PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Văn học Việt Nam giai đoạn (1964 – 1975) đã hoàn thành được sứ mệnh lịch sử của mình và đạt được nhiều thành tựu nhất định. Thành công ấy, ngoài sự đóng góp của những thế hệ nhà thơ trưởng thành trước và trong thời kỳ chống Mỹ thì không thể không kể đến các nhà thơ trẻ. Khái niệm thơ trẻ chống Mỹ được dùng để chỉ thơ của các cây bút tuổi đời và đặc biệt là tuổi nghề còn trẻ xuất hiện trong thời kỳ chống Mỹ. Đây chính là thời kỳ mà họ có những tác phẩm gây được sự chú ý, khẳng định tài năng và dấu ấn của mình trên thi đàn. Ngay khi mới xuất hiện, thơ trẻ chống Mỹ đã được đông đảo bạn đọc quan tâm bởi tính mới lạ, độc đáo cùng những giá trị tư tưởng sâu sắc mà nó đã đóng góp cho văn học dân tộc. Làm nên những thành tựu đó là một đội ngũ dồi dào, trẻ trung và đầy nhiệt huyết, giàu cá tính. Họ đã để lại trong thơ những dấu ấn riêng khá đậm nét. Đánh giá khái quát những thành tựu cùng những đóng góp của thơ trẻ chống Mỹ cho nền văn học Việt Nam hiện đại, nhất là trên phương diện nghệ thuật là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa cả về lí luận lẫn thực tiễn. Nhiều tác phẩm thơ kháng chiến (trong đó có thơ trẻ) được đưa vào giảng dạy trong nhà trường. Điều này chứng tỏ giá trị của thơ kháng chiến nói chung và thơ trẻ nói riêng. Tuy nhiên, trong mấy năm gần đây có một số ý kiến phủ nhận giá trị cùng những đóng góp của văn học thời kỳ này. Đối với phê bình nghiên cứu, có thể coi là hiện tượng bình thường nhưng đối với tiếp nhận văn học thì sự mâu thuẫn trong các quan điểm đánh giá nếu không nhanh chóng giải quyết sẽ gây cho bạn đọc rất nhiều khó khăn. Từ góc nhìn về nghệ thuật, tôi hy vọng khóa luận có thể đóng góp ít nhiều cho việc đánh giá những đóng góp của thơ trẻ, đồng thời là những gợi ý bổ ích thiết thực đối với việc dạy học phần thơ kháng chiến chống Mỹ trong nhà trường. Thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ là một hiện tượng rất đáng chú ý của văn học hiện đại Việt Nam, đánh dấu sự xuất hiện, trưởng thành của một thế hệ nhà thơ và bước phát triển mới của nền thơ chống Mỹ. Tuy còn có những hạn chế, những non nớt nhưng đã làm tròn sứ mệnh vinh quang của nó, có những đóng góp đáng ghi nhận, xứng đáng là một hiện tượng nổi bật trong lịch sử văm học Việt Nam hiện đại. Ngay khi thơ trẻ mới xuất hiện, nó đã giành được sự quan tâm đáng kể của giới nghiên cứu, lý luận phê bình, giảng dạy văn học và đông đảo công chúng. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào những đóng góp của phong trào thơ trẻ chống Mỹ trên phương diện nghệ thuật. Số lượng các bài viết khá nhiều nhưng chủ yếu mới chỉ được tập hợp trong các công trình chung về thơ từ năm 1945 đến năm 1975 và chỉ điểm xuyết về một số nét nghệ thuật, chưa xác lập được hệ thống. Chọn đề tài này, chúng tôimong muốn có một cái nhìn bao quát, tổng thể về đóng góp của phong trào thơ trẻ trên phương diện nghệ thuật, thấy được sự thống nhất trong đa dạng của thơ trẻ. Nghiên cứu vấn đề này không chỉ cung cấp cho tôi và các giáo viên Ngữ văn khác thêm nhiều tư liệu cần thiết trong quá trình giảng dậy mà còn giúp chúng tôi hiểu biết sâu sắc hơn về những đóng góp của phong trào thơ trẻ chống Mỹ trên phương diện nghệ thuật. Vì vậy, chúng tôi đã chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện
Các số liệu và kết luận nghiên cứu trình bày trong khóa luận chưa từngđược công bố ở các bài nghiên cứu khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Thanh Hóa, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Lan
Trang 2Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô giáo Hoàng Thị Huệ
- người trực tiếp định hướng, hướng dẫn, dìu dắt tôi trong suốt quá trìnhthực hiện và giúp tôi hoàn thành tốt khóa luận đúng thời hạn và có kết quả
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các bạn trong và ngoài lớp đã độngviên khích lệ cũng như góp ý và tạo những điều kiện thuận lợi giúp tôi hoànthành khóa luận này
Tuy nhiên, do thời gian và trình độ có hạn cho nên khóa luận chắcchắn không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được
sự thông cảm và góp ý của quý thầy cô và các bạn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời chúc sức khỏe đến toàn thể quý thầy cô!
Thanh Hóa, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Lan
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang 4Mỹ cho nền văn học Việt Nam hiện đại, nhất là trên phương diện nghệ thuật
là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa cả về lí luận lẫn thực tiễn
Nhiều tác phẩm thơ kháng chiến (trong đó có thơ trẻ) được đưa vàogiảng dạy trong nhà trường Điều này chứng tỏ giá trị của thơ kháng chiếnnói chung và thơ trẻ nói riêng Tuy nhiên, trong mấy năm gần đây có một số
ý kiến phủ nhận giá trị cùng những đóng góp của văn học thời kỳ này Đốivới phê bình nghiên cứu, có thể coi là hiện tượng bình thường nhưng đối vớitiếp nhận văn học thì sự mâu thuẫn trong các quan điểm đánh giá nếu khôngnhanh chóng giải quyết sẽ gây cho bạn đọc rất nhiều khó khăn Từ góc nhìn
về nghệ thuật, tôi hy vọng khóa luận có thể đóng góp ít nhiều cho việc đánhgiá những đóng góp của thơ trẻ, đồng thời là những gợi ý bổ ích thiết thựcđối với việc dạy học phần thơ kháng chiến chống Mỹ trong nhà trường
Thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ là một hiện tượng rất đáng chú ý của vănhọc hiện đại Việt Nam, đánh dấu sự xuất hiện, trưởng thành của một thế hệ
Trang 5nhà thơ và bước phát triển mới của nền thơ chống Mỹ Tuy còn có nhữnghạn chế, những non nớt nhưng đã làm tròn sứ mệnh vinh quang của nó, cónhững đóng góp đáng ghi nhận, xứng đáng là một hiện tượng nổi bật tronglịch sử văm học Việt Nam hiện đại Ngay khi thơ trẻ mới xuất hiện, nó đãgiành được sự quan tâm đáng kể của giới nghiên cứu, lý luận phê bình,giảng dạy văn học và đông đảo công chúng Tuy nhiên, cho đến nay vẫnchưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu vào những đóng góp củaphong trào thơ trẻ chống Mỹ trên phương diện nghệ thuật Số lượng các bàiviết khá nhiều nhưng chủ yếu mới chỉ được tập hợp trong các công trìnhchung về thơ từ năm 1945 đến năm 1975 và chỉ điểm xuyết về một số nétnghệ thuật, chưa xác lập được hệ thống Chọn đề tài này, chúng tôimongmuốn có một cái nhìn bao quát, tổng thể về đóng góp của phong trào thơ trẻtrên phương diện nghệ thuật, thấy được sự thống nhất trong đa dạng của thơtrẻ.
Nghiên cứu vấn đề này không chỉ cung cấp cho tôi và các giáo viênNgữ văn khác thêm nhiều tư liệu cần thiết trong quá trình giảng dậy mà còngiúp chúng tôi hiểu biết sâu sắc hơn về những đóng góp của phong trào thơtrẻ chống Mỹ trên phương diện nghệ thuật Vì vậy, chúng tôi đã chọn vấn đềnày làm đề tài nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
Có khá nhiều các công trình, bài viết về phong trào thơ chống Mĩ nóichung và thơ trẻ nói riêng Căn cứ vào đặc điểm xã hội, gắn với nó là quanniệm đánh giá văn chương khác nhau, chúng tôi lấy sự kiện đổi mới (1986)làm mốc chia các công trình nghiên cứu thành hai giai đoạn:
2.1 Giai đoạn trước đổi mới (1986)
Tuy trước đổi mới, hệ quy chiếu trong phê bình đánh giá thơ trẻ chưa
có gì thay đổi nhưng tương hợp với bước chuyển của lịch sử, sát với diễntrình vận động của dòng thơ này, chúng tôi xin điểm luận những công trìnhnghiên cứu theo từng chặng:
Trang 6Chặng thứ nhất:
Từ khi thơ trẻ hình thành đến 1975 Đây là chặng phê bình đồng hành
“nhịp nhàng” với sáng tác, kết nối rất hiệu quả với người đọc Người tiênphong như một bậc thầy trong lĩnh vực này là Hoài Thanh Những đánh giá
về các nhà thơ trẻ, mà lúc ấy, theo ông là có những triển vọng, qua thời gian,hết thảy đều không sai Tuy không nghiên cứu sâu giọng điệu của nhà thơtrẻ nào nhưng trong các bài viết, Hoài Thanh đều có phát hiện và khi ông đãphát hiện chất giọng của nhà thơ nào thì đích thực của nhà thơ đó, không lẫnvới ai được Cùng Hoài Thanh, Xuân Diệu cũng tỏ ra chú ý phát hiện, bồidưỡng tài năng các cây bút trẻ Tiếp đến, Lê Đình Kỵ, Nguyễn Xuân Nam
giới thiệu thơ Bằng Việt; Nguyễn Văn Hạnh thẩm bình Vầng trăng và
quầng lửa của Phạm Tiến Duật khi tập thơ mới được ấn hành; Định Nguyễn
phác thảo chất thơ, giọng thơ Nguyễn Đức Mậu và Vương Trọng; Vũ Quần
Phương nhận ra “Thơ Nguyễn Khoa Điềm khỏe mà thấm”; Hoàng Trung
Thông có những nhận xét tinh tế về Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, ÝNhi, Lâm Thị Mỹ Dạ…Trong từng bài viết, các nhà phê bình uy tín đã rấtchú ý đến ngôn ngữ, bút pháp, nhịp thơ,… tức những vấn đề liên quan đếnnghệ thuật Xét theo hướng nghiên cứu tổng thể, có thể nói Chế Lan Viên là
người khai mở đầu tiên Trong lời tựa tập thơ Sức mới (1965) ông đã nhận ra
thế mạnh của thế hệ nhà thơ trẻ chính ở sự “nồng ấm cái hơi của cuộc sống”.Đến tiểu luận “Thơ đánh Mỹ cứu nước”, Chế Lan Viên chỉ rõ sự lớn mạnhnhanh chóng đội ngũ nhà thơ trẻ, tiếp tục khẳng định ưu thế nổi trội của họ.Sau Chế Lan Viên, Bùi Công Hùng, Nguyễn Văn Long, Bằng Việt đều cónhững bài viết về thơ trẻ
Chặng thứ hai:
Mười năm đầu hậu chiến (1976 – 1986) Sau khi chiến tranh kết thúc,một số nhà thơ trẻ dành nhiều thời gian nghiên cứu thơ của chính thế hệmình, đưa ra những ý kiến đáng chú ý (Nguyễn Trọng Tạo, Vũ QuầnPhương, Phạm Tiến Duật…) Tập trung nhiều có tính chuyên nghiệp vẫn là
Trang 7các nhà khoa học ở các viện nghiên cứu, các trường đại học Nhiều côngtrình nghiên cứu thơ chống Mỹ tầm quy mô ra đời, trong xu hướng đó, thơ
trẻ cũng rất được chú ý Có thể nói đến một số công trình tiêu biểu: Văn
học Việt Nam chống Mỹ cứu nước (Viện văn học, 1979), Nhà thơ Việt Nam hiện đại (Viện văn học, 1984), Văn học giải phóng miền Nam
(Phạm Văn Sỹ, 1976)… Điểm cần quan tâm đến là, đến Văn học Việt
Nam chống Mỹ cứu nước, lần đầu tiên mảng thơ trẻ yêu nước tiến bộ
vùng đô thị miền Nam được nghiên cứu theo hướng tổng thể, hé lộ cáchnhìn mới
2 2 Giai đoạn từ đổi mới đến nay
Do có sự ứng dụng lý thuyết phê bình văn học phương Tây nên nhiềuvấn đề thuộc nội dung và nghệ thuật của thơ trẻ chống Mỹ được các nhànghiên cứu tiếp cận khá phong phú, đủ các tầm độ Những công trình như
Một thời đại mới trong văn học (1995), Tư duy và tư duy thơ Việt Nam hiện đại (1995), Văn học Việt Nam 1945 – 1975 (1998), Tiến trình thơ Việt Nam hiện đại (2001), Lịch sử văn học Việt Nam tập 3 (2002), Giáo trình Văn học Việt Nam tập 2 (2007), Thơ với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
(2010)… là những công trình khoa học khá quy mô Trong những công trình
ấy, nhiều nhà nghiên cứu uy tín đã đưa ra một số nhận định xác đáng vềdòng thơ này, cả vềthành tựu và hạn chế (Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Đình
Sử, Trần Hữu Tá, Nguyễn Văn Long, Vũ Tuấn Anh, Mã Giang Lân, Nguyễn
Bá Thành…)
Bước sang thế kỷ XXI, số lượng công trình nghiên cứu thơ trẻ chống
Mỹ dưới dạng luận văn, luận án ngày càng nhiều Tiêu biểu như: Phạm Thị
Hoan, Đặc điểm thơ nữ thế hệ chống Mỹ - luận văn thạc sĩ, 2008; Giang Khắc Bình, Một số phong cách tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ chống Mỹ - luận án tiến sĩ, 2009; Búi Bích Hạnh, Cái tôi trữ tình trong thơ trẻ Việt Nam
1965 – 1975 – luận án tiến sĩ, 2012… Nhìn chung sau 1986 các công trình
nghiên cứu có nhiều đổi mới, tập trung nhiều hơn vào mặt nghệ thuật
Trang 8Tóm lại, tất cả những công trình trên là những tài liệu tham khảo quýgiá, có ý nghĩa khai mở giúp chúng tôi tìm hiểu một cách hệ thống nhữngđóng góp của thơ trẻ chống Mỹ trên phương diện nghệ thuật.
3 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu những đóng góp của phong trào thơ trẻ trên phươngdiện nghệ thuật nhằm những mục đích sau:
- Khẳng định đóng góp của phong trào thơ trẻ trong nền thơ ca chống
Mỹ cứu nước nói riêng và thơ ca hiện đại Việt Nam nói chung, đặc biệt lànhững đóng góp về nghệ thuật
- Bổ sung kiến thức cho học sinh, sinh viên khi tìm hiểu, nghiên cứu,học tập phần thơ trẻ chống Mĩ nói riêng và thơ chống Mĩ nói chung
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Phong trào thơ trẻ chống Mỹ - những đónggóp trên phương diện nghệ thuật
- Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ và giới hạn của khóa luận, đềtài chỉ đi sâu nghiên cứu, phân tích đóng góp về nghệ thuật của thơ trẻchống Mỹ qua một số sáng tác của của một số tác giả tiêu, nhất là những tácgiả được đưa vào giảng dạy trong chương trình phổ thông và đại học
5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phối hợp một số phươngpháp sau:
- Phương pháp hệ thống tư liệu: Sử dụng phương pháp này giúp ngườinghiên cứu hệ thống nguồn tư liệu khá phong phú là các sáng tác thơ trẻ,theo những tiêu chí đặt ra
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Giúp làm nổi bật những đóng gópcủa thơ trẻ, trên phương diện nghệ thuật
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Giúp kết nối với các yếu tố vănhóa, lịch sử, xã hội từ đó làm rõ hơn giá trị của thơ trẻ
Trang 9- Phương pháp thống kê, phân loại: Giúp hệ thống, khái quát nhữngđóng góp của thơ trẻ trên phương diện nghệ thuật, dựa trên tần số xuất hiện,cách thức xuất hiện.
6 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung khóa luận gồm có 3 chương:
Chương 1 Phong trào thơ trẻ trong dòng chảy thơ chống Mỹ
1.1 Sự xuất hiện của phong trào thơ trẻ chống Mĩ
1.2 Quá trình trưởng thành, phát triển của phong trào thơ trẻ chống Mỹ
Chương 2 Đóng góp của phong trào thơ trẻ trên phương diện ngôn ngữ, giọng điệu
2.1 Trên phương diện ngôn ngữ
2.1.1.Ngôn ngữ đời thường, giản dị, khẩu ngữ; yếu tố văn xuôi
2.1.2 Vận dụng sáng tạo các biện pháp tu từ và sáng tạo hình ảnh thơ2.2 Trên phương diện giọng điệu
2.2.1 Giọng điệu hào sảng, lạc quan
2.2.2 Giọng điệu trữ tình, thống thiết
2.2.3 Giọng điệu triết lý, suy tưởng
Chương 3 Đóng góp của phong trào thơ trẻ trên phương diện thể loại
3.1 Phát triển mạnh thơ tự do
3.2 Bùng nổ thể trường ca
7 Đóng góp của khóa luận.
- Khóa luận giúp cho người đọc có cái nhìn cụ thể hơn về những đónggóp của thơ trẻ chống Mỹ trên phương diện nghệ thuật
- Qua việc tìm hiểu nội dung khóa luận người đọc sẽ bồi dưỡng sâusắc hơn tình yêu với thơ ca Khóa luận hoàn thành cũng có thể là tài liệutham khảo cho học sinh, sinh viên trong quá trình học tập phần thơ chống
Mỹ nói chung và thơ trẻ chống Mỹ nói riêng
Trang 10PHẦN NỘI DUNG Chương 1 PHONG TRÀO THƠ TRẺ TRONG DÒNG
CHẢY THƠ CHỐNG MỸ
1.1 Sự xuất hiện của phong trào thơ trẻ.
Từ năm 1964, cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của dân tộc tabước sang một giai đoạn mới gay go, căng thẳng và vô cùng ác liệt Trướctình đó buộc chúng ta phải phát huy cao độ sức mạnh hiện tại và thời đại,đặc biệt cần khơi dậy sức mạnh truyền thống tinh thần vốn tồn tại hàng ngànđời của dân tộc để tiếp thêm nguồn sức mạnh cho cuộc chiến đấu hôm nay.Trong những yêu cầu và đòi hỏi đó của thời đại, thơ ca có thể đáp ứng mộtphần không nhỏ
Đội ngũ sáng tác của nền thơ chống Mỹ hình thành từ nhiều thế hệnhà thơ Thế hệ nhà thơ từ trước cách mạng tháng Tám ( Xuân Diệu, TốHữu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh…), thế hệ nhà thơ trưởng thànhtrong thời kì kháng chiến chống Pháp (Chính Hữu, Hoàng Trung Thông,Nguyễn Đình Thi…) và thế hệ nhà thơ xuất hiện trong cuộc kháng chiếnchống Mỹ Ở mỗi thế hệ nhà thơ đều có thế mạnh và đóng góp riêng cho nềnthơ chống Mỹ nói riêng và thơ Việt Nam nói chung Mỗi nhà thơ bằngphong cách riêng của bản thân đã đem đến một cách nhìn, một cách cảmnhận riêng về cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc, góp phần dựng lên bứctranh hiện thực lớn lao của đất nước
Nhiều nhà thơ thuộc thế hệ trước cách mạng tháng Tám và trongkháng chiến chống Pháp đã tập trung khám phá và phát hiện Tổ quốc trong
bề rộng của không gian, trong chiều dài của thời gian, trong mối quan hệmật thiết với lịch sử bốn nghìn năm của dân tộc ta Mặc dù họ có nhữngđóng góp đáng ghi nhận về việc tái hiện cuộc kháng chiến nhưng cách nhìn,cách nghĩ, cách cảm nhận vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu nhận thức và tìnhcảm của bạn đọc Đặc biệt lúc bấy giờ bạn đọc ngày càng có mong muốn,
Trang 11khao khát hơn nữa trong việc khám phá hiện thực, không chỉ là hiện thựcgián tiếp từ những nhà thơ quan sát chiến tranh mà còn là hiện thực trựctiếp, sinh động từ trải nghiệm thực tế của những nhà thơ trực tiếp cầm súng,thực sự xông vào mưa bom bão đạn ngoài chiến trường, từng giờ từng phútđối mặt với cái chết để nói về chiến tranh, để nói về mình và về đồng độicủa mình.
Chính hoàn cảnh cụ thể trên đã dẫn đến sự hình thành, xuất hiện củamột lớp nhà thơ trẻ - nhanh nhạy và kịp thời, nóng bỏng tính thời sự, hừnghực tinh thần chiến đấu, tinh thần dấn thân “nhập cuộc”, tham gia trực tiếpvào cuộc chiến tranh cứu quốc vĩ đại của toàn dân tộc Sự xuất hiện ấy nhưmột đòi hỏi tất yếu, không chỉ của dân tộc, của thời đại mà còn là nhu cầutất yếu của nền thơ chống Mỹ Những gương mặt tiêu biểu cho thế hệ cácnhà thơ trẻ như: Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Lê Anh Xuân, Phạm Tiến Duật,Nguyễn Khoa Điềm, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Đức Mậu, Hoàng NhuậnCầm…
Thế hệ nhà thơ trẻ hầu hết được sinh ra từ sau cuộc cách mạng, họđược trau dồi kiến thức từ chế độ mới, không ít những nhà thơ từ trường học
đi thẳng đến chiến trường, chiến đấu với mưa bom bão đạn Hiện thực ácliệt của cuộc chiến tranh đã giúp họ trưởng thành, không chỉ vững vàngtrong cuộc sống mà còn có bản lĩnh trong nghệ thuật Sáp mặt với thực tếchiến tranh, họ ý thức sâu sắc về vị trí, vai trò của thế hệ mình, sự xuất hiệnđúng lúc, kịp thời của thế hệ mình Đó là khi Phạm Tiến Duật dõng dạc,
đường hoàng lên tiếng: “Ta đi hôm nay đã không là sớm - Đất nước hành
quân mấy chục năm rồi - Ta đến hôm nay cũng chưa là muộn - Đất nước còn đánh giặc chưa thôi” (Chào những đội quân tuyên truyền – Chào những đội quân nghệ thuật) Đó là khi các nhà thơ trẻ tự nhận thức sâu sắc về sứ
mệnh lịch sử lịch sử của thế hệ mình: “Cả thế hệ dàn hàng gánh đất nước
trên vai” (Bằng Việt).
Trang 12Đầy bản lĩnh, các nhà thơ trẻ tự tin vào sự cảm nhận của chính mình,không muốn lặp lại cách nói của những người đi trước Hữu Thỉnh đã nhân
danh thế hệ mình mà bộc bạch: “Đừng viết về chúng tôi với chiếc bi đông
bẹp dúm kia là một – Cả những hòn đá kê nồi cũng có bao điều ấm lạnh liên quan” (Đường tới thành phố).
Trong thực tế, các nhà thơ trẻ chỉ thực sự khẳng định được vị trí củamình trong nền thơ chống Mỹ khi họ có một sự thống nhất chung cao độ của
cả một thế hệ, có cách nhìn riêng, có giọng điệu riêng khi viết về chiếntranh Hiểu được bản chất của sự sáng tạo nghệ thuật, các nhà thơ trẻ ý thứcđược sự cần thiết phải tạo ra nét riêng cho thế hệ mình.Và cứ như thế, với ý
thức “Không có sách chúng tôi làm ra sách – Chúng tôi làm thơ ghi lấy
cuộc đời mình” (Hữu Thỉnh), một thế hệ thơ trẻ chống Mỹ đã tự khẳng định
mình, vừa tiếp nối truyền thống của các thế hệ trước, vừa có những sáng tạođộc đáo làm nên những nét riêng không dễ lẫn
1.2 Quá trình trưởng thành và phát triển của phong trào thơ trẻ
Quá trình trưởng thành và phát triển của phong trào thơ trẻ có thể chiathành ba chặng Mỗi chặng có những nét riêng gắn liền với sự xuất hiện củanhững nhà thơ tiêu biểu
1.2.1 Chặng thứ nhất: 1964 đến 1968
Ở chặng đường đầu tiên, đội ngũ nhà thơ trẻ bước đầu được khẳngđịnh với sự xuất hiện của những cây bút trẻ tiêu biểu như: Bằng Việt, LưuQuang Vũ, Xuân Quỳnh, Lê Anh Xuân, Cảnh Trà, Phạm Ngọc Cảnh… Thơcủa họ trẻ trung, tươi tắn, sôi nổi, đậm màu sắc lí tưởng Thơ thế hệ trẻthường theo những môtíp quen thuộc là những dự cảm vào cuộc, nhữngcuộc chia tay, những đêm hành quân, khát vọng ra quân,… Một số bài thơ
tiêu biểu cho chặng này như: Đêm hành quân, Qua sông Thương, Gửi các
anh, Ngã ba thị xã, Đường xuân của Lưu Quang Vũ; Gửi Bến Tre, Trở về quê nội của Lê Anh Xuân; Tiếng gà trưa, Chiến hào của Xuân Quỳnh; Tình yêu và báo động, Trở lại trái tim mình của Bằng Việt.
Trang 13Thơ trẻ chặng đường này rưng rưng cảm xúc, đậm đà chất trữ tình,chứa chan chất men say nồng của tuổi trẻ Họ hướng ngòi bút tới khao khátcủa thế trẻ được trực tiếp cầm súng bằng một cảm xúc chân thành, trongsáng nhất:
Ôi ta thèm được cầm khẩu súng
Đi giữa đoàn quân cùng với bạn bè Nằm chờ giặc trên quê hương anh dũng
Ta say nồng mùi lá rụng bờ tre.
(Gửi Bến Tre – Lê Anh Xuân)
Những năm đầu cuộc chiến tranh, thơ của các nhà thơ trẻ còn bồngbột, mang đậm cái nhìn lãng mạn Họ lí tưởng hóa mọi khó khăn, giankhổ làm bật lên tinh thần lạc quan… Niềm tin của thế hệ trẻ cầm súngđược biểu hiện rõ trong thơ của Lưu Quang Vũ, Nguyễn Mỹ Cái nhìnlãng mạn, lí tưởng hóa, thi vị hóa cũng rất đậm trong thơ Lê Anh Xuân ởchặng đường này:
Ta có ngờ đâu em ta đấy
Dưới mái lều kia em đã lớn lên
Em đẹp lắm như mùa xuân bừng dậy Súng trên vai cũng đẹp như em
Em ơi! Sao tóc em thơm vậy Hay em vừa đi qua vườn sầu riêng
Ta yêu giọng em cười trong trẻo Ngọt ngào như nước dừa xiêm Yêu dáng em đi qua cầu tre lắt lẻo Dịu dàng như những nàng tiên
(Trở về quê nội)
Không để cho bạn đọc phải chờ đợi lâu, trong những năm cuối củachặng đường đầu tiên này thơ trẻ đã bắt đầu giàu có thêm nhờ chất suy nghĩ
và khả năng khái quát Tuy nhiên, về cơ bản, sự từng trải, sự chiêm nghiệm
cá nhân, sự lắng động trong suy tư còn ít thấy trong thơ của những nhà thơ
Trang 14trẻ chặng đường này Mặc dù không tránh khỏi những non nớt nhưng đây làchặng mở đầu đầy ý nghĩa, rất đáng ghi nhận, tạo cơ sở cho sự phát triển củathơ trẻ chống Mỹ ở những chặng sau.
1.2.2 Chặng đường thứ hai: từ 1969 đến 1972
Đây là giai đoạn cuộc kháng chiến chống Mỹ ác liệt dữ dội nhất, cũng
là chặng đường ghi dấu những bước trưởng thành vượt bậc của phong tràothơ chống Mỹ nói chung và thơ trẻ chống Mỹ nói riêng Về đội ngũ sángtác: Ngoài những tác giả xuất hiện ở chặng đầu tiên, ở chặng này có thêmnhiều cây bút tài năng khác: Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, NguyễnĐức Mậu, Phan Thị Thanh Nhàn, Hoàng Nhuận Cầm, Lâm Thị Mỹ Dạv.v… Ở chặng đường này, thế hệ thơ trẻ đã thực sự khẳng định được tiếngnói riêng của mình qua những vần thơ giàu chi tiết chân thực, sinh động nhưcòn vương bụi đất chiến trường và mùi khét lẹt của đạn bom, mang khí thếhừng hực của cuộc chiến đấu Phản ánh chân thực, sinh động hiện thực củacuộc sống chiến trường là nét nổi bật đáng ghi nhận cũng là đóng góp lớnnhất của thơ trẻ ở chặng đường thứ hai trong cuộc hành trình thơ
Nếu ở chặng đường trước, những nhà thơ trẻ có khuynh hướng đitìm chất thơ trong mảng hiện thực đời sống có vẻ nên thơ, trong trẻo thì ởchặng đường này, họ có khuynh hướng đi tìm chất thơ trong các mảnghiện thực trần trụi, thô nhám, dữ dội, đầy ác liệt của cuộc sống chiếntrường Cảm hứng thơ vì thế càng trở nên mảnh liệt, sôi nổi, khác hơn ởchặng đường trước
Thơ trẻ trong chặng đường này có xu hướng vươn tới tầm khái quátnhững mảng hiện thực lớn của cuộc chiến tranh chống Mỹ với những sắcthái dữ dội, ác liệt của nó, làm ngời sáng chủ nghĩa anh hung cách mạng củathế hệ trẻ trong thời đại chống Mỹ Những chi tiết chân thực của đời sốngchiến trường ùa vào các trang thơ, không khí sôi sục của những năm thángchống Mỹ được truyền vào các bài thơ Đời sống thực của người lính đượcthể hiện chân thực trong thơ Phạm Tiến Duật, Nguyễn Đức Mậu, HoàngNhuận Cầm, Thanh Thảo… Chưa bao giờ hình ảnh thế hệ trẻ sống, chiếnđấu giữa chiến trường lại được thơ tập trung khắc họa đạt được tính chân
Trang 15thực cao như thơ trẻ chống Mỹ Đó là những người lính lái xe, chiến sỹ côngbinh, anh bộ đội coi kho, cô thanh niên xung phong, cô gái giao liên:
…Đi qua hết tuổi thanh xuân
Để lại trong rừng những gì quý nhất Mất mọi thứ để nhân dân không mất
(Đi trong rừng – Phạm Tiến Duật)
Chứa đựng nhiều chi tiết chân thực, tươi ròng sức sống, thể hiện đượcnhiều gương mặt trẻ trung, tinh nghịch mà kiên cường anh dũng, thơ PhạmTiến Duật được coi là “một góc bảo tàng tươi sống” về Trường Sơn (ĐỗTrung Lai) trong những năm tháng chống Mỹ
Thơ trẻ chặng đường này vẫn tiếp tục viết về đề tài quê hương, đấtnước, nhưng với một ý thức tự giác cao hơn và tình cảm sâu nặng hơn Sựthống nhất cao độ giữa ý thức của nhà thơ với trách nhiệm công dân, tư cáchngười chiến sĩ cầm súng đã tạo nên cho những trang thơ của những nhà thơtrẻ một chiều sâu mới trong nhận thức và trong tình cảm Thấm thía hơnthực tế chiến tranh, các nhà thơ trẻ càng nhận thức rõ hơn trách nhiệm củamình, càng thấy mình gắn bó sâu nặng hơn với nhân dân, đất nước Thơ họchính là tiếng lòng của những con người trực tiếp cầm súng, lấy máu mình
để giữ gìn, bảo vệ non sông Vùng làng của Phạm Tiến Duật, Mùa giống của
Cảnh Trà, đặc biệt là những trang thơ của Nguyễn Khoa Điềm đã nói lênmột cách thấm thía và đầy xúc động tình cảm thiêng liêng, sâu nặng ấy
Ở chặng thứ hai này, thơ trẻ chống Mỹ đã đạt tới một mức độ nhấtđịnh về chiều sâu của suy nghĩ và tầm cao của sự khái quát Thường là từnhững chi tiết, những hình ảnh thực của chiến tranh, của đời sống chiếntrường, các nhà thơ trẻ đã soi rọi vào đó luồng ánh sáng của tư tưởng để làmnổi bật lên ý nghĩa nhân sinh sâu sắc Và cũng từ những chi tiết, những hìnhảnh cụ thể, các nhà thơ trẻ đã “quy nạp”, tổng hợp, nâng lên thành nhữngkhái quát Từ những trái cây chín, từ một ngọn “lửa đèn”, Phạm Tiến Duật
đã khái quát thành sức sống tiềm tàng, bất diệt của đất nước và con ngườiViệt Nam Từ những tiếng chim kể chuyện trên đồi chốt, nhà thơ nói tới nỗi
đau một thời kì bị cắt chia: “Mẹ ơi đất nước cắt chia – Tiếng kêu con cuốc
Trang 16vọng về quả tim” Từ hơi ấm ổ rơm, bằng hình ảnh “rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm”, Nguyễn Duy nói lên một cách thấm thía, sự gắn bó
máu thịt của tình quân dân, những phẩm chất, đức tính tốt đẹp của conngười Việt Nam
1.2.3 Chặng đường thứ ba: Từ 1973
Đến chặng cuối này, thơ trẻ chống Mỹ đã bổ sung thêm một số nhàthơ đồng thời cũng là những chiến sĩ trực tiếp cầm súng chiến đấu ở chiếntrường Những cây bút tiêu biểu ở giai đoạn này là: Thanh Thảo, HữuThỉnh, Trần Mạnh Hảo, Văn Lê, Anh Ngọc…
Ở chặng này, khuynh hướng thơ của các nhà thơ trẻ phản ánh nhữngmảng hiện thực lớn của chiến tranh, tổng kết cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại.Qua những trang thơ này người đọc có thể bắt gặp những rung cảm mangtính thâm trầm nhất, những suy tư sâu sắc nhất về những phạm trù lớn nhưnhân dân, Tổ quốc, quê hương, đất nước…
Xuyên suốt cả chặng đường chiến đấu, các nhà thơ trẻ đã sử dụngngòi bút sắc sảo của mình để thể hiện những hình ảnh về hiện thực đời sốngchiến trường Đó là những ngày mà cảnh mưa bom bão đạn tràn ngập trên
cả Miền Nam yêu dấu Trong những nỗ lực chung đó, thơ trẻ đã vượt lêngóp vào nền thơ chống Mỹ những trang thơ viết về đời sống chiến trường,phản ánh tích chất ác liệt, dữ dội, những hi sinh gian khổ của dân tộc ViệtNam trong chiến tranh
Sự hi sinh gian khổ tột cùng đó được thể hiện qua ngày sinh nhật đầutiên của một người chiến sĩ:
Ngày sinh nhật bắt đầu bằng cơn sốt
Cổ đắng khô ngồi thở trên đỉnh dốc Bạn mở bi đông nhường hớp nước cuối cùng Hớp nước cuối cùng giữa cơn sốt đầu tiên Ngày sinh nhật tuổi 25 mình được sống
(Thanh Thảo) Chỉ bằng giọng điệu thâm trầm mà thơ trẻ vẫn thể hiện được sự mấtmát to lớn của chiến tranh:
Trang 17Cây cụt ngọn dựng bia vào trời xanh căm giận
(Con chim thời gian – Nguyễn Khoa Điềm)
Sáng tạo những vần thơ giàu chất suy nghĩ, những hình tượng thơmang ý nghĩa khái quát là xu hướng chính của thơ trẻ ở chặng đường cuốinày Cũng chính ở chặng này, khuynh hướng muốn phản ánh những mảnghiện thực lớn của chiến tranh, tổng kết cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại đãxuất hiện như một đòi hỏi chính đáng của thời đại Không phải ngẫu nhiên
mà từ sau 1975, thơ trẻ chống Mỹ xuất hiện hàng loạt những trường ca vềchiến tranh, thể hiện khát vọng tổng kết cuộc kháng chiến thông qua cách
nhìn và sự trải nghiệm riêng của mỗi nhà thơ Những người đi tới biển,
Những ngọn song mặt trời của Thanh Thảo, Mặt trời trong lòng đất, Đất nước hình tia chớp của Trần Mạnh Hảo, Con đường của những vì sao của
Đinh Trọng Tạo v.v… là sự thể hiện cụ thể những khát vọng đó Với nhữngđặc trưng và ưu thế của thể trường ca, trong những trường ca tiêu biểu ởchặng này, các nhà thơ trẻ đã phối hợp khá nhuần nhuyễn giữa trữ tình và tự
sự, đan xen, phối hợp nhiều thể thơ trong một trường ca, phác họa đượcnhiều chân dung của nhân vật trữ tình nhằm vươn tới tính khái quát, tổnghợp, mở rộng hiện thực, tăng cường tính triết lý, chính luận trong thơ Quanhững trường ca này, tính chất dữ dội, khốc liệt của chiến tranh được khơisâu, nhấn mạnh Do có độ lùi nhất định về thời gian, cuộc chiến tranh chống
Mỹ được thể hiện với một cách nhìn trầm tĩnh hơn, hiện thực chiến tranhđược tái hiện toàn vẹn và đầy đặn hơn Đọc trường ca, người ta có thể nhận
ra ngọn nguồn sâu xa nhất đã tạo nên sức mạnh quật cường của dân tộc, thúcđẩy cuộc kháng chiến trường kì tới chiến thắng vĩ đại Có thể nói, trong
Trang 18những trang thơ này, người đọc có thể bắt gặp những rung cảm trữ tình vàoloại thâm trầm nhất, những suy tư vào loại sâu sắc nhất về những phạm trùlớn như nhân dân, Tổ quốc, quê hương, đất nước…
Trang 19Chương 2 ĐÓNG GÓP CỦA PHONG TRÀO THƠ TRẺ TRÊN
PHƯƠNG DIỆN NGÔN NGỮ, GIỌNG ĐIỆU.
2.1 Trên phương diện ngôn ngữ
2.1.1 Ngôn ngữ đời thường, giản dị, giàu yếu tố khẩu ngữ, yếu
tố văn xuôi
Trước đây người ta vẫn quan niệm rằng, từ ngữ dùng trong phongcách thơ phải là từ ngữ bóng bẩy, có tính hoa mỹ cho nên yếu tố khẩu ngữthường bị coi rẻ và bị loại ra khỏi thơ ca truyền thống Ngay trong thơ mới,các yếu tố khẩu ngữ, hầu nhưkhông tìm được chỗ để xuất hiện
Trong thơ ca, việc dùng từ ngữ bóng bẩy là cần thiết, song khôngphải là tuyệt đối Bởi vì, trước thực tế phong phú và ngày càng mở rộng, các
sự vật, hiện tượng được nhà thơ khám phá cần phải xem xét từ nhiều góc độ,nhiều phương diện khác nhau Có lúc ngôn ngữ phải lắng sâu, nhiều tínhtriết lý, nhưng cũng có lúc phải bộc bạch trực quan sinh động đối tượng màmình miêu tả Do vậy, sự xuất hiện của ngôn ngữ đời sống, khẩu ngữ trongthơ có thể xem như là một tất yếu
Thơ trữ tình cách mạng hướng đến ngôn ngữ đại chúng, thơ cầnchuyền tải đời sống chiến đấu và sản xuất, trực tiếp tác động nhanh đến tâmtrí người đọc Điều đó lí giải vì sao ngôn ngữ thơ viết trong chiến tranh, màtiêu biểu là ngôn ngữ thơ trẻ lại mộc mạc, thô ráp Thơ trẻ đã có những đónggóp quan trọng trong việc xây dựng ngôn ngữ thơ trữ tình cách mạng Ngônngữ thơ trẻ chống Mỹ giản dị, gần với đời sống thường ngày hay thậm chí làkhẩu ngữ Đặc điểm này bộc lộ rõ ở hệ thống từ ngữ đời thường trong thơcủa những nhà thơ trẻ, tiêu biểu nhất là ngôn ngữ thơ Phạm Tiến Duật
Đọc tuyển tập “Thơ một chặng đường” của Phạm Tiến Duật ta bắt
gặp rất nhiều hư từ, quán từ vốn được sử dụng nhiều trong cuộc sống hàng
ngày Đó là những phụ từ, quan hệ từ: hơi, đã, cứ, để, mà, thì, là; những quán ngữ: buồn cười, đáo để, vô khối, hóa ra… Chính nhờ đó mà thơ trở
nên gần gũi vói lời nói, biểu hiện sự trẻ trung và những tình cảm chân thật
Trang 20Những từ ngữ tưởng chừng như không thể thành thơ vậy mà lại rất thơ tronglối kết hợp sáng tạo cảu Phạm Tiến Duật như:
- Không có kính không phải vì xe không có kính
- Không có kính ừ thì có bụi Bụi phun tóc trắng như người già
- Không cần lửa phì phèo châm điếu thuốc Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha
(Bài thơ về Tiểu đội xe không kính)
Từ những câu thơ giản dị như ngôn ngữ nói đời thường, Phạm TiếnDuật đã cho người đọc thấy sự ác liệt của bom đạn chiến tranh, và nhất là đãnói lên thật sinh động nét hồn nhiên, dí dỏm, pha chút ngạo nghễ, không sợkhó khăn, không màng hiểm nguycủa những anh lính mười tám đôi mươi.Những chiếc xe không kính có thể khiến cho những người lính gặp vô vànkhó khăn, nguy hiểm Dù vậy, những người lính lái xe vẫn ung dung, hiênngang, lạc quan và luôn tin tưởng vào chiến thắng Đó là những câu thơ
mang chất liệu khẩu ngữ Tuy nhiên nó không giống như kiểu nói nôm na:
nay ta là một người du kích – là ta chỉ thích đánh Tây – mùa thu này mày
mà đến – đến nơi này ta sẽ giết… mà người đọc có thể tìm thấy đằng sau
những lời nói bình thường, giản dị ấy là cái cao cả của người lính lái xe, tất
cả vì miền Nam, vì chiến thắng
Trong thơ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, việc đưa các yếu tố khẩungữ, văn xuôi dần trở nên phổ biến Nổi bật trong việc trả về cho thơ cáigiản dị của ngôn ngữ đời thường một cách thành công là nhà thơ Phạm Tiến
Duật Nhớ là một bài thơ tứ tứ tuyệt, cấu trúc của bài thơ tứ tuyệt thường là
cấu trúc vững chắc cân đối, có sự hài hòa về nhịp điệu Nhưng thực ra trongbài thơ vẫn có sự co giãn về câu chữ và có cả một câu văn xuôi:
Cái vết thương xoàng mà đưa viện Hàng còn chờ đó, tiếng xe reo Nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ biển Nôn nao ngồi dậy nhớ lưng đèo.
(Nhớ)
Trang 21“Cái vết thương xoàng mà đưa viện” Câu thơ thật gần gũi với cách
nói trong cuộc sống hàng ngày Cách nói ấy không những không làm giảm
đi chất thi vị của bài thơ mà ngược lại rất cần thiết để nói lên một tâm trạngthật của người lái xe Một sự trách móc nhỏ, một chút phàn nàn xuất phát từnỗi lo lắng về trách nhiệm của mình đang thực hiện Bài thơ do đó thực và
tự nhiên hơn.Hay ở bài thơ Gửi em cô thanh niên xung phong cũng là cách
nói, cũng là hệ thống từ ngữ mang đầy chất khẩu ngữ ấy của Phạm Tiến
Duật Câu thơ “Em ở Thạch Kim sao lại lừa anh nói là Thạch Nhọn” cho
người đọc thấy được hình ảnh cô thanh niên xung phong hồn nhiên, tinhnghịch với câu nói đùa Thạch Kim, Thạch Nhọn hơn là hoàn cảnh giữa
chiến trường đày ác liệt, hiểm nguy của bản thân (Gửi em, cô thanh niên
Thơ trẻ chống Mỹ không chỉ khám phá, tìm tòi, đưa ngôn ngữ vềgần với ngôn ngữ đời thường mà thậm chí ngôn ngữ còn mang phongcách khẩu ngữ:
Cái miệng em ngoa cho chúng bạn cười giòn Giọng Hà Tĩnh nghe buồn cười đáo để
(Gửi em cô thanh niên xung phong – Phạm Tiến Duật)
Những từ ngữ mang tính khẩu ngữ được đưa vào đúng vị trí của nókhiến cho câu thơ, bài thơ trở nên lấp lánh, sinh động, thậm chí những từ
Trang 22mang tính khẩu ngữ, đời thường “ngoa”, “đáo để” còn trở thành điểm nhấn
của câu thơ, làm cho hình tượng thơ sống mãi trong lòng người đọc
Thơ trẻ chống Mỹ cũng thường sử dụng ngôn ngữ mang phong cáchsinh hoạt Cụ thể trong thơ Phạm Tiến Duật khi ông bắt gặp những tình cảnhbất ngờ, hay khi ông phát hiện ra diều thú vị:
Vẫn ngỡ tiếng mưa, giật mình thức dậy
Hóa ra là giọng hò em đấy (Nghe hò đêm bốc vác) Cũng quần áo ướt phơi dây Cũng gàu múc nước, ô hay cũng làng (Vùng làng)
Ơ hay núi cứ ba hòn nhỉ
Cứ kết liền nhau đến lạ kì
(Thắng giặc lên núi Ba Vì)
Trong thời kỳ chống Mỹ việc đưa vào thơ ngôn ngữ gần với ngônngữ đời sống thậm chí là khẩu ngữ đã gợi lên được tính chất dữ dội, ácliệt, sự gian khổ trong chiến tranh, nhằm thể hiện thực chất đời sốngchiến trường, qua đó đốt cháy lên ngọn lửa căm thù quân xâm lược Cácnhà thơ trẻ lấy sự gian khổ, ác liệt, tàn khốc của đời sống chiến trường
để làm phông, làm nền qua đó làm nổi bật chân dung, tinh thần của cảmột thế hệ trẻ cầm súng, thơ ca mang đậm chất lính:
Quân ta bao vây đã dày như nêm
Cái ác không còn nơi nào lẩn trốn
(Những mảnh tàn lá)
Hay:
Đạn một trăm mili mét xếp ngang Đạn cao xa một trăm xếp dọc Súng bắn tỉa để riêng một góc
(Nghe hò đêm bốc vác)
Trang 23Những câu thơ trên của Phạm Tiến Duật đã đưa vào mọi tên gọithông thường của vật liệu, kỹ thuật, công tác ngổn ngang ngoài mặt trận,làm cho thơ bật ra tự nhiên, không mất công gọt giũa.
Chất trẻ trung, bung phá trong suy nghĩ cũng tạo nên một khuynhhướng của thơ trẻ là sử dụng nhiều những chi tiết cụ thể, thô nhám của đờisống sinh hoạt và chiến tranh, mạnh dạn sử dụngnhững câu thơ văn xuôi.Những chi tiết được sử dụng trong thơ trẻ như còn giữ được cái chất nguyên
sơ, tươi ròng của sự sống:
Nào cuốc nào chòong xoong nồi xủng xoảng
Cách sử dụng từ ngữ như câu thơ trên quả là táo bạo Nó đã diễn tảđắc địa cuộc sống sôi động nơi chiến trường một cách độc đáo Còn đây làmột đoạn thơ mang chất văn xuôi, nói lên nỗi đau của sự hy sinh mất mátmột cách chân tình, giản dị nhất, bởi thế, cũng chạm đến sâu nhất trái timbạn đọc:
Buổi sáng ấy tôi bước vào tuổi 25
Ở đường dây 559 – trạm 73 Ngày sinh nhật bắt đầu bằng cơn sốt
Cổ đắng khô ngồi thở trên đỉnh dốc Bạn mở bi đông nhường hớp nước cuối cùng Hớp nước cuối cùng giữa cơn sốt đầu tiên Ngày sinh nhật 25 mình còn sống
(Những người đi tới biển – Thanh Thảo)
Những câu thơ như những lời nói mộc mạc nhưng cũng chứa đầychất thơ Phải chăng, khi sự hi sinh mất mát đã là nỗi đau quá lớn thì những
gì để chuyển tải nó cũng nên giản dị chân tình Mộc mạc mà đầy suy tư,giản dị mà thấm thía sâu sắc Thanh Thảo đã làm được điểu đó, một phầnnhờ ở cách sử dụng hệ thống từ ngữ mang chất văn xuôi, ở lối diễn đạt củacâu thơ văn xuôi
Trang 24Dù đối diện vói hiểm nguy, vất vả và sự ác liệt của chiến tranh nhưngđôi lúc, người lính cũng có những niềm vui nho nhỏ Niềm vui xuất phát từhành động quan tâm nhẹ nhạng của cô gái trong bữa ăn tập thể:
Bếp tập thể đậu kho và rau muống
Em gắp cho tôi bằng đũa cau rừng
(Phạm Tiến Duật) Trong thơ trẻ chống Mỹ các nhà thơ đều có ý thức đưa văn xuôi vàothơ, tạo nên những câu thơ văn xuôi Ví như thơ của Nguyễn Đức Mậu,Hoàng Nhuận Cầm, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh… Những câu thơ mấp mé vănxuôi nhưng vẫn ở bên này ranh giới, vẫn còn giữ được đặc trưng của ngôn
ngữ thơ ca Trong bài “Nhật ký”, Hoàng Nhuận Cầm có ý thức tạo nhịp điệu
phong phú cho câu thơ, làm cho thơ tiếp cận với văn xuôi, gần gũi với cuộcsống nhưng vẫn giàu chất thơ:
Sáng: Bình minh ấy là bình minh kỉ niệm Chiều: Hoàng hôn như lạ như quen Tối: Tắc kè ném lưỡi vào đêm
Có ngủ được đâu Nằm nghe súng nổ Đánh trận đầu tiên ai chả thế Thôi, sáng rồi! vẫn tiếng gà xóm mẹ Cuốn võng vào theo hướng súng mà đi.
Những kỉ niệm hiện lên rõ ràng trong tâm trí người chiến sĩ về nhữngnăm tháng chiến đấu gian khổ, vất vả trên chiến trường, được miêu tả chitiết một cách tự nhiên bằng những câu thơ mang yếu tố văn xuôi
Sự gia tăng chất văn xuôi trong thơ ca thời kỳ này có nguyên nhânsâu xa từ việc đưa ngôn ngữ về gần với ngôn ngữ đời thường Trên cơ sở đóchất văn xuôi đã góp phần quan trọng vào việc diễn tả trực tiếp và sinh độnghình ảnh cuộc sống và con người kháng chiến
Tôi nhìn xuống hố bom đã giết em
Trang 25Mưa đọng lại một khoảng trời nho nhỏ
Đất nước và nhân dân
Lấy nước trời xoa dịu những đau thương.
(Khoảng trời hố bom – Lâm Thị Mỹ Dạ)
Với những câu thơ dài ngắn thoải mái, Lâm Thị Mỹ Dạ đã diễn đạtnỗi đau xót của nhân dân, đất nước trước sự hy sinh anh dũng của cô thanhniên xung phong mở đường Hữu Thỉnh cũng có những câu thơ tự sự vanglên như một khẩu lệnh:
Nhưng trước mặt là Tổ quốc
Dù chỉ là gốc sim thôi, dù chỉ gốc sim cằn Anh ôm súng bò lên với trái tim tình nguyện
(Đường tới thành phố)
Một số đoạn trong trường ca “Những người đi tới biển” của Thanh
Thảo có dáng dấp thơ văn xuôi Hình thức những câu thơ ở đây khôngtheo một khuôn mẫu nào cố định mà nó do nội dung cảm xúc, dựa vàonhững cung bậc tình cảm khác nên câu thơ cũng có nhiều hình vẻ khácnhau Câu thơ vì thế mà vẫn chan chứa chất thơ, đọc lên tự nhiên thấy tựnhiên và thoải mái:
Chúng tôi không mệt đâu Nhưng có sắc và ấm quá Tuổi hai mươi thằng em tôi sững sờ
… Mười tám hai mươi sắc như cỏ.
Các nhà thơ trẻ có xu hướng mở rộng câu thơ thành những lời tâm sự.Hàng loạt lời thơ gần với văn xuôi theo mô hình câu kể đã tạo kênh giao tiếp
mở, người đọc như đang trực diện với chuỗi trạng thái tâm lí của cái tôi trữtình cô đơn, oán thán, bế tắc:
Cậu bé con đôi mắt ngây thơ
Trang 26Đã đánh mất kho vàng và tiếng hát Anh bỏ hồ trong, bỏ vườn cây mát
Đi tìm chân trời nhưng chỉ thấy cô đơn
(Những ngày chưa có em – Lưu Quang Vũ)
Tôi là một con chiên không có nhà thờ
Một tín đồ ngoan đạo chưa bao giờ xem lễ
Và đọc kinh cầu nguyện (Khát vọng của một người cô đơn – Lê Nghiêm Vũ) Tôi chết rồi đây hơn một nửa
Những ngọn nến đời tôi Tôi đã thổi tắt hết từ lâu Họa còn chăng một chút hơi thừa
(Nói một mình – Tô Thùy Yên)
Thơ trẻ gắn với văn xuôi còn thể hiện ở hình thức liệt kê, sự xuấthiện đặc biệt hệ thống hư từ có khả năng nhấn mạnh, tăng cấp trạng tháicảm xúc cái tôi trữ tình, nhất là với cái tôi đối mặt với bi kịch đời tư:
Trong sự sống này và buổi chiều yên tĩnh đó
Những bọt sóng đã vỡ ra từ vô cùng Anh sinh hoạt âm thầm như một loài dơi khốn khổ Trong sự vô tình của nắng, niềm bao dung của gió Cơn phẫn nộ của rừng
Và sự ưu tư của đá Anh già đi bằng những nỗi than vãn Cùng mặt trời thầm thì soi mói đó
(Trên đỉnh trời An Khê – Trần Thúc Vũ)
Bằng việc đưa ngôn ngữ về gần với ngôn ngữ đời sống , khẩu ngữ và
sự gia tăng yếu tố văn xuôi trong thơ, thế hệ các nhà thơ trẻ đã góp phần
“để khám phá, thể hiện đời sống ở nhiều góc độ, nhiều phương diện khác
Trang 27nhau, đặc biệt là phản ánh được hiện thực phong phú, đa dạng, phức tạp của đời sống chiến trường”
1.2.2 Vận dụng sáng tạo các biện pháp tu từ và sáng tạo hình ảnh Sáng tạo ngôn ngữ thơ ca là sự phấn đấu không ngừng của mỗi nhà
thơ chân chính, đồng thời nó cũng là công việc vô cùng gian khổ Nói như
Maiacốpxki: quá trình sáng tạo ngôn ngữ thơ ca cũng giống như người lọc
quặng rađium lọc lấy tinh chất, tìm ra trong cái bề bộn của những tấm quặng nhũng từ đẹp, ánh sắc kim cương… Các nhà thơ trẻ chống Mỹ luôn
có ý thức trong việc diễn đạt hình ảnh, ngôn ngữ và thực sự đã có nhữngđóng góp nhất định cho sự phát triển ngôn ngữ thơ ca hiện đại Việt Nam
Thực tiễn sáng tạo ngôn ngữ rất đa dạng và phong phú Nổi bật bêntrong thơ trẻ chống Mỹ là sự vận dụng sáng tạo những biện pháp tu từtruyền thống: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa,…Đồng thời theo lối tư duy hiện đại
đã tạo ra những kết hợp mới những cách tổ chức câu thơ giành được nhiều
sự bất ngờ thú vị cho người đọc trong việc phản ánh đời sống hiện thực
Trong thơ ca Việt Nam so sánh là một biện pháp tu từ được sử dụngmột cách phổ biến Ở ca dao, có tới hàng trăm câu dùng biện pháp so sánhvới từ “như”
- Thân em như giải lụa đào Phất phơ trước gió biết vào tay ai
- Thân em như hạt mưa sa Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày
- Thân em như cái giếng giữa đàng Người khôn rữa mặt người phàm giữa chân
……
Đến với thơ trẻ chống Mỹ, biện pháp so sánh đã được khai thác ở tất
cả những khả năng của nó Phạm Tiến Duật đã cho ta một khám phá mới vềcác vật vốn rất quen thuộc và bình dị hằng ngày nhờ cách quan sát tinh vivới kiểu so sánh độc đáo của ông:
Trang 28Quả nhót như bóng đèn tín hiệu Trỏ lối sang mùa hè
Quả cà chua như cái lồng đèn nhỏ xíu Thắp mùa đông ấm những đêm thâu Quả ớt như ngọn lữa đèn dầu
Chạm đầu lưỡi chạm vào sức nóng…
Mạch đất ta dồi dào sức sống Nên thành cây cũng thắp sáng quê hương.
(Lửa đèn – Phạm Tiến Duật)
Chắc hẳn những so sánh mà ta thường gặp (lấy cái trừu tượng so sánhvới cái cụ thể để cho dễ hiểu), quan hệ giữa hai vế so sánh trong thơ PhạmTiến Duật là quan hệ giữa cái cụ thể với cái cụ thể
Sự so sánh của Lê Anh Xuân trong những câu thơ sau đây là mộtsáng tạo, là một biểu hiện của khuynh hướng phức tạp dần cấu tạo củahai vế so sánh:
Ôi kể làm sao cho hết được Những anh hùng đánh Mỹ hôm nay Như Cửu Long mênh mông cuộn sóng Như Trường Sơn đậm đặc cây rừng.
(Gặp gỡ những anh hùng – Lê Anh Xuân)
Nhờ lối so sánh ấy, bốn câu thơ đã khắc họa cho chúng thấy hiện thựcđất nước Việt Nam trong những năm tháng chống Mỹ cứu nước hết sức gay
go, gian khổ nhưng cũng thật oai hùng: anh hùng xuất hiện nhiều như nướcCửu Long, như rừng Trường Sơn Hiện thức sôi động ấy đã được các nhàthơ chống Mỹ phản ánh, ca ngợi
Vẫn là biện pháp nhân hóa trong thơ truyền thống nhưng trong thơThanh Thảo, Hữu Thỉnh lại có những nét mới Bởi từ dùng, hình ảnhchọn lọc đạt mức độ chính xác cao, mỗi từ một vị trí, một chức năng,khó có thể thay thế bằng một từ hay hình ảnh khác, nhờ đó mà cảnh
Trang 29mang dáng dấp thời binh lửa, có khi thảng thốt bất thường đầy âu lo đốimặt với đạn lửa hủy diệt:
Con nước trời xanh khoảnh khắc Mưa hốt hoảng trườn qua tầng cây
(Thanh Thảo)
Tiếng suối giục khi mờ khi tỏ
Núi tốt bụng đang ngồi xanh phía trước Rừng bỗng chao nghiêng trước sợi dây mỏng manh Rừng bỗng quên vừa trận bom đau.
(Hữu Thỉnh)Hình ảnh thơ giúp người đọc hình dung ra cảnh chiến trường với tất
cả sự khốc liệt, dữ dội của nó và cả nghị lực vượt lên những thử thách ấymột cách rất đáng khâm phục của con người Việt Nam Những biện pháp tu
từ nhân hóa được dùng khiến cho từng con suối, rừng cây bỗng trở nên gầngũi, thân thương biết chừng nào Đất nước Việt Nam là như thế, thiên nhiêncũng tình nghĩa như tấm lòng con người Việt Nam Trong ác liệt của đạnbom chiến tranh, mỗi ngọn núi, rừng cây đều có thể trở thành nơi chắn chenhững bước chân quân hành Hàng loạt động từ mạnh, biến đổi nhanh,
không ngừng như: trườn, giục, chao nghiêng…cho ta cảm nhận được cuộc
chiến đang diễn ra dữ dội, và tất cả, con người và thiên nhiên, đều hối hảkhẩn trương để nhanh đến thắng lợi cuối cùng
Đôi khi, dựa vào sự liên tưởng, tưởng tượng mà các nhà thơ lại cóthể dẫn dắt người đọc đi từ thế giới âm thanh sang thế giới hình ảnh, từthế giới vô hình sang thế giới hữu hình Đây là lối so sánh ẩn dụ rất độcđáo của Hữu Thỉnh:
Tiếng bìm bịp bập bềnh trong đêm nước lên.
(Hữu Thỉnh) Câu thơ vừa gợi tả âm thanh vừa gợi tả hình ảnh đất nước không yênbình qua tiếng kêu nặng nề, u uẩn của con chim bìm bịp cùng hình ảnh con
Trang 30nước lên bập bềnh trong đêm cũng là không gian chiến tranh bất thườngtrong thơ thời chống Mỹ.
Sự trao đổi cộng hưởng lẫn nhau của những yếu tố cụ thể, trừu tượng
đã khiến cho ngôn ngữ thơ trở nên phong phú đa nghĩa Nhìn chung các nhàthơ trẻ chống Mỹ đã có được bước vượt lên rất xa để tiếng Việt toàn thắngtrong thơ, để thơ trở thành thể loại văn học chủ yếu đưa ngôn ngữ nghệ thuậtViệt Nam phát triển ngày càng thêm tinh tế, sống động, đa sắc, đa chiều
Bằng cảm xúc trữ tình mãnh liệt và khả năng tổng hợp, khái quát cao,các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ đã tạo nên một hệ thống hình ảnh biểu tượngphong phú Đó là hình ảnh bà mẹ, con suối, dòng sông, song, đất, hạt cát,ngọn lửa…nhằm thể hiện sức mạnh dân tộc Việt Nam thời đại chống Mỹcứu nước
Cảm nhận và miêu tả hình tượng Tổ quốc trong những năm thángchiến tranh cách mạng, các nhà thơ trẻ muốn tìm một hình ảnh đẹp nhất,tượng trưng sâu sắc nhất cho Tổ quốc Đó là hình ảnh bà mẹ Khi thể hiện
Tổ quốc, đất nước trong hình ảnh bà mẹ, các tác giả có xu hướng từ bà mẹ
cụ thể khái quát lên hình tượng bà mẹ Tổ quốc
Trong thơ Lê Anh Xuân, hình ảnh bà mẹ Việt Nam là hiện thâncủa tần tảo, vất vả nhọc nhằn, thầm lặng hy sinh nhưng rất đỗi kiên cườngcao cả:
Mẹ lưng còng tóc bạc Tần tảo sớm hôm Nuôi các anh ta dưới hầm bí mật,
Cả đời mẹ hy sinh gan góc Hai mươi năm giữ đất giữ làng
Mẹ là mẹ Việt Nam.
(Trở về quê nội – Lê Anh Xuân)
Bà mẹ Tổ quốc còn được hình dung ra trong tư thế bà mẹ ra trận – bà
mẹ chiến sĩ:
Trang 31Mẹ chỉ có chiếc áo nâu vai vá
Mẹ chỉ có một chiếc nón che đầu
Mẹ ra trận có hai bàn tay
Mẹ có mái tóc để gọi dân làng
Mẹ ơi mẹ ra chặn giặc Trái tim cũng là mìn chông
Mẹ ra trận áo dài thuôn thả Cái dáng đi bà mẹ Việt Nam.
(Mẹ ra trận có gì – Nguyễn Khoa Điềm)
Hình ảnh bà mẹ Việt Nam vừa là nguồn an ủi vỗ về, vừa là nguồn tiếpthêm sức mạnh cho những đứa con:
Mẹ Việt Nam ơi!
Đêm nay con về gối đầu trên những cánh tay của mẹ
Ôi cánh tay rắn rỏi dịu hiền Lấm láp bùn lầy nhưng ấm áp niềm tin
Đó là hai cánh đê sông Hồng của mẹ
Mẹ phả vào con nồng nàn mùi sữa Của những đồng xa nguyên vẹn được mùa.
(Nguyễn Khoa Điềm)
Hình ảnh bà mẹ đào hầm từ lúc tóc còn xanh đến lúc phơ phơ đầu bạc
trong thơ Dương Hương Ly đã trở thành biểu tượng về lòng dân rộng lớn, vềđất nước quê ta mênh mông, về sức mạnh tinh thần bất khuất của dân tộc:
Đất quê ta mênh mông
Quân thù không xâm hết được Lòng mẹ rộng vô cùng
Đủ giấu cả sư đoàn dưới đất Nơi hầm tối là nơi sáng nhất Nơi con tìm ra sức mạnh Việt Nam.
(Đất quê ta mênh mông)
Trang 32Xây dựng hình ảnh bà mẹ như là một biểu tượng cho Tổ quốc - mộtbiểu tượng gần gũi, thân thương biết bao kỳ vĩ, đó là tài năng, và sâu xa hơn
đó là tình cảm gắn bó máu thịt, là tình yêu tha thiết, sâu sắc của thế hệ trẻthời chống Mỹ đối với quê hương đất nước
Trong thời gian đầu của cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoạicủa giặc Mỹ, hình ảnh những ngọn đèn trên cácnẻo đường đi vào tuyến lửa
đã để lại một hình ảnh đẹp trong thơ Tiêu biểu cho sự sáng tạo hình ảnh
ngọn đèn, ngọn lửa là nhà thơ Phạm Tiến Duật Qua bài thơ Lửa đèn, Phạm
Tiến Duật đã xây dựng cảm hứng chủ đạo xoay quanh ánh lửa linh thiêngcủa sự sống, ánh lửa từ ngàn năm vẫn sáng soi và sưởi ấm cho đất nước vàcon người, ánh lửa đang bị kẻ thù tàn bạo tìm cách dập tắt:
Ngọn đèn như mắt của ai trông Ngọn đèn như trái tim thương nước Soi bước ta đi rực hồng
Trang 33Cho em thơ đi học ban đêm Chiếc đèn chui vào lòng trái núi Cho xưởng máy thay ca vời vợi Chiếc đèn chui vào chiếu vào chăn Cho những trai làng đọc lá thư thăm
(Lửa đèn)
Trong thơ Thanh Thảo, hình ảnh ngọn lửa là biểu trưng cho ý thứccủa thế hệ trẻ về giá trị đích thức của mình Không phải là những vòng hàoquang chói sáng mà lửa thực - lửa trái tim của những người lính trẻ:
Vì ngọn lửa chịu sình là lửa thật
Đã bừng lên Dám cháy tận sức mình
Ngọn lửa còn là niềm tin, ước mơ, hy vọng của những người línhđang trên đường đi tới chiến thắng:
Không biết cách nào lửa đã nhóm lên Như không phải củi rừng đang cháy
Có cái gì như đốm lửa tàn hơi
Cứ bay lên làm nhẹ cả người ngồi
(Hữu Thỉnh)
Bên cạnh hình ảnh bà mẹ, ngọn đèn, ngọn lửa, hình ảnh con suối,
dòng sông trong thơ trẻ được xây dựng như những biểu tượng cho sức sống
tiềm tàng, bất tận của nhân dân:
Suối cứ thế âm thầm nuôi biển lớn
Cứ âm thầm chảy xiết với thời gian
Trang 34- Dân tộc tôi khi đứng dậy làm người
Trời sao lặn hóa thành muôn mạch nước Chảy âm thầm chảy dọc thời gian
(Thanh Thảo)Sức mạnh trường tồn, vĩnh hằng, muôn thuở của nhân dân trong thơ
trẻ được thể hiện qua những hình ảnh biểu tượng sóng và đất: “Ngày con
sóng chết cuối đêm – Sinh ngàn con sóng trước thềm rạng đông”, “Đất nằm
im như chết – Có bao giờ đất chết đâu anh”
Có thể nói, xây dựng thành công một số hình ảnh biểu tượng nhằmthể hiện Tổ quốc, nhân dân và thời đại, đó là một đóng góp đáng ghi nhậncủa thơ trẻ trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước
2.2 Trên phương diện giọng điệu
Thơ Việt Nam thời kháng chiến chống Mỹ lấy cảm hứng trữ tình - sửthi làm chủ đạo Nó là sản phẩm tất yếu của thời đại cả nước ra trận Tươngứng với cảm hứng này là giọng điệu anh hùng ca Có thể nói đây là chủ âmtrong dàn đồng ca thơ chống Mỹ Tuy nhiên, trên cái giọng nền ấy, xuất hiệnnhững chất giọng khác, tức các sắc thái khác của nó Thơ trẻ chống Mỹ đã
có những đóng góp đáng chú ý về phương diện này với các sắc thái, giọngđiệu khá đa dạng và phong phú Nhìn tổng thể, thơ trẻ chống Mỹ nổi lên một
số kiểu giọng điệu sau:
2.2.1 Giọng hào sảng, lạc quan
Hào hùng, sảng khoái, lạc quan là âm hưởng chủ đạo của nền thơ cacách mạng, bao hàm thơ trẻ chống Mỹ Có thể nói, ở mức độ này hay khác,phần lớn các sáng tác trong cuộc chiến đấu là những tráng ca mang sức sống
vĩ đại của dân tộc Tâm thế các nhà thơ là tâm thế những ca sĩ cất lên nhữnggiai điệu hào hùng, hướng về quê hương xứ sở:
Chợt thấy anh giặc hốt hoảng xin hàng
Có thằng sụp xuống chân anh tránh đạn
Bởi anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm