1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo cáo tổng quan đề tài nghiên cứu cấp nhà nước mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của một số nước phát triển ở châu âu kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam

310 482 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 310
Dung lượng 2,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước Ngay từ trong lịch sử cổ - trung đại Châu Âu với sự hình thành nhà nước Cộng hòa La Mã rồi việc ra đời Vương quốc Frank vào cuối Thế kỷ thứ 4

Trang 1

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC

KX.02/06-10

BÁO CÁO TỔNG QUAN

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CẤP NHÀ NƯỚC

MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN

XÃ HỘI CỦA MỘT SỐ NƯỚC PHÁT TRIỂN Ở CHÂU ÂU - KINH NGHIỆM VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Trang 2

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC

KX.02/06-10

BÁO CÁO TỔNG QUAN

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CẤP NHÀ NƯỚC

MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI CỦA MỘT SỐ NƯỚC PHÁT TRIỂN Ở CHÂU ÂU-KINH

NGHIỆM VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Mã số: KX.02.13/06-10

Cơ quan chủ trì: Viện Nghiên cứu Châu Âu Chủ nhiệm đề tài: GS.TS Nguyễn Quang Thuấn Thư ký đề tài: Ths Đặng Minh Đức

THÀNH VIÊN NHÓM NGHIÊN CỨU

1 GS.TS Bui

2 GS.TS Phạm Xuân Nam

3 PGS.TS Nguyễn Quang Thuấn

4 PGS.TS Đinh Công Tuấn

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 6

CHƯƠNG I: CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI CHÂU ÂU 21

I LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI 21 1 Phát triển xã hội và phát triển kinh tế 22

2 Các yếu tố cần thiết cho phát triển xã hội .23

3 Ba bước tiến của phát triển 29

4 Phát triển tự nhiên và phát triển có kế hoạch .32

5 Phát triển xã hội-một cái nhìn tổng quan .33

II LỰA CHỌN LÝ THUYẾT VÀ QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI CHÂU ÂU 38

1 Các vấn đề lý thuyết và khái niệm liên quan 39

2 Lựa chọn khái niệm và thực tiễn phát triển xã hội 44

3 Quan điểm nghiên cứu về các mô hình phát triển xã hội nổi bật của Châu Âu .46

CHƯƠNG II: NHỮNG MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI ĐẶC TRƯNG Ở CHÂU ÂU 55

I MÔ HÌNH BẮC ÂU – TRƯỜNG HỢP THỤY ĐIỂN 56

1 Quá trình hình thành và phát triển 56

1.1 Quá trình hình thành 56

1.2 Các giai đoạn phát triển 61

2 Những đặc trưng cơ bản của mô hình nhà nước phúc lợi Thuỵ Điển 67

2.1 Hệ thống bảo hiểm xã hội cho người lao động 68

2.2 Hệ thống chăm sóc sức khoẻ gia đình và trẻ em 76

2.3.Hệ thống giáo dục miễn phí 81

2.4 Hệ thống chính trị, xã hội dân sự, vai trò của chính phủ và các tổ chức phi chính phủ 83

3 Một số nhận xét 87

II MÔ HÌNH ANGLO-SAXON – TRƯỜNG HỢP VƯƠNG QUỐC ANH 94

Trang 4

1 Hoàn cảnh lịch sử và các nhân tố quyết định tiến trình hình thành và phát

triển 94

1.1 Báo cáo Beveridge và sự hình thành nhà nước phúc lợi xã hội hiện đại ở Anh 95

1.2 Sự phát triển của nhà nước phúc lợi hiện đại Anh từ 1948 đến nay 96

2 Hệ thống An sinh xã hội của nước Anh 100

2.1 Bảo hiểm hưu trí 100

2.2 Chăm sóc sức khoẻ 102

2.3 Trợ cấp ốm đau, mất sức lao động 104

2.4 Bảo hiểm thất nghiệp 105

2.5 Chăm sóc trẻ em 106

3 Chính sách thị trường lao động tích cực ở Anh 107

3.1 Trước năm 1997 107

3.2 Sau năm 1997 108

3.3 Tác động của chính sách thị trường lao động tích cực 111

4 Sự hoà nhập và gắn kết xã hội ở nước Anh 112

4.1 Sự phân tầng xã hội và bất bình đẳng ở nước Anh 113

4.2 Giới tính và sự bất bình đẳng ở Anh 114

4.3 Những tiến bộ trong xoá đói giảm nghèo 116

5 Các vấn đề bảo vệ môi trường trong phát triển kinh tế 117

6 Hệ thống chính trị và vai trò của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ trong mô hình phát triển xã hội 119

6.1 Hệ thống chính trị Anh: 119

6.2 Vai trò của nhà nước trong quản lý phát triển xã hội 120

6.3 Vai trò của các tổ chức phi chính phủ trong việc xác lập mô hình xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Anh 122

III MÔ HÌNH CHÂU ÂU LỤC ĐỊA – TRƯỜNG HỢP CHLB ĐỨC 128

1 Cơ sở hình thành và thực hiện mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở CHLB Đức 128

2 Những đặc trưng và nội dung cơ bản của mô hình xã hội CHLB Đức 134

3 Hệ thống an sinh xã hội Đức 140

3.1 Hệ thống chăm sóc sức khỏe (bảo hiểm y tế) 141

Trang 5

3.2.Hệ thống bảo hiểm và trợ cấp thất nghiệp 143

3.4 Bảo hiểm hưu trí 150

3.5 Các phúc lợi xã hội khác 150

4 Dân số, lao động, việc làm và hệ thống giáo dục 152

4.1 Dân số, lao động và việc làm 152

4.2 Hệ thống giáo dục 155

5 Những đặc trưng cơ bản của tiến trình hòa nhập và gắn kết xã hội của mô hình phát triển xã hội Đức 162

6 Bản sắc văn hóa, tôn giáo và giữ gìn phát huy bản sắc của CHLB Đức trong tiến trình hội nhập Châu Âu 165

6.1 Bản sắc văn hóa và tôn giáo Đức 165

6.2 Gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa Đức trong tiến trình hội nhập Châu Âu 168

7 Bảo vệ môi trường trong phát triển kinh tế 173

8 Hệ thống chính trị và vai trò của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ trong việc xác lập mô hình xã hội và quản lý phát triển xã hội 179

8.1 Hệ thống chính trị và vai trò của nhà nước 179

8.2 Vai trò của các tổ chức phi chính phủ trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Đức 181

IV MÔ HÌNH ĐỊA TRUNG HẢI – TRƯỜNG HỢP TÂY BAN NHA 184

1 Bối cảnh phát triển 184

2 Tính đặc thù của Mô hình Phát triển Xã hội Địa Trung Hải và trường hợp Tây Ban Nha 188

2.1 Tính đặc thù 188

2.2 Các thách thức đặt ra trong thời kỳ phát triển mới 194

3 Những vấn đề nổi bật trong quá trình phát triển xã hội Tây Ban Nha 199

3.1 Chuyển đổi chính trị và xây dựng nền dân chủ 199

3.2 Cải cách kinh tế và hội nhập quốc tế .207

3.3 Dân số, lao động và việc làm 214

3.4 Đối thoại giữa các đối tác xã hội 218

3.5 Vấn đề an sinh xã hội 220

3.6 Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững 222

Trang 6

V XU HƯỚNG HÌNH THÀNH MỘT MÔ HÌNH CHUNG CHÂU ÂU VỀ PHÁT

TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI 225

CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở CHÂU ÂU VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI VIỆT NAM 235

I ĐÁNH GIÁ VỀ CÁC MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI CHÂU ÂU 235

1 Về đặc trưng của các mô hình 235

2 Thành công nổi bật 247

3 Hạn chế và thách thức 252

II TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI CỦA CHÂU ÂU VÀ VIỆT NAM 262

1 Khái quát Mô hình phát triển xã hội ở Việt Nam 262

2 Tương đồng và khác biệt giữa mô hình Việt Nam và Châu Âu 272

III MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP CHO MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM 277

1 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 277

2 Kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện mô hình phát triển xã hội Việt Nam .286

2.1 Kiến nghị cụ thể hóa quan điểm phát triển xã hội của Đảng 286

2.2 Kiến nghị về một số hướng giải pháp cho mô hình phát triển xã hội ở nước ta giai đoạn 2011-2020 289

KẾT LUẬN 297

TÀI LIỆU THAM KHẢO 299

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Kinh tế thế giới đã trải qua hai thập niên tăng trưởng với tốc độ cao được gọi

là “thập niên vàng” - những năm 1950 và “thập niên bạc”- những năm 1960 với

nhịp độ trung bình 5,9%/năm để rồi sau đó gặp suy thoái và khủng hoảng với nhịp

độ giảm liên tục xuống mức dưới 3% ở những năm 1990 Mặt khác khi xây dựng các chiến lược phát triển tổng thể, quốc gia nào cũng đề cao mục tiêu tiến đến xã hội phồn vinh, đảm bảo đời sống sung túc cho mọi công dân của mình Trong thực

tế có những quốc gia đạt được mục tiêu tăng trưởng này nhưng cũng có nhiều quốc gia thất bại và ngay cả những quốc gia thành công cũng không phải không gặp các vấn đề của sự tăng trưởng Vấn đề nổi lên cho tất cả các quốc gia chính là tăng trưởng phải đi kèm phát triển, tăng trưởng kinh tế phải đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội, không thể tăng trưởng bằng bất kỳ giá nào dẫn đến sự huỷ hoại làm suy thoái môi trường tự nhiên và văn hóa xã hội Đặc biệt ở Châu Âu, nhiều quốc gia thành viên EU dù đã được xếp hạng vào nhóm các quốc gia có thu nhập cao (theo phân hạng của Ngân hàng Thế giới năm 2007 có 60 quốc gia / vùng lãnh thổ thuộc nhóm này với thu nhập theo đầu người từ 11.116 USD trở lên, trong đó có mặt tất cả các quốc gia EU-15) nhưng vẫn đang đối mặt với hàng loạt vấn đề trước hết là những vấn đề phát triển xã hội Rõ ràng là có nguyên nhân từ mô hình phát triển và hệ thống quản lý bởi mô hình xã hội Châu Âu từng đem lại nhiều thành tựu

và được ca ngợi một thời nay đang đứng trước các nghịch lý Ngày nay, người ta đang tranh luận khá nhiều về những mặt được và không được về mô hình phát triển của một số quốc gia Châu Âu điển hình như mô hình phát triển của Đức, một số quốc gia Bắc Âu và mô hình phát triển của Anh Không chỉ người Châu Âu đang nghiên cứu nhìn nhận lại mô hình phát triển xã hội và hệ thống quản lý tương ứng

để có thể thực hiện thành công chiến lược chuyển sang nền kinh tế tri thức trên cơ

sở một xã hội phồn vinh của văn minh hậu công nghiệp và phổ biến mô hình của mình ra thế giới như là một chuẩn mực cần phải noi theo Còn nhiều quốc gia khác, nhất là các quốc gia đang phát triển cũng quan tâm nghiên cứu mô hình Châu Âu

Trang 8

để học hỏi những kinh nghiệm cả thành công và chưa thành công để vận dụng vào thúc đẩy công cuộc phát triển kinh tế bền vững trong điều kiện cụ thể riêng có

Tổng kết 25 năm đổi mới (1986-2010) ai cũng có thể thấy nền kinh tế và xã hội Việt Nam đã thu được những thành tựu to lớn mà lịch sử đất nước trước đó chưa bao giờ đạt được Bước vào thời kỳ “hậu đổi mới” nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao và ngày càng thu hút thiện cảm của thế giới Bên cạnh nhịp độ tăng trưởng cao Việt Nam cũng được Ngân hàng thế giới đánh giá là một trong những quốc gia thành công nhất trong thực hiện các mục tiêu thiên niên

kỷ Tuy nhiên muốn đạt được mục tiêu sớm thoát khỏi tình trạng kém phát triển để đến năm 2020 cơ bản trở thành một quốc gia công nghiệp theo hướng hiện đại như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã chỉ ra chúng ta còn phải vượt qua hàng loạt thách thức trên mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, đối ngoại và phát triển xã hội Đây là những vấn đề thu hút tâm huyết không chỉ của các nhà lãnh đạo, của giới khoa học mà còn là của tất cả những ai quan tâm đến vận mệnh đất nước Chính vì vậy việc nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài trong xây dựng mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội là việc làm thường xuyên cần thiết Tính cấp thiết của việc nghiên cứu những kinh nghiệm của Châu Âu, các bài học chính diện và phản diện từ việc xây dựng và áp dụng “các mô hình xã hội Châu

Âu” không nằm ngoài nhu cầu chung đó

2 Tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước

Ngay từ trong lịch sử cổ - trung đại Châu Âu với sự hình thành nhà nước Cộng hòa La Mã rồi việc ra đời Vương quốc Frank vào cuối Thế kỷ thứ 4 đã xuất hiện các ý tưởng dẫn đến việc hình thành mô hình phát triển xã hội với hệ thống các cơ quan quyền lực về quản lý phát triển xã hội tuy còn rất sơ khai nhưng đã tạo

cơ sở cho sự định hình phát triển xã hội Châu Âu trong những thế kỷ kế tiếp cho đến khi chủ nghĩa tư bản ra đời Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội là chủ

đề được nhiều học giả Châu Âu quan tâm nghiên cứu từ rất sớm do yêu cầu thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt ở thời kỳ chủ nghĩa tư bản phát triển với các quốc gia tiên tiến đóng vai trò lực lượng dẫn dắt tiến bộ xã hội Khi Châu

Âu bước vào thời kỳ hội nhập từ sau Thế chiến II dẫn đến sự hình thành và ngày càng mở rộng tổ chức Liên minh Châu Âu (EU) người ta càng bàn luận nhiều hơn

Trang 9

đến mô hình phát triển xã hội (bao hàm cả quản lý phát triển xã hội) trước hết là về những thành tựu nổi bật và sau đó là những khiếm khuyết của mô hình thị trường

xã hội được xem là điển hình Châu Âu, tạo ra sự khác biệt với các mô hình Hoa Kỳ

và Nhật Bản Từ giữa thập niên 90 của thế kỷ trước đã xuất hiện ngày càng nhiều các công trình khoa học liên quan đến chủ đề này không chỉ trong giới học giả Châu Âu mà còn ở nhiều quốc gia khác Ở Việt Nam cũng có sự quan tâm nhất định đến chủ đề này với các nghiên cứu ở những góc độ khác nhau thường là khi bàn luận đến sự phát triển bền vững hoặc hệ thống an sinh xã hội v v Cho đến nay trong phạm vi các tư liệu chúng tôi có thì chưa thấy công trình nghiên cứu nào của nước ta chuyên bàn luận về vấn đề lý thuyết phát triển xã hội và các mô hình phát

triển xã hội cũng như quản lý phát triển xã hội ở Châu Âu Đề tài “Mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của một số nước phát triển Châu Âu-kinh

nghiệm và ý nghĩa đối với Việt Nam” có thể kế thừa thành quả nghiên cứu của nước

ngoài và cả trong nước để triển khai nghiên cứu theo các mục tiêu đã được xác định

2.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

Nếu xem những ý tưởng và sự tìm kiếm cách thức tổ chức-quản lý phát triển

xã hội của các nhà triết học cổ điển như “Lý luận về nhà nước lý tưởng” của Platon

và các trước tác của Aristotle là những nghiên cứu lý thuyết về phát triển xã hội (theory of social development) thì mô hình các vị đưa ra ở dạng sơ khai mang sắc thái cộng đồng có thể xem là những nghiên cứu sớm nhất về mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Sau khi nhà nước cộng hòa La Mã suy sụp, xã hội Châu Âu tiếp tục phát triển với sự ra đời liên tiếp của Vương quốc Frank-nước Pháp, nhà nước Đức và Vương quốc Anh…thì xã hội đã được định hình với các tầng lớp cư dân cũ và tầng lớp thị dân mới (do sự ra đời của các thành thị trung cổ) được phân biệt bởi tài sản chiếm hữu Một mô hình xã hội Châu Âu sơ khai đã hình thành và dần hoàn thiện cùng hệ thống quản lý với bộ máy nhà nước gồm Đại hội nhân dân, Viện nguyên lão…của cộng hòa La Mã, rồi chế độ quân chủ đại biểu

đẳng cấp (tăng lữ, quý tộc và thị dân) của nước Pháp Thế kỷ 14, mô hình “Đại hiến chương tự do” và “Quốc hội” với Thượng viện gồm đại biểu của đại quý tộc và

giáo hội, Hạ viện gồm đại biểu của kỵ sỹ và thị dân giầu ở nước Anh Thế kỷ 13 –

Trang 10

14…v.v Những nghiên cứu lý thuyết về phát triển xã hội khi Châu Âu bước vào thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản được tiến hành khá mạnh mẽ với sự xuất hiện hàng loạt công trình khoa học trong đó có những công trình nghiên cứu về xã hội công dân Một số trước tác của C Mác và Ph Anghen về chủ nghĩa tư bản và nhà nước tư bản cũng có đề cập đến sự phát triển xã hội và hệ thống quản lý phát triển

xã hội của nhà nước tư bản chủ nghĩa Mô hình xã hội Châu Âu tư bản chủ nghĩa dần dần định hình ngày càng rõ nét mang những đặc trưng của một xã hội văn minh hiện đại cùng tất cả những mâu thuẫn nội tại của nó Đặc biệt với sự ra đời Cộng đồng Châu Âu sau Thế chiến thứ II và tiến trình hội nhập dẫn tới việc hình thành

Liên minh Châu Âu ngày càng mang tính “siêu quốc gia” thì những công trình

nghiên cứu về phát triển xã hội, các mô hình xã hội và hệ thống quản lý phát triển

xã hội, mô hình xã hội Châu Âu xuất hiện ngày càng nhiều

Về những vấn đề chung có thể kể các nghiên cứu như “Comprehensive Theory of Social Development”(1997) của Garry Jacobs, Robert Macfariane và N

Asokan Trên cơ sở những quan sát thực tiễn trong thế giới đương đại, trước hết là quá trình xuất hiện các hoạt động mới trong xã hội, sự tiến triển các quyền lực của

tổ chức cũng như giới hạn của sự phát triển, sự gia tăng dân số và tiến trình thành thị hóa v v các tác giả đã trình bầy lý thuyết phát triển xã hội với sự phân định ba

giai đoạn phát triển xã hội Tiếp đó năm 1999 ấn phẩm “Social Development Theory” cũng của Garry Jacobs viết chung với Harlan Cleveland, ngoài phần phân

tích tầm quan trọng của lý thuyết các tác giả còn đi sâu vào xem xét các công cụ của phát triển là khoa học-công nghệ, vốn-kết cấu hạ tầng, chính sách xã hội-các thiết chế Nói đến quản lý phát triển xã hội cuốn sách đề cập đến vấn đề khả năng của các chính phủ trong việc định hướng các nguồn năng lượng xã hội (social energies) thông qua các công cụ luật pháp, chính sách công, thủ tục hành chính, kiểm tra kiểm soát…Trong số những nghiên cứu lý thuyết các vấn đề có liên quan đến phát triển xã hội cũng phải kể đến những công trình nghiên cứu về xã hội công dân (civil society) nói chung và xã hội công dân ở Châu Âu nói riêng, ví dụ như

cuốn “Civil Society and Political Theory” của các tác giả Jean L Cohen và Andrew Arato hoặc “Civil society: History and Possibilities” của Sudipta Kavira

và “Models of Civil Society” của các tác giả Thụy Điển v…v Những chủ đề được

Trang 11

xem xét ở đây thường là truyền thống lý thuyết ở phương Tây và các quan niệm về

xã hội công dân kể từ Hêghen, các quan niệm theo truyền thống Mác-xit cho tới các quan niệm hiện đại trong Thế kỷ 20, xã hội công dân và nền dân chủ, các thiết chế của xã hội công dân, xã hội công dân và toàn cầu hóa… Ngoài ra cũng có những công trình gắn việc nghiên cứu về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội

trong tiến trình toàn cầu hóa, đáng chú ý là cuốn “Globalization and Social

Development-European and Southeast Asian Evidence” của nhiều tác giả do Ludo

Cuyvers chủ biên, phân tích tác động của toàn cầu hóa đến phát triển xã hội xem xét từ thực tiễn Châu Âu và các nền kinh tế Đông Nam Á (Thái Lan, Philipin và Việt Nam)

Gần hơn với chủ đề nghiên cứu của đề tài là những công trình nghiên cứu về

mô hình xã hội Châu Âu Những nghiên cứu chung có thể kể như “European social model” của Kirsty Hughes, “European Social Model” của giáo sư André Sapir (2005), “The New Social Europe” của Poul Nyrup Rasmussen và Jacques Delors (2006), “European Social Model and Welfare States” của Marisa Alves Pereira,

Saltanat Auyesbayeva v v…Các chủ đề được nghiên cứu xem xét chính là những nội dung cơ bản của phát triển xã hội như mô hình xã hội Châu Âu là gì và nó dựa trên cơ sở những thang giá trị nào, chiến lược về việc làm đầy đủ, tri thức và đổi mới là chìa khóa của tăng trưởng khôn khéo, quyền bình đẳng thực tế giữa nam và

nữ, tạo dựng tính tích cực trong một xã hội đang già đi, sự tập hợp và gắn kết xã hội, đa dạng hóa và nhất thể hóa v v…Đặc biệt là những tư liệu của các cuộc hội nghị, hội thảo quốc tế về chủ đề này Ví dụ như hai cuộc hội thảo cùng diễn ra vào

tháng 3 năm 2006: Hội thảo tại Paris ngày 9 tháng 3 với chủ đề “The European Social Model(s): Which directions and responsibilities for the EU?” theo đuổi mục

tiêu xác định các phương hướng và trách nhiệm của EU trong việc hiện đại hóa mô hình xã hội Châu Âu thông qua trao đổi bàn luận các vấn đề: làm cách nào phá vỡ

sự bế tắc hiện có trong phát triển xã hội Châu Âu, mức độ đa dạng và hội tụ nào Châu Âu có thể đạt được, làm sao có thể đảm bảo các hệ thống bảo vệ xã hội là phù hợp và bền vững về tài chính cho tất cả các quốc gia thành viên EU v v…Cuộc Hội

thảo khác về đề tài này có tên gọi “Beyond the European Social Model” thì tập

trung vào giải quyết vấn đề: Thế nào là mô hình xã hội Châu Âu chung (a common

Trang 12

European Social Model) và với gánh nặng về thuế dao động từ 28 đến 52% GDP trong EU 25 quốc gia có những khác biệt về trình độ phát triển và nhất là về văn hóa thì liệu có thể nói đến một mô hình xã hội chung không? Hội thảo đã trao đổi các vấn đề từ huyền thoại về mô hình Scandina cho đến sự sụp đổ của thần kỳ Airơlen trước mô hình xã hội Châu Âu cũng như trao đổi về các vấn đề cụ thể hơn của nội dung phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội như ma túy và mô hình

xã hội Hà Lan, sự gắn kết xã hội, dân số và việc làm, bài học cho các nhà cải cách…vv

Chúng tôi chưa tiếp cận được nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các

mô hình xã hội cụ thể ngoài một số tư liệu phân tích về sự phát triển xã hội Na quốc gia được coi là đi tiên phong trong lĩnh vực phúc lợi xã hội, về sự phát triển

Uy-xã hội Pháp-quốc gia có hệ thống phúc lợi Uy-xã hội phát triển cao, về sự không phù hợp với tất cả mọi người của mô hình xã hội Đan Mạch, sự đối nghịch của mô hình

“Anglo-Saxon” đối với các mô hình “xã hội Châu Âu” v v

Quản lý phát triển xã hội và mô hình quản lý phát triển xã hội Châu Âu là chủ đề ít được nghiên cứu hơn xét trên bình diện chung vì phần lớn những nghiên cứu đã có đều tập trung vào những khía cạnh cụ thể của việc quản lý, theo rõi, giám

sát tiến trình phát triển xã hội ở những bộ phận cụ thể Ví dụ công trình “The EU strategy for sustainable development process and prospects” tập trung nghiên cứu

phát triển xã hội và quản lý bền vững như là các mục tiêu xã hội và kinh tế của

chiến lược Một công trình khác “Social development” lại tập trung vào nghiên cứu

việc quản lý và khủng hoảng của quản lý trong giáo dục, môi trường, tài chính và

giới trong phát triển Công trình “Development Administration” thì nghiên cứu sự kết nối “vốn xã hội” (social capital) với quá trình quản lý phát triển của một quốc

gia Đặc biệt đáng lưu ý là những kết quả nghiên cứu của Chương trình MOST do UNESCO tài trợ mà Viện Nghiên cứu Châu Âu được mời tham gia (GS.TS Bùi Huy Khoát được giao nhiệm vụ giám đốc bộ phận tham gia phía Việt Nam) từ giữa những năm 90 Một “nhóm nghiên cứu quốc tế” do Pháp chủ trì thu hút sự tham gia của một số quốc gia Châu Á, Châu Phi và Mỹ La tinh cùng với một số cơ quan của Pháp nghiên cứu xem xét phân tích tiến trình quản lý phát triển xã hội ở góc độ những cải biến xã hội ở các quốc gia này và tham khảo kinh nghiệm của Pháp và

Trang 13

Châu Âu (EU) Tên gọi của chương trình - MOST là các chữ cái đầu của cụm từ

Management Of Social Transfomation đã nói lên nội dung nghiên cứu của mình

2.2 Những nghiên cứu trong nước

Theo khảo sát dữ liệu của nhóm nghiên cứu từ nhiều nguồn khác nhau như qua mạng internet, hệ thống các thư viện chuyên ngành, tham khảo các cơ sở dữ liệu của Viện Nghiên cứu Châu Âu…vv thì đến nay ở trong nước chưa có công trình nghiên cứu nào đã được công bố có chủ đề trùng với tên đề tài này Trực tiếp liên quan đến đề tài mới chỉ có một số công trình nghiên cứu dạng các đề tài nghiên

cứu cấp Bộ mà Viện Nghiên cứu Châu Âu đã triển khai gần đây như “Hệ thống an sinh xã hội của EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” do PGS.TS Đinh Công Tuấn làm chủ nhiệm, Đề tài “Chính sách phát triển vùng của Italia” do TS Bùi Nhật Quang làm chủ nhiệm; Đề tài: “Hệ thống thể chế chính trị và cải cách thể chế chính trị EU trong bối cảnh Liên Minh Châu Âu mở rộng” do TS Đặng Thế

Truyền làm chủ nhiệm và đề tài cấp Bộ do PGS.TS Đinh Công Tuấn làm chủ

nhiệm: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xã hội dân sự ở Liên Minh Châu Âu”

Trong dự án ODA ”Chương trình nghiên cứu Châu Âu ở Việt Nam” (ESPV)

do EU tài trợ mà Viện Nghiên cứu Châu Âu là chủ dự án, ở nội dung nghiên cứu cũng có triển khai nghiên cứu về tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của một số quốc gia thành viên EU như Thụy Điển, Hà Lan, Pháp, Anh và Italia v v trong đó

có xem xét sơ bộ về các mô hình phát triển xã hội Ngoài ra cũng trong một dự án hợp tác nghiên cứu với nước ngoài khác của Viện Nghiên cứu Châu Âu do EU tài trợ và Đại học Roskindle, Đan Mạch là cơ quan đối tác nước ngoài với chủ đề liên

quan đến việc xóa đói giảm nghèo: “Sustainable Livelihoods in Southeast Asia: a Grassroots-informed Approach to Food Security”, Viện Nghiên cứu Châu Âu đã

cùng các đối tác Đan Mạch, Anh, Italia, Thái Lan, Lào tổ chức khảo sát thực tế ở Việt Nam, Thái Lan, Lào về hệ thống quản lý theo dõi tiến trình phát triển kinh tế gắn với những chuyển biến xã hội ở các vùng nông thôn từ góc độ an ninh lương thực và xóa nghèo Những kinh nghiệm của Châu Âu, trước hết là của Đan Mạch, Anh và Italia cũng được các học giả Châu Âu nghiên cứu và trình bầy để rút ra các bài học kinh nghiệm Năm 2007, Viện Nghiên cứu Châu Âu cũng đã triển khai đề tài hợp tác với Đại học Naples - Italia và các đối tác Anh, Pháp có tên gọi

Trang 14

“Grassroots democracy and participatory budgeting” đề cập đến vấn đề dân chủ cơ

sở cũng có liên quan trực tiếp đến một số nội dung của chủ đề quản lý phát triển xã hội

Ở góc độ các lý thuyết tổng quan với vai trò làm nền tảng lý luận của hoạt đông nghiên cứu, trước hết có thể kể đến những lý thuyết kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh được tham khảo và lựa chọn như những chỉ dẫn về lý luận và phương pháp luận cho việc nghiên cứu đề tài Liên quan đến việc nghiên cứu quan điểm phát triển của các tác giả kinh điển của Chủ nghĩa Mác-

Lênin có công trình của GS.TS Nguyễn Văn Huyên về “Triết lý phát triển Mác, Angghen, Lênin, Hồ Chí Minh” (2000) và “Triết lý Hồ Chí Minh” (1996) của GS

Trần Văn Giầu Gần với chủ đề của đề tài hơn là những công trình nghiên cứu về

phát triển và phát triển xã hội như “Triết lý phát triển ở Việt Nam, mấy vấn đề cốt yếu” do GS Phạm Xuân Nam chủ biên (2002) tập trung nghiên cứu một số vấn đề

cơ bản của lý luận phát triển và mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố tạo nên

sự phát triển Trong một nghiên cứu khác cũng do GS Phạm Xuân Nam chủ biên

“Quản lý sự phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng” (2001) các tác

giả lại đi sâu vào xem xét vấn đề phát triển xã hội gắn với công bằng và tiến bộ xã hội Phát triển xã hội được xem xét dưới góc độ quan hệ giữa xã hội và tự nhiên

được tác giả Hồ Sỹ Qúy nghiên cứu trong công trình “Mối quan hệ giữa con người

và tự nhiên trong sự phát triển xã hội” (2000) Trong số những Chương trình

nghiên cứu khoa học cấp nhà nước đã được nghiệm thu cũng có một số đề tài liên quan trực tiếp đến một số nội dung của chủ đề phát triển xã hội và quản lý phát

triển xã hội Chương trình KX-05 “Hệ thống chính trị trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta” do GS Nguyễn Đức Bình làm chủ nhiệm có xem xét đến

các lý thuyết về nhà nước pháp quyền và cơ chế dân chủ (1998) Năm 2006 có

Chương trình KX 10 “Tiếp tục đổi mới hoàn thiện hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” do PGS.TS Trần Đình Hoan làm chủ nhiệm đã đi sâu nghiên cứu

cơ cấu tổ chức và mô hình hoạt động của hệ thống chính trị ở một số quốc gia trên thế giới trong đó có một số quốc gia Tây Âu cung cấp những tư liệu rất bổ ích

Cũng liên quan đến chủ đề hệ thống chính trị gần đây có cuốn “Hệ thống chính trị

Trang 15

Anh, Pháp, Mỹ” do GS.TS Nguyễn Văn Huyên chủ biên đi sâu nghiên cứu những

thành tố cơ bản của hệ thống chính trị ở các quốc gia này từ đó rút ra các bài học cho việc đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam v v…

2.3 Một vài nhận định về tình hình nghiên cứu đề tài

Từ tìm hiểu về tình hình nghiên cứu đề tài ở trong và ngoài nước như đã nêu

ở trên, nhóm nghiên cứu đưa ra một vài nhận định như sau:

- Các công trình nghiên cứu trực tiếp về chủ đề phát triển xã hội ở góc độ lý thuyết của các tác giả nước ngoài khá phong phú Trên cơ sở tham khảo một số trước tác có quan hệ gần gũi với chủ đề của các tác gia kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin để thấm nhuần các quan điểm lý luận và phương pháp luận Macxit, có thể sử dụng những thành quả nghiên cứu lý thuyết này để làm rõ cơ sở lý thuyết và nội dung lý luận của phát triển xã hội Một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước cần được tham khảo để thấy sự gần gũi về lý thuyết và các khác biệt có thể có do tính đặc thù về lý thuyết phát triển và phát triển xã hội Đề tài cần triển khai các nghiên cứu lý thuyết để làm rõ sự hiểu biết chung và lý giải về sự khác biệt trong quan điểm lý luận có thể có do sự diễn giải và cách hiểu của các bên về cùng một khái niệm, một lý thuyết Tức là cần làm rõ các lý thuyết chung trong nhận thức từ thực tiễn của Việt Nam

- Những nghiên cứu về mô hình phát triển xã hội Châu Âu, phạm vi EU (phần nào bao hàm cả vấn đề quản lý phát triển xã hội) cũng rất phong phú Các tác giả chủ yếu xem xét việc tạo dựng một mô hình phát triển xã hội “gốc” chung cho toàn EU và trên cơ sở đó phát triển các mô hình riêng đặc thù như sự biểu hiện cái chung Chủ đề nghiên cứu này gây tranh cãi khá sôi nổi trong giới nghiên cứu EU giữa hai “trường phái” ủng hộ và phản bác sự tồn tại một mô hình chung Đề tài sẽ phải mô tả tổng quan để cung cấp thông tin đầy đủ về vấn đề gây tranh cãi này và

có những nhận xét đánh giá từ góc độ học thuật và thực tiễn phát triển EU về tính khả thi, hữu dụng của mô hình xã hội Châu Âu

- Những công trình nghiên cứu trực tiếp về quản lý phát triển xã hội ở Châu

Âu không nhiều Đề tài sẽ kế thừa một số kết quả của Chương trình MOST và các

dự án đã và đang làm với Đan Mạch, Italia… để từ đó đi sâu tìm hiểu thêm và

Trang 16

nghiên cứu hoàn chỉnh về hệ thống quản lý này trên bình diện lý thuyết gắn với nghiên cứu ở các mô hình phát triển xã hội cụ thể

- Những nghiên cứu về các mô hình phát triển xã hội Châu Âu cũng không

có nhiều tuy nhiên cũng có những phân loại khác nhau về các mô hình tiêu biểu Đây là một nội dung quan trọng mà đề tài cần triển khai nghiên cứu từ xem xét các tiêu chí tạo khác biệt giữa các mô hình đến nghiên cứu trực tiếp làm rõ các mô hình với đại diện là một số quốc gia kinh tế phát triển là thành viên EU

- Những công trình nghiên cứu trong nước ở tầm lý luận chung tuy không nhiều nhưng khá tập trung vào chủ đề lý thuyết phát triển và phát triển xã hội Đây

là những tư liệu giúp trực tiếp cho việc tìm hiểu những hiểu biết về lý thuyết phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đã được các nhà nghiên cứu trong nước phân tích Trên cơ sở tham khảo các tư liệu đó kết hợp với khảo sát thực tế một số địa bàn ở trong nước những người nghiên cứu đề tài sẽ có được những hiểu biết thực tiễn về mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đang hình thành

ở Việt Nam giúp cho việc đối chiếu so sánh với lý thuyết và thực tiễn Châu Âu từ

đó rút các bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp cho các nhà hoạch định và thực thi chính sách

3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Mặc dù ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu ở tầm lý luận về phát triển nhưng lý thuyết phát triển xã hội dường như còn chưa được nghiên cứu nhiều

Đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu hệ thống hóa những lý thuyết phổ biến đã được thừa nhận ở Châu Âu về mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội để vừa thông tin khoa học vừa đóng góp cho việc tìm kiếm xây dựng cơ sở lý luận cho phát triển xã hội và xây dựng mô hình phát triển xã hội cũng như quản lý phát triển

xã hội ở Việt Nam trên cơ sở kết hợp tri thức chung của thế giới với những đặc thù Việt Nam qua vận dụng quan điểm Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh cụ thể đất nước

Qua nghiên cứu mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của một số nước phát triển Châu Âu đề tài làm rõ không chỉ cơ sở lý luận mà còn những điều kiện chủ quan và khách quan cho việc xây dựng và vận dụng mô hình phát triển xã hội Đây là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn đối với Việt Nam khi chúng ta

Trang 17

mong muốn tiếp thu các lý thuyết hiện đại nhưng cần hiểu bối cảnh và những nhân

tố chi phối việc vận dụng lý thuyết và kinh nghiệm nước ngoài vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước Những kết quả nghiên cứu của đề tài còn có ý nghĩa thực tiễn

quan trọng trong bối cảnh hiện nay EU đang muốn “xuất khẩu” mô hình mà họ cho

là “giá trị chung” để “khai hóa văn minh” cho thế giới các nước đang phát triển

qua việc ép buộc có tính áp đặt các giá trị dân chủ nhân quyền của phương Tây trong hợp tác quốc tế mà thiếu quan tâm đến bối cảnh cụ thể của các quốc gia đang phát triển Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cho thấy dù cho thực tiễn Châu Âu với những lý thuyết khoa học và mô hình được xem là có nhiều ưu điểm vượt trội

nhưng Châu Âu cũng không phải là toàn thế giới và cũng không phải là hình mẫu duy nhất để mọi quốc gia-dân tộc nhất nhất noi theo, cho nên Châu Âu chỉ là một

nguồn tham khảo cho việc áp dụng các kinh nghiệm nước ngoài vào Việt Nam

4 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Làm rõ nguồn gốc lịch sử-thực tiễn của sự hình thành các ý tưởng-lý thuyết

và mô hình phát triển xã hội, hệ thống quản lý phát triển xã hội từ đó xác định nền tảng lý thuyết của tiến trình phát triển xã hội (với các mô hình khác nhau) và quản

lý phát triển xã hội trong mối quan hệ tương tác với các lý thuyết phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa…ở các quốc gia Châu Âu ngày nay

- Trên cơ sở lý thuyết chung của Châu Âu về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội xác định các mô hình phát triển xã hội như sự biểu hiện cái chung trong cái riêng ở một số quốc gia phát triển là đại diện và làm rõ bản chất, đặc điểm, điều kiện hình thành và vận hành của các mô hình này cùng hệ thống quản lý chúng

- Dự báo triển vọng của các mô hình đã lựa chọn nghiên cứu trong khả năng phát triển kinh tế-chính trị của Châu Âu với xu thế liên kết siêu quốc gia hội nhập

mô hình phát triển xã hội trên cơ sở tạo dựng “bản sắc Châu Âu” (European Identity) và “Mô hình xã hội Châu Âu” (European Social Model) trong đa dạng

văn hóa-sắc tộc trong các thập niên đầu Thế kỷ 21

- Từ những nghiên cứu về thực trạng phát triển xã hội, các mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở một số quốc gia Châu Âu tiêu biểu, cũng như tìm hiểu thực tiễn ở Việt Nam, rút ra những vấn đề Việt Nam có thể tham khảo

Trang 18

trong tiến trình xây dựng xã hội phồn vinh, công bằng, dân chủ, văn minh, xã hội chủ nghĩa

- Đối tượng nghiên cứu là quá trình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội và phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn ở khu vực các quốc gia có nền kinh tế phát triển là thành viên của tổ chức Liên minh Châu Âu (EU 15)

5 Đóng góp mới và lợi ích của đề tài

Đề tài nghiên cứu về mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của các quốc gia phát triển Châu Âu là đề tài mới, lần đầu tiên được thực hiện tại Việt Nam và kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là những đóng góp mới cho xã hội với nhiều lợi ích nổi bật Có thể tóm tắt các lợi ích và đóng góp mới của đề tài nghiên cứu như sau:

a) Tác động đến xã hội (đóng góp cho việc xây dựng chủ trương, chính

sách, pháp luật hoặc có tác động làm chuyển biến nhận thức của xã hội) và tác động đối với ngành, lĩnh vực khoa học (đóng góp mới, mở ra hướng nghiên cứu mới thông qua các công trình công bố ở trong và ngoài nước)

- Đối với việc xây dựng đường lối, chính sách:

Đóng góp của đề tài là khi hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu sẽ góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho các cơ quan hoạch định chính sách của Đảng

và Nhà nước trong việc xây dựng và hoàn chỉnh mô hình phát triển xã hội và quản

lý phát triển xã hội của Việt Nam cho phù hợp với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, điều chỉnh mô hình phát triển để đạt tới các mục tiêu phát triển của đất nước trong giai đoạn 2010 – 2020

- Đối với phát triển kinh tế, xã hội:

Những kết quả nghiên cứu của đề tài có thể đóng góp cho việc điều chỉnh

và hoạch định, thực hiện các chính sách phát triển xã hội và hệ thống quản lý phát triển xã hội, từ đó có tác động tích cực thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội ở các địa phương và trong địa bàn cả nước

- Đóng góp thông qua ứng dụng các kết quả nghiên cứu:

Từ nghiên cứu các kinh nghiệm của Mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Châu Âu, xem xét tính đa dạng và tính thống nhất của các mô

Trang 19

hình riêng lẻ bên trong một mô hình chung của các nước Châu Âu đang trên đường phát triển sâu và tăng cường liên kết, đề tài sẽ cung cấp một số bài học kinh nghiệm thực tiễn của các quốc gia Châu Âu cho các cơ quan điều hành hoạt động thực tiễn và các cơ quan quản lý về phát triển xã hội ở Việt Nam

b) Nâng cao năng lực nghiên cứu của tổ chức, cá nhân thông qua tham gia thực hiện đề tài, đào tạo trên đại học (số người được đào tạo thạc sỹ - tiến

sỹ, chuyên ngành đào tạo)

- Đóng góp cho phát triển lĩnh vực khoa học về Châu Âu:

Châu Âu học là bộ môn khoa học còn khá mới mẻ ở Việt Nam và đang được xây dựng, phát triển và mở rộng hoạt động đào tạo tại một số viện nghiên cứu và trường đại học Kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ đóng góp cho việc củng cố và nâng cao chất lượng giảng dạy của bộ môn khoa học này, trong đó sẽ

có đóng góp cho bộ môn quốc tế học nói chung và khu vực học nói riêng

- Đối với công tác đào tạo cán bộ khoa học (bao gồm cả cơ hội nâng cao năng lực nghiên cứu của các cá nhân và tập thể nhà nghiên cứu khi thực hiện đề tài):

Đề tài nghiên cứu do Viện Nghiên cứu Châu Âu chủ trì và đây là viện nghiên cứu chuyên ngành duy nhất của Việt Nam về các vấn đề của Châu Âu Viện đã và đang xây dựng một đội ngũ cán bộ chuyên môn về nghiên cứu Châu

Âu và quá trình thực hiện đề tài là cơ hội tốt để các nhà nghiên cứu nâng cao trình

độ, mở mang kiến thức nhằm đáp ứng yêu cầu khoa học nghiêm khắc hơn Ngoài

ra, đội ngũ các nhà nghiên cứu thực hiện đề tài sẽ nâng cao được trình độ lý luận

và kiến thức thực tế, mở rộng quan hệ hợp tác với các đồng nghiệp khác cả ở trong và ngoài nước

Viện nghiên cứu Châu Âu đồng thời cũng tham gia đào tạo tại rất nhiều cơ

sở đào tạo bên ngoài về các vấn đề thuộc chuyên ngành Châu Âu học Những kết quả nghiên cứu của đề tài do Viện chủ trì thực hiện thông qua các cán bộ nghiên cứu, giảng viên của Viện do vậy sẽ có cơ hội đến được với các sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh tiến sỹ đang được đào tạo về các chuyên ngành quan hệ quốc tế, quốc tế học, kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế, Châu Âu học… ở

Trang 20

nhiều cơ sở đào tạo khác nhau trên toàn quốc

6 Nội dung nghiên cứu

(a) Nghiên cứu làm rõ và hệ thống hóa các lý thuyết được phổ biến rộng rãi

ở Châu Âu về mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội cũng như mối quan hệ giữa chúng (kể cả các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin) và làm rõ quan điểm của Đảng ta, sự tiếp thu và nhận thức của các học giả Việt Nam về vấn đề này trên cơ sở thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh:

- Những ý tưởng về phát triển xã hội và các mô hình sơ khai ở Châu Âu về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội

- Nội dung cơ bản của các lý thuyết về mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội phổ biến ở Châu Âu

- Quan điểm và cách hiểu của các học giả Việt Nam về lý thuyết phát triển, phát triển xã hội và các phạm trù khái niệm có liên quan

Cách hiểu và những khái niệm cơ bản có liên quan đến việc triển khai nghiên cứu đề tài như tăng trưởng và phát triển, phát triển xã hội, mô hình phát triển xã hội, quản lý phát triển xã hội v v được đề cập và phân tích trong khi nghiên cứu các quan điểm và nội dung lý thuyết phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội như nói ở trên

(b) Nghiên cứu mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Châu

Âu

- Nghiên cứu tổng quan về mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội chung ở Châu Âu tập chung chủ yếu vào nhà nước phúc lợi xã hội, an sinh xã hội

- Tác động của sự phát triển liên kết Châu Âu theo xu hướng siêu quốc gia tạo cơ sở vững chắc cho hình thành mô hình xã hội Châu Âu chung

- Xã hội dân sự - lý thuyết và thực tế ở Châu Âu trong tiến trình thống nhất

- Các mô hình phát triển kinh tế thị trường ở Châu Âu, những đặc trưng có tính phổ quát và những đặc thù ở một số quốc gia điển hình, khía cạnh xã hội của

sự phát triển kinh tế thị trường và quản lý phát triển xã hội

Trang 21

(c) Nghiên cứu khảo sát phân tích bản chất đặc điểm các điều kiện hình

thành, thành tựu và những vấn đề đặt ra của các mô hình phát triển xã hội điển hình

ở một số quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu Đề tài tập trung vào 4 loại mô hình đặc trưng sau đây:

- Mô hình Bắc Âu (Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch) - trường hợp Thụy Điển

- Mô hình Anglo-Saxon (Ailen, Anh) - trường hợp Vương Quốc Anh

- Mô hình lục địa (Áo, Bỉ, Pháp, Đức, Luxembourg) - trường hợp Cộng hoà Liên bang Đức

- Mô hình Địa Trung Hải (Tây Ban Nha, Italia, Bồ Đào Nha, Hy Lạp) - trường hợp Tây Ban Nha

Đây là bốn mô hình phát triển xã hội điển hình của các quốc gia phát triển Châu Âu được lựa chọn và tập trung nghiên cứu Mặc dù vậy, với quan điểm coi cả

4 mô hình này đều là các mô hình của Châu Âu và cách thức vận hành, cách thức quản lý phát triển xã hội bên trong mỗi mô hình đều mang những nét tương đồng nên định hướng nghiên cứu sẽ hướng tới tổng hợp, làm rõ các biến chuyển chung

của 4 mô hình theo hướng tăng cường trình độ hội nhập Điều này có nghĩa rằng xu

hướng phát triển thời gian tới của các mô hình sẽ thể hiện những nét tương đồng ngày càng gia tăng và những khác biệt ngày càng giảm bớt để hình thành nên một

mô hình phát triển Châu Âu áp dụng cho tất cả các quốc gia phát triển Châu Âu,

đặc biệt là các quốc gia thành viên EU

(d) Phân tích các bài học xây dựng mô hình xã hội Châu Âu trong sự đa

dạng các mô hình điển hình và kinh nghiệm quản lý phát triển xã hội của các quốc gia EU từ đó đề xuất những vấn đề Việt Nam có thể tham khảo vận dụng

Trang 22

CHƯƠNG I CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ

QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI CHÂU ÂU

I LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

Từ những ý niệm sơ khởi thời cổ đại về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, các lý thuyết liên quan tới vấn đề này đã tiếp tục được phát triển, hoàn thiện qua một thời kỳ lịch sử lâu dài Đến thời cận – hiện đại, các lý thuyết phát triển, phát triển xã hội đã được nhiều nhà nghiên cứu tập trung làm rõ với các cách tiếp cận rất đa dạng, phong phú áp dụng cho những trường hợp phát triển khác nhau trên thế giới để tạo thành các mô hình phát triển xã hội Phần này tìm hiểu về những luận giải chủ yếu liên quan tới vấn đề phát triển xã hội và quản lý phát triển

xã hội thời hiện đại

Khi đề cập đến phát triển, người ta thường lấy những con số định lượng để

đo lường Như phát triển kinh tế thì dựa vào GDP, vậy “phát triển xã hội” thì sao?

Đó là những gì liên quan đến việc thay đổi chất lượng của cấu trúc và chức năng xã hội Việc thay đổi này đã giúp cho xã hội thực hiện tốt hơn mục tiêu của mình Sự phát triển xã hội là kết quả của việc thay đổi hàng loạt chính sách và các chương trình; điều này được mô tả như sự di chuyển vượt lên, mức độ lớn hơn của năng lượng, năng lực, chất lượng, khả năng sáng tạo, sự thống trị, sự thưởng thức và thành tựu….của xã hội qua các giai đoạn lịch sử Nhìn lại các diễn biến của lịch sử trong suốt nhiều thế kỷ đã cho thấy xã hội loài người vẫn liên tục phát triển theo thời gian và để lý giải cho điều này, các học giả Châu Âu đã đưa ra nhiều lý thuyết khác nhau để tìm hiểu và phân tích về các tác nhân khiến cho quá trình phát triển của xã hội mang tính liên tục Về cơ bản, có thể xem xét các vấn đề lý thuyết liên quan tới phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội thời hiện đại với các nội dung bao gồm:

Trang 23

• Phát triển kinh tế khác với phát triển xã hội

• Các yếu tố cần thiết cho phát triển xã hội

• Ba bước tiến của phát triển xã hội

• Phát triển tự nhiên và phát triển có kế hoạch

• Phát triển xã hội – một cái nhìn tổng quan

1 Phát triển xã hội và phát triển kinh tế

Lý thuyết cơ bản về sự biến đổi xã hội là ý thức phát triển sẽ đưa đến một tổ chức tốt hơn Loài người tiến hóa là do ý thức, và ý thức sẽ được thực hiện bởi tổ chức Khi xã hội nhận ra những cơ hội mới và tốt hơn, nó sẽ hình thành những tổ chức phù hợp để tận dụng và khai thác những cơ hội này

Cần phân biệt rõ bốn thuật ngữ:“tồn tại”, “tăng trưởng”, “phát triển”, “tiến hóa” “Tồn tại”: liên quan đến sự hiện hữu của cuộc sống trong đó không có thay đổi gì về tính chất của cuộc sống “Tăng trưởng”: đề cập đến sự mở rộng theo phương nằm ngang được mô tả bởi sự lớn lên về số lượng ví dụ như một nông dân tăng diện tích trồng trọt hay một thương nhân mở rộng thị trường bán lẻ “Phát triển” liên quan đến sự chuyển đổi theo phương thẳng đứng bằng cách gia tăng mức

độ để hình thành sự thay đổi chất lượng ví dụ như một nhà bán lẻ trở thành nhà sản xuất hay một trường tiểu học trở thành trường trung học “Tiến hóa”: liên quan đến

sự giới thiệu những thực tiễn mới như thẻ tín dụng, internet,…

Muốn phát triển xảy ra phải có động cơ và điều kiện tạo ra sự thay đổi xã hội Động cơ phải đủ mạnh để vượt qua những cản trở Phát triển cũng cần nguồn tài nguyên như vốn, công nghệ, cơ sở hạ tầng vv

Phát triển là kết quả xã hội đã tận dụng tốt cơ hội cũng như vượt qua được thử thách bằng những nguồn nhân lực và những tài nguyên có ích Xã hội đã trãi qua các giai đoạn trong tiến trình phát triển: giai đoạn du cư săn bắn, hái lượm, nông nghiệp, đô thị hóa, thương mại, công nghiệp và hậu công nghiệp Những người tiên phong đã đưa ra những ý tưởng mới, phát minh mới,… và bị chống đối bởi các phe bảo thủ Và cuối cùng đổi mới cũng được cộng đồng chấp nhận, tổ chức và thực hiện Những cải tiến có tính tổ chức có thể diễn ra đồng thời ở bốn mức độ: thể chất, xã hội, tinh thần và tâm lý Ngoài ra, bốn loại tài nguyên khác nhau cũng hỗ trợ cho phát triển Trong đó, tài nguyên vật chất là hữu hình và có

Trang 24

giới hạn Nguồn tài nguyên hiệu quả có thể làm tăng chất lượng tổ chức và cấp độ kiến thức

Trong suốt tiến trình phát triển, tốc độ và phạm vi phát triển khác nhau ở từng giai đoạn Ba giai đoạn chính là vật lý, sự sống (thuật ngữ “sự sống” đề cập đến những nguồn lực mạnh mẽ, năng động của con người đã giúp họ thànhh công)

và giai đoạn tinh thần Tất cả ba giai đoạn này đều có những đặc trưng riêng

Đó là những nét chung của “phát triển xã hội” Để đạt được điều này, xã hội cần có một số các yếu tố cần thiết khác đảm bảo cho quá trình phát triển được diễn

ra một cách phù hợp

2 Các yếu tố cần thiết cho phát triển xã hội

2.1 Sự phát triển của loài người

Đó là một tiến trình mà con người sử dụng tất cả những giác quan cũng như

óc phán đoán của mình để nhận biết thế giới vật chất và các động lực phát triển Động lực mạnh mẽ nhất để thúc đẩy tiến trình phát triển là năng lực và khát vọng của mỗi con người Do đó, hoạt động có ý thức của con người là tác nhân trực tiếp của quá trình phát triển Sự sáng tạo, năng suất, tính hiệu quả cũng sự chứa đựng một cách có tổ chức sẽ cho thấy mức độ thành công và khả năng thưởng thức của

họ Phạm vi và cường độ phát triển sẽ phụ thuộc vào hiệu quả của giáo dục, sức mạnh của khát vọng và năng lực, kỹ năng và thông tin Tất cả những nhân tố trên đều đóng một vai trò hết sức quan trọng cho sự phát triển của một cá nhân, một gia

đình, một cộng đồng hay một quốc gia và thậm chí cả thế giới

2.2 Tiến trình và các nhân tố phát triển của xã hội

2.2.1 Từ phát triển một cách tự phát đến có ý thức

Khuynh hướng thông thường của phát triển là đi từ kinh nghiệm đến thực tế Điều này có nghĩa là con người cứ làm theo cha ông của mình mà không hề biết đến những điều kiện cần thiết nào đã giúp họ thành công Cách thức phát triển như vậy được coi là phát triển một cách tự phát Trải qua một quá trình lâu dài hơn, sự nhận thức của con người về quá trình phát triển cũng trở nên rõ ràng và khi xã hội phát triển đi lên, con người cũng hiểu rõ hơn về các nhân tố làm nên bước phát triển đó Khi một xã hội phát triển, tức là nó đã tích luỹ được kinh nghiệm của

Trang 25

những người tiên phong, đồng thời biết cách vận dụng tính chất của những kinh nghiệm đó để thành công Điều này có nghĩa là ý thức của con người về quá trình phát triển trở nên rõ ràng và con người xác lập được các cách thực hoặc các phương

án lựa chọn để đẩy mạnh quá trình phát triển Đây chính là sự chuyển biến mang

tính bước ngoặt từ phát triển tự phát sang quá trình phát triển có ý thức

2.2.2 Những người tiên phong

Những kinh nghiệm sống của xã hội ngày càng được đúc kết một cách tự nhiên Như đã trình bày ở trên, con người không giải thích được lý do tại sao cha ông, tổ tiên họ lại làm như thế Và có một số người tìm ra các qui luật, các phát minh, các ý kiến dường như chưa từng có trong xã hội đã giải thích được các kinh nghiệm của tổ tiên Những người này được gọi là người tiên phong Các sáng kiến của họ có thể đưa ra được chiến lược mới, thay đổi cách thức sản xuất thậm chí có thể thay đổi cơ cấu tổ chức Chính vì điều này họ đã gặp phải sự chống đối của các phe bảo thủ trong xã hội Nếu sáng kiến của những người tiên phong được chấp nhận, nó sẽ khuyến khích những người xung quanh áp dụng rồi sẽ truyền bá rộng rãi toàn xã hội và dần dần sẽ trở nên phổ biến và thành thông lệ Tiến trình này có thể được chia ra làm ba giai đoạn: giai đoạn xã hội chín mùi một kinh nghiệm nào

đó, giai đoạn những người tiên phong đưa ra ý kiến của mình và cuối cùng là giai

đoạn xã hội chấp nhận

Với những đóng góp của mình, những người tiên phong có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển Bởi vì thông qua những phát hiện, những ý tưởng, sáng kiến… của người tiên phong mà tiềm thức của con người đã trở thành nhận thức Ban đầu, người tiên phong tiếp thu nhận thức và họ sẵn sàng nhận lãnh trách nhiệm là truyền bá nhận thức này cho những người khác Người tiên phong xuất hiện đơn lẻ nhưng họ đóng vai trò như người đại diện có ý thức cho toàn xã

hội Người tiên phong là yếu tố đặc biệt quan trọng của quá trình phát triển

2.2.3 Nối tiếp thế hệ tiên phong

Như đã trình bày ở trên, những người tiên phong là người nảy sinh ra những sáng kiến mới chưa từng có trong xã hội nên họ thường gặp phải sự kỳ thị, nhạo báng thậm chí chống đối quyết liệt của cộng đồng Mặc dù vậy, họ vẫn bất chấp,

Trang 26

kiên định với những sáng kiến của mình Hành động này của họ có thể lôi kéo được một số người ủng hộ Và những người này sẽ bắt chước những người tiên phong truyền bá thông tin đi khắp nơi Với sự nỗ lực của mình, có thể họ sẽ lôi kéo được

sự ủng hộ của một số tổ chức trong việc thể chế hóa sáng kiến của người tiên

phong

2.2.4 Sự tạo thành và tổ chức các hoạt động mới

Tổ chức là một hoạt động thể hiện khả năng của cộng đồng trong việc quản

lý thông tin, kiến thức, tài nguyên, kỹ thuật, cơ sở hạ tầng và các kỹ năng của con người vào việc vận dụng những cơ hội mới cũng như đối mặt với những thử thách, những cản trở trong tiến trình phát triển Sự phát triển có được là nhờ quá trình cải tiến, hoàn thiện khả năng tổ chức của con người Nói cách khác, sự phát triển được thúc đẩy nhờ vào sự hình thành của các hình thức tổ chức ngày một tốt hơn, hiệu quả hơn để cải thiện mọi mặt hoạt động của xã hội, từ đó giúp cho mỗi cấu thành của xã hội có thể nắm bắt được cơ hội cũng như đối mặt được với những thử thách

Sự phát triển của các cấp tổ chức có thể có được thông qua việc đề ra các qui định và luật lệ mới hoặc thông qua những hệ thống mới Mỗi một tiến trình mới mà

xã hội đạt tới đều phải có cách thức tổ chức tương xứng với nó Ví dụ như vào Thế

kỷ 16 và 17 việc thực hiện thương mại quốc tế của các quốc gia Châu Âu đã đòi hỏi

sự phát triển tương xứng của công nghiệp ngân hàng cũng như luật thương mại hoặc những phương tiện hoà giải nội bộ Hay những hình thức đầu tư kinh doanh mới cần thu hút số lượng vốn lớn, hay cần tài chính để mở rộng thương mại Điều này đã thúc đẩy hình thành một hình thức thương nghiệp mới, đó là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn…vv

Mỗi một bước đi của sự phát triển mà xã hội thực hiện đều kèm theo những cách tổ chức mới phù hợp hơn nhằm đơn giản hoá các thử thách Trong nhiều trường hợp, những cách tổ chức còn thiếu sót buộc phải thay đổi để phù hợp với sự phát triển mới Nhiều quốc gia giới thiệu những thành tựu của sự đổi mới như dịch

vụ hướng dẫn kinh doanh, trạm thu mua, sự hình thành hình thức nhượng quyền kinh doanh, thuê mua, dịch vụ truyền thông, tín chấp, khu công nghiệp, vùng tự do thương mại và thẻ tín dụng,…và đặc biệt là sự xuất hiện của internet Mỗi tiện nghi

Trang 27

mới này sẽ hỗ trợ cho việc sử dụng tài nguyên sẵn có của xã hội để đạt được mục đích hiệu quả hơn Hơn nữa các tiện nghi mới này ít nhiều ảnh hưởng đến tốc độ của sự phát triển Ví dụ như trường hợp các quốc gia Đông Âu đã gặp rất nhiều trở ngại trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường vì không có hoặc thiếu các

hệ thống hỗ trợ cũng như các tiện nghi mới

2.2.5 Sự hoàn thiện của tổ chức

Đến một giai đoạn đặc biệt nào đó, tổ chức sẽ tự mềm hoá mình và điều chỉnh để dễ dàng thích nghi hơn với môi trường phát triển mới và để thực sự trở thành một tế bào gắn kết chặt chẽ với xã hội Như chúng ta đều biết, những phong tục, tập quán luôn tồn tại trong xã hội một cách hiển nhiên, không cần sự xác nhận của luật pháp hay cơ quan nào cả Các tổ chức nên mềm hóa các định chế của mình cho phù hợp với phong tục, tập quán thì sẽ được sự ủng hộ của toàn xã hội Chẳng hạn như những phong tục cưới xin đã được cộng đồng chấp nhận sẽ tiếp tục được duy trì theo truyền thống cho dù nó rơi vào những điều cấm của chính phủ

2.3 Sự chuyển giao của gia đình

Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển những hoạt động mới của xã hội Gia đình như một xã hội thu nhỏ và chúng ta có thể nhìn thấy bức tranh

xã hội qua hình ảnh phản chiếu của gia đình Gia đình đã giáo dục và truyền cho đời sau tất cả những giá trị xã hội như sự kiểm soát bản thân, tinh thần trách nhiệm,

kỹ năng sống và kinh nghiệm nghề nghiệp của thế hệ cha ông Mặc dù con cái sẽ không thực hiện những gì y hệt như cha mẹ chúng đã từng làm, nhưng chúng sẽ không vượt ra khỏi cái vòng quan điểm và nhận thức về cuộc sống và nghề nghiệp

mà cha mẹ chúng đã vẽ ra Nếu gia đình thừa nhận và thực hiện những hoạt động mới thì chắc chắn những hoạt động này sẽ trở thành một phần của xã hội

2.4 Giáo dục

Một trong những yếu tố ảnh hưởng nhất về việc gia tăng và duy trì sự phát triển là hệ thống giáo dục hiệu quả Giáo dục là phương tiện để chuyển giao tất cả những kiến thức được tích tụ của xã hội từ thế hệ này đến thế hệ sau Giáo dục sẽ trang bị cho thế hệ mới cách tận dụng những cơ hội cũng như năng lực đối đầu với thách thức Điều này đã giúp thế hệ trẻ vững tin vào tương lai hơn, khát vọng nhiều

Trang 28

hơn Và hơn thế nữa, nó cũng trang bị cho thế hệ trẻ kiến thức, trình độ để họ có thể phát minh ra những phương tiện, công cụ,…gia tăng năng suất và nâng cao mức sống Như vậy, giáo dục đã trở thành một nhân tố đóng góp vào quá trình phát triển

và giúp cho quá trình phát triển có thêm động lực, giúp cho con người có ý thức rõ ràng hơn về quá trình phát triển và định hướng của sự phát triển

2.5 Tài nguyên

Từ thời kỳ của nhà kinh tế học người Anh Thomas Malthus (1766 – 1834)

đã đưa ra lý luận cho chúng ta biết rằng quá trình phát triển và kết quả phát triển phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên Tài nguyên có thể được chia thành bốn loại:

- Tài nguyên vật chất bao gồm: đất, nước, khoáng vật, dầu mỏ

- Nguồn tài nguyên xã hội: đó là khả năng mà xã hội có thể quản lý và hướng dẫn những hoạt động và những hệ thống phức tạp của mình

- Tài nguyên tinh thần bao gồm: tri thức, thông tin và kỹ thuật

- Nguồn nhân lực: Năng lực, kỹ năng của con người

Trong đó, tài nguyên xã hội, tài nguyên tinh thần và nguồn nhân lực không

có sự giới hạn một cách hữu hình như tài nguyên vật chất Nếu ở chúng có sự giới hạn xuất hiện- điều này thể hiện có gì đó bất ổn trong hiện tại Nếu có những chiến lược thích đáng thì trong tương lai tốc độ phát triển sẽ gia tăng ngoạn mục Một trong những yếu tố quan trọng của tài nguyên phi vật chất là thông tin-chìa khóa để tiến vào thời kỳ hiện đại Thông tin là vật liệu không hề bị cạn kiệt bởi việc phân phát, chia xẽ hay khai thác Nếu khâu tiếp nhận và xử lý thông tin tốt, thì những nhà đầu tư sẽ thu được lợi nhuận cao hơn Hay một yếu tố khác nữa của tài nguyên phi vật chất là kỹ thuật Với kỹ thuật hiện đại, sản lượng khai thác dầu đã gia tăng 50% trong những năm gần đây đồng thời chi phí khai thác giảm 75% Hơn thế nữa

kỹ thuật hiện đại cũng giúp giảm nguyên liệu đầu vào trên bình diện rộng Theo các nhà khoa học, năng suất đất có thể tăng thêm bằng việc bón phân hoá học Những nhà nông học ở Hà Lan đã đưa ra dẫn chứng cụ thể: với 1,4 lít nước, họ có thể sản xuất ra được 1kg rau Hay việc áp dụng những kỹ thuật của dây chuyền Henry Ford’s đã rút ngắn được thời gian giao hàng xuống còn 93 phút so với 783 phút

Trang 29

Những ví dụ trên minh họa cho sử dụng tài nguyên phi vật chất đã giúp gia tăng năng suất của tài nguyên phi vật chất và làm giảm tính giới hạn của chúng

2.6 Sự phát triển của khoa học kỹ thuật

Một khi con người đã nhận thức ra điều gì đó, nó sẽ thúc đẩy sự sáng tạo, ý tưởng mới của con người Thông qua những hiện tượng tự nhiên, loài người đã khám phá ra qui luật vận hành của chúng, đồng thời chế tạo các máy móc để tận dụng năng lượng tự nhiên

Một trong những nguyên nhân chính thúc đẩy sáng tạo là sự tự do Sự tự do chính trị và không bị kềm kẹp bởi giáo lý tôn giáo đã thúc đẩy mạnh mẽ đến sự sáng tạo trong thời kỳ Khai sáng hay nói cách khác mê tín đã làm cho sáng tạo bị kìm hãm một cách không thể tưởng tượng được Ví dụ như khi nhà thiên văn Polish cho rằng trái đất quay quanh mặt trời thì nó đã bị bác bỏ vì trong giáo lý không hề

đề cập đến điều này Hay khi Galileo phát minh ra kính viễn vọng, lập tức ông bị các cha sứ kết tội phát minh của ông là dụng cụ của ma quỷ Và mãi đến thời kỳ Khai sáng thì người ta mới công nhận lý trí và khoa học (chứ không phải tôn giáo)

sẽ làm cho loài người tiến bộ

Mặc dù sự đóng góp của các phát minh khoa học kỹ thuật đã được thừa nhận đẩy nhanh nhịp độ phát triển, nhưng cái nhìn về nó vẫn chưa nằm trong một bức tranh tổng thể Vào thời Trung cổ, những phát minh khoa học rất ít và riêng rẻ vì thiếu một cơ chế tổ chức và bảo vệ những phát minh mới Do không có tổ chức bảo

vệ quyền lợi phát minh của mình, các nhà khoa học thường giấu giếm những hoạt động của họ Cho đến khi hiệp hội các nhà khoa học được thành lập và có sự công

bố khoa học trên báo chí, các nhà khoa học mới cởi mở hơn, họ trao đổi kiến thức

và kinh nghiệm cho nhau cũng như cho đời sau

Các loại hình tổ chức mới cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển của khoa học công nghệ Nhà kinh tế học Arthur Lewis cho rằng việc cơ khí hóa hàng loạt các nhà máy sản xuất ở Anh – hiện tượng được gọi là cách mạng công nghiệp- thật

ra đó là kết quả chính của việc tổ chức lại ngành nông nghiệp ở Anh Việc dồn điền

ở Anh đã tạo ra thặng dư cho nông dân nơi này Những nguyên liệu thô đạt yêu cầu sản phẩm công nghiệp – việc này khó xảy ra với tiến trình sản xuất truyền

Trang 30

thống Phát triển giao dịch qua các cảng biển lại đòi hỏi sản xuất công nghiệp gia tăng để xuất khẩu Năng suất sản xuất gia tăng nhiều lần khi sử dụng năng lượng hơi nước kết hợp với dây chuyền lắp ráp và sự phân công lao động Vậy khoa học công nghệ vừa là sự phát triển của bản thân khoa học vừa đóng góp vào sự phát triển chung của toàn xã hội

3 Ba bước tiến của phát triển

Hành trình phát triển xã hội được đánh dấu bằng ba bước tiến có thể được gọi là: “vật chất”, “sự sống”, “tinh thần” Đây không phải là những bước tiến rõ ràng nhưng xen lẫn vào nhau Tất cả ba nhân tố trên sẽ đại diện cho bất cứ xã hội nào vào bất cứ thời gian nào như ba hợp phần của phát triển

3.1 Giai đoạn vật chất (phisycal)

Giai đoạn này được miêu tả rằng con người chỉ có những hoạt động lý tính

mà thôi Trong suốt thời kỳ này, của cải vật chất chỉ vừa đủ cho loài người sinh sống và tồn tại Con người chỉ bắt chước, làm theo truyền thống tổ tiên mà không

có một sự sáng tạo nào cả Đất đai là tài sản chính của họ Sự giàu có được đo bằng

số lượng đất có trong tay Đây là thời kỳ địa chủ và thời kỳ phong kiến Vua chúa, chủ đất và lãnh đạo quân đội là những người đứng đầu xã hội Đây là thời đại “cha truyền con nối” và hầu như không có sự phát triển Những sáng kiến, phương pháp mới bị ngăn cản bởi sự mù quáng của con người Kỹ năng nghề nghiệp chỉ truyền

từ đời cha sang con Các hội, bè phái hạn chế sự phổ biến bí quyết, kiến thức Giáo phái kiểm soát chặt chẽ sự lan truyền kiến thức mới và đè bẹp những ý tưởng không thuận lợi cho những tín điều của họ Giai đoạn này đã kết thúc khi thương mại và công nghiệp phát triển mạnh Điều này đã xảy ra ở Châu Âu vào Thế kỷ thứ

18 Tiến tới giai đoạn “sự sống”, “tinh thần”, sự ràng buộc của truyền thống đã bị phá vỡ, thay vào là sự năng động của đời sống xã hội

3.2 Giai đoạn phát triển sự sống (vital)

Đây là giai đoạn mà thuyết động lực và sự biến đổi đang ngấm dần vào tế bào xã hội Các hoạt động sống còn của xã hội phát triển rõ rệt Xã hội đầy những điều hiếu kỳ, đổi mới và mạo hiểm Đây là giai đoạn tương tác giữa xã hội với con người chứ không còn giữa môi trường vật lý và con người như trước kia nữa

Trang 31

Thương mại chiếm lĩnh ngôi vị của nông nghiệp Trong giai đoạn đầu của thời kỳ này, một số nhà thương nghiệp Châu Âu đã khám phá những vùng đất mới dọc bờ biển và hình thành nên nền thương nghiệp biển Thương mại đã trở thành một ngành quan trọng Có sự di dân từ nông thôn lên thành thị- nơi có nhiều cơ hội buôn bán Quyền lực trước đây tập trung vào tay tầng lớp quí tộc thì nay chuyển sang tầng lớp thương nhân Tầng lớp này sử dụng tiền bạc của mình để gây ảnh hưởng chính trị

Luật pháp bắt đầu xuất hiện, rõ ràng, có tính bắt buộc và là môi trường pháp

lý an toàn cho thương mại phát triển Ngân hàng, các công ty vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, công ty cổ phần tăng nhanh Các ý nghĩ, tư tưởng phóng khoáng dẫn đến cuộc sống mới được chấp nhận vì chúng hữu ích Khoa học thực nghiệm phát triển mạnh, truyền thống và giáo lý yếu đi, giáo dục phát triển

Giai đoạn “sự sống” hình thành và phát triển thông qua thương mại và công nghiệp Giai đoạn này đã tạo ra quá nhiều của cải vật chất, con người có cuộc sống

dư dả hơn Chính điều này đã làm con người nghĩ tới sự xa hoa và nhàn hạ

3.3 Giai đoạn tinh thần (mental)

Giai đoạn này có 3 nhân tố cần thiết: tính thiết thực, xã hội và chính trị

- Nhân tố tính thiết thực dẫn tới hàng loạt các phát minh mới

- Nhân tố xã hội dẫn tới hàng loạt các tổ chức mới hay sắp xếp lại các tổ

chức cũ để chúng hoạt động tốt hơn

- Nhân tố chính trị: con người cần có tự do, bình đẳng và dân chủ

Ngay từ thời Phục hưng và thời đại Khai sáng, đã có phong trào cải cách tuyên bố sự tự do, bình đẳng của con người Sự thành công của cách mạng ở Pháp

và Mỹ đã khẳng định các quyền mà người dân được hưởng; và các quyền này dần dần đã được chính quyền thực hiện

Tổ chức là phát minh của giai đoạn tinh thần Trong giai đoạn này có rất nhiều sáng kiến được hình thành mang tính tổ chức Chẳng hạn như sự hình thành một tập đoàn kinh doanh lớn có thể có tổng thu nhập cao hơn một vài quốc gia nhỏ Hay là mạng lưới truyền thông và vận chuyển toàn cầu đã nối các quốc gia trên thế giới lại với nhau trong một cấu trúc xã hội thống nhất trong việc trao đổi hàng hoá

và thông tin

Trang 32

Ngoài ra, giai đoạn này còn thúc đẩy xã hội thay đổi tốt hơn Ngay từ thời

đại đầu tiên, con người đã có những ý tưởng hết sức hợp lý, nhưng chúng chỉ được

áp dụng khi ý thức con người trỗi dậy Như “Tuyên ngôn về quyền con người và sự

công nhận giá trị của con người”chỉ trở nên hiệu quả khi giáo dục được phổ cập

Thế kỷ 20 thật sự là kỷ nguyên của loài người Chính trị, xã hội, kinh tế và nhiều

quyền lợi khác được nhân rộng cho nhiều tầng lớp trong xã hội

Biểu đồ 1.1 Đóng góp của 3 hợp phần cho phát triển 1

Thời gian kết nối của ba giai đoạn cũng như tốc độ chuyển đổi từ giai đoạn

một sang giai đoạn ba khác nhau giữa các xã hội Tuy nhiên, những đặc trưng cần

thiết cho thấy có sự phát triển của các giai đoạn là giống nhau Chính điều này đã

giúp các xã hội có thể học hỏi và rút kinh nghiệm để chuyển biến nhanh hơn và tốt

hơn Ví dụ như Hà Lan đã thực hiện thành công cải cách giáo dục tiểu học vào năm

1 Garry Jacobs, Robert Macfarlane, and N Asokan - research fellows at the International Center

for Peace and Development in Napa, California, USA N Asokan is research associate at the

Mother’s Service Society, Pondicherry, India Comprehensive Theory of Social Development

November 15, 1997 Trang37 http://www.motherservice.org/Essays/Comprehensive%20Theory%20of%20Social%20Developm

ent.html truy cập ngày 29/10/08

Trang 33

1618; từ kinh nghiệm cải cách thành công này của Hà Lan, các quốc gia khác như

Mỹ, Nhật đã áp dụng cho trường hợp của mình Và rồi các quốc gia Châu Á cũng tiến hành thực hiện cải cách vào những năm 1950; họ có thể vận dụng kinh nghiệm của các quốc gia phát triển hơn và rút ra bài học cho mình Đây là một trong những

lý do chính tạo ra tốc độ phát triển nhanh chóng của tiến trình phát triển trong những thập niên gần đây

4 Phát triển tự nhiên và phát triển có kế hoạch

Cần thiết phải phân biệt rõ ràng giữa hai hình thức phát triển bao gồm phát

triển tự nhiên và phát triển có kế hoạch trong đó phát triển có kế hoạch là phát triển

được thúc đẩy dựa trên cơ sở các định hướng rõ ràng và quá trình phát triển được kiểm soát chặt chẽ, chịu sự can thiệp của chủ thể liên quan tới quá trình phát triển

mà trong hầu hết các trường hợp phát triển quốc gia, chủ thể can thiệp đó là chính

phủ và các thể chế điều hành liên quan Phát triển tự nhiên là tiến trình tự phát, vô

ý thức xảy ra một cách bình thường Đó là một tiến trình trong tiềm thức, và những biểu hiện của nó mang tính tự phát, cá nhân nên không lôi kéo được cộng đồng Quá trình phát triển tự nhiên tuy đạt được những thành tựu trong xã hội nhưng chủ thể của sự phát triển không nhận biết được nguyên nhân, điều kiện của kết quả phát triển đó

Sự phát triển tự nhiên của chế độ dân chủ ở Châu Âu trong nhiều thế kỷ là

sự tương phản của chế độ dân chủ mà chính phủ các quốc gia thuộc địa xây dựng sau Thế chiến II Phát triển có kế hoạch phần lớn vẫn chưa thoát khỏi tiềm thức: ví

dụ các mục tiêu thì có thể thuộc về ý thức nhưng những phương tiện, cách thức để đạt được thì vẫn chưa được sáng tỏ Phát triển có kế hoạch chỉ trở thành ý thức khi

và chỉ khi từng tiến trình của nó được thấu hiểu Trong phát triển có kế hoạch, chính phủ là người khởi xướng, tư vấn và hướng dẫn dân chúng để họ hiểu và tuân theo những điều kiện, nguyên tắc giúp phát triển thành công Cuộc cách mạng xanh

Trang 34

được câu hỏi này vì con người chủ yếu sử dụng nguồn tài nguyên vật chất, năng lượng lượng cơ bắp hơn là trí tuệ Nhưng ngày nay, người ta không còn lái chiếc xe

bò để vận chuyển hàng hóa nữa mà sáng tạo ra những con tàu và máy bay có thể chở hàng tấn hàng hóa băng rừng vượt biển từ quốc gia này sang quốc gia khác Thậm chí người ta có thể biến những vùng đất khô cằn thành đất nông nghiệp Với khối óc, con người có thể biến những hạt cát vô ích thành những vi mạch silic đầy năng lượng có thể chứa đựng khối lượng thông tin khổng lồ Vì nguồn trí tuệ của con người luôn mở rộng nên và quá trình đó diễn ra liên tục, không ngừng nghỉ nên

có thể nói quá trình phát triển cũng là một quá trình không có giới hạn

5 Phát triển xã hội-một cái nhìn tổng quan

5.1 Đề cập đến sự phát triển xã hội thường người ta nghĩ đến việc phát

triển của cải vật chất như kết cấu hạ tầng, các tiện nghi, công nghệ và các nguồn lực có thể chiếm giữ…Nhưng xét đến cùng thì sự giầu có về vật chất này là kết quả của phát triển xã hội chứ không phải là chính sự phát triển xã hội

Phát triển xã hội cũng dễ làm liên tưởng đến sự phát triển cộng đồng, sự mở rộng các lĩnh vực dịch vụ công, việc phát triển tự do hóa…Nhưng vẫn chỉ có thể coi đây là các chiến lược, các chương trình, các dự án phát triển chứ không phải là bản thân sự phát triển

Mặc dù vậy cần thấy rằng xét một cách chung nhất phát triển xã hội là sự phát triển trong tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội gồm chính trị, kinh tế, công nghệ - kỹ thuật, khoa học, văn hóa…vv Vì thế có thể đưa ra một cách

lý giải khái quát, chung nhất về phát triển xã hội theo hướng nhìn nhận tổng quát: mọi xã hội đều tiềm ẩn những năng lực to lớn của con người về các giá trị văn hóa,

về sự bình yên trong đời sống, các đức tin xã hội và cấu trúc chính trị…vv Khi các chiến lược, các chính sách, các chương trình được thực hiện sẽ giải phóng năng lực này làm chúng được bộc lộ ra để được khai thác theo định hướng vào các hoạt động

có tính xây dựng nhờ đó có thể khuấy động cả dân tộc hành động cho những mục tiêu tiến bộ xã hội đã định Đó là sự phát triển xã hội mà các tác giả Harlan Cleveland và Garry Jacobs xác định là “quá trình giải phóng, tổ chức và chuyển hóa sinh lực con người thành năng lực xã hội và các kết quả vật chất” (xem Human

Trang 35

choice: The genetic code for social development World Academy of Art and Science, 1999) Các vị cũng nói thêm rằng sự phát triển của cá nhân và xã hội là kết quả của việc gia tăng quyền tự do lựa chọn và gia tăng năng lực thực hiện các lựa chọn bằng chính khả năng mình Có thể hình dung phát triển xã hội diễn ra theo

“quy trình”: một ý chí nhất định của xã hội sản sinh ra năng lượng xã hội (social energy) và thông qua các hoạt động nó được định hướng để trở thành một lực lượng xã hội (social force) Hoạt động tổ chức trong xã hội sẽ chuyển hóa lực lượng này thành sức mạnh xã hội (social power) và những kỹ năng xã hội sẵn có chuyển hóa sức mạnh xã hội thành các kết quả xã hội Như vậy có thể hiểu một quá

trình mà nhờ đó năng lực xã hội được chuyển hóa thành các kết quả xã hội được gọi là sự phát triển xã hội và phát triển xã hội là quá trình có sự tham gia của ý chí, năng lực, lực lượng, tổ chức, sức mạnh và kỹ năng…

5.2 Nếu nhìn nhận vấn đề từ góc độ nhận thức thì nội dung của phát triển

xã hội bao hàm hai tiến trình phát triển gắn kết nhau (i) tiến trình học hỏi mở rộng

hiểu biết để phát hiện ra những cách thức tốt hơn thực hiện khát vọng của mình từ

đó đi tới (ii) tiến trình ứng dụng bao hàm việc phát triển các cơ chế về tổ chức để bầy tỏ tri thức nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế và xã hội đề ra

Nội dung của quá trình phát triển xã hội như vậy có thể được nhìn nhận như quá trình nhận thức Trong thực tiễn đời sống xã hội, các công việc thể lực sẽ giải phóng năng lực sinh tồn (vital energy) và đưa nó đến sự hiểu biết tiềm thức (subconscious knowleadge) là sự hiểu biết trong thể chất Đây không phải là tri thức của các cá thể mà nó lan tỏa ra toàn tập thể Sự lan tỏa, tích tụ các tri thức tiềm thức này đạt đến độ chín muồi sẽ trở thành sự hiểu biết có ý thức (conscious knowleadge) của cá thể Tiến trình tiếp theo là sự chuyển hóa tri thức thành công việc có hiệu quả thông qua các công cụ hoạt động tổ chức xã hội Từ đó hoạt động

tổ chức được quan niệm là sự hiểu biết của đầu óc để hệ thống hóa các kinh nghiệm thành công cụ của hành động xã hội

Một nhà nghiên cứu khác về lý thuyết phát triển xã hội N Asokan cũng nhìn nhận phát triển xã hội là việc biến hiểu biết tiềm thức (subconscious) thành hiểu biết có ý thức (conscious) và diễn giải: sự phát triển xã hội bắt đầu khi sự hiểu biết tiềm thức được xã hội tích tụ lại để khi đạt mức chín muồi sẽ bộc lộ ra trong hình

Trang 36

thức các ý tưởng mới của những người đi tiên phong Những người tiên phong này đưa ra các sáng kiến để thực hiện các ý tưởng của mình có thể liên quan đến các chiến lược mới, hoạt động tổ chức mới mà thoạt tiên có thể bị các lực lượng bảo thủ trong xã hội phản đối Tuy nhiên khi các sáng kiến được thực hiện thành công

sẽ lôi kéo một số người hành động theo và cái mới sẽ lan tỏa rồi được tiếp nhận rộng rãi hơn Rồi những nỗ lực trợ giúp có ý thức về hoạt động tổ chức sẽ giúp cho việc thể chế hóa cái mới này để dẫn đến sự xuất hiện hoạt động tổ chức ưu việt hơn với các luật lệ mới, quy tắc mới hoặc hệ thống mới Lúc này cái mới được xã hội chấp nhận hoàn toàn và quá trình phát triển xã hội kết thúc để dần dần lại chuẩn bị cho một sự phát triển mới (xem N Asokan Theory of social development)

5.3 Nếu nhìn từ góc độ các kết quả của sự phát triển thì cũng có thể khái

quát phát triển xã hội là quá trình sáng tạo ra giá trị Tức là quá trình này giải phóng rồi khai thác năng lực của con người để chuyển hóa thành những kết quả như sự tin cậy chính quyền, lòng tin vào những người khác, lòng khoan dung, tinh thần hợp tác v v đó chính là các giá trị xã hội Những giá trị này là kết quả chung cuộc của quá trình phát triển xã hội đã kết thúc đồng thời lại là nhân tố quyết định của chiều hướng của tiến trình phát triển xã hội tiếp theo Do đó người ta xem các giá trị xã hội đã tạo thành kết cấu hạ tầng văn hóa trên đó diễn ra toàn bộ sự phát triển xã hội Nhưng năng lực của con người được giải phóng như thế nào là câu hỏi dẫn đến một nội dung khác của sự phát triển xã hội - đó là sự lựa chọn của con người (human choice) Cung cấp tối đa sự lựa chọn này cho các thành viên xã hội là phương thức có hiệu quả nhất để giải phóng năng lực con người, khơi dậy tính sáng tạo và sáng kiến cho sự phát triển tối đa của tập thể Sự lựa chọn của con người sẽ trải qua ba cấp độ: (i) sự kém phát triển và không có khác biệt của lựa chọn cá nhân bởi sự áp đặt các giá trị của tập thể lên các cá thể; (ii) các cá thể có sự lựa chọn riêng về đức tin và các giá trị để thể hiện tiềm năng của mình không xem tập thể là

mô hình có vai trò định hướng và trợ giúp (điều này được thể hiện ở sự lựa chọn cá nhân trong lĩnh vực chính trị khi có sự gia tăng dân chủ còn trong lĩnh vực kinh tế thì sự phát triển hệ thống thị trường đã thể chế hóa sự lựa chọn kinh tế cho người tiêu dùng); (iii)cấp độ cá nhân hòa hợp với tập thể và xã hội ổn định nhờ sự hài lòng của các thành viên cá thể hơn là nhờ sức mạnh của sự cầm quyền tập thể, ở

Trang 37

cấp độ này các cá nhân ý thức được việc đem năng lực cống hiến cho các khát vọng của tập thể đồng thời coi các giá trị của tập thể như của chính mình

5.4 Nếu nhìn nhận sự phát triển xã hội là quá trình làm bộc lộ năng lực tiềm ẩn của con người, chuyển hóa kinh nghiệm tiềm thức thành hiểu biết có ý

thức thì đây là quá trình gồm ba giai đoạn chồng lấn nhau khó có thể chia cắt rạch ròi Các yếu tố đặc trưng của ba giai đoạn này là thể chất, xúc cảm và trí tuệ Đây là

ba yếu tố cùng tồn tại trong xã hội mà ở mỗi giai đoạn của mình một yếu tố nổi lên trong vị thế áp đảo và đẩy hai yếu tố kia vào thế phụ thuộc Vấn đề này đã được đánh giá kỹ lưỡng với các nghiên cứu của Cleveland, Harland & Jacobs2

Giai đoạn 1 được gọi là giai đoạn thể chất (physical stage) ở đây xã hội lo toan thuần túy tới việc sống còn, tồn tại còn dân chúng thì tuân thủ nghiêm ngặt các truyền thống tập tục và có rất ít sáng kiến Ruộng đất là tài sản, là nguồn sinh sản chủ yếu và sự giầu có được đo bằng quy mô đất đai chiếm hữu được Nếu đối chiếu với lịch sử Châu Âu thì đây là giai đoạn nông nghiệp và phong kiến với thương nghiệp và tiền tệ có vai trò tương đối nhỏ bé Ở Châu Âu giai đoạn này kết thúc khi việc tổ chức lại nông nghiệp mang cơ hội đến cho thương nghiệp và công nghiệp

mở mang vào Thế kỷ 18 khi các cuộc cách mạng chính trị thủ tiêu chủ nghĩa phong kiến còn cách mạng công nghiệp tạo bùng nổ sản xuất công xưởng

Giai đoạn 2 được gọi là giai đoạn sinh tồn (vital stage) mang đặc trưng các hoạt động cần thiết cho cuộc sống xã hội được mở rộng rõ rệt, các sinh lực về cảm xúc và thần kinh cho phép đưa con người tới thành công mà biểu hiện trực tiếp nhất

là sự chuyển đổi từ các tương tác với môi trường tự nhiên sang tương tác giữa con người Lúc này thương nghiệp thay thế nông nghiệp để trở thành nguồn gốc cơ bản của sự giầu có Đối chiếu với lịch sử Châu Âu giai đoạn này gắn với các chuyến thám hiểm trên biển tìm ra các vùng đất mới và tạo sự phát triển thương mại đường biển Lúc này thương nghiệp lấn lướt nông nghiệp còn tiền tệ thay ruộng đất trong vai trò nguồn lực có sức sinh sản nhất Trung tâm sinh hoạt xã hội chuyển từ nông thôn ra thành thị còn trung tâm quyền lực chuyển từ tầng lớp quý tộc sang lớp doanh nhân đang khai thác sức mạnh của đồng tiền để có được ảnh hưởng chính trị

2 Cleveland, Harland & Jacobs Futures Research Quarterly, Vol.31, No 9-10, 11-12/1999,

Trang 38

Đây cũng là giai đoạn ở Châu Âu có sự lấn lướt của khoa học và cách tiếp cận thực tiễn trước các tín điều và tập tục truyền thống

Giai đoạn 3 được gọi là giai đoạn trí tuệ (mental stage) mang đặc trưng là sự vận dụng trí tuệ một cách thực tiễn, vận dụng về xã hội và chính trị Chính vì thế đây là giai đoạn của những phát minh, của việc sáng tạo ra các loại hình tổ chức xã hội mới và có hiệu quả hơn cũng như của những thay đổi trong hệ thống chính trị mang lại cho mọi người quyền chính trị và quyền con người Vì vậy đặc trưng của giai đoạn này là sự bùng phát những sáng kiến về tổ chức Trong hoạt động kinh tế các công ty lớn xuất hiện với doanh số lớn hơn tổng thu nhập của các nước nhỏ, rồi mạng lưới giao thông và truyền thông toàn cầu hình thành đã đưa các nước xích lại gần nhau v v Đây cũng là giai đoạn mang đặc trưng sự gia tăng sức mạnh của các

tư tưởng muốn làm thay đổi đời sống xã hội Đối chiếu với lịch sử thế giới giai đoạn này bắt đầu với cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp- những cuộc cách mạng đem đến việc lần đầu tiên có sự ghi nhận bằng văn bản các quyền của con người rồi từng bước đem lại việc thụ hưởng thực tế các quyền này

5.5 Nội dung phát triển xã hội như đề cập ở trên cho thấy quá trình này

phụ thuộc vào các nhân tố khơi gợi và định hướng năng lực xã hội vào các loại hình hoạt động tổ chức có hiệu suất hơn

Trước hết đó là nhân tố khát vọng xã hội (social aspiration) được xem là

nhân tố căn bản mà nếu thiếu nó thì xã hội không có được những nỗ lực và sự mạo hiểm trong thực hiện các hoạt động để có được những kết quả lớn hơn Đương nhiên ở đây các yếu tố về công nghệ và tổ chức có vai trò quan trọng nhưng động lực tâm lý được xem là quan trọng hàng đầu Xã hội vận động và phát triển được là nhờ hàng loạt các động lực tâm lý khác nhau như mưu cầu được sống và được bảo tồn, khát vọng sở hữu đất đai, mong ước giầu có hoặc tìm kiếm sức mạnh v v…Lịch sử thế giới từng biết đến hiện tượng “sự thức tỉnh Châu Á” đầu thập niên 50 của Thế kỷ 20 khi khát vọng xã hội trở thành động lực mạnh mẽ nhất được giải phóng cho sự phát triển xã hội của các quốc gia Châu Á

Thứ hai là nhân tố quyền lực của chính phủ (government authority) do việc

định hướng năng lực xã hội cho quá trình phát triển xã hội phải nhờ đến các công

Trang 39

cụ luật pháp, các chính sách, thủ tục hành chính, việc kiểm soát, khuyến khích lợi ích vật chất cũng như sự biết sợ bị trừng phạt Nhân tố quyền lực chính phủ có tác động khác nhau tuỳ theo các hình thức cầm quyền theo thể chế quân chủ, độc tài chuyên chế hay các hình thức khác nhau của dân chủ

Thứ ba là nhân tố quyền lực xã hội - văn hóa (social-cultural authority) được

hiểu là việc xã hội thực thi quyền lực đối với các thành viên qua các tư tưởng, thái

độ, quan điểm, tập tục và hệ thống giá trị (trong khi chính phủ thực hiện việc đó qua luật pháp, chính sách v v.) Chính tác động quy định của nhân tố quyền lực này đã giải thích vì sao dưới một hình thức chính phủ rất giống nhau mà sự phát triển xã hội lại theo những hướng khác nhau và có mức độ rất khác nhau

Thứ tư là nhân tố bí quyết kỹ thuật của xã hội (social know-how) hàm ý

những tri thức khoa học, công nghệ và các kỹ năng Nhân tố này xét về tính chất có sức tác động của quyền lực tương tự như các nhân tố trên nhưng nó mang hình thức quyền lực khách quan của các tiêu chuẩn, các quy định và các hệ thống

Việc xác định các nhân tố quy định trên cho thấy dù quốc gia nào cũng quan tâm đến kết quả vật chất của sự phát triển xã hội nhưng quá trình phát triển này lại dường như không bị chi phối bởi các động lực vật chất Người ta quan sát thấy trong những xã hội mà các điều kiện về nhu cầu và tiện nghi vật chất dường như đã đạt mức bão hòa nhưng quá trình phát triển xã hội vẫn không có dấu hiệu giảm tốc Như vậy các nhân tố quyết định quá trình phát triển xã hội đều thuộc tiềm năng con người mà tiềm năng con người thì vô hạn do đó tiềm năng phát triển xã hội cũng là

là quá trình phát triển nói chung phải mang lại những lợi ích toàn diện cho mỗi người dân, lôi kéo toàn bộ dân chúng tham gia và đóng góp vào quá trình phát triển

Trang 40

chung của đất nước Những nghiên cứu về lý thuyết phát triển trên thế giới từ

những ý niệm sở khởi đã trở thành các hệ thống lý thuyết hiện đại cho thấy nhiều

quan điểm và cách tiếp cận khác nhau của giới nghiên cứu về quá trình phát triển nói chung và phát triển xã hội nói riêng Đặc biệt, vấn đề phát triển xã hội cho đến những năm gần đây đã trở thành một nội dung nghiên cứu hấp dẫn, thu hút sự quan tâm của nhiều bên liên quan bao gồm cả các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà

nghiên cứu, các tổ chức xã hội Trên căn cứ như vậy, nhóm nghiên cứu đề tài đưa

ra cách thức tiếp cận về lý thuyết và khẳng định lựa chọn về quan điểm nghiên cứu trong tiếp cận vấn đề phát triển xã hội, mô hình phát triển xã hội của các quốc gia phát triển Châu Âu

1 Các vấn đề lý thuyết và khái niệm liên quan

Nghiên cứu về các vấn đề phát triển từ lâu đã được thực hiện với nhiều cách tiếp cận lý thuyết khác nhau đối với cùng một vấn đề trong đó các nhà nghiên cứu xem xét bản chất của sự phát triển, đưa ra những lý giải của quá trình phát triển và coi phát triển xã hội là một trong những nội dung quan trọng khi xem xét những chuyển biến được xác định là sự phát triển của các sự vật, hiện tượng hay của một quốc gia, một khu vực cụ thể

Như đã được nghiên cứu trong phần trước, các lý thuyết liên quan tới vấn đề phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đã được hoàn thiện từ các ý niệm sơ khởi để trở thành một hệ thống lý thuyết thời hiện đại Với quá trình phát triển lâu dài như vậy, các khái niệm lý thuyết cũng có rất nhiều và rất phong phú, đa dạng, được sử dụng trong các trường hợp nghiên cứu cụ thể mang tính đặc thù riêng

Trong công trình nghiên cứu này, lựa chọn lý thuyết được đưa ra là:

1.1 Khái niệm phát triển:

Khái niệm phát triển được xây dựng và tiếp cận gắn với một chuỗi các động

thái thay đổi theo hướng đi lên bao gồm 4 giai đoạn chính là tồn tại, tăng trưởng, phát triển và tiến hoá Đây chính là những phân kỳ khác nhau của quá trình chuyển động đi lên Với căn cứ như vậy, có thể định nghĩa khái niệm phát triển là sự chuyển động của một sự vật, hiện tượng từ giai đoạn sơ khai ban đầu để trải qua một quá trình thay đổi tích cực cả về lượng và chất với kết quả là sự vật, hiện

Ngày đăng: 18/05/2015, 20:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình Thụy Điển đáng để nhiều nước tham khảo và học hỏi. - báo cáo tổng quan đề tài nghiên cứu cấp nhà nước mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của một số nước phát triển ở châu âu kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam
nh Thụy Điển đáng để nhiều nước tham khảo và học hỏi (Trang 69)
Bảng lương. Nhà nước  đóng góp một phần rất nhỏ,  được lấy từ các quỹ  của nhà - báo cáo tổng quan đề tài nghiên cứu cấp nhà nước mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của một số nước phát triển ở châu âu kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam
Bảng l ương. Nhà nước đóng góp một phần rất nhỏ, được lấy từ các quỹ của nhà (Trang 72)
Bảng 2.4. Tỷ lệ bồi thường khi sinh đẻ của Thụy Điển và một số nước Bắc Âu - báo cáo tổng quan đề tài nghiên cứu cấp nhà nước mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của một số nước phát triển ở châu âu kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam
Bảng 2.4. Tỷ lệ bồi thường khi sinh đẻ của Thụy Điển và một số nước Bắc Âu (Trang 77)
Bảng 2.5. Thuế thu nhập của các quốc gia Bắc Âu (%, 2008) - báo cáo tổng quan đề tài nghiên cứu cấp nhà nước mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của một số nước phát triển ở châu âu kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam
Bảng 2.5. Thuế thu nhập của các quốc gia Bắc Âu (%, 2008) (Trang 92)
Hình phát triển của  Đan Mạch. Gọi là “linh hoạt” bởi nhờ những chính sách phát  triển việc làm và thị trường lao động hiệu quả, nên đội ngũ công nhân và lực lượng  lao động ở Đan Mạch có ý thức tổ chức kỷ luật cao nhất thế giới, người thất nghiệp  nhanh  - báo cáo tổng quan đề tài nghiên cứu cấp nhà nước mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của một số nước phát triển ở châu âu kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam
Hình ph át triển của Đan Mạch. Gọi là “linh hoạt” bởi nhờ những chính sách phát triển việc làm và thị trường lao động hiệu quả, nên đội ngũ công nhân và lực lượng lao động ở Đan Mạch có ý thức tổ chức kỷ luật cao nhất thế giới, người thất nghiệp nhanh (Trang 94)
Bảng 2.6. Dự báo tương lai của hệ thống hưu trí nước Anh (BSP và SERPS) - báo cáo tổng quan đề tài nghiên cứu cấp nhà nước mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của một số nước phát triển ở châu âu kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam
Bảng 2.6. Dự báo tương lai của hệ thống hưu trí nước Anh (BSP và SERPS) (Trang 102)
Bảng 2.7. Những ưu tiên trong chi tiêu ngân sách chính phủ cho chương trình - báo cáo tổng quan đề tài nghiên cứu cấp nhà nước mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của một số nước phát triển ở châu âu kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam
Bảng 2.7. Những ưu tiên trong chi tiêu ngân sách chính phủ cho chương trình (Trang 110)
Bảng 2.8. Tăng trưởng thu nhập thực tế phân theo nhóm (%) - báo cáo tổng quan đề tài nghiên cứu cấp nhà nước mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của một số nước phát triển ở châu âu kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam
Bảng 2.8. Tăng trưởng thu nhập thực tế phân theo nhóm (%) (Trang 115)
Bảng 2.9. Bất bình đẳng về giới ở nước Anh trong chính quyền dân sự, - báo cáo tổng quan đề tài nghiên cứu cấp nhà nước mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của một số nước phát triển ở châu âu kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam
Bảng 2.9. Bất bình đẳng về giới ở nước Anh trong chính quyền dân sự, (Trang 116)
Bảng 2.10. Cơ chế quản lý các chính sách xã hội ở nước Anh - báo cáo tổng quan đề tài nghiên cứu cấp nhà nước mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của một số nước phát triển ở châu âu kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam
Bảng 2.10. Cơ chế quản lý các chính sách xã hội ở nước Anh (Trang 122)
Bảng 2.12. Tỷ lệ thất nghiệp theo giới tính và  thất nghiệp ở nhóm tuổi 15- 24 ( %) - báo cáo tổng quan đề tài nghiên cứu cấp nhà nước mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của một số nước phát triển ở châu âu kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam
Bảng 2.12. Tỷ lệ thất nghiệp theo giới tính và thất nghiệp ở nhóm tuổi 15- 24 ( %) (Trang 155)
Bảng 2.13. Trình độ học vấn của dân số từ 25-64 tuổi ở Đức và một số nước - báo cáo tổng quan đề tài nghiên cứu cấp nhà nước mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của một số nước phát triển ở châu âu kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam
Bảng 2.13. Trình độ học vấn của dân số từ 25-64 tuổi ở Đức và một số nước (Trang 157)
Bảng 2.14. Mô hình Địa Trung Hải - các chỉ số quan trọng - báo cáo tổng quan đề tài nghiên cứu cấp nhà nước mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của một số nước phát triển ở châu âu kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam
Bảng 2.14. Mô hình Địa Trung Hải - các chỉ số quan trọng (Trang 186)
Bảng 2.15. Tăng trưởng GDP của các Mô hình Phát triển Châu Âu - báo cáo tổng quan đề tài nghiên cứu cấp nhà nước mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của một số nước phát triển ở châu âu kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam
Bảng 2.15. Tăng trưởng GDP của các Mô hình Phát triển Châu Âu (Trang 187)
Bảng 2.16. So sánh các mô hình phát triển xã hội Châu Âu - báo cáo tổng quan đề tài nghiên cứu cấp nhà nước mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của một số nước phát triển ở châu âu kinh nghiệm và ý nghĩa đối với việt nam
Bảng 2.16. So sánh các mô hình phát triển xã hội Châu Âu (Trang 192)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm