĐGN) là một trong những chính sách xã hội cơ bản của Quốc gia, những năm qua, Tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện bằng Chương trình Xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm (XĐGN-GQVL) về cơ bản đáp ứng kịp thời những đòi hỏi bức xúc đặt ra từ thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân hiện vẫn còn một bộ phận nhân dân đang sống trong tình trạng khó khăn, không có, hoặc thiếu việc làm, có mức thu nhập thấp, trong đó không ít gia đình đã và đang rơi vào cảnh nghèo khổ
Vì vậy, XĐGN là một yêu cầu, nhiệm vụ cấp bách đặt ra cho Tỉnh; đó không chỉ là vấn đề xã hội mang tính nhân đạo mà còn là mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Long An là tỉnh thuộc Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam, có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện nhiệm vụ XĐGN, tuy nhiên thời gian qua kết quả thực hiện XĐGN còn nhiều mặt hạn chế, nhất là trên lĩnh vực tài chính (huy động vốn, đầu tư, hỗ trợ vùng nghèo, người nghèo…) Để tìm ra nguyên nhân của những hạn chế trên và đề ra giải pháp khắc phục trong thời gian tới tôi đã chọn đề tài:
“Giải pháp tài chính nâng cao hiệu quả công tác xoá đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Long An”
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
Đề tài được nghiên cứu nhằm tìm ra những thành tựu, cũng như những hạn chế trong việc thực hiện Chương trình XĐGN-GQVL trên địa bàn tỉnh thời gian qua, nhất là trên lĩnh vực tài chính (huy động vốn, đầu tư công, thực hiện các chính sách hỗ trợ…), từ đó đưa ra các giải pháp, khuyến nghị với Tỉnh có
sự điều chỉnh trong chỉ đạo thực hiện công tác XĐGN trong thời gian tới, nhằm nâng cao hiệu quả công tác XĐGN, góp phần ổn định xã hội, phát triển kinh tế
- xã hội một cách bền vững
Trang 103 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Đề tài được thiết kế nghiên cứu theo các bước sau:
- Chủ trương về XĐGN của Cả Nước Kinh nghiệm XĐGN của Trung Quốc
- Phân tích – đánh giá thực trạng thực hiện Chương trình XĐGN-GQVL của tỉnh Long An trong giai đoạn 1998 – 2008 Đề xuất những giải pháp trong thời gian tới
- Kết luận và kiến nghị
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu là: Chương trình XĐGN-GQVL trên địa bàn tỉnh Long An trong giai đoạn 1998 – 2008
5 Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá một cách có hệ thống việc triển khai thực hiện chương trình XĐGN-GQVL của tỉnh trong thời gian qua để tìm ra những hạn chế - yếu kém cần khắc phục
- Đề xuất các giải pháp, khuyến nghị để thực hiện có hiệu quả hơn chương trình XĐGN-GQVL trong thời gian tới, góp phần ổn định xã hội, phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững
- Tài liệu tham khảo cho lãnh đạo Tỉnh Long An để đề ra các cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
6 KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Ngoài mở đầu và kết luận, Đề tài được kết cấu thành 3 chương, bao gồm:
Chương 1: Tổng quan về xoá đói giảm nghèo và chiến lược xoá đói
giảm nghèo của Chính phủ Việt Nam
Chương 2: Thực trạng công tác xoá đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh
Long An (giai đoạn 1998 – 2008)
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xoá đói giảm
nghèo trên địa bản tỉnh Long An
Trang 11Chương I: TỔNG QUAN VỀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
VÀ CHIẾN LƯỢC XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA VIỆT NAM
1.1 NGHÈO VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
1.1.1 Khái niệm đói nghèo:
- Nghèo: Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư thiếu ăn nhưng không đứt bữa; mặc thì không lành và không đủ ấm; ở nhà rách nát và không
có đủ khả năng sản xuất
Một cách hiểu khác: Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo Nhưng ngưỡng quy định còn tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng địa phương, từng thời kỳ tức là tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và của cả quốc gia
Tóm lại: “nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và
thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế – xã hội và phong tục tập quán của địa phương”. Theo khái niệm này, không có chuẩn nghèo chung cho mọi quốc gia, chuẩn nghèo cao hay thấp phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi nước và thay đổi theo thời gian, không gian
- Đói: Đói là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống cực thấp, dưới mức tối thiểu của nhu cầu: cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, thậm chí không có nhà ở, không đủ hàm lượng Calo cung cấp cho hàng ngày (2.100 Kcal/người/ngày)
- Xã nghèo (đối với Việt Nam): Xã nghèo là xã có một trong những đặc trưng sau: Tỷ lệ hộ nghèo của xã chiếm trên 40% tổng số hộ trong xã; không
có, hoặc rất yếu các cơ sở hạ tầng về đường giao thông; điện thấp sáng, trường học, trạm y tế, nước sinh hoạt, chợ
- Nghèo theo chuẩn Quốc tế: Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhangen, Đan Mạch tháng 3-1995 đã đưa ra khái
Trang 12niệm về nghèo cụ thể hơn như sau: "Người nghèo là tất cả những ai mà thu
nhập thấp hơn 1 USD/mỗi ngày cho một người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” (1)
1.1.2 Ý nghĩa công tác xoá đói giảm nghèo
Đói nghèo là vấn đề xã hội bức xúc và nóng bỏng của các quốc gia trên thế giới, nhất là đối với các nước nghèo và các nước đang phát triển Đói nghèo gây hậu quả nghiêm trọng đến phát triển quốc gia, phát triển giống nòi và ổn định chính trị, xã hội Người nghèo khó có các điều kiện để tiếp cận hoặc tiếp cận ở mức thấp các thành tựu về kinh tế - xã hội (từ những nhu cầu thiết yếu cuộc sống như lương thực thực phẩm, nhà ở, quần áo…; đến các điều kiện học hành, văn hoá, giải trí, y tế, đi lại, thông tin liên lạc…) Từ đó cuộc sống rất khó khăn, khó có cơ hội để phát triển Nhiều người nghèo không chỉ làm cho quốc gia nghèo mà còn là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội, cản trở sự phát triển đi lên của đất nước; một số trường hợp gây mất ổn định chính trị
Do đó, XĐGN có ý nghĩa rất quan trọng Đối với bản thân người nghèo, thoát nghèo là điều kiện để tiếp cận, thụ hưởng được các thành tựu kinh tế - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để vươn lên và phát triển Đối với quốc gia, giải quyết tốt công tác XĐGN góp phần để quốc gia ổn định và phát triển
1.1.3 Giải pháp tài chính để thực hiện công tác XĐGN:
Các giải pháp tài chính thường được áp dụng để thực hiện công tác XĐGN là:
- Huy động các nguồn vốn chăm lo công tác XĐGN (vốn Nhà nước, vốn các thành phần kinh tế, vốn trong dân…)
- Đầu tư có mục tiêu, nhất là đầu tư cơ sở hạ tầng vùng nghèo, vùng khó khăn để người nghèo có điều kiện thuận lợi vươn lên thoát nghèo
Trang 13- Phát triển các ngành, lĩnh vực; sử dụng chính sách tín dụng, thuế thu hút các doanh nghiệp đến đầu tư tại các vùng nghèo để người nghèo có việc làm, tăng thu nhập và thoát nghèo
- Thực hiện các chính sách tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, đào tạo nghề, giải quyết việc làm để người nghèo vươn lên thoát nghèo
- Thực hiện các chính sách hỗ trợ trực tiếp về giáo dục, y tế, nhà ở…; thực hiện các chính sách trợ cấp xã hội…
1.2 CHỦ TRƯƠNG CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO GIAI ĐOẠN 1998 - 2010:
1.2.1: Phương pháp tiếp cận chuẩn nghèo đói của Việt Nam:
- Theo chuẩn quốc tế: Phương pháp xác định đường đói nghèo của Việt Nam thực hiện theo chuẩn quốc tế do Tổng cục Thống kê, Ngân hàng thế giới xác định và được thực hiện trong các cuộc khảo sát mức sống dân cư ở Việt Nam (năm 1992-1993 và năm 1997-1998); có hai đường đói nghèo:
+ Đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm (chuẩn nghèo thấp): được
xác định theo chuẩn mà hầu hết các nước đang phát triển cũng như Tổ chức Y
tế Thế giới và các cơ quan khác đã xây dựng mức Kcal tối thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng con người, là chuẩn về nhu cầu 2.100 Kcal/người/ngày Những
người có mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết (thường được xác định bằng trị
giá của một rổ hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu bảo đảm khẩu phần ăn duy trì với nhiệt lượng tiêu dùng một người một ngày là 2.100kcal) gọi là nghèo về lương thực, thực phẩm
+ Đường đói nghèo chung tính thêm các chi phí cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm (gồm nhà ở, quần áo, đồ dùng gia đình, học tập, văn
hóa, giải trí, y tế, đi lại, thông tin liên lạc, v.v ) Tính cả chi phí này với đường
đói nghèo về lương thực, thực phẩm ta có đường đói nghèo chung
- Chuẩn nghèo áp dụng trong các Chương trình xoá đói giảm nghèo:
Dựa vào chuẩn nghèo đói của Việt Nam theo chuẩn quốc tế; căn cứ vào tình
Trang 14hình thực tế của cả nước; Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Việt Nam tiến hành khảo sát và đưa ra chuẩn nghèo đói để áp dụng chung (chuẩn nghèo được xác định là chuẩn nghèo chung) Qua từng giai đoạn, căn cứ vào tình hình thực
tế của cả Nước (mức sống, giá cả hàng hoá, tình hình phát triển kinh tế - xã hội…) và các phương pháp xác định chuẩn đói nghèo nêu trên, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Việt Nam tiến hành khảo sát và điều chỉnh chuẩn nghèo đói cho phù hợp Theo đó chuẩn nghèo được xác định qua các năm như sau:
+ Năm 1997 (áp dụng cho thời kỳ 1996-2000): Hộ nghèo là hộ có thu nhập tuỳ theo từng vùng ở các mức tương ứng như sau: Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 55 ngàn đồng/người/tháng; vùng nông thôn đồng bằng trung
du dưới 70 ngàn đồng/người/tháng; vùng thành thị dưới 90 ngàn đồng/người/tháng
+ Năm 2001 (áp dụng giai đoạn 2001–2005): Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 80 nghìn đồng/người/tháng; các vùng đồng bằng nông thôn: dưới
100 nghìn đồng/người/tháng; khu vực thành thị: dưới 150 nghìn đồng/người/tháng
+ Năm 2006 (áp dụng giai đoạn 2006 – 2010): 200.000 đồng/người/ tháng đối với khu vực nông thôn và 260.000 đồng/ người/tháng đối với khu vực thành thị(2)
1.2.2 Thực trạng đói nghèo của Việt Nam vào giai đoạn 1998 - 2000
- Việt Nam đước xếp vào nhóm các nước nghèo nhất trên thế giới; theo đánh giá của Chương trình phát triển liên hợp quốc (UNDP), năm 1995 chỉ số phát triển con người (HDI) Việt Nam xếp ở nhóm trung bình (122/174 nước xếp hạng)3; tuy nhiên GDP bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương đạt thấp (xếp thứ 134/174 nước xếp hạng)
Trang 15- Tỷ lệ nghèo đói của Việt Nam khá cao, đến cuối năm 1997 cả nước còn khoảng 2,7 triệu hộ đói nghèo, chiếm 17,4% tổng số hộ của cả nước (tính theo chuẩn quốc tế cả nước còn 37,4% hộ đói nghèo) Trong đó, số hộ đói kinh niên khoảng 300.000 hộ chiếm 2,0% tổng số hộ, chiếm 11,1% số hộ nghèo Cả nước còn 1.489 xã có tỷ lệ hộ đói, nghèo chiếm trên 40%; 1.160 xã thiếu 6 công trình
cơ sở hạ tầng thiết yếu (đường ôtô, điện thắp sáng đến trung tâm xã, trường học cấp I, trạm xá, nước sạch sinh hoạt, chợ); 1,1 triệu người ở 745 xã thuộc diện định canh, định cư nhưng vẫn sống theo kiểu du canh, du cư, cuộc sống bấp bênh; 20 dân tộc thiểu số (có số người dưới 10 ngàn người) có cuộc sống đặc biệt khó khăn Bên cạnh đó, do điều kiện thiên nhiên không thuận lợi, số người trong diện cứu trợ đột xuất hàng năm khá cao, khoảng 1-1,5 triệu người Hàng năm số hộ tái đói nghèo trong số hộ vừa thoát khỏi nghèo vẫn còn lớn
- Nghèo đói tập trung chủ yếu ở nông thôn, người nghèo sống chủ yếu bằng nghề nông (trên 90% số người nghèo sinh sống ở nông thôn; Trên 80% số người nghèo là nông dân, trình độ tay nghề thấp, ít khả năng tiếp cận các nguồn lực trong sản xuất (vốn, kỹ thuật, công nghệ ))
- Ở khu vực thành thị, đa số người nghèo làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức, công việc không ổn định, thu nhập thấp và bấp bênh; phần lớn sống ở những nơi có cơ sở hạ tầng thấp kém, khó có điều kiện tiếp cận tới các dịch vụ cơ bản (nước sạch, vệ sinh môi trường, thoát nước, ánh sáng )
- Đói nghèo mang tính chất vùng rất rõ rệt Các vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người sinh sống, có tỷ lệ đói nghèo khá cao
Có tới 64% số người nghèo tập trung tại các vùng miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ, Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung
Trang 16Biểu 1.1: Quy mô và tỷ lệ nghèo đói phân theo thành thị và nông thôn năm 2000.
Số hộ nghèo (nghìn hộ)
So với số hộ trong vùng (%)
(Nguồn: Chương trình quốc gia xóa đói giảm nghèo)
- Tỷ lệ hộ nghèo đói đặc biệt cao trong các nhóm dân tộc ít người Mặc
dù Chính phủ có nhiều chính sách đầu tư, hỗ trợ, nhưng cuộc sống của cộng đồng dân tộc ít người vẫn gặp nhiều khó khăn và bất cập Dân số dân tộc ít người chỉ chiếm khoảng 14% tổng số dân cư, song lại chiếm khoảng 29% trong tổng số người nghèo
Biểu 1.2: Quy mô nghèo đói phân theo vùng năm 2000
Vùng Số hộ nghèo (nghìn hộ) So với tổng số hộ trong
(Nguồn: Chương trình quốc gia xóa đói giảm nghèo)
1.2.3 Nguyên nhân nghèo đói và Chủ trương của Nhà nước về XĐGN
1.2.2.1 Nguyên nhân chính ảnh hưởng đến nghèo đói ở Việt Nam:
- Nguồn lực hạn chế và nghèo nàn: người nghèo thường thiếu nhiều nguồn lực (đất đai, lao động chất lượng thấp, vốn…), họ bị rơi vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói và thiếu nguồn lực
Trang 17Người nghèo cũng thiếu khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng và thiếu các thông tin, đặc biệt là thông tin về chính sách và thị trường, làm cho người nghèo ngày càng trở nên nghèo hơn
- Trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định: những người nghèo thường có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt Thu nhập thấp dẫn đến không có điều kiện để nâng cao trình độ của mình trong tương lai để thoát khỏi cảnh nghèo khó Bên cạnh đó, trình độ học vấn thấp ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái nên không chỉ ảnh hưởng đến thế hệ hiện tại mà cả thế hệ tương lai
- Người nghèo không có đủ điều kiện tiếp cận với pháp luật, chưa được bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp; và khi tiếp cận các dịch vụ về pháp lý chi phí rất cao so với thu nhập của họ
- Các nguyên nhân về nhân khẩu học: Đông con là một trong những đặc
điểm của các hộ gia đình nghèo Quy mô hộ gia đình lớn làm cho tỷ lệ người ăn theo cao, dẫn đến nguồn lực về lao động rất thiếu
- Nguy cơ dễ bị tổn thương do ảnh hưởng của thiên tai và các rủi ro khác: Do nguồn thu nhập của người nghèo rất thấp, bấp bênh, khả năng tích luỹ kém nên khó có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống (mất mùa, mất việc làm, thiên tai, mất nguồn lao động, mất sức khỏe ); và khi những biến cố này xảy ra sẽ tạo ra những bất ổn lớn trong cuộc sống
- Bất bình đẳng giới ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của phụ nữ và trẻ em: Ngoài những bất công mà cá nhân phụ nữ và trẻ em gái phải chịu đựng do bất bình đẳng thì còn có những tác động bất lợi đối với gia đình do ít được tham gia các khoá tập huấn làm ăn; ít có cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng và đào tạo… Phụ nữ có học vấn thấp dẫn tới tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và
bà mẹ cao hơn, sức khỏe của gia đình bị ảnh hưởng và trẻ em đi học ít hơn
- Bệnh tật và sức khỏe yếu kém cũng là yếu tố đẩy con người vào tình trạng nghèo đói trầm trọng: bệnh tật và sức khỏe kém ảnh hưởng trực tiếp đến
Trang 18thu nhập và chi tiêu của người nghèo, làm họ rơi vào vòng tròn luẩn quẩn của đói nghèo Họ phải gánh chịu hai gánh nặng: một là mất đi thu nhập từ lao động, hai là gánh chịu chi phí cao cho việc khám, chữa bệnh
- Những tác động của chính sách vĩ mô và chính sách cải cách: Chính sách cải cách nền kinh tế mở rộng hội nhập, thu hút đầu tư… tạo áp lực cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài đã làm không ít các doanh nghiệp nhỏ
và vừa bị phá sản, đẩy công nhân vào cảnh thất nghiệp, tác động đến đói nghèo Việc phân phối lợi ích tăng trưởng trong các nhóm dân cư không đồng đều (người giàu hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế nhiều hơn và kết quả đã làm tăng thêm khoảng cách giàu nghèo)4…
Tóm lại: Từ phân tích thực trạng và nguyên nhân đói nghèo ta có thể tổng kết lại đặc điểm nghèo đói của Việt Nam như sau:
- Người nghèo sống chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, thiếu tư liệu sản xuất (đất đai), thiếu vốn sản xuất, trình độ sản xuất thấp kém; thiếu việc làm; nghề nghiệp không ổn định
- Hạ tầng vùng nghèo (giao thông, điện, nước sạch, trường học, chợ…) thấp kém, do đó người nghèo khó có điều kiện vươn lên thoát nghèo Chênh lệch vùng miền về đói nghèo khá lớn (người nghèo thuộc dân tộc ít người, miền núi, vùng sâu, vùng xa cao hơn nhiều so với thành thị và đồng bằng)
- Người nghèo khó có điều kiện tiếp cận hoặc tiếp cận mức thấp về giáo dục, y tế
1.2.3.2 Quan điểm, các chủ trương về XĐGN của Việt Nam giai đoạn
Mức độ cải thiện thu nhập của người nghèo chậm hơn nhiều so với mức sống chung và đặc biệt so với nhóm
có mức sống cao Sự gia tăng chênh lệch thu nhập giữa nhóm 20% giàu nhất và 20% nghèo nhất (từ 7,3 lần
Trang 19hội cấp thiết Phát triển kinh tế nhưng phải đảm bảo công bằng xã hội trong từng giai đoạn phát triển, gắn tăng trưởng với giảm nghèo Trọng tâm chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta là một quá trình cải cách nhằm chuyển nền kinh tế từ hệ thống kế hoạch hoá tập trung sang một nền kinh tế thị trường năng động hơn Mức tăng trưởng kinh tế cao và bền vững hết sức quan trọng để khắc phục tình trạng nghèo và nhiều vấn đề khác
- Từ khi mở cửa kinh tế, kinh tế đất nước phát triển với tốc độ khá cao, một bộ phận dân cư đã nắm bắt cơ hội, thoát khỏi đói nghèo và vươn lên khá, giàu; tiềm lực kinh tế đất nước ngày càng được cải thiện, tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ dân cư, nhất là vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc… còn rất nhiều khó khăn, tỷ lệ nghèo đói rất cao Do đó, đến năm 1998 Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo và Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi (gọi tắt là Chương trình giảm nghèo) đã chính thức ra đời và được duy trì, liên tục phát triển từ đó cho đến nay Tại Đại hội Đảng lần thứ X (2005-2010), Đảng tiếp tục khẳng đinh: Đánh giá đúng tình trạng đói nghèo và kết quả xoá đói, giảm nghèo có ý nghĩa thiết thực để hoàn thiện chiến lược và chính sách phát triển kinh tế - xã
hội nhằm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nước nghèo và thực hiện mục tiêu
tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ và công bằng xã hội, mà Đảng ta đã khái quát là "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh"
- Khái niệm cơ bản của chiến lược xóa đói giảm nghèo ở nước ta là đặt con người vào trung tâm của sự phát triển và thúc đẩy tiềm năng của mỗi cá nhân và cộng đồng Mục tiêu chung là hướng đến phát triển toàn diện, cân đối,
và lâu dài; tập trung vào nhiệm vụ phát triển tiềm năng con người, xem con người là động lực mạnh nhất của phát triển, là lực lượng sáng tạo, là nguồn của cải vật chất và tinh thần của xã hội hướng đến mục tiêu cao nhất của nó là ấm
no, tự do, hạnh phúc cho con người
Trang 20- Quan điểm chiến lược của chương trình xóa đói giảm nghèo không phải
là bao cấp cho người nghèo mà chủ yếu là hổ trợ bằng cách cho vay vốn, hướng dẫn làm ăn, đào tạo nghề, tạo môi trường thuận lợi để người nghèo tự vươn lên Hình thành quỹ xóa đói giảm nghèo ở từng địa phương trên cơ sở nhà nước giúp dân để nhân dân tự giúp mình và tranh thủ các nguồn tài trợ nhân đạo trong nước và quốc tế
b) Chủ trương về XĐGN
- Giai đoạn 1998 – 2000: Thực hiện chủ trương của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày 27/3/1998, Chính phủ có Quyết định số 133/1998/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN giai đoạn 1998
– 2000 Mục tiêu của Chương trình được xác định: “giảm tỷ lệ hộ đói nghèo
trong tổng số hộ của cả nước xuống còn 10% vào năm 2000” Chương trình được thực hiện trên phạm vi cả nước Trong những năm đầu tập trung ưu tiên vào các xã nghèo, đặc biệt khó khăn vùng cao, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa
- Giai đoạn 2001 – 2010: Chính phủ xây dựng và ban hành Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và XĐGN (Chiến lược CPRGS) để thực hiện trong giai đoạn 2001 – 2010 Chiến lược CPRGS được cụ thể hoá thực hiện trong giai đoạn I bằng “Chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN và việc làm giai đoạn
2001 – 2005” Mục tiêu tổng quát của Chương trình là: “tạo các điều kiện
thuận lợi, phù hợp để hổ trợ người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo phát triển sản xuất, tăng thu nhập, tiếp cận các dịch vụ xã hội, XĐGN; giảm tỷ lệ thất nghiệp
ở khu vực thành thị, nâng cao tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế, bảo đảm việc làm cho người có nhu cầu làm việc, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân” Đến năm 2005, Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 10%, bình quân mỗi năm giảm 1,5-2%; không để tái nghèo kinh niên Các xã nghèo có đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu (thuỷ lợi nhỏ, trường học, trạm y tế, đường dân sinh, điện, nước
Trang 21sinh hoạt, chợ) Giải quyết việc làm cho 1,4 – 1,5 triệu lao động; giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị xuống dưới 6% và nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn lên 80% vào năm 2005
c) Nội dung thực hiện Chương trình XĐGN: Từ những thực trạng, nguyên nhân đói nghèo; quan điểm của nước ta về XĐGN và các Chương trình XĐGN; trong quá trình thực hiện các Chương trình chúng ta có thể phân loại các hoạt động thành 3 nhóm (chia theo phương thức tiếp cận và các hoạt động theo tính chất và mức độ tác động đến mục tiêu):
- Những hoạt động trực tiếp nhằm giảm nhanh tỷ lệ hộ đói nghèo:
Trước hết là việc đảm bảo cho người nghèo đói ở vùng nông thôn sống bằng nghề nông phải có đất canh tác, đồng thời đi đôi với hướng dẫn cách làm
ăn, cách giữ đất, phát tuy tiềm năng của đất Mở rộng phát triển ngành nghề
Thứ hai là hỗ trợ tài chính, tín dụng cho các hộ nghèo ở thành thị và nông thôn; đảm bảo các hộ nghèo dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn Đồng thời, đào tạo hướng dẫn kỹ thuật, nghề cho người lao động nghèo
Các nhóm dự án: Dự án hỗ trợ sản xuất, phát triển ngành nghề; Dự án hỗ trợ tín dụng đối với người nghèo; hướng dẫn người nghèo cách làm ăn (khuyến nông, lâm ngư)
- Những hoạt động gián tiếp nhằm giảm bớt mức độ đói nghèo: Những hoạt động này gồm hai việc chính là hỗ trợ các hộ nghèo về y tế và giáo dục
Hỗ trợ xây dựng nhà (tình thương, đại đoàn kết); cứu trợ, cứu đói khi gặp những bất trắc trong cuộc sống Đẩy mạnh thực hiện các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm
Nhóm dự án: Dự án hỗ trợ về giáo dục; Dự án hỗ trợ về y tế; Các địa phương chủ động thực hiện các chính sách hỗ trợ về nhà ở và cứu trợ nhân đạo
- Những hoạt động vừa trực tiếp vừa gián tiếp với thời gian dài nhằm giảm nghèo bền vững: Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, sắp xếp lại dân cư Định canh, định cư, di dân xây dựng kinh tế mới Nâng cao năng lực cán bộ xóa đói
Trang 22giảm nghèo và cán bộ các xã miền núi với yêu cầu nắm vững kiến thức cơ bản
về kinh tế xã hội và các chính sách liên quan đến xóa đói giảm nghèo, nâng cao năng lực quản lý, triển khai công việc có hiệu quả ở cơ sở
Nhóm dự án: Dự án định canh định cư; Đầu tư cơ sở hạ tầng vùng nghèo, sắp xếp lại dân cư; Dự án đào tạo cán bộ làm công tác XĐGN
1.2.4 Một số giải pháp chính để thực hiện chiến lược XĐGN:
1.2.4.1 Giải pháp về tài chính:
- Huy động mọi nguồn vốn chăm lo công tác XĐGN: Để triển khai thực
hiện được chiến lược về XĐGN thì giải pháp về đảm bảo tài chính có ý nghĩa
quyết định Bên cạnh việc tập trung cân đối cho Chương trình từ nguồn ngân sách Nhà nước, chính quyền, các hội, đoàn thể các cấp… phải tập trung huy động từ nhiều nguồn khác, với nhiều hình thức (từ nhân dân, cộng đồng các doanh nghiệp trong và ngoài nước; các tổ chức phi chính phủ…) Đi đôi với huy động là tổ chức sử dụng hiệu quả các nguồn vốn, đảm bảo đúng mục đích Việc huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn có ý nghĩa quyết định đến
sự thành công của công cuộc XĐGN5
- Tập trung vốn đầu tư, hỗ trợ đẩy mạnh phát triển ngành, lĩnh vực tạo
cơ hội cho người nghèo tăng thu nhập:
+ Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn để xóa đói giảm nghèo trên diện rộng, trong đó: Nhà nước tập trung chỉ đạo, hướng dẫn, có chính sách
hỗ trợ nông dân thâm canh, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp; Phát triển mạnh lâm nghiệp; Đẩy mạnh nuôi trồng thuỷ sản và khai thác hải sản xa bờ
5
Nhu cầu đầu tư của các ngành và lĩnh vực (nông nghiệp; công nghiệp và xây dựng; văn hoá – xã hội; dịch vụ; công cộng và các chương trình mục tiêu quốc gia liên quan đến xoá đói giảm nghèo giai đoạn 2001-2005 khoảng 840-980 nghìn tỷ đồng Mức huy động chủ yếu từ trong nước khoảng 561 nghìn tỷ đồng, chiếm 66,8%; huy động từ nước ngoài khoảng 279 nghìn tỷ đồng, chiếm 33,2% Trong đó huy động của khu vực Nhà nước (đầu tư công cộng) ước khoảng 467 nghìn tỷ đồng, chiếm 55,5%, trong đó vốn Ngân sách (không kể ODA) khoảng 123 nghìn tỷ đồng, chiếm 14,7%; tín dụng nhà nước (không kể ODA cho vay lại) gần 56 nghìn tỷ đồng, chiếm 6,6%, doanh nghiệp nhà nước 162 nghìn tỷ đồng, chiếm 19,3%; vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA đạt
126 nghìn tỷ đồng, chiếm 15%; khu vực tư nhân trong nước khoảng 220 nghìn tỷ đồng, chiếm 26,2%; khu vực vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) khoảng 153 nghìn tỷ đồng, chiếm 18,2% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.(Nguồn Chiến CPRGS của Việt Nam).
Trang 23Đẩy mạnh việc nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ cho sản xuất Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp và phát triển ngành nghề nông
+ Phát triển công nghiệp, đô thị nhằm tạo việc làm và nâng cao đời sống cho người nghèo: Phát triển mạnh công nghiệp sẽ đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, nhất là người nghèo ở thành thị và nông thôn Phát triển và mở rộng các mối liên kết giữa công nghiệp và các hoạt động tiểu thủ công nghiệp ở đô thị trên cơ sở phát triển nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa trong các lĩnh vực ngành nghề truyền thống với công nghệ hiện đại, tạo sản phẩm có chất lượng cao, không gây ô nhiễm môi trường Mở rộng các hoạt động gia công công nghiệp từ thành thị về
nông thôn
+ Phát triển cơ sở hạ tầng để tạo cơ hội cho các xã nghèo, vùng nghèo, người nghèo tiếp cận các dịch vụ công. Tiếp tục phát triển kết cấu hạ tầng (giao thông, bưu điện, điện ) tạo khả năng thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội Tập trung vốn đầu tư phát triển các cơ sở hạ tầng phục vụ tiếp thị và thương mại như: cảng, kho tàng, bến bãi, chợ, thông tin thị trường nhằm giảm giá thành, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa nông sản
+ Xây dựng nền giáo dục công bằng hơn, chất lượng cao hơn cho mọi người; chú trọng đến việc nâng cao chất lượng trong giáo dục, hỗ trợ, trợ cấp học hành cho người nghèo và các nhóm yếu thế (6) trong xã hội. Khuyến khích
và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục Tạo cơ hội cho mọi người được học thường xuyên, và có ý thức học tập suốt đời Tăng nguồn tài chính cho giáo dục, đào tạo
+ Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, kế hoạch hóa gia đình, tăng khả năng tiếp cận và giảm gánh nặng chi phí y tế cho người nghèo. Tăng cường củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở Tăng khả năng tiếp cận của người
Trang 24nghèo, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em đến các dịch vụ y tế cơ bản; đảm bảo công bằng trong tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế Tăng cường nguồn tài chính cho y tế Thực hiện tốt chính sách miễn viện phí đối với đồng bào dân tộc ít người và trẻ em dưới 6 tuổi Tổ chức thực hiện tốt Chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2010
+ Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và cải thiện việc cung cấp thông tin Tập trung đầu tư xây dựng các điểm văn hóa xã, kết hợp với hội họp và khu vui chơi
+ Bảo vệ môi trường và duy trì cuộc sống trong lành cho người nghèo Thực hiện chiến lược quốc gia về môi trường Kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên bảo đảm cho mọi người dân đều được sống trong môi trường trong sạch và lành mạnh
- Đầu tư có trọng điểm, có chính sách hỗ trợ nhằm thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa các vùng
Tạo điều kiện về hạ tầng xã hội và năng lực sản xuất để các vùng phát triển, tiến tới giảm chênh lệch giữa các vùng về mặt xã hội Ổn định và nâng cao đời sống đồng bào dân tộc ít người Từng bước thu hẹp khoảng cách về đời
6 Nhóm yếu thế được hiểu: là nhóm người dễ bị tổn thương và khó có điều kiện để tiếp cận một cách công bằng
Trang 25sống vật chất và tinh thần giữa các nhóm dân tộc Thực hiện bình đẳng giới, vì
sự tiến bộ của phụ nữ và quyền lợi trẻ em
1.3 KINH NGHIỆM XĐGN CỦA TRUNG QUỐC
1.3.1 Kinh nghiệm công cuộc xoá đói, giảm nghèo ở Trung Quốc 7:
Qua gần 30 năm cải cách, mở cửa, Trung Quốc đã trở thành một trong 6 nền kinh tế lớn nhất thế giới, đời sống của người dân không ngừng được thay đổi và nâng cao Theo số liệu thống kê, GDP bình quân đầu người tính theo giá hiện hành của Trung Quốc đã tăng từ 379 NDT (tương đương 46 USD) năm
1979 lên tới 13.943 NDT (1.680 USD) năm 2005
Hiện nay, Trung Quốc đang phấn đấu để xây dựng xã hội khá toàn diện
Sở dĩ đạt được những thành tích trên là do Trung Quốc luôn coi XĐGN, nâng cao đời sống nhân dân là nhiệm vụ then chốt hàng đầu Nhìn lại công cuộc XĐGN của Trung Quốc qua từng thời kỳ có những ưu tiên, có những đột phá khác nhau
- Đặt mục tiêu ưu tiên là hiệu quả kinh tế, chiếu cố công bằng
Trong giai đoạn đầu cải cách, mở cửa (1979 – 1994), trọng tâm của công cuộc XĐGN của Trung Quốc là giải phóng tối đa sức sản xuất của nhân dân, của xã hội Mục tiêu và thực chất của cuộc cải cách này là thay đổi thể chế kinh
tế cũ trói buộc sức sản xuất, xây dựng thể chế kinh tế mới giải phóng và phát triển sức sản xuất để thực hiện hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc Để thực hiện mục tiêu trên, trong giai đoạn đầu cải cách, mở cửa, Trung Quốc cho phép và khuyến khích một số vùng, một số doanh nghiệp, một số người thông qua lao động chân chính, kinh doanh hợp pháp được giàu có trước Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo của Trung Quốc cũng cho rằng: sự phân hoá theo hai cực có giới hạn, không thể để dẫn đến tình trạng người nghèo càng nghèo đi, người giàu càng giàu lên Vì điều này sẽ dẫn đến mâu thuẩn giữa các dân tộc, các địa phương, giữa các giai cấp ngày càng phát triển dẫn đến hậu quả là xã hội sẽ rối
7 Nguồn Tạp Chí Cộng sản – Chuyên đề cơ sở - Số 5 (tháng 5/2007)
Trang 26loạn Để khắc phục hiện tượng phân hoá mạnh theo hai cực, các cấp lãnh đạo Trung Quốc đã đề ra các giải pháp như: những địa phương, những vùng, những doanh nghiệp giàu có trước sẽ thông qua nộp nhiều thuế và quyên góp để giúp
đỡ những người khác Trong đó, các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhấn mạnh ưu tiên cho hiệu quả, chú ý công bằng cho cả hai phía, thực hiện chính sách bảo hộ chứ không cản trở sức phát triển của bộ phận giàu trước
Có thể nói, trong 15 năm đầu cải cách mở cửa, trọng tâm của công tác
xoá đói, giảm nghèo là “Ưu tiên hiệu quả kinh tế, chiếu cố công bằng” Với
quan điểm trên, Trung Quốc đã áp dụng hàng loạt các giải pháp để thúc đẩy sản xuất, giải phóng sức lao động đó là thực hiện chế độ khoán trong nông nghiệp,
áp dụng chính sách “nới quyền nhượng lợi” cho doanh nghiệp; xây dựng các đặc khu kinh tế, các thành phố mới duyên hải… nhờ đó, năng suất lao động được tăng cao, đời sống người dân được cải thiện về chất, tăng trưởng kinh tế duy trì với tốc độ cao liên tục, tiềm lực kinh tế quốc gia ngày càng mạnh
- Hướng tới mục tiêu “Xây dựng xã hội khá giả toàn diện”
Từ năm 1994 đến nay, quan điểm về công tác XĐGN của Trung Quốc đã từng bước thay đổi sâu sắc Bên cạnh việc tiếp tục coi trọng hiệu quả kinh tế, Trung Quốc đã hướng mạnh tới mục tiêu “cùng giàu có” Đảng Cộng sản Trung Quốc đưa ra phương châm: Trong vòng 20 năm đầu thế kỷ 21, Trung
Quốc sẽ phấn đấu để “Xây dựng toàn diện xã hội tương đối khá giả” Đây
được xem là bước tiến mới trong quan điểm thực hiện chính sách xoá đói, giảm nghèo ở Trung Quốc Về tổng thể mục tiêu xây dựng xã hội khá giả là: Trong
vòng 20 năm đầu của thế kỷ XXI, Trung Quốc phải: “tập trung lực lượng xây
dựng toàn diện xã hội giàu có ở mức độ cao hơn cho một tỷ dân, làm cho kinh
tế phát triển hơn, dân chủ kiện toàn hơn, khoa học giáo dục tiến bộ hơn, văn hoá phong phú hơn, xã hội hoà hợp hơn, đời sống nhân dân sung túc hơn”
Để thực hiện mục tiêu đó, Trung Quốc dự định phấn đấu đến năm 2010, GDP tăng gấp hai lần năm 2000, đến năm 2020, GDP tăng gấp hai lần năm
Trang 272010, GDP bình quân đầu người đạt trên 3.000 USD/năm Trên cơ sở tăng tổng lượng kinh tế, công cuộc xây dựng toàn diện xã hội tương đối khá giả được dựa trên sự tăng cường hơn nữa sức mạnh tổng hợp và khả năng cạnh tranh quốc tế của Trung Quốc Trong giai đoạn này, Trung Quốc phấn đấu cơ bản hoàn thành công nghiệp hoá, xây dựng được một thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa; đồng thời tăng mạnh tỷ trọng dân số thành phố, thị trấn, từng bước khắc phục xu thế tăng mức chênh lệch giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa thành thị và nông thôn và giữa các khu vực, xây dựng được một hệ thống bảo hiểm tương đối hoàn chỉnh, tạo ra được nhiều việc làm, làm cho tài sản của mỗi người dân tăng lên một cách phổ biến, nhân dân được sống sung túc hơn
Có thể nói, trọng tâm của công cuộc xoá đói, giảm nghèo trong những năm đấu thế kỷ XXI chủ yếu tập trung vào các mục tiêu sau:
1 Nâng cao mức thu nhập bình quân đầu người của nông dân nghèo Năm 2005 thu nhập bình quân đầu người tăng 30%; tới năm 2010 thu nhập bình quân đầu người tăng 60-65%, giảm 2/3 số người nghèo
2 Bảo đảm giải quyết vấn đề lương thực cho người nông dân nghèo, vừa phải nâng cao năng lực sản xuất lương thực, vừa phải nâng cao năng lực mua lương thực, bảo đảm lương thực cho mỗi người mỗi ngày phải đạt 2.150 calo
3 Ưu tiên tạo việc làm nhiều hơn nữa cho nông dân nghèo, dùng hình thức lấy công trả nợ để bố trí việc làm cho nông dân nghèo, giúp đỡ, khuyến khích nông dân nghèo đến địa phương khác làm việc
4 Bên cạnh việc loại bỏ tình trạng nghèo về thu nhập tiến tới loại bỏ tình trạng nghèo về tri thức
Như vậy, trong 20 năm đầu cải cách mở cửa, mục tiêu của phát triển kinh
tế ở Trung Quốc là “để cho một bộ phận người, một số vùng giàu lên trước” và
20 năm tới là xây dựng xã hội khá giả toàn diện, toàn dân cùng giàu có
XĐGN là một nhiệm vụ vô cùng lớn lao đối với một số nước có xuất
phát điểm như ở Trung Quốc Với quan điểm coi phát triển kinh tế, giải phóng
Trang 28sức sản xuất, sức lao động của toàn xã hội là công cụ, phương tiện và nên tảng quan trọng để thúc đẩy công cuộc XĐGN, trong vòng 30 năm qua, Trung Quốc
đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Tỷ lệ người nghèo trong tổng số dân ở Trung Quốc không ngừng giảm xuống Theo chuẩn nghèo của Trung Quốc, năm 1978 nông thôn Trung Quốc có 250 triệu người nghèo, đến năm
2000 giảm xuống còn 22 triệu người, bằng 2,5% dân số nông thôn Theo chuẩn nghèo của Ngân hàng thế giới quy định (1 USD /người/ngày), năm 1990 Trung Quốc có 360 triệu người nghèo, đến năm 1999 giảm xuống còn 215 triệu Dự tính đến năm 2015, số người nghèo Trung Quốc sẽ giảm xuống còn 53 triệu người
1.3.2 Chính sách tài chính đối với công cuộc XĐGN ở Trung Quốc:
Để thực hiện mục tiêu và quan điểm về XĐGN, ngay tư những năm đầu cải cách mở cửa, Trung Quốc đã hết sức chú trọng tới việc sử dụng chính sách tài chính nhằm khuyến khích, thúc đẩy những vùng, những doanh nghiệp, những cá nhân có điều kiện giàu lên trước; mặt khác thông qua các công cụ như thuế, chi ngân sách, chuyển giao tài chính, trợ cấp v.v từng bước giảm bớt khoảng cách chênh lệch giữa những đối tượng được phép giàu lên trước với những vùng, những doanh nghiệp, những người không có điều kiện làm giàu Nhờ đó, Trung Quốc đã đạt được mục tiêu, vừa thúc đẩy tối đa sức sản xuất, vừa duy trì sự ổn định của xã hội, đảm bảo môi trường xã hội thuận lợi cho việc thực hiện những cải cách quan trọng về kinh tế và hội nhập
Có thể nhận thấy, vai trò to lớn của chính sách tài chính trong công cuộc XĐGN ở Trung Quốc qua những khía cạnh sau:
Thứ nhất, giảm bớt khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các
vùng, miền và tầng lớp dân cư. Trong giai đoạn đầu, tập trung và tạo điều kiện tối đa cho các vùng, miền có điều kiện thuận lợi phát triển với tốc độ cao, nhằm tăng nhanh tiềm lực kinh tế; tuy nhiên cũng tạo chênh lệch rất lớn về khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng miền và tầng lớp dân cư Để khắc phục, Trung
Trang 29Quốc đã có những giải pháp chuyển giao tài chính, thực hiện liên kết giữa các doanh nghiệp thuộc miền duyên hải với các doanh nghiệp thuộc các vùng khác, tạo điều kiện thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa các tầng lớp dân cư
Thứ hai, giải quyết việc làm cho người lao động. Tình trạng thất nghiệp gia tăng do áp lực từ cải cách doanh nghiệp Nhà nước, cải cách bộ máy hành chính, lao động dôi dư từ khu vực nông nghiệp nông thôn… đe doạ sự ổn định của xã hội, làm tăng thêm số người nghèo khổ cần phải giúp đỡ Đứng trước áp lực này, từ giữa những năm 90, chính sách tài chính của Trung Quốc đã tập trung vào giải quyết và hỗ trợ việc làm cho người lao động thông qua hàng loạt các giải pháp như: đẩy mạnh điều chỉnh cơ cấu kinh tế, phát triển các thành phần kinh tế tư nhân; đẩy mạnh phát triển thị trường trong và ngoài nước để tạo điều kiện cho hàng hoá của Trung Quốc thâm nhập trên toàn thế giới, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động Bên cạnh đó, để hỗ trợ đời sống cho cán bộ công nhân viên chức bị thất nghiệp, lao động nông nghiệp dôi dư, Trung Quốc cũng đã đẩy mạnh cải cách hành chính, chế độ bảo đảm và cứu trợ xã hội
Thứ ba, giảm bớt số lao động sống dưới mức nghèo khổ ở nông thôn.
Khu vực nông nghiệp nông thôn của Trung Quốc luôn là điểm nóng trong cải cách của Trung Quốc Những năm qua, chính sách tài chính của Trung Quốc đã
và đang chú trọng đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn Việc hình thành hàng loạt các thị trấn, các đô thị nhỏ, sự phát triển và lớn mạnh của các doanh nghiệp hương trấn đã cho thấy chính sách công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn của Trung Quốc đã phát huy tác dụng Bên cạnh đó, để hỗ trợ, tăng mức sống cho nông dân trong thời gian dài, Trung Quốc đã và đang thực hiện chính sách trợ giá nông nghiệp, chính sách đầu tư xây dựng hạ tầng nông nghiệp nông thôn và hàng loạt các chính sách bổ trợ khác nhằm chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Thứ tư, thúc đẩy thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy mở cửa hội nhập, thông qua đó tăng cường giải quyết việc làm, nâng cao mức sống cho
Trang 30người lao động Từ chính sách vĩ mô thông thoáng, Trung Quốc đã tạo ra môi trường đầu tư tương đối thuận lợi để thu hút được lượng vốn FDI và ODA cho xây dựng và phát triển đất nước
Thứ năm, tiếp tục tăng đầu tư cho các vùng khó khăn. Thông qua việc cho vay XĐGN với lãi suất ưu đãi để tiến tới biến các khoản cho vay dưới hình thức này thành những khoản đầu tư hỗ trợ XĐGN Có chính sách ưu đãi về tài chính và thuế để khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đến đầu tư tại các vùng khó khăn Tăng cường hợp tác giữa các vùng, miền thông qua biện pháp cho phép được hưởng quyền ưu tiên trong các dự án để các doanh nghiệp ở các vùng phát triển đầu tư vào các vùng kém phát triển
1.4 KINH NGHIỆM CUNG CẤP TÍN DỤNG CHO HỘ NGHÈO CỦA NGÂN HÀNG GRAMEEN BANK (GB) – BANGLADESH
Vào năm 1976, giáo sư Muhammad Yunus – giáo sư trường Đại Học Chitagong đã tiến hành những bước thử nghiệm đầu tiên ở Bangladesh để thí điểm tín dụng cho người nghèo Ông đưa ra một một chương trình nghiên cứu hoạt động tài chính vi mô cho người nghèo để thử nghiệm giả thyết: Nếu nguồn tài chính có thể đáp ứng cho người nghèo với những quy định và điều kiện hợp
lý, họ sẽ có thể tự tạo ra công ăn việc làm mà không cần nhận sự cứu trợ thường xuyên
Đối tượng của GB là những người nghèo nhất trong số người nghèo Bangladesh Nguyên tắc cơ bản của GB là :
- Người vay phải là người nghèo
- Những người vay phải được tổ chức thành nhóm
- Phải được huấn luyện và thử thách trước khi vay
- Phải tham gia sinh hoạt thường kỳ hàng tuần
- Phải xem tiết kiệm là mục tiêu quan trọng
Trang 31- Quy mô vốn vay đi từ nhỏ đến lớn
- Các dự án đều phải nhằm vào mục đích hoạt động phát sinh lợi tức Giả thiết của giáo sư Yunus đã được thực tế chứng minh qua việc thực hiện thành công dựï án thí điểm ‘Grameen Bank Project” ở Chitagong (1976-1979), rồi mở rộng đến Tanggail (1979), Dhaka, Rangpur và Patuakhalic (1982-1983) và kết quả cuối cùng vào tháng 10/1983 dự án đã được chuyển đổi thành một Ngân hàng hoạt động độc lập: ngân hàng Grameen (tiếng Bangladesh có nghĩa là Ngân hàng Nông thôn) Chính phủ cung cấp 60% vốn hoạt động ban đầu dưới hình thức cổ phần, 40% cổ phần còn lại do người vay
sở hữu cổ phần
Từ đó đến nay, hệ thống Grameen Bank đã phát triển một cách mạnh
mẽ, đào tạo được một đội ngũ nhân viên có năng lực với số lượng khoảng 8.000 người Một điều kỳ diệu đã được thực hiện ở Grameen bank, đó là tỷ lệ
sở hữu nguồn vốn đã bị đảo ngược so với ngày đầu thành lập, đến nay 92% được sở hữu bởi những nghèo nông thôn Bangladesh và chỉ 8% còn lại sở hữu bởi chính phủ Đến 12/1999 GB đã hoạt động trên 3/4 lãnh thổ Bangladesh, phục vụ gần 2,4 triệu khách hàng nghèo; Tổng số tín dụng cấp ra lên tới 2,95
tỷ USD.Trong đó, tỷ lệ đóng góp từ tiết kiệm của thành viên chiếm 10% Tỷ lệ hoàn vốn đạt lớn hơn 98%
GB cũng đã khẳng định được tính bền vững của mình và được đánh giá
là một mô hình nổi tiếng thành công trên thế giới, từ đó mô hình GB đã được vận dụng tại 58 nước trên thế giới, trong đó có cả Mỹ, Canada, Pháp, Anh, và đặc biệt phổ biến ở các nước đang phát triển tại Châu Phi, Châu Á , trong đó
Trang 32làm từ đầu có điểm khác nhau, nhưng trong quá trình thực hiện cũng có những điểm tương đồng nhau:
- Đối với Việt Nam: tăng trưởng và giảm nghèo phải đi đôi; phát triển kinh tế và đảm bảo công bằng xã hội trong từng giai đoạn phát triển Tuy nhiên trong quá trình phát triển vẫn không hạn chế sự phát triển của các vùng, miền
có điều kiện
1.5.2 Điểm giống nhau:
- Tập trung giải quyết việc làm cho người lao động bằng cách đẩy mạnh sản xuất, mở rộng thị trường, tạo thêm nhiều việc làm; chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp – dịch vụ, từ nông thôn sang thành thị
- Đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn Hỗ trợ, tăng mức sống cho nông dân bằng việc thực hiện chính sách đầu tư xây dựng
hạ tầng nông nghiệp nông thôn và hàng loạt các chính sách bổ trợ khác nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá
- Thúc đẩy thu hút vốn đầu tư nước ngoài, mở cửa hội nhập, thông qua
đó tăng cường giải quyết việc làm, nâng cao mức sống cho người lao động
- Hỗ trợ vốn, lãi suất để thực hiện XĐGN; có các chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư vào các vùng nghèo Xác định các vùng nghèo trọng điểm để có các chính sách đặc thù
1.4.3 Ưu điểm:
- Đối với Trung Quốc: Giai đoạn đầu tập trung được nguồn lực đầu tư cho các vùng có điều kiện phát triển, từ đó tạo tốc độ tăng trưởng nhanh, gia
Trang 33tăng tiềm lực kinh tế quốc gia Khi tiềm lực kinh tế đã mạnh, có điều kiện thuận lợi để hỗ trợ các vùng, miền có điều kiện khó khăn phát triển
- Đối với Việt Nam: Tạo công bằng xã hội trong từng giai đoạn phát triển Ổn định xã hội, tạo sự đồng thuận của nhân trong công cuộc phát triển Khi đất nước phát triển toàn diện, thoát khỏi đói nghèo, mọi người đều có cơ hội tiếp cận các điều kiện để vươn lên là điều kiện thuận lợi tất cả các vùng miền, tất cả mọi người đều phát triển; từ đó đất nước phát triển nhanh hơn, mạnh hơn và đồng bộ hơn
1.4.4 Hạn chế:
- Đối với Trung Quốc: Tạo bất bình đẳng trong xã hội do khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng miền, giữa các người dân quá xa Một số vùng khó khăn chậm được đầu tư phát triển Trong giai đoạn đầu, một bộ phận dân cư còn nghèo đói do đó khó có điều kiện thoát nghèo ở giai đoạn sau, dễ ảnh hưởng đến thế hệ kế tiếp nhất là về tiếp cận tri thức
- Đối với Việt Nam: Thiếu nguồn lực đầu tư cho tất cả các vùng, miền;
kể cả vùng có điều kiện phát triển kinh tế nhanh và vùng, miền còn khó khăn Bên cạnh đó, do đầu tư tương đối dàn đều giữa các vùng, miền nên tốc độ phát triển kinh tế chung trong giai đoạn đầu không nhanh bằng nếu tập trung đầu tư vào các khu vực có điều kiện thuận lợi phát triển Từ đó, tiềm lực kinh tế chung của cả nước tăng chưa tương xứng
Nhận xét, theo chúng tôi, việc lựa chọn chủ trương đảm bảo yếu tố công bằng xã hội trong từng giai đoạn đối với Việt Nam là phù hợp; một mặt giảm
áp lực đói nghèo nhất là đối với các vùng đặc biệt khó khăn, tạo sự ổn định xã hội, ổn định chính trị, làm tiền đề để phát triển kinh tế; một mặt tạo điều kiện
để mọi người, nhất là thế hệ kế cận có cơ hội phát triển trong tương lai, khi mọi người cùng phát triển sẽ tạo tiền đề để phát triển đất nước nhanh hơn
Tuy nhiên, trong điều hành cần có sự linh hoạt phù hợp trong từng giai đoạn, có thế ứng dụng cách làm của Trung Quốc trong việc tạo điều kiện thuận
Trang 34lợi để một số vùng, miền có điều kiện phát triển nhanh hơn nhằm gia tăng nhanh tiềm lực quốc gia Việc hình thành ba Vùng kinh tế trọng điểm của cả nước (Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ; Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung
và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam) là chủ trương cần thiết để phát triển các vùng động lực, tạo điều kiện lôi kéo các vùng lân cận phát triển Quan điểm về cách thực hiện XĐGN ngay từ đầu giữa Việt Nam và Trung Quốc có điểm khác nhau như nêu trên, tuy nhiên cả hai nước đều là các nước đang phát triển, có nhiều điểm tương đồng nhau, Việt Nam hoàn toàn có thể nghiên cứu, vận dụng một cách linh hoạt các chính sách của Trung Quốc để áp dụng trong điều kiện
cụ thể, phù hợp với Việt Nam
*
* *
Tóm lại, đói nghèo là vấn đề xã hội bức xúc, nóng bỏng của các quốc
gia trên thế giới, vì vậy, đây là vấn đề được Chính phủ, các nhà lãnh đạo và các
tổ chức quốc tế quan tâm để tìm giải pháp hạn chế và tiến tới xoá bỏ đói nghèo trên phạm vi toàn cầu Công tác XĐGN ở nhiều nước trên thế giới được thực hiện dựa trên việc tập trung các nguồn lực để đầu tư, phát triển một số vùng, tạo thành các cực tăng trưởng, từ đó tạo tác động lan toả và có tiềm lực kinh tế mạnh để trở lại giải quyết vấn đề XĐGN và công bằng xã hội Đối với Việt Nam chủ trương chung là phát triển kinh tế gắn với công bằng xã hội trong từng giai đoạn phát triển, do đó, XĐGN là việc làm thường xuyên, đảm bảo phát triển kinh tế đi đôi với công bằng xã hội
Công tác XĐGN là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, công tác XĐGN không chỉ vì mục đích xã hội mà còn thể hiện bản chất chế độ chính trị; do đó, công tác xoá đói, giảm nghèo là việc làm quan trọng, thường xuyên của cả hệ thống chính trị
Trang 35Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau, đến năm 1998 Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo và Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các
xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi (gọi tắt là Chương trình giảm nghèo) mới chính thức ra đời và được duy trì, liên tục phát triển từ
đó cho đến nay Từ sau năm 2000, Chính phủ đã xây dựng và ban hành Chiến lược toàn diện về tăng trưởng vả giảm nghèo (CPRGS) giai đoạn 2001-2010, từ
đó, công tác XĐGN được các ngành, các cấp cụ thể hoá rõ hơn, nhiều cơ chế, chính sách, chương trình, dự án được chỉ đạo thực hiện và công tác XĐGN trên phạm vi cả nước đạt được những kết quả quan trọng
Các giải pháp chủ yếu là đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội qua đó tạo điều kiện cho người nghèo vươn lên thoát nghèo; hướng dẫn cách làm ăn, đào tạo nghề, tạo thêm việc làm, giải quyết việc làm; hỗ trợ vốn, tư liệu sản xuất, thúc đẩy sản xuất; đầu tư hạ tầng kinh tế xã hội vùng nghèo, vùng khó khăn Thực hiện các chính sách xã hội như miễn giảm học phí, cấp học bổng, đào tạo nghề miễn phí…; cấp thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, hỗ trợ khám và chữa bệnh… Ngoài ra, thông qua các tổ chức, cá nhân, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế hoạt động XĐGN được triển khai khá toàn diện qua các hoạt động cứu trợ xã hội, hỗ trợ người nghèo, các chương trình, dự án
Vấn đề quan trọng trong việc thực hiện thành công chương trình là huy động nguồn lực và sử dụng có hiệu quả nguồn lực Trong đó nguồn lực từ nhà nước là quan trọng nhất, có tác động chi phối, thu hút các nguồn lực khác tham gia đầu tư
Trang 36Chương II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XĐGN TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH LONG AN (GIAI ĐOẠN 1998–2008)
2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH LONG AN TỪ NĂM 1998 ĐẾN 2008:
2.1.1 Vị trí địa lý:
Long An là tỉnh thuộc Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 4.492 km2 Long An cách thành phố Hồ Chí Minh 47 km, phía Bắc giáp Tây Ninh và nước Campuchia, phía Đông giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía nam giáp Tiền Giang và phía Tây giáp Đồng Tháp Long An có 13 huyện và 01 thị xã, trong đó có 6 huyện thuộc vùng Đồng Tháp Mười với diện tích tự nhiên 2.982 km2, chiếm 66,4% so với diện tích toàn tỉnh
Long An đồng thời là tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là khu vực có nền kinh tế năng động và phát triển nhất của cả nước; Long An là cửa ngõ của Vùng Đồng bằng sông Cửu Long nối với thành phố Hồ Chí Minh
Từ các lợi thế trên, nên có nhiều lợi thế trong thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, nhất là khu vực giáp ranh với thành phố Hồ Chí Minh
Biểu: 2.3 Bản đồ hành chính tỉnh Long An
Trang 37Tỉnh tiếp giáp với thành phố Hồ Chí Minh, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm bên cạnh những thuận lợi về lan toả, phát triển kinh tế, tỉnh phải chịu sự cạnh tranh rất lớn với các tỉnh trong khu vực về thu hút đầu tư; về thu hút nguồn nhân lực; chi phí đầu tư hạ tầng kinh tế - xã hội cao; ô nhiễm môi trường mang tính liên vùng…Vùng Đồng Tháp mười của tỉnh có diện tích lớn, nhưng lại là vùng ngập sâu, đất phèn, chua; khi có biến động bất lợi về thời tiết (mưa
lũ, khô hạn, dịch bệnh…) sẽ ảnh hưởng bất lợi đến sản xuất nông nghiệp và đời sống dân cư Vùng Hạ tiếp giáp biển, nền đất thấp, nhiều khả năng chịu tác động xấu của nước biển dâng, triều cường Bên cạnh đó, phần lớn diện tích trên địa bàn toàn tỉnh có nền đất thấp, yếu nên suất đầu tư rất cao nhất là đối với các công trình hạ tầng (đường giao thông, nhà ở, các công trình xây dựng…), từ đó hạn chế trong đầu tư Tỉnh có hệ thống sông ngòi chằn chịt, nhưng vào mùa khô việc xâm mặn có lúc diễn ra khá gay gắt, ảnh hưởng đến tổ chức sản xuất nông nghiệp Các yếu tố trên là những khó khăn, bất lợi tỉnh cần khắc phục, vượt qua trong quá trình phát triển
2.1.2 Tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội:
Tăng trưởng kinh tế tỉnh giai đoạn 1997 – 2000 đạt thấp, chỉ đạt 6,4% (chỉ tiêu từ 12-13%/năm) Trong đó, tăng trưởng cả 3 khối ngành nông nghiệp, công nghiệp và thương mại dịch vụ đến thấp hơn kế hoạch GDP bình quân đầu người tăng từ 3,72 triệu đồng/người/năm năm 1997 lên 4,51 triệu đồng/người năm năm 2000
Giai đoạn 2001 – 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh khá cao đạt 10,8%; tăng trưởng ở tất cả các khu vực đều ở mức cao, nhất là khu vực công nghiệp – xây dựng (giai đoạn 2001 – 2008 tăng bình quân 20,2%/năm) GDP bình quân đầu người tăng từ 4,51 triệu đồng/người/năm năm 2000 lên 17,4 triệu đồng/người/năm năm 2008
Tính toàn giai đoạn từ 1998-2008 tăng trưởng GDP của tỉnh đạt tốc độ khá nhanh, đạt 9,3%; Quy mô GDP (giá cố định 1994) tăng gấp 2,74 lần Đây
Trang 38là điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh tăng trưởng, thực hiện các chính sách xã hội, trong đó có XĐGN
2.2 HIỆN TRẠNG VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ NGUYÊN NHÂN ĐÓI NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LONG AN NĂM 1998
2.2.1 Hiện trạng đói nghèo năm 1998:
- Vào những năm 1997-1998, nền kinh tế Tỉnh nhìn chung vẫn là kinh tế thuần nông, nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1995-1998 thấp, đạt 8,1% (chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh (Khoá VI) giai đoạn 1996-2000 tăng từ 12–13%) Riêng năm
1998, tăng trưởng chung đạt 6,7%; trong đó, nông nghiệp tăng 7,7%, chiếm 53% GDP; công nghiệp tăng 5,7%, chiếm 17,4% GDP; thương mại - dịch vụ tăng 5,4%, chiếm 29,6% GDP GDP bình quân trên đầu người thấp, chỉ đạt 3,72 triệu đồng/người/năm (tương đương 323 USD) Sản xuất nông nghiệp bấp bênh, chủ yếu là trồng lúa, diện tích lúa 1 vụ còn nhiều, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, năng suất lúa thấp (khoảng 33,1 tạ/ha)
- Theo kết quả tổng điều tra hộ nghèo tháng 4/1998(8), toàn tỉnh có 30.558 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 12,2%, phần lớn các hộ nghèo tập trung ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa; số hộ nghèo vùng nông thôn là 26.777 hộ chiếm
tỷ lệ 87,6%; hộ nghèo vùng thành thị là 3.781 hộ, chiếm tỷ lệ 12,4% Có 63/183 xã nghèo (xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 15%) Có khoảng 60% hộ nghèo chưa có điện để sử dụng (cả tỉnh 30%); trên 76% hộ nghèo chưa được sử dụng nước sạch (cả tỉnh 60%)
- Cơ sở hạ tầng thiết yếu nhìn chung còn yếu kém, đến năm 1998, toàn tỉnh có 485,6 km đường chính và 8.334 km đường liên xã, liên ấp (chủ yếu là đường đất và sỏi đỏ); có 45/183 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm, cần đầu
tư thêm khoảng 450 km đường giao thông và các cầu trên toàn tuyến để các xã
có đường ô tô đến trung tâm; 20/183 xã chưa có mạng lưới điện quốc gia;
Trang 3938/183 xã chưa có trạm y tế; 145/183 xã chưa có chợ Chưa có xã, phường, thị trấn nào hoàn chỉnh hệ thống nước sạch sinh hoạt Các xã nghèo tập trung ở các huyện Vùng Đồng Tháp Mười; vùng Hạ (ven biển)
- Toàn tỉnh có tổng số 346 điểm trường với 8.079 lớp học Tỷ lệ học sinh/lớp cao (cấp II 42 học sinh/lớp; cấp III 47 học sinh/lớp) Hệ thống trường lớp có khoảng 1.000 phòng xuống cấp nặng, chiếm 15% số phòng học Giáo viên cấp II, III thiếu nhiều, toàn tỉnh thiếu khoảng 1.800 giáo viên theo tiêu chuẩn và thiếu 700 giáo viên so với lớp học; chỉ số giáo viên bình quân/lớp cấp
II là 1,46 và cấp III là 1,18 Tỷ lệ huy động trẻ vào lớp 1 đạt 97%
- Toàn tỉnh có 11 bệnh viên đa khoa tuyến huyện/14 huyện, thị Tỷ lệ bác sỹ/vạn dân 11 bác sỹ/10.000 dân Số xã có bác sỹ 40% Cơ sở vật chất, trang thiết bị thiếu nhiều và lạc hậu
- Dân số toàn tỉnh là 1.294.911 người, tỷ lệ tăng dân số bình quân khoảng 1,16%, số lao động trong độ tuổi 776.510 người, số lao động tham gia hoạt động kinh tế 680.383 người Khoảng 80% lao động hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp
2.2.2 Một số đặc điểm và nguyên nhân về đói nghèo trên địa bàn tỉnh
- Tổng số hộ nghèo sinh sống ở nông thôn chiếm 87,6% trên tổng số hộ nghèo Trong 7 huyện có tỷ lệ nghèo cao hơn bình quân chung cả tỉnh có tới 5 huyện thuộc vùng Đồng Tháp Mười (Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Tân Thạnh, Mộc Hoá và Đức Huệ); 01 huyện có xã thuộc vùng Đồng Tháp Mười (Thủ Thừa) và
01 huyện thuộc vùng Hạ (Cần Giuộc); Tổng số hộ của của 7 huyện nghèo cao chỉ chiếm 38% tổng số hộ trong toàn tỉnh, nhưng tổng số hộ nghèo chiếm tới 47% tổng số hộ nghèo trong toàn tỉnh Từ đó ta có thể thấy, nghèo đói trong tỉnh tập trung ở vùng nông thôn và thuộc các huyện vùng Đồng Tháp Mười, Vùng Hạ (Cần Giuộc)
8 Nguồn Cục Thống kê tỉnh; Chuẩn nghèo được xác định: nông thôn dưới 120.000 đồng, thành thị dưới
150.000 đồng
Trang 40Biểu 2.4: Tỷ trọng hộ nghèo sống ở nông thôn tỉnh Long An năm 1998:
12.2 22.1
10.1 13.4 8.1 9.8
Tỷ trọng số hộ thuộc 7 huyện nghèo nhất
62%
38% Tổng số hộ
các huyện còn lại Tổng số hộ thuộc 7 huyện nghèo nhất
Tỷ trọng số hộ nghèo thuộc 7 huyện nghèo nhất
53%
47%
Tổng số hộ nghèo các huyện còn lại
Tổng số hộ nghèo thuộc 7 huyện nghèo nhất