1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn quản trị kinh doanh THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM MỲ ĂN LIỀN CÔNG TY TNHH KINH DOANH VÀ CHẾ BIẾN LƯƠNG THỰC HÀ VIỆT

63 388 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 3,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1.2 Vai trò của thị trường  Thị trường là yếu tố quyết định sự sống còn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Trong nền kinh tế hàng hoá, mục đích của các nhà sản xu

Trang 1

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ CẠNH TRANH 1

1.1.THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ THỊ TRƯỜNG VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1

1.1.1Khái niệm về thị trường 1

1.1.2 Vai trò của thị trường 2

1.2 Cạnh tranh và nội dung hoạt động cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường 3

1 2.1 Khái niệm về cạnh tranh và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp 3

1.2.2 Các công cụ sử dụng để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp 8

1.2.3 Nội dung hoạt động cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường 11

1.2.3.1 Nghiên cứu thị trường, xác định đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp.11 1.2.3.2 Nghiên cứu tiềm năng và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp 11

1.2.3.3 Xác định mục tiêu cạnh tranh của doanh nghiệp 12

1.2.3.4 Lập các chiến lược cạnh tranh cho doanh nghiệp 12

1.2.3.5 Tổ chức thực hiện các chiến lược cạnh tranh 15

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM MỲ ĂN LIỀN CÔNG TY TNHH KINH DOANH VÀ CHẾ BIẾN LƯƠNG THỰC HÀ VIỆT 16

2.1 Thị trường và tình hình cạnh tranh trong lĩnh vực thực phẩm nói chung và mặt hàng Mỳ Tôm nói riêng 16

2.1.1 Khái quát chung lĩnh vực thực phẩm 16

2.1.2 Thị trường Mỳ ăn liền 26

2.2 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của công ty TNHH Kinh Doanh và Chế biến lương thực Hà Việt 31

2.2.1 Giới thiệu chung 31

2.2.5 Chính sách chất lượng 36

2.2.6 Sản phẩm 37

2.3 Thực trạng thị trường và khả năng cạnh tranh của sản phẩm Mỳ Tôm Cty HaVietFoods 38

2.3.1 Phân tích thị trường và đối thủ cạnh tranh 38

2.3.2Đánh giá chung thị trường: 41

Trang 2

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP THỊ TRƯỜNG NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH SẢN PHẨM MỲ TÔM CÔNG TY HAVIETFOODS 44

3.1 Chiến lược, định hướng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn trong việc nâng cao

khả năng cạnh tranh của sản phẩm nói riêng và công ty nói chung 44

3.2 Các nhóm giải pháp cơ bản 44

3.2.1 Giải pháp về đề xuất chiến lược áp dụng 44

3.2.2 Giải pháp Marketing 47

1.2.3 Giải pháp kênh phân phối và khuyến mại hỗ trợ các trung gian phân phối 54

3.2.4 Giải pháp kênh bán hàng 57

3.2.5.Giải pháp về sản phẩm, mẫu mã 58

3.2.6 Giải pháp về nhân sự 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Sơ đồ 1: Tổ chức cơ bản 32

Sơ đồ 2: Tổ chức bán hàng 32

Sơ đồ 3: Qui trình sản xuất Mỳ ăn liền 33

Sơ đồ 4: Doanh thu công ty 41

Sơ đồ 5: Thị phần mỳ ăn liền phân khúc thấp cấp 41

Sơ đồ 6: Mô hình thiết lập hệ thống lực lượng bán hàng 56

Bảng 1: Khảo sát một số loại mỳ ăn liền cao cấp 46

Bảng 2: Tiêu chí khảo sát 47

Bảng 3: Đối thủ cạnh tranh 47

Bảng 4: Chương trình dành cho nhà phân phối 55

Bảng 5: Chương trình khuyến mại cơ bản 55

Bảng 6: Chương trình kích thích tiêu thụ 55

Trang 4

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ CẠNH TRANH

1.1.THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ THỊ TRƯỜNG VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1.1 Khái niệm về thị trường.

Theo cách hiểu cổ điển thì thị trường là nơi diễn ra các quá trình trao đổi vàmua bán.Trong thuật ngữ kinh tế hiện đại, thị trường là nơi mua bán hàng hoá, lànơi gặp gỡ để tiến hành hoạt động mua bán giữa người mua và người bán

Thị trường là sự kết hợp giữa cung và cầu trong đó những người mua vànhững người bán bình đẳng cùng cạnh tranh Số lượng người mua, người bán nhiềuhay ít phản ánh quy mô của thị trường lớn hay nhỏ Việc xác định nên mua hay nênbán hàng hoá và dịch vụ với khối lượng và giá cả bao nhiêu do cung cầu quyết định

Từ đó ta thấy thị trường còn là nơi thực hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa hai khâu sảnxuất và tiêu thụ hàng hoá.Như vậy sự hình thành của thị trường đòi hỏi phải có:

+ Đối tượng trao đổi: Sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ

+ Đối tượng tham gia trao đổi: Người bán và người mua.

+ Điều kiện thực hiện trao đổi: Khả năng thanh toán.

Thị trường chỉ có thể ra đời, tồn tại và phát triển khi có đầy đủ ba yếu tố: + Phải có hàng hoá dư thừa để bán ra

+ Phải có khách hàng, mà khách hàng phải có nhu cầu chưa được thoả mãn

và phải có sức mua

+ Giá cả phải phù hợp với khả năng thanh toán của khách hàng và đảm bảocho sản xuất,kinh doanh có lãi Với nội dung trên cho thấy điều quan tâm củadoanh nghiệp là phải tìm ra thị trường – tìm ra nhu cầu và khả năng thanh toán củasản phẩm, dịch vụ mà mình cung ứng Ngược lại đối với người tiêu dùng họ phảiquan tâm đến việc so sánh những sản phẩm mà nhà sản xuất cung ứng có thoả mãnnhu cấu của mình không và phù hợp với khả năng thanh toán của mình đến đâu

Như vậy, các doanh nghiệp thông qua thị trường mà tìm cách giải quyết các vấn đề.

- Phải sản xuất loại hàng hoá gì? Cho ai? Số luợng bao nhiêu?.Mẫu mã, kiểucách, chất lượng như thế nào?

Trang 5

Còn người tiêu dùng thì biết được:

- Ai sẽ đáp ứng được nhu cầu của mình?Nhu cầu được thoả mãn đến mứcnào?.Khả năng thanh toán ra sao?

Tất cả những câu hỏi trên chỉ có thể được trả lời chính xác trên thị trường.Trong công tác quản lý kinh tế, xây dựng kế hoạch mà không dựa vào thị trường đểtính toán và kiểm chứng số cung cầu thì kế hoạch sẽ không có cơ sở khoa học vàmất phương hướng, mất cân đối Ngược lại, việc tổ chức mở rộng thị trường màthoát ly sự điều tiết của công cụ kế hoạch thì tất yếu dẫn đến sự rối loạn trong hoạtđộng kinh doanh

1.1.2 Vai trò của thị trường

Thị trường là yếu tố quyết định sự sống còn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp:

Trong nền kinh tế hàng hoá, mục đích của các nhà sản xuất hàng hoá là sảnxuất ra hàng hoá ra để bán, để thoả mãn nhu cầu của người khác Vì thế các doanhnghiệp không thể tồn tại một cách đơn lẻ mà mọi hoạt động sản xuất kinh doanhđều phải gắn với thị trường Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn rakhông ngừng theo chu kỳ mua nguyên vật liệu, vật tư, thiết bị… trên thị trường đầuvào, tiến hành sản xuất ra sản phẩm, sau đó bán chúng trên thị trường đầu ra

Doanh nghiệp chịu sự chi phối của thị trường hay nói cách khác thị trường đãtác động và có ảnh hưởng quyết định tới mọi khâu của quá trình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Thị trường càng mở rộng và phát triển thì lượng hàng hoátiêu thụ được càng nhiều và khả năng phát triển sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp càng cao và ngược lại Bởi thế còn thị trường thì còn sản xuất kinh doanh,mất thị trường thì sản xuất kinh doanh bị đình trệ và các doanh nghiệp sẽ có nguy

cơ bị phá sản Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, có thể khẳng định rằng thịtrường có vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Thị trường điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá :

Thị trường đúng vải trị hướng dẫn sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thịtrường Các nhà sản xuất kinh doanh căn cứ vào cung cầu, giá cả thị trường đểquyết định sản xuất kinh doanh cái gì? Như thế nào ? và cho ai? Sản xuất kinhdoanh đều phải xuất phát từ nhu cầu của khách hàng và tìm mọi cách thoả mãn nhucầu đó chứ không phải xuất phát từ ý kiến chủ quan của mình Bởi vì ngày nay nềnsản xuất đã phát triển đạt tới trình độ cao, hàng hoá và dịch vụ được cung ứng ngày

Trang 6

càng nhiều và tiêu thụ trở nên khó khăn hơn trước Do đó, khách hàng với nhu cầu

có khả năng thanh toán của họ, bộ phận chủ yếu trong thị trường của doanh nghiệp,

sẽ dẫn dắt toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Thị trường phản ánh thế và lực của doanh nghiệp :

Mỗi doanh nghiệp hoạt động trên thương trường đều có một vị thế cạnh tranhnhất định Thị phần ( phần thị trường mà doanh nghiệp chiếm lĩnh được ) phản ánhthế và lực của doanh nghiệp trên thương trường

Thị trường mà doanh nghiệp chinh phục được càng lớn chứng tỏ khả năng thuhút khách hàng càng mạnh, số lượng sản phẩm tiêu thụ được càng nhiều và do đó

mà vị thế của doanh nghiệp càng cao

Thị trường rộng giúp cho việc tiêu thụ thuận lợi hơn dẫn tới doanh thu và lợinhuận nhanh hơn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tái đầu tư hiện đại hoá sản xuất,

đa dạng hoá sản phẩm, tăng thêm khả năng chiếm lĩnh và mở rộng thị trường Khi

đó thế và lực của doanh nghiệp cũng được củng cố và phát triển

1.2 Cạnh tranh và nội dung hoạt động cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

1 2.1 Khái niệm về cạnh tranh và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

a Khái niệm về cạnh tranh

- Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trong việc giànhgiật thị trường và khách hàng

Từ khái niệm cạnh tranh đơn thuần chúng ta quan tâm đến khả năng cạnhtranh của 1 doanh nghiệp: Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng, nănglực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trênthị trường cạnh tranh, đảm bảo việc thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệđòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời thực hiện đượcnhững mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra

Nếu một doanh nghiệp tham gia thị trường mà không có khả năng cạnh tranhhay khả năng cạnh tranh yếu hơn các đối thủ của nó thì sẽ rất khó khăn để tồn tại vàphát triển được, quá trình duy trì sức mạnh của doanh nghiệp phải là quá trình lâudài và liên tục Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là cơ sở để đảm bảo khảnăng duy trì lâu dài sức mạnh cạnh tranh đó

- Các nhân tố tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.Khả năng cạnh

Trang 7

tranh của doanh nghiệp được xác định dựa vào các ưu thế cạnh tranh của nó Ưu thếmạnh được hiểu là những đặc tính hoặc những thông số của sản phẩm nhờ đó sảnphẩm có được ưu việt, sự vượt trội hơn so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranhtrực tiếp Các nhân tố tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm:

Uy tín: Đánh giá sự tin tưởng của khách hàng vào doanh nghiệp, tạo được

uy tín tốt đối với khách hàng là cơ sở tạo nên sự quan tâm của khách hàng đến sảnphẩm, dịch vụ của doanh nghiệp

Mức độ nổi tiếng của nhãn hiệu: ảnh hưởng đến một loại sản phẩm với

nhãn hiệu cụ thể của doanh nghiệp

Khả năng thích ứng: Là khả năng thích nghi với sự thay đổi của mô trường

kinh doanh của doanh nghiệp để đảm bảo sự tồn tại và phát triển

Sự linh hoạt, nhạy bén của những người quản lý doanh nghiệp: Sự nhạy

bén của những người quản lý doanh nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho doanhnghiệp nắm bắt được các cơ hội sản xuất kinh doanh, cơ hội phát triển trên thịtrường

Kinh nghiệm kinh doanh trên thương trường: Bao gồm những phương

pháp chiến thuật, chiến lược trong kinh doanh Đây là một tài sản vô hình tạo nênlợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp

Vị thế của doanh nghiệp trên thương trường: Được đánh giá trên cơ sở uy

tín, hình ảnh, thị phần… Những doanh nghiệp có vị thế cao trên thương trường rấtthuận lợi trong cạnh tranh Những công ty này có khả năng đa dạng hoá sản phẩm,phát triển thị trường để nâng cao khả năng cạnh tranh

Hệ thống đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ: Tiêu chuẩn

chất lượng mà doanh nghiệp áp dụng nhằm đảm bảo cho chất lượng sản phẩm củamình Qua việc áp dụng các tiêu chuẩn, hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm, dịch

vụ làm cho khách hàng tin tưởng khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ

Lợi thế về vốn và chi phí: Đây là một nhân tố rất quan trọng khi sản phẩm

của các doanh nghiệp trên thị trường là tương đối đồng nhất thì việc giảm giá bán làmột biện pháp rất có hiệu quả để tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

b Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

1) Các nhân tố bên trong doanh nghiệp

- Nguồn nhân lực Nhân lực là yếu tố quyết định đến sản xuất kinh doanh,

Trang 8

nó bao gồm một số nội dung chủ yếu sau:

Ban giám đốc doanh nghiệp

Đội ngũ cán bộ quản lý ở cấp doanh nghiệp

Các cán bộ quản lý ở cấp phân xưởng, đốc công và công nhân

Nguồn lực vật chất và tài chính

Khả năng tài chính của doanh nghiệp

Quyết định đến việc thực hiện hay không thực hiện bất cứ một hoạt động đầu

tư, mua sắm hay phân phối của doanh nghiệp Doanh nghiệp có tiềm lực về tàichính sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc đổi mới công nghệ, đầu tư trangthiết bị, đảm bảo nâng cao chất lượng, hạ giá thành nhằm duy trì và nâng cao sứcmạnh cạnh tranh, củng cố vị trí của mình trên thị trường

Máy móc thiết bị và công nghệ

Có thể khẳng định rằng một doanh nghiệp với một hệ thống máy móc thiết bị

và công nghệ tiên tiến cộng với khả năng quản lý tốt sẽ làm ra sản phẩm có chấtlượng cao, giá thành hạ từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh Ngược lại không mộtdoanh nghiệp nào mà được coi là có khả năng cạnh tranh cao trong khi trong tay họ

là cả một hệ thống máy móc thiết bị cũ kỹ với công nghệ sản xuất lạc hậu

Hệ thống mạng lưới phân phối của doanh nghiệp

Mạng lưới phân phối của doanh nghiệp được tổ chức, quản lý và điều hànhmột cách hợp lý thì nó sẽ là một phương tiện có hiệu quả để tiếp cận khách hàng.Doanh nghiệp thu hút khách hàng bằng cách trinh phục (hình thức mua bán, thanhtoán, vận chuyển) hợp lý nhất

2) Các nhân tố thuộc môi trường ngành

Môi trường ngành (môi trường tác nghiệp) là môi trường phức tạp nhất vàcũng ảnh hưởng nhiều nhất đến cạnh tranh Sự thay đổi có thể diễn ra thường xuyên

và khó sự báo chính xác được, khác với môi trường vĩ mô, môi trường ngành khôngđược tổng hợp từ những quy định, quy luật mà nó đậm tính thời điểm nhất định.Micheal Porter đã đưa ra khái niêm cạnh tranh mở rộng, theo đó cạnh tranhtrong một ngành phụ thuộc vào 5 lực lượng: Các đối thủ tiềm năng, sản phẩm thaythế, người cung ứng, khách hàng và những đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành.Bốn lực lượng đầu được xem như là các lực lượng bên ngoài và cuộc cạnh tranhgiữa các đối thủ cạnh tranh trong một ngành được xem là cạnh tranh quyết liệt nhất

a Các đối thủ tiềm năng

Trang 9

Việc gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới trực tiếp làm giảm tínhchất quy mô cạnh tranh do tăng năng lực sản xuất và khối lượng sản xuất trongngành Sự xuất hiện của các đối thủ mới có khả năng gây ra những cú sốc mạnh chocác doanh nghiệp hiện tại vì thông thường những người đi sau thường có nhiều căn

cứ cho việc ra quyết định và những chiêu bài của họ thường có tính bất ngờ

Đối thủ tiềm năng là những người mà ý tưởng “nhảy vào cuộc” của họ đượchình thành trong quá trình theo dõi, chứng kiến, phân tích và đi đến những nhậnđịnh cuộc cạnh tranh hiện đại Tính không hiện diện như là một bức bình phong chechắn cho hướng suy tính và hành động của đối thủ tiềm năng

Để chống lại các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, các doanh nghiệp thường thựchiện các chiến lược phân biệt sản phẩm, nâng cao chất lượng, bổ sung thêm nhữngđặc điểm mới của sản phẩm, không ngừng cải tiến, hoàn thiện sản phẩm nhằm làmcho sản phẩm của mình có những đặc điểm khác biệt hoặc nổi trội trên thị trường,hoặc phấn đấu giảm chi phí sản xuất, tiêu thụ

b Sức ép của người cung ứng

Với vai trò là người cung cấp các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, quyềnlực của nhà cung ứng được thể hiện thông qua sức ép về giá nguyên vật liệu Một sốnhững đặc điểm sau của nhà cung ứng có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc cạnh tranhtrong ngành:

- Số lượng người cung ứng: Thể hiện mức cung nguyên vật liệu và mức độlựa chọn nhà cung ứng của các doanh nghiệp cao hay thấp Nhiều nhà cung ứng tạo

ra sự cạnh tranh trên thị trường nguyên vật liệu, nó có tác dụng làm giảm chi phíđầu vào cho các nhà sản xuất

- Tính độc quyền của nhà cung ứng: Tạo ra cho họ những điều kiện để épgiá các nhà sản xuất, gây ra những khó khăn trong việc cạnh tranh bằng giá cả

- Mối liên hệ giữa các nhà cung ứng và nhà sản xuất: Khi mà cung ứng đồngthời là một đơn vị sản xuất kinh doanh trong cùng một tổ chức với nhà sản xuất thìtính liên kết nội bộ được phát huy tạo cho các nhà sản xuất có điều kiện thực hiệncạnh tranh bằng giá

Để giảm bớt các ảnh hưởng xấu từ phía các nhà cung ứng, các doanh nghiệpcần phải có mối quan hệ tốt với họ, hoặc mua của nhiều người trong đó chọn rangười cung cấp chính đồng thời tích cực nghiên cứu tìm nguyên vật liệu thay thế,

dự trữ nguyên vật liệu hợp lý

Trang 10

c Sức ép của người mua

Người mua tranh đua với ngành bằng cách bắt ép giá giảm xuống, mặc cả

để có chất lượng tốt hơn và được phục vụ nhiều hơn đồng thời còn làm cho các đốithủ chống lại nhau Tất cả đều làm tổn hao mức lợi nhuận của ngành nói chung vàcủa doanh nghiệp nói riêng Quyền lực của mỗi nhóm khách hàng của doanh nghiệpphụ thuộc vào một loạt các đặc điểm về tình hình thị trường của nhóm và tầm quantrọng của các hàng hoá mà khách hàng mua của doanh nghiệp Nhóm khách hàng làmạnh nếu có các điều kiện sau:

- Nhóm tập trung hoặc mua với khối lượng hàng hoá lớn so với lượng bán racủa người bán

- Những hàng hoá mà nhóm mua của ngành chiếm một tỷ lệ đáng kể quantrọng trong các chi phí hoặc trong số hàng hoá phải mua của nhóm Khách hàng sẽ

có xu hướng chi tiêu hợp lý các nguồn lực dựng để mua hàng của mình, đặc biệt về

lý do giá cả mà sẽ mua một cách có chọn lựa

- Những sản phẩm mà nhóm mua của doanh nghiệp là theo đúng tiêu chuẩnphổ biến và không có gì khác biệt Người mua chắc chắn có thể tìm được nhà cungcấp khác và sẽ có khả năng đẩy doanh nghiệp này chống lại doanh nghiệp khác

- Nhóm chỉ kiếm được mức lợi nhuận thấp: Lợi nhuận thúc đẩy hạ thấp chiphí mua hàng Còn đối với nhóm khách hàng có lợi nhuận cao nhìn chung ít để ýđến giá cả hơn (tất nhiên trong điều kiện hàng hoá đó không chiếm tỷ trọng lớntrong tổng chi phí)

d Sự xuất hiện của các sản phẩm thay thế

Các sản phẩm được thay thế đáng quan tâm nhất là: Những sản phẩm thuộc về

xu thế cải thiện việc đánh đổi tình hình giá cả của chung lấy của ngành và hai là dongành có lợi nhuận cao Trong trường hợp sau, các sản phẩm thay thế sẽ ồ ạt nhảyvào cuộc nếu sự phát triển trong bản thân ngành do làm tăng cường độ cạnh tranhtrong nội bộ ngành và đòi hỏi giảm giá hoặc cải thiện tình hình hoạt động

Sản phẩm thay thế thường có sức cạnh tranh cao hơn do được sản xuất trênnhững dây truyền sản xuất tiên tiến hơn Mặc dù phải chịu sự chống trả của các sảnphẩm bị thay thế nhưng các sản phẩm thay thế có nhiều ưu thế hơn, do đó sẽ dầndần thu hẹp thị trường của các sản phẩm bị thay thế (đặc biệt là các sản phẩm mànhu cầu thị trường xã hội bị chặn) Sản phẩm thay thế phát triển sẽ làm giảm khả

Trang 11

năng cạnh tranh của sản phẩm bị thay thế Cách khắc phục của doanh nghiệp này làhướng tới sản phẩm mới hay các khách hàng tìm kiếm độ thoả dụng mới.

e Sức ép của các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành

Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện có trong ngành là một trong nhữngyếu tố phản ánh bản chất của môi trường này Sự có mặt của các đối thủ cạnh tranhchính trên thị trường và tình hình hoạt động của chúng là lực lượng tác động trựctiếp mạnh mẽ, tức thì tới quá trình hoạt động của các doanh nghiệp Trong mộtngành bao giờ cũng gồm nhiều doanh nghiệp khác nhau, nhưng thường trong đó chỉ

có một số đóng vai trị chủ chốt như những đối thủ cạnh tranh chính có khả năng chiphối khống chế thị trường

1.2.2 Các công cụ sử dụng để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Cạnh tranh bằng đặc tính sản phẩm và chất lượng sản phẩm

Sản phẩm của doanh nghiệp là một hệ thống thống nhất các yếu tố có liênquan chặt chẽ với nhau nhằm thoả mãn đồng bộ các yêu cầu của khách hàng baogồm sản phẩm vật chất, bao bì, nhãn hiệu, các dịch vụ kèm theo

Gắn liền với sản phẩm là khái niệm về chất lượng Sản phẩm và chất lượng củasản phẩm là một công cụ cạnh tranh quan trọng của các doanh nghiệp trên thị trường,bởi vì khách hàng luôn có xu hướng so sánh sản phẩm của doanh nghiệp này với sảnphẩm của doanh nghiệp khác nhằm lựa chọn cho mình cái tốt nhất Người tiêu dùngthường quan tâm trước tiên đến chất lượng khi lựa chọn một sản phẩm nào đó, nhiềulúc họ sẵn sàng chấp nhận mức giá cao để có được sản phẩm tốt hơn

Cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm

Giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền giá trị của hàng hoá Nó thể hiện mốiquan hệ trực tiếp giữa người mua và người bán Đối với các doanh nghiệp, giá cảtrực tiếp tạo ra doanh thu và lợi nhuận thực tế Còn đối với người mua, giá hàng hoáluôn được coi là chỉ số đầu tiên để họ đánh giá phần “được” và chi phí phải bỏ ra để

sở hữu và tiêu dùng hàng hoá

Giá cả được sử dụng làm công cụ cạnh tranh thể hiện thông qua chính sáchđịnh giá bán mà doanh nghiệp áp dụng đối với các loại thị trường của mình trên cơ

sở kết hợp một số chính sách, điều kiện khác Định giá là việc ấn định có hệ thốnggiá cả cho đúng với hàng hoá hay dịch vụ bán cho khách hàng Có các chính sáchđịnh giá sau:

- Chính sách định giá thấp: Là chính sách định giá thấp hơn giá thị trường

Trang 12

để thu hút khách hàng về phía mình Chính sách này đòi hỏi doanh nghiệp thực hiện

nó phải có tiềm lực vốn lớn, phải tính toán chắc chắn và đầy đủ mọi tình huống rủi

ro Nếu thành công nó sẽ giúp cho doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường cũ, thâmnhập vào thị trường mới và bán được khối lượng sản phẩm lớn

- Chính sách định giá ngang thị trường: Đây là chính sách định giá phổ

biến, doanh nghiệp sẽ định giá bán sản phẩm của mình xoay quanh mức giá bán trênthị trường của các đối thủ khác Với chính sách này, doanh nghiệp phải tăng cườngcông tác tiếp thị, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất để đứngvững trên thị trường

- Chính sách định giá cao: Là chính sách giá bán sản phẩm cao hơn giá

thống trị trên thị trường, cao hơn nhiều so với giá trị thực của sản phẩm Chính sáchnày chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp có sản phẩm hoặc dịch vụ độc quyền hoặcvới doanh nghiệp có chất lượng cao hơn hẳn Chính sách này giúp cho các doanhnghiệp thu được lợi nhuận siêu ngạch

- Chính sách định giá phân biệt: Nếu đối thủ cạnh tranh chưa có chính sách

phân biệt thì đây là một thứ vũ khí cạnh tranh không kém phần lợi hại của doanhnghiệp Chính sách này được thể hiện là với cùng một loại sản phẩm nhưng cónhiều mức giá khác nhau và các mức giá đó được phân biệt theo nhiều tiêu thứckhác nhau Ví dụ người mua nhiều được ưu đãi giá hơn so với người mua ít (phânbiệt theo lượng mua), người thanh toán ngay được ưu đãi giá hơn so với người trảchậm (phân biệt theo phương thức thanh toán) Ngoài ra còn có phân biệt theolượng mua, theo phương thức thanh toán, theo thời gian…

- Chính sách bán phá giá: Giá bán thấp hơn hẳn so với giá thị trường, thậm

chí còn thấp hơn cả giá thành Doanh nghiệp sử dụng chính sách này nhằm đánh bạiđối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường Nhưng để làm được điều này doanh nghiệpphải có thế mạnh về tài chính, tiềm lực khoa học công nghệ và uy tín trên thươngtrường Việc bán phá giá chỉ thực hiện trong thời gian nhất định để có thể loại bỏđược những đối thủ nhỏ, khó loại bỏ được những đối thủ lớn Tuy nhiên trong nhiềutrường hợp doanh nghiệp không được sử dụng chính sách này do luật chống bánphá giá mà nhà nước quy định

Xúc tiến bán hàng

Xúc tiến bán hàng được hiểu là: các hoạt động có chủ đích trong lĩnh vựcmarketing của các doanh nghiệp nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội bán hàng hoá và

Trang 13

cung ứng dịch vụ Nội dung của xúc tiến bán hàng được xác định bao gồm các nộidung chủ yếu: quảng cáo bán hàng, khuyến mại, tham gia hội chợ triển lãm, bánhàng trực tiếp và quan hệ công chúng.

 Cạnh tranh bằng nghệ thuật phân phối, tiêu thụ sản phẩm

Kênh phân phối là con đường mà hàng hoá được lưu thông từ nhà sản xuất đếnngười tiêu dùng Nhờ có mạng lưới kênh phân phối mà khắc phục được những khácbiệt về thời gian địa điểm và quyền sở hữu giữa người sản xuất với người tiêu dùngcác hàng hoá, dịch vụ Các kênh phân phối phải thực hiện các chức năng chủ yếusau: Nghiên cứu thị trường, Xúc tiến khuyếch trương, Phân phối vật chất, Thiết lậpcác mối quan hệ

Hiện nay, các doanh nghiệp sử dụng nhiều hình thức khác nhau để phân phốihàng hoá tới người tiêu dùng nhưng về lý thuyết có hai loại kênh phân phối cơ bản

1.2.3 Nội dung hoạt động cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường

1.2.3.1 Nghiên cứu thị trường, xác định đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp

Nghiên cứu thị trường giúp các doanh nghiệp nắm được các đặc điểm của thịtrường như: khách hàng và nhu cầu của khách hàng; các yếu tố về kinh tế về vănhoá, chính trị luật pháp Mục đích của việc nghiên cứu là dự đoán được các xu

Trang 14

hướng biến động của thị trường, xác định được các cơ hội cũng như các nguy cơ cóthể có từ thị trường Căn cứ vào đó, doanh nghiệp đề ra các quyết định kinh doanhcủa mình như lựa chọn thị trường mục tiêu, thực hiện các hoạt động marketing Nộidung của công tác này là phải biết được:

- Các đối thủ cạnh tranh hiện tại và tiềm ẩn

- Số lượng các đối thủ cạnh tranh trên thị trường Xác định đâu là đối thủcạnh tranh mạnh nhất, đối thủ cạnh tranh chính của doanh nghiệp

- Các điểm mạnh, yếu của từng đối thủ

- Chiến lược hiện tại của đối thủ, khả năng đối thủ chuyển dịch và đổihướng chiến lược của họ

- Vị trí của đối thủ trong ngành và thái độ của đối thủ đối với vị trí hiện tạicủa họ Điều gì các đối thủ muốn đạt tới trong tương lai

- Các đối thủ sẽ phản ứng và hành động như thế nào trước chiến lược cũngnhư các chính sách, giải pháp mà doanh nghiệp sẽ đưa ra

1.2.3.2 Nghiên cứu tiềm năng và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

Tiềm năng cạnh tranh của doanh nghiệp là những khả năng cạnh tranh tiềm ẩn

mà doanh nghiệp chưa tận dụng hết và có thể khai thác được trong tương lai

Nghiên cứu tiềm năng và khả năng cạnh tranh trước hết là phân tích thực trạngtình hình cạnh tranh của doanh nghiệp Đâu là mặt mạnh, đâu là mặt yếu của doanhnghiệp Doanh nghiệp đã làm được những gì để phát huy những điểm mạnh củamình trong cạnh tranh và những nhân tố nào, những vướng mắc nào làm hạn chếkhả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Doanh nghiệp cần làm gì để duy trì và pháttriển những lợi thế cạnh tranh đang có Tiếp theo, doanh nghiệp phải tìm hiểu xemnhững nhân tố nào cần phát huy để nâng cao khả năng cạnh tranh trong tương lai

Đó có thể là các yếu tố thuộc về doanh nghiệp mà cũng có thể xuất phát từ môitrường kinh doanh

1.2.3.3 Xác định mục tiêu cạnh tranh của doanh nghiệp

Mục tiêu là kết quả mong muốn cuối cùng của các cá nhân, nhóm hay toàn bộ

tổ chức Mục tiêu chỉ ra phương hướng cho tất cả các quyết định quản trị và hìnhthành nên những tiêu chuẩn đo lường cho việc thực hiện trong thực tế Vì vậy, saukhi nghiên cứu tiềm năng và khả năng cạnh tranh của mình thì việc đề ra mục tiêucạnh tranh là rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp vì nó là xuất phát điểm, lànền tảng cho việc lập các kế hoạch các chiến lược cạnh tranh sau này

Trang 15

 Các loại mục tiêu cạnh tranh của doanh nghiệp

 Xét theo tính chất cụ thể của mục tiêu: Mục tiêu tổng quát, Mục tiêu cụthể

 Xét theo thời gian : Mục tiêu dài hạn và Mục tiêu ngắn hạn

 Xét theo phạm vi: Mục tiêu cấp doanh nghiệp và Mục tiêu cấp bộ phận

 Yêu cầu đối với các mục tiêu cạnh tranh

- Tính cụ thể: khi xác định mục tiêu cần chỉ rõ nó liên quan đến những vấn

đề gì? giới hạn thời gian thực hiện? kết quả cuối cùng cần đạt?

- Tính khả thi: phải phù hợp với khả năng của doanh nghiệp và khả năngcủa các cá nhân, các bộ phận chịu trách nhiệm thực hiện các mục tiêu

- Tính nhất quán: các mục tiêu phải thống nhất với nhau, việc hoàn thànhmục tiêu này không làm cản trở tới việc thực hiện các mục tiêu khác

1.2.3.4 Lập các chiến lược cạnh tranh cho doanh nghiệp

 Căn cứ vào tính chất tập trung của chiến lược

 Chiến lược dẫn đầu về chi phí thấp

Mục tiêu của chiến lược này là sản xuất kinh doanh những sản phẩm, dịch vụvới chi phí thấp hơn các đối thủ cạnh tranh trong ngành.Các giải pháp chủ yếu củachiến lược này bao gồm:

- Doanh nghiệp có thể lựa chọn mức khác biệt hoá sản phẩm thấp nhưngkhông quá thấp hơn so với mức của doanh nghiệp theo đuổi chiến lược khác biệthoá

- Tập trung vào việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ phục vụ khách hàng trungbình trong thị trường đại trà đại chúng

- Chú trọng đến việc phát triển các năng lực đặc biệt trong lĩnh vực nghiêncứu và phát triển, hoàn thiện công nghệ, máy móc thiết bị, thay thế nguyên vật liệu

rẻ tiền mà vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm

 Chiến lược khác biệt hoá sản phẩm

Mục tiêu của chiến lược này là đạt lợi thế cạnh tranh bằng việc tạo ra sảnphẩm, dịch vụ có thể thoả mãn các loại cầu có tính chất độc đáo hoặc nhiều loại cầucủa các nhóm khách hàng khác nhau của doanh nghiệp

Các giải pháp chủ yếu của chiến lược này bao gồm

- Chọn mức khác biệt hoá sản phẩm cao để đạt được lợi thế cạnh tranh

- Khác biệt hoá sản phẩm ở từng phân đoạn thị trường cụ thể

Trang 16

- Chú trọng phát triển các hoạt động chức năng như nghiên cứu và pháttriển, bán hàng và marketing.

 Chiến lược trọng tâm hoá

Mục tiêu của chiến lược này là tập trung đáp ứng cầu của một nhóm hữu hạnngười tiêu dùng hoặc đoạn thị trường

Các giải pháp chủ yếu của chiến lược này bao gồm

- Tuỳ thuộc doanh nghiệp theo đuổi sự khác biệt hoá sản phẩm và hạ thấpchi phí đến mức nào mà sự khác biệt sản phẩm có thể cao hoặc thấp

- Tập trung phục vụ một hoặc vài đoạn thị trường chứ không phải là toàn bộthị trường (như doanh nghiệp lựa chọn chiến lược dẫn đầu về chi phí) hay phục vụmột số lớn hơn các đoạn (như doanh nghiệp lựa chọn chiến lược khác biệt hoá)

- Doanh nghiệp có thể phát triển bất kỳ một năng lực đặc biệt nào nhằm tạo

ra lợi thế cạnh tranh cho mình

 Các chiến lược cạnh tranh cho từng loại doanh nghiệp

 Các doanh nghiệp dẫn đầu thị trường

Trường hợp doanh nghiệp chọn mục tiêu tăng trưởng nhanh và chiến lược tậptrung Khi đó chiến lược cạnh tranh phải nhằm vào quy mô thị trường và tăng thịphần của doanh nghiệp bằng nhiều cách như thu hút khách hàng, khác biệt hoá vàtìm công dụng mới của sản phẩm.Trường hợp doanh nghiệp chọn mục tiêu tăngtrưởng ổn định và chiến lược tập trung Khi đó có thể lựa chọn các chiến lược chủyếu sau:

- Chiến lược đổi mới: phát triển các loại sản phẩm mới, dịch vụ và cáchthức phân phối mới để duy trì vị trí đứng đầu ngành

- Chiến lược củng cố: chủ động bảo toàn sức mạnh trên thị trường dựa vàoviệc chú trọng giữ mức giá hợp lý, đưa ra sản phẩm với quy mô, hình thức, mẫu mãmới

- Chiến lược đối đầu: đảm bảo khả năng phản ứng nhanh, linh hoạt và trựctiếp trước đối thủ thách thức thông qua “chiến tranh“ giá cả, khuyến mãi hoặc giànhgiật đại lý

- Chiến lược quấy nhiễu: cố ý tác động tiêu cực tới người cung ứng hoặcngười tiêu thụ để giảm uy tín và hình ảnh của đối thủ cạnh tranh

 Các doanh nghiệp thách thức

Trang 17

Đây có thể là các doanh nghiệp lớn nhưng không phải là số một trên thịtrường Các doanh nghiệp nên đặt mục tiêu tăng trưởng nhanh ở cấp doanh nghiệp

và chiến lược tập trung ở cấp bộ phận doanh nghiệp nhằm giành thêm thị phần

Có năm chiến lược marketing quan trọng nhất là:

- Giữ giá ở mức thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh Muốn vậy, doanhnghiệp phải theo đuổi các giải pháp giảm thấp chi phí sản xuất kinh doanh và tiêuthụ sản phẩm

- Đổi mới sản phẩm hoặc kích thích cầu mới

- Cải thiện dịch vụ nhất là giao hàng nhanh hơn đến tận tay khách hàng

- Hoàn thiện mạng lưới phân phối, mạng lưới bán hàng

- Tăng cường và cải tiến công tác quảng cáo, khuyến mãi

 Các doanh nghiệp theo sau

Là các doanh nghiệp có vị thế trung bình trên thị trường, thường không tháchthức với các doanh nghiệp dẫn đầu thị trường Đối với các doanh nghiệp này, chìakhó thành công là chọn các khâu trong công tác marketing mang lại lợi nhuận màkhông gây ra sự phản kháng cạnh tranh dữ dội

 Các doanh nghiệp đang tìm chỗ đứng trên thị trường

Là các doanh nghiệp chưa xác định được vị trí an toàn, đang tìm cách khaithác các vị trí nhỏ mà các doanh nghiệp lớn bỏ qua hoặc không chú ý.Tập trungphát triển vào viêc chuyên môn hoá theo đặc điểm khách hàng, theo địa lý, mặthàng, chất lượng hàng hoá

1.2.3.5 Tổ chức thực hiện các chiến lược cạnh tranh

Quá trình tổ chức thực hiện chiến lược cần tiến hành các hoạt động chủ yếusau:

- Thiết lập các mục tiêu và kế hoạch kinh doanh ngắn hạn hơn

- Thay đổi, điều chỉnh cơ cấu tổ chức hiện tại (nếu cần) theo các mục tiêuchiến lược, xác định nhiệm vụ và cơ chế phối hợp của các bộ phận

- Phân phối các nguồn lực

- Hoạch định và thực thi các chính sách kinh doanh

- Quản trị sự thay đổi, thích nghi giữa sản xuất

Trang 18

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM MỲ ĂN LIỀN CÔNG TY TNHH KINH DOANH VÀ CHẾ BIẾN

LƯƠNG THỰC HÀ VIỆT 2.1 Thị trường và tình hình cạnh tranh trong lĩnh vực thực phẩm nói chung và mặt hàng Mỳ Tôm nói riêng

2.1.1 Khái quát chung lĩnh vực thực phẩm

a Khái niệm kinh doanh thực phẩm

Kinh doanh thực phẩm là một trong số hàng nghìn hình thức kinh doanh, làlĩnh vực kinh doanh hàng tiêu dùng, nó có đặc điểm chung với kinh doanh thôngthường nhưng có những đặc điểm riêng đó là:

- Người tiêu dùng ít hiểu biết về hàng hoá có hệ thống: trên thị trường có tớihàng chục ngàn mặt hàng, dự người ta đã tận dụng được nhiều phương pháp giớithiệu hàng hoá, về doanh nghiệp nhưng người tiêu dùng vẫn chưa hiểu rõ hết được

về địa chỉ sản xuất, chất lượng, đặc tính, công dụng và cách thức sử dụng của tất cảcác loại hàng hoá

- Sức mua trên thị trường biến đổi lớn, theo thời gian, theo địa phương…ngườitiêu dùng có thể cân nhắc rất kỹ khi cần mua sắm nhất là vào thời điểm có rất nhiềuhàng tiêu dùng có khả năng thay thế lẫn nhau

- Sự khác biệt về người tiêu dùng rất lớn: giữa tầng lớp dân cư, địa vị, các tậpđoàn khác nhau về nghề nghiệp, dân tộc, giới tính, trình độ văn hóa, độ tuổi, tậpquán sinh hoạt nên sự hiểu biết và tiêu dùng của họ về các loại sản phẩm về thựcphẩm khác biệt nhau

- Nhiều người mua vì hàng thực phẩm gắn với cuộc sống hàng ngày của nhândân, các thành viên trong xã hơi đều có nhu cầu tiêu dùng nhưng mỗi lần muakhông nhiều, lặt vặt và phân tán vì nhu cầu đời sống rất đa dạng

b Vai trò của kinh doanh thực phẩm

- Vai trò của kinh doanh thực phẩm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Kinh doanh thực phẩm là một quá trình bao gồm nhiều khâu, nhiều công đoạn,nhiều bộ phận phức tạp và liên tục có mối liên hệ chặt chẽ, gắn bó với nhau Kếtquả của khâu này bộ phận này có ảnh hưởng tới chất lượng của các khâu khác haytoàn bộ quá trình kinh doanh, trong đó khâu tiêu thụ sản phẩm được đánh giá làkhâu then chốt quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp Sản xuất được mà

Trang 19

không tiêu thụ được hay sản phẩm thực phẩm tiêu thụ chậm thì làm cho doanhnghiệp đó kinh doanh lỗ rồi dẫn tới phá sản.

Thực phẩm là một nhân tố quan trọng đối với toàn xã hội nói chung và đối vớimỗi con người nói riêng Thực phẩm cung cấp cho con người những chất dinhdưỡng như: tinh bột, chất béo, các loại vitamin, prôtêin và các chất khoáng khác…giúp con người có sức khoẻ để tồn tại và lao động, phát triển Tiêu thụ sản phẩm cóvai trò trong việc cân đối giữa cung và cầu thực phẩm trên thị trường Thực phẩm

có thể ở dạng tự nhiên hay là đã qua chế biến, sản xuất sản phẩm rồi được tiêu thụtức là vấn đề sản xuất kinh doanh thực phẩm được diễn ra bình thường, liên tụctránh được những mất cân đối trong cung và cầu về hàng thực phẩm Doanh nghiệpkinh doanh thực phẩm có nhu cầu sử dụng các nguồn lực của xã hội để bảo đảm đầuvào cho sản xuất như nguyên liệu, vốn, nhân lực, thiết bị máy móc, công nghệ… đãtác động tới một loạt các hoạt động khác, các lĩnh vực kinh doanh khác như ngườichăn nuôi, trồng trọt, yếu tố con người, yếu tố văn hoá xã hội Tức nó đã trực tiếphoặc gián tiếp tác động tới sự phát triển của các ngành khác hay toàn bộ nền kinh tếquốc dân

Tiêu thụ sản phẩm nói chung và tiêu thụ thực phẩm nói riêng không trực tiếptạo ra của cải vật chất cho xã hội mà nó chỉ phục vụ quá trình tiếp tục sản xuất trongkhâu lưu thông Kinh doanh thực phẩm có tác dụng nhiều mặt tới lĩnh vực sản xuất

và tiêu dùng xã hội, nó cung cấp những sản phẩm là lương thực, thực phẩm lànhững hàng hóa thiết yếu tới toàn bộ con người một cách đầy đủ, kịp thời đồng bộ,đúng số lượng, chất lượng một cách thuận lợi, với quy mô ngày càng mở rộng Đốivới các lĩnh vực sản xuất, các doanh nghiệp thương mại, đại lý bán buôn bán lẻ cóthể nhận được các sản phẩm, vật tư kỹ thuật đầu vào một cách kịp thời, đồng bộ,đúng số lượng, chất lượng Đối với lĩnh vực tiêu dùng, các cá nhân có thể dễ dàngthoả mãn nhu cầu về hàng thực phẩm trên thị trường một cách kịp thời và văn minh,nhờ hàng loạt các cửa hang, quầy hàng, siêu thị… Cung cấp cho mọi người, mọi giađình và các nhu cầu đa dạng của mọi tầng lớp dân cư, lứa tuổi, nghề nghiệp Nó cótác dụng nữa là kích thích nhu cầu, gợi mở nhu cầu, hướng người tiêu dùng tớinhững hàng thực phẩm có chất lượng cao, thuận tiện trong sử dụng, đồng thời đadạng về sản phẩm với phong cách phục vụ đa dạng, văn minh, hiện đại

- Vai trò của kinh doanh thực phẩm đối với sự phát triển của doanh nghiệp

Kinh doanh thực phẩm từ khâu mua nguyên liệu đầu vào, sản xuất chế biến và

Trang 20

khâu tiêu thụ sản phẩm, khâu nào cũng quan trọng để tăng hiệu quả của hoạt độngkinh doanh nếu một khâu nào đó hoạt động kém, chậm tiến độ sẽ ảnh hưởng tớikhâu khác Nhưng phải nói rằng trong kinh doanh nói chung và kinh doanh thựcphẩm nói riêng thì tiêu thụ hàng hoá là giai đoạn quan trọng, vì nó ảnh hưởng trựctiếp tới các khâu khác, tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Để tiếp tục, đẩymạnh kinh doanh trên thị trường thì doanh nghiệp hoạt động trong ngành thực phẩmluôn tìm cách tái sản xuất, mở rộng thị trường sao cho có nhiều sản phẩm đáp ứngđược tối đa nhu cầu của khách hàng

Đối với ngành thực phẩm tiêu thụ sản phẩm có vai trò quan trọng trong việcduy trì và phát triển mở rộng thị trường Tiêu thụ được càng nhiều sản phẩm tức làsản phẩm về thực phẩm đã được thị trường chấp nhận, và cầng có nhiều khách hàngbiết tới sản phẩm, biết tới thương hiệu, và biết tới doanh nghiệp kinh doanh thựcphẩm đó

Tiêu thụ thực phẩm trong doanh nghiệp còn góp phần nâng cao hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp, thông qua chỉ tiêu lợi nhuận, tốc độ quay củavốn, mức chi phí trên một đồng vốn Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tếphản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình kinh doanh ở doanh nghiệpnhằm đạt kết quả cao nhất, với chi phí nhỏ nhất Nó không chỉ là thước đo trình độ

tổ chức kinh doanh mà còn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp, tiêu thụ thựcphẩm tác động trực tiếp tới quá trình tổ chức quản lý, thúc đẩy việc áp dụng tiến bộkhoa học kỹ thuật, nâng cao chất lượng thực phẩm, hạ giá thành sản xuất của doanhnghiệp trong ngành thực phẩm Tổ chức tốt hoạt động tiêu thụ góp phần giảm cácchi phí lưu thông, giảm thời gian dự trữ thành phẩm, nguyên liệu, tăng nhanh vòngquay của vốn, rút ngắn chu kỳ sản xuất kinh doanh… từ đó giúp doanh nghiệp tăngdoanh thu và đem lại lợi nhuận cao

Tiêu thụ thực phẩm đem lại chỗ đứng và độ an toàn cao hơn cho doanh nghiệpkinh doanh thực phẩm trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt hiện nay với cácdoanh nghiệp trong ngành và ngoài ngành, đây cũng chính là một mục tiêu mà bất

kỳ một doanh nghiệp nào cũng muốn hướng tới Vị thế được đánh giá qua doanh sốbán, số lượng hàng hoá bán ra, phạm vi thị trường mà nó chiếm lĩnh Mỗi doanhnghiệp luôn luôn phảỉ chú ý tới uy tín, tới niềm tin của khách hàng vào sản phẩmcủa doanh nghiệp, tới thương hiệu của doanh nghiệp, để từ đó tạo đà cho việc mởrộng thị trường tiêu thụ, tăng khả năng cạnh tranh

Trang 21

Tiêu thụ thực phẩm có vai trò gắn kết người sản xuất, chế biến thực phẩm đốivới người tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp mình Nó giúp cho các nhà sảnxuất thực phẩm hiểu rõ thêm về kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh của mìnhthông qua sự phản ánh của người tiêu dùng thực phẩm, qua đó cũng nắm bắt đượcnhu cầu mới của họ Đồng thời qua hoạt động tiêu thụ còn giúp cho các doanhnghiệp có thể kiểm tra tình hình hoạt động kinh doanh của các đơn vị, cửa hàng, đại

lý, chi nhánh… Trên cơ sở đó doanh nghiệp sẽ có những biện pháp hữu hiệu đối vớitừng đoạn thị trường để có thể khai thác được tối đa nhu cầu của khách hàng

Đối với hoạt động đầu vào của doanh nghiệp là giai đoạn đầu của quá trìnhsản xuất kinh doanh, nếu không có nó thì không có sản xuât dẫn tới không có sảnphẩm để tiêu thụ Nếu giai đoạn này được tổ chức tốt từ các khâu nghiên cứu nguồnhàng, tổ chức thu mua, vận chuyển, bảo quản, sơ chế… sẽ giúp cho hoạt động sảnxuất kinh doanh nghiệp được diễn ra liên tục, nhịp nhàng không bị gián đoạn Luôn

có sản phẩm để đáp ứng tốt nhất đầy đủ nhất kể cả những lúc khối lượng mua hàngthực phẩm đẩy tới mức cao nhất trong chu kỳ kinh doanh ( vào gần tết Nguyên Đánhàng năm ) Từ đó nâng cao chất lượng của sản phẩm, hạ giá thành trên một đơn vịsản phẩm, giúp cho doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thực phẩm thắng thếtrong cạnh tranh kể cả với cả những sản phẩm thay thế, lợi nhuận ngày một tăng

c Nội dung của kinh doanh thực phẩm

- Hoạt động mua sắm vật tư cho sản xuất (tạo nguồn)

Để hoạt động sản xuất và tiêu thụ được diễn ra liên tục không bị gián đoạn đòihỏi phải bảo đảm thường xuyên, liên tục nguyên nhiên vật liệu và máy móc thiếtbị… Chỉ có thể đảm bảo đủ số lượng, đúng mặt hàng và chất lượng cần thiết vớithời gian quy định thì sản xuất mới có thể được tiến hành bình thường và sản xuấtkinh doanh mới có hiệu quả Vật tư (nguyên, nhiên vật liệu…) cho sản xuất ở cácdoanh nghiệp đóng vai trị hết sức quan trọng, góp phần nâng cao trình độ côngnghệ, nâng cao sức cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá đất nước Nguyênliệu đầu vào cho sản xuất thực phẩm như: các sản phẩm nông sản tươi, khô (gạo, ớt,măng, tỏi, đậu nành, mía, dưa…), các thiết bị máy móc, vốn, cơ sở hạ tầng, điện, nước.Đảm bảo tốt vật tư cho sản xuất là đáp ứng các yêu cầu về số lượng, chấtlượng, đúng thời gian, chủng loại và đồng bộ Điều này ảnh hưởng tới năng suất củadoanh nghiệp, đến chất lượng của sản phẩm, đến việc sử dụng hợp lý và tiết kiệmvật tư, đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, đến hiệu quả sản xuất kinh doanh,

Trang 22

đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

- Xác định nhu cầu

Mỗi loại vật tư đều có những đặc tính cơ, lý, hoá học và trạng thái khác nhau,

có nhu cầu tiêu dùng cho các đối tượng khác nhau Doanh nghiệp thực phẩm phảitính toán, dựa vào các chỉ tiêu để xác định được nhu cầu cần tiêu dùng trong kỳ kinhdoanh, số lượng nguyên nhiên, vật liệu loại gì chất lượng ra sao để sản xuất thựcphẩm Đồng thời doanh nghiệp phải nghiên cứu xác định khả năng của nguồn hàng,

để có thể khai thác đặt hàng và thu mua đáp ứng cho nhu cầu của sản xuất, nguồnhàng có thể mua lại của các nhà kinh doanh khác hay tới tận nơi trồng trọt chănnuôi để thu mua nguyên vật liệu

- Nghiên cứu thị trường đầu vào

Đây là quá trình nghiên cứu, phân tích các thông tin về thị trường đầu vàonhằm tìm kiếm thị trường đáp ứng tốt nhất nhu cầu vật tư cho sản xuất của doanhnghiệp Vì thị trường vật tư là thị trường yếu tố đầu vào của sản xuất nên mục tiêu

cơ bản nhất của nghiên cứu thị trường vật tư là phải trả lời được các câu hỏi: Trên

cơ sở phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì nên sử dụng loại vật tưnào sẽ đem lại hiệu quả cao nhất? Chất lượng, số lượng loại vật tư đó như thế nào?Mua sắm vật tư ở đâu? Khi nào? Mức giá vật tư trên thị trường là bao nhiêu?Phương thức mua bán và giao nhận như thế nào?…

Để nghiên cứu thị trường thường phải trải qua 3 bước cơ bản: thu thập thôngtin, xử lý thông tin và ra quyết định Cùng với việc nghiên cứu thị trường thì côngtác dự báo thị trường vật tư đối với doanh nghiệp cũng có một vị trí quan trọng.Việc nghiên cứu và dự báo thị trường phải tiến hành đồng thời với cung, cầu, giácả… từ đó doanh nghiệp sẽ xây dựng được chiến lược kinh doanh phù hợp

- Lập kế hoạch mua sắm vật tư ở doanh nghiệp

Kế hoạch mua sắm vật tư ( đầu vào cho sản xuất kinh doanh thực phẩm) làmột bộ phận quan trọng của kế hoạch sản xuất-kỹ thuật-tài chính của doanh nghiệp

và có mối quan hệ mật thiết với các kế hoạch khác như kế hoạch tiêu thụ, kế hoạchsản xuất, kế hoạch xây dựng cơ bản Kế hoạch mua sắm vật tư của doanh nghiệp làcác bản tính toán nhu cầu cho sản xuât hàng thực phẩm của doanh nghiệp và nguồnhàng rất phức tạp nhưng có tính cụ thể và nghiệp vụ cao Nhiệm vụ chủ yếu của kếhoạch là bảo đảm vật tư tốt nhất cho hoạt động sản xuất kinh doanh hàng thựcphẩm, nó phản ánh được toàn bộ nhu cầu vật tư của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch

Trang 23

như nhu cầu vật tư cho sản xuất, cho sửa chữa, dự trữ, cho xây dựng cơ bản… Đồngthời nó còn phản ánh được các nguồn vật tư và cách tạo nguồn của doanh nghiệpgồm nguồn từ hàng tồn kho đầu kỳ, nguồn động viên tiềm lực nội bộ doanh nghiệp,nguồn mua trên thị trường.

- Tổ chức mua sắm vật tư

Trên cơ sở của kế hoạch mua sắm vật tư và kết quả nghiên cứu thị trườngdoanh nghiệp lên đơn hàng vật tư và tổ chức thực hiện việc đảm bảo vật tư cho sảnxuất Lên đơn hàng là quá trình cụ thể hoá nhu cầu, là việc xác định tất cả các quycách, chủng loại và thời gian nhận hàng, lập đơn hàng là công việc hết sức quantrọng của quá trình tổ chức mua sắm vật tư, vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới quá trìnhmua sắm vật tư và hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Bất cứ một sai sót nào cũng có thể dẫn tới việc đặt mua những vật tư mà nhu cầusản xuất không cần tới hoặc không đủ so với nhu cầu Để lập được đơn hàng chínhxác bộ phận lập đơn hàng phải tính đến các cơ sở như: nhiệm vụ sản xuất, hệ thốngđịnh mức tiêu dùng vật tư, định mức dự trữ vật tư, lượng tồn kho, kế hoạch tácnghiệp đảm bảo vật tư quý, tháng … Nhiệm vụ quan trọng trong công tác lập đơnhàng là chọn và đặt mua những loại vật tư hàng hoá có hiệu quả kinh tế cao

- Tổ chức chuyển đưa vật tư về doanh nghiệp

Vận chuyển vật tư hàng hoá về doanh nghiệp đóng vai trị quan trọng trongviệc đảm bảo vật tư kịp thời, đầy đủ và đồng bộ cho sản xuất Công việc này ảnhhưởng trực tiếp tới việc giữ gìn số lượng, chất lượng vật tư hàng hoá, đảm bảo sửdụng có hiệu quả và hạ giá thành sản phẩm Chuyển đưa vật tư về doanh nghiệp cóthể thực hiện bằng hình thức tập trung hoặc phi tập trung tuỳ theo khối lượng vật tư

và tình hình cụ thể từng doanh nghiệp

- Tiếp nhận và bảo quản vật tư về số lượng và chất lượng

Vật tư hàng hoá chuyển về doanh nghiệp trước khi nhập kho phải qua khâutiếp nhận về số lượng và chất lượng Mục đích của tiếp nhận là kiểm tra số lượng vàchất lượng vật tư nhập kho, kiểm tra việc thực hiện hợp đồng và đưa hàng xem cóbảo đảm số lượng và chất lượng hay không để xác định rõ trách nhiệm của nhữngđơn vị và cá nhân có liên quan đến hàng nhập

- Tổ chức cấp phát vật tư trong nội bộ doanh nghiệp

Cấp phát vật tư cho các đơn vị tiêu dùng trong doanh nghiệp (phân xưởng, tổđội sản xuất, nơi làm việc của công nhân) là một khâu công hết sức quan trọng Tổ

Trang 24

chức tốt khâu này sẽ bảo đảm cho sản xuất của doanh nghiệp tiến hành được nhịpnhàng, góp phần tăng năng suất lao động của công nhân, tăng nhanh vòng quay củavốn lưu động, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, tiết kiệm vật tư trongtiêu dùng sản xuất, nâng cao hiệu quả cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

c Quá trình sản xuất sản phẩm

Quá trình sản xuất là quá trình con người sử dụng tư liệu để tác động vào đốitượng lao động làm thay đổi hình dáng, kích thước, tính chất lý hoá của đối tượnglao động để tạo ra những sản phẩm có chất lượng ngày càng cao, thỏa mãn đầy đủnhu cầu đa dạng của con người

Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế tham gia các hoạt động sản xuất kinhdoanh, nhằm cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ thoả mãn nhu cầu của thị trường vàthu về cho mình một khoản lợi nhuận nhất định Để thực hiện được mục tiêu củamình, mỗi doanh nghiệp phải tổ chức tốt các bộ phận cấu thành nhằm thực hiệnchức năng cơ bản Sản xuất là một trong những phân hệ chính có ý nghĩa quyết địnhđến việc tạo ra sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ cho xã hội Hình thành, phát triển

và tổ chức điều hành tốt hoạt động sản xuất là cơ sở và yêu cầu thiết yếu để mỗidoanh nghiệp có thể đứng vững và phát triển trên thị trường chỉ có hoạt động sảnxuất hay dịch vụ mới là nguồn gục của mọi sản xuất và dịch vụ được tạo ra trongdoanh nghiệp Sự phát triển của sản xuất và dịch vụ là cơ sở làm tăng giá trị giatăng cho doanh nghiệp, tăng trưởng kinh tế cho nền kinh tế quốc dân tạo cơ sở vậtchất thúc đẩy xã hơi phát triển Quá trình sản xuất được tổ chức và quản lý tốt gópphần tiết kiệm được các nguồn lực cần thiết cho sản xuất, giảm giá thành, tăng năngsuất và hiệu quả sản xuất kinh doanh Chất lượng sản phẩm và dịch vụ do khâu sảnxuất và dịch vụ tạo ra, nếu hoàn thiện được quản trị sản xuất sẽ tạo ra tiềm năng tolớn cho nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

d Tiêu thụ sản phẩm

Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, làyếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tiêu thụ sản phẩm làthực hiện mục đích của sản xuất hàng hoá, là đưa sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơitiêu dùng Nó là khâu lưu thông hàng hoá, là cầu nối trung gian một bên là sản xuất

và phân phối còn một bên là tiêu dùng

Tiêu thụ sản phẩm là một quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu từ việc nghiên

Trang 25

cứu thị trường, xác định nhu cầu của khách hàng, thực hiện các nghiệp vụ tiêu thụ,xúc tiến bán hàng… nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất Hoạt động tiêu thụ sảnphẩm ở các doanh nghiệp bao gồm hai loại quá trình liên quan trực tiếp tới sảnphẩm: các nghiệp vụ kỹ thuật sản xuất và các nghiệp vụ kinh tế, tổ chức và kếhoạch hoá tiêu thụ Việc chuẩn bị hàng hoá để xuất bán là nghiệp vụ tiếp tục sảnxuất trong khâu lưu thông, các nghiệp vụ sản xuất ở các kho bao gồm: tiếp nhận,phân loại, bao gói, lên nhãn hiệu sản phẩm, xếp hàng ở kho, bảo quản và chuẩn bịđồng bộ hàng để xuất bán và vận chuyển hàng theo yêu cầu của khách Khi sảnphẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ, tức là nó đã được người tiêu dùng chấp nhận

để thoả mãn một nhu cầu nào đó Sức tiêu thụ sản phẩm ở doanh nghiệp thể hiện ởmức bán ra, uy tín của doanh nghiệp, chất lượng của sản phẩm, sự thích ứng vớinhu cầu người tiêu dùng và sự hoàn thiện ở các hoạt động dịch vụ

 Nghiên cứu thị trường:

Khi nghiên cứu thị trường sản phẩm, doanh nghiệp phải giải đáp được cácyêu cầu:

- Đâu là thị trường có triển vọng đối với sản phẩm của doanh nghiệp?

- Khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường đó ra sao?

- Doanh nghiệp cần phải xử lý những biện pháp gì có liên quan và có thể sửdụng những biện pháp nào để tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ?

- Những mặt hàng nào, thị trường nào có khả năng tiêu thụ với khối lượng lớnphù hợp với năng lực và đặc điểm sản xuất của doanh nghiệp?

- Với mức giá nào thì khả năng chấp nhận của thị trường là lớn nhất trong từngthời kỳ

- Yêu cầu chủ yếu của thị trường về mẫu mã, bao gói, phương thức thanh toán,phương thức phục vụ

- Tổ chức mạng lưới tiêu thụ và phương thức phân phối sản phẩm

Nghiên cứu cần về một loại sản phẩm là phạm trù phản ánh một bộ phận nhucầu có khả năng thanh toán của thị trường về sản phẩm đó Phải giải thích được sựthay đổi của cầu, do những nhân tố nào sự ưu thích, thu nhập và mức sống củangười tiêu dùng

Nghiên cứu cung để hiểu rõ về các đối thủ cạnh tranh, xác định được số lượngđối thủ cạnh tranh, phân tích các nhân tố có ý nghĩa đối với các chính sách tiêu thụ,chương trình sản xuất, chính sách giá cả và các hoạt động khác của đối thủ cạnh

Trang 26

Nghiên cứu mạng lưới tiêu thụ cần phải chỉ rõ các ưu điểm, nhược điểm củatừng kênh tiêu thụ của doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh, phân tích được cácnhân tố ảnh hưởng đến kết quả tiêu thụ

 Lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm

Xây dựng kế hoạch tiêu thụ là cơ sở quan trọng đảm bảo cho quá trình sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp tiến hành nhịp nhàng, liên tục theo kế hoạch đãđịnh Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm là căn cứ để xây dựng kế hoạch hậu cần vật tư vàcác bộ phận khác của kế hoạch sản xuất - kỹ thuật - tài chính doanh nghiệp… Kếhoạch tiêu thụ sản phẩm phản ánh được các nội dung cơ bản như: khối lượng tiêuthụ sản phẩm về hiện vật và giá trị có phân theo hình thức tiêu thụ, cơ cấu sản phẩm

và cơ cấu thị trường tiêu thụ Trong xây dựng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, doanhnghiệp có thể sử dụng các phương pháp như phương pháp cân đối, phương phápquan hệ động và phương pháp tỷ lệ cố định Để xây dựng kế hoạch tiêu thụ cần dựavào các căn cứ cụ thể: doanh thu bán hàng ở các kỳ trước, các kết quả nghiên cứuthị trường, năng lực sản xuất, chi phí sản xuất kinh doanh tiêu thụ của doanhnghiệp, các hợp đồng đã ký hoặc dự kiến ký Trong kế hoạch tiêu thụ phải lần lượtlập được các kế hoạch như: kế hoạch bán hàng, marketing, quảng cáo, chi phí chotiêu thụ, …

 Chuẩn bị hàng hoá để xuất bán

Chuẩn bị hàng hoá để xuất bán cho khách hàng là hoạt động tiếp tục sản xuấtkinh doanh trong khâu lưu thông Muốn cho quá trình lưu thông hàng hoá được liêntục, không bị gián đoạn thì các doanh nghiệp phải chú trọng đến các nghiệp vụ như:tiếp nhận, phân loại, lên nhãn hiệu sản phẩm, bao gói, sắp xếp hàng hoá ở kho, bảoquản và ghép đồng bộ để xuất bán cho khách hàng Đối với các hoạt động này thìdoanh nghiệp cần phải lập kế hoạch từ trước, tiếp nhận đầy đủ về số lượng và chấtlượng hàng hoá từ các nguồn nhập kho (từ các phân xưởng, tổ đội sản xuất củadoanh nghiệp) theo đúng mặt hàng qui cách, chủng loại hàng hoá thông thường, khohàng hoá của doanh nghiệp đặt gần nơi sản xuất của doanh nghiệp, nếu kho hàngđặt xa nơi sản xuất thì phải tổ chức tốt việc tiếp nhận hàng hoá bảo đảm kịp thời,nhanh chóng, góp phần giải phóng nhanh phương tiện vận tải, bốc xếp, an toàn sảnphẩm, tiết kiệm chi phí lưu thông

 Lựa chọn các hình thức tiêu thụ sản phẩm

Trang 27

Trong nền kinh tế thị trường, việc tiêu thụ sản phẩm được thực hiện bằngnhiều kênh khác nhau, theo đó các sản phẩm được bán và vận động từ các doanhnghiệp sản xuất kinh doanh đến tận tay các hộ tiêu dùng cuối cùng Để hoạt độngtiêu thụ có hiệu quả cao cần phải lựa chọn kênh tiêu thụ sản phẩm một cách hợp lýtrên cơ sở tính đến các yếu tố như đặc điểm sản phẩm, các điều kiện vận chuyển,bảo quản, sử dụng…

Căn cứ vào mối quan hệ giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng cuối cùng, có

2 hình thức tiêu thụ trực tiếp và gián tiếp

Kênh tiêu thụ trực tiếp là hình thức doanh nghiệp sản xuất bán thẳng sản phẩmcủa mình cho người tiêu dùng cuối cùng không qua các khâu trung gian Với hìnhthức này có thể giảm được chi phí lưu thông, thời gian sản phẩm tới tay người tiêudùng nhanh hơn, các doanh nghiệp có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với người tiêudùng, hiểu biết rõ nhu cầu của khách hàng và tình hình giá cả từ đó tạo điều kiệnthuận lợi để gây uy tín và thanh thế cho doanh nghiệp Nhưng nó cũng gặp phảinhược điểm là doanh nghiệp phải thường xuyên tiếp xúc với nhiều bạn hàng, phảidành nhiều công sức, thời gian vào quá trình tiêu thụ, nhiều khi làm tốc độ chuchuyển của vốn lưu động chậm hơn…

Kênh tiêu thụ gián tiếp là hình thức mà doanh nghiệp xuất bán sản phẩm củamình cho người tiêu dùng cuối cùng có qua khâu trung gian bao gồm: người bánbuôn, bán lẻ, đại lý… sự tham gia nhiều hay ít của người trung gian trong quá trìnhtiêu thụ sẽ làm cho kênh tiêu thụ dài hay ngắn khác nhau Với hình thức tiêu thụ nàycác doanh nghiệp có thể tiêu thụ được một khối lượng lớn hàng hoá trong thời gianngắn nhất, từ đó thu hồi vốn nhanh, tiết kiệm chi phí bảo quản hao hụt… Tuy nhiênhình thức này làm cho thời gian lưu thông hàng hoá dài hơn, tăng chi phí tiêu thụ vàdoanh nghiệp khó có thể kiểm soát được các khâu trung gian…

Việc áp dụng hình thức tiêu thụ này hay hình thức tiêu thụ khác phần lớn dođặc điểm của sản phẩm quyết định Mỗi hình thức tiêu thụ sản phẩm có ưu nhượcđiểm nhất định, nhiệm vụ của phòng kinh doanh là phải lựa chọn hợp lý các hìnhthức tiêu thụ sản phẩm cho phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp

Trang 28

cũng như những thông tin phản hồi từ phía khách hàng, qua đó để doanh nghiệp tìm

ra cách thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng Trong hoạt động xúc tiến bánhàng là toàn bộ các hoạt động nhằm tìm kiếm và thúc đẩy cơ hội bán hàng tronghoạt động tiêu thụ sản phẩm Xúc tiến bán hàng chứa đựng trong đó các hình thức,cách thức và những biện pháp nhằm đẩy mạnh khả năng bán ra của doanh nghiệp.Xúc tiến bán hàng có ý nghĩa quan trọng trong việc chiếm lĩnh thị trường và nângcao sức cạnh tranh của hàng hoá trên thương trường, nhờ đó quá trình tiêu thụ sảnphẩm của doanh nghiệp được đẩy mạnh cả về số lượng và thời gian Yểm trợ là cáchoạt động nhằm hỗ trợ, thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện tốt hoạt độngtiêu thụ ở doanh nghiệp Những nội dung chủ yếu của hoạt động xúc tiến, yểm trợbán hàng phải kể đến là: Quảng cáo, chào hàng, khuyến mại, tham gia hội chợ, triểnlãm…

2.1.2 Thị trường Mỳ ăn liền

a Thị phần

Hiện nay các dòng sản phẩm cũng được phân hóa khá rõ rệt Ở phân khúc bìnhdân, giá của mỗi gói mỡ khoảng 1.500 - 2.000 đồng; phân khúc cấp trung đangđược bán với mức giá 2.500 - 3.500 đồng/gói; loại cao cấp có giá từ 5.000 đến hơn10.000 đồng/gói

15-20% là tốc độ tăng trưởng bình quân của thị trường mỡ ăn liền tại ViệtNam

Trong cuộc đua về chủng loại và giá cả, các sản phẩm của Vina Acecook(100% vốn Nhật Bản) đang dẫn đầu với khoảng 65% thị phần Ngay sau đó là AsiaFood (100% vốn trong nước) chiếm hơn 20% thị phần với các thương hiệu Gấu Đỏ,Hello, Vifood, Hảo Hạng, Osami, mới đây nhất là Trứng Vàng Tại các siêu thị,trung tâm thương mại, cửa hàng, chợ, sản phẩm mỡ gói của Vina Acecook, AsiaFood, Vifon, Uni-President, Massan, Miliket… đang chiếm lĩnh hơn 90% thị phầnvới hàng trăm nhãn hiệu khác nhau Đó là chưa kể hàng chục nhãn hàng nước ngoàiđang hiện diện khắp nơi, tạo sự phong phú cho thị trường cả về bao bì, mẫu mã lẫngiá cả

Thực tế cũng cho thấy, cái bánh thị phần khá lớn ở phân khúc bình dân nhưng có lợi nhuận rất thấp - chỉ đón nhận những nhãn hàng có quy mô sản lượnglớn Bên cạnh đó, ba nhãn hàng đang thống trị phân khúc này là Hảo Hảo, Hảo 100

-và Gấu Đỏ chiếm hơn 50% ngân sách truyền thông của ngành -và mật độ bao phủ thị

Trang 29

trường dày đặc, chưa kể vô số sản phẩm chưa thành danh Phân khúc này sẽ là lựachọn không khôn ngoan cho bất kỳ nhà đầu tư mới nào

Ngoài ra, phân khúc trung cao đang dần chiếm một vị trí quan trọng trong toàn

bộ chiếc bánh của thị trường mỡ ăn liền Nhưng phân khúc cao (tạm xếp ở mức từ5.000 đồng/sản phẩm trở lên) cũng khó chiếm ưu thế mạnh vì nhiều người tiêu dùngViệt Nam vẫn còn có nhiều lựa chọn thay thế mà cũng không kém phần tiện lợi nhờmạng lưới thực phẩm đường phố rộng khắp như phở, hủ tiếu, cháo, xơi Và cũngchính vì thế, các hãng sản xuất mỡ ăn liền đành tìm đến quảng cáo như một thứcông cụ để định hướng khẩu vị của người tiêu dùng

c Chiến lược cạnh tranh

Phải khẳng định rằng, việc cạnh tranh trên thị trường mỡ ăn liền chỉ bắt đầubùng nổ và một xu hướng phát triển kinh doanh dựa vào tiếp thị hình ảnh, truyềnthông chỉ thực sự xuất hiện khi liên doanh sản xuất mỡ Vifon Acecook hình thànhvào năm 1993 Cuộc cạnh tranh trên thị trường cũng khá quyết liệt cả giữa cácdoanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.Trước hết, phải kể đến Vina Acecook, thương hiệu hàng đầu trong lĩnh vực này.Vina Acecook nhấn mạnh đến yếu tố chất lượng được bảo chứng bởi công nghệNhật Bản Trong khi đó, Vifon lại tạo dựng sức mạnh từ một thương hiệu lâu đờinhất Việt Nam và đã chứng thực được niềm tin thông qua mạng lưới xuất khẩu rộngkhắp và cả ở những thị trường khó tính, có yêu cầu cao Đặc biệt, khi Massan tung

ra dòng sản phẩm Omachi thì quả là một bước đột phá trong công nghệ “lăng xê”

mỡ gói Việc lựa chọn phân khúc cấp trung và chuyển tải một thông điệp rất thiếtthực “không sợ nóng” là một lựa chọn chiến lược xuất sắc của Massan

Tuy nhiên, sẽ là rất thiếu sót nếu không nhắc đến sự hỗ trợ tuyệt vời của mạnglưới phân phối vốn khá mạnh của Massan với các chủng loại sản phẩm thực phẩmtiêu dùng có cùng kênh với mỡ ăn liền Omachi còn được cam kết bởi một ngânsách truyền thông lên tới cả triệu USD cho khoảng thời gian từ khi tung sản phẩmvào tháng 5/2007 cho đến Tết âm lịch, nhắm vào các thành phố lớn

Trang 30

Rõ ràng là, đã qua rồi cái thời mỡ sản xuất ra không kịp bán, chẳng cần phảiquảng cáo Giờ đây, cho dù sản phẩm có chất lượng cao, hình thức đẹp nhưng nếukhông có chiến lược truyền thông một cách bài bản thì thua là cầm chắc Và vìnhiều lẽ, đây cũng là điểm yếu của các công ty trong nước.

Xuất xứ từ Nhật Bản nhưng hiếm có mặt hàng nào được "nội địa hóa" nhanh

và có tốc độ "phủ sóng" mạnh như mỳ ăn liền, đến mức khó có thương hiệu nhậpkhẩu nào trong thời gian gần đây có thể len chân chiếm lĩnh thị trường

Mỳ Miliket ba tôm, bốn tôm của cty thực phẩm Vifon đựng trong gói giấy "ximăng" với hình ảnh những con tôm đỏ ra đời từ những năm 90 được xem là hiệntượng của ngành công nghệ thực phẩm Chưa thật bắt mắt về hình thức, hương vịchẳng có gì ngoài một gói bột canh, vậy mà, Miliket đứng vững trong suốt gần 1thập kỷ trên thị trường miền Bắc, bất chấp các mẫu mã mới, hình thức bắt mắt hơnliên tục được giới thiệu đến người tiêu dùng

Giải mã cho sự thành công này, ông Bùi Khánh Dũng - Giám đốc Trung tâmthông tin và nghiên cứu thị trường của Investconsult Group chỉ đưa ra nhận địnhngắn gọn: "Có thể thời gian đó, thị trường không có nhiều lựa chọn nhưng tôi chorằng, mấu chốt là không phải như vậy Miliket tìm hiểu và đánh trúng tâm lý tiêudùng của người miền Bắc Người tiêu dùng chấp nhận, ủng hộ nên thắng thế làchuyện đương nhiên"

Miliket chỉ chịu nhường thị phần khi Hảo Hảo của liên doanh Vina Acecookxuất hiện vào đầu năm 2003 Chất lượng được đánh giá ngang ngửa (sợi mỳ dai,hương vị đậm đà); giá cả một chín, một mười (hai sản phẩm chỉ chênh nhau từ 100 -

200 đ/gói) nhưng hình thức đẹp và hương vị đa dạng đã giúp thương hiệu Hảo Hảoghi điểm

Việt Nam được xem là một trong những quốc gia tiêu thụ mỡ ăn liền nhiềunhất châu Á Theo dự báo của các chuyên gia, ngành sản xuất mỡ ăn liền sẽ tiếp tụctăng trưởng ở tốc độ cao, sản lượng sẽ tăng lên khoảng 6-7 tỷ gói trong vòng 3 nămtới Hướng tới, các doanh nghiệp sẽ không đi vào sản xuất theo chiều rộng mà tậptrung vào chiều sâu và đa dạng hóa sản phẩm với mỡ gói, mỡ ly, mỡ tô, mỡ khôngchiên, mỡ tươi Ông Nguyễn Mạnh Hà - Chủ tịch HĐQT, Tổng Giám đốc Công tyAsia Food cho rằng, ngành công nghiệp sản xuất mỡ gói ngày càng khó khăn hơn vì

có rất nhiều doanh nghiệp tham gia Để ổn định được giá thành sản phẩm, tăng tínhcạnh tranh, ngoài việc công ty phải không ngừng đầu tư các dây chuyền sản xuất

Trang 31

hiện đại thì định mức hao hụt trong tất cả khâu phải duy trì ở mức dưới 1%

Suy cho cùng, mỡ ăn liền tuy không phải là một sản phẩm mới mẻ nhưng nếucạnh tranh một cách sòng phẳng, chắc chắn phần thắng sẽ nghiêng về các doanhnghiệp có sự đầu tư bài bản, biết lắng nghe và đưa ra những sản phẩm vừa có lợicho sức khỏe người tiêu dùng

Vấn đề mà nhiều người tiêu dùng đặt ra là trong điều kiện giá nguyên liệu tăngcao như vậy, làm thế nào để các doanh nghiệp có thể cạnh tranh mà vẫn có lãi Thật ra, gần như nhiều doanh nghiệp sản xuất đã phải chấp nhận giảm lãi để cạnhtranh, nhưng dù có giảm thì vẫn không thể bù đắp với mức tăng trong giá thành.Chính vì vậy, các doanh nghiệp đã dùng chiêu giảm dần trọng lượng mà không làmphật ý khách hàng

Trước đây, gói mỡ 1.500 đồng/gói, có trọng lượng tịnh 100 gram, nhưng quanhiều lần giữ giá bán và giảm trọng lượng, nhiều gói mỡ hiện nay chỉ có 70 gram.Người tiêu dùng vẫn có cảm giác yên tâm khi có gói mỡ giá vẫn vậy, tuy sợi mỡ có

ít đi một chút, nhưng cho nước sôi nở ra vẫn thấy… “đầy đầy một tô”

Các doanh nghiệp hiện đang có những bí quyết công nghệ và có những sảnphẩm đặc thù riêng phù hợp với khẩu vị của khách hàng Trước hết, sản phẩm mỡ

ăn liền của các nước trong khu vực có “gu” khẩu vị riêng nên lúc đầu có thể đượcngười tiêu dùng chú ý dựng thử, nhưng sau đó thường không thích

Nhiều người chê mì nước ngoài vị nhạt, sợi mì không dai, mùi gia vị nồng khôngphù hợp… Nhiều doanh nghiệp trong nước đã xác định được thị phần, đối tượng màmình muốn nhắm đến, nên có những bước đi thích hợp để chinh phục người tiêudùng, trong đó, tập trung phát triển các sản phẩm cao cấp và tăng chất sản phẩm cấptrung bình

Công ty Vifon, để giảm áp lực cạnh tranh, công ty đang nhắm đến nhóm cácsản phẩm từ gạo như bún, phở, bánh đa cua… Vifon đã thực sự làm chủ được côngnghệ sản xuất các mặt hàng này Thêm vào đó, Vifon đang là doanh nghiệp duynhất có công nghệ sản xuất các loại súp như thịt hầm, riêu cua…; có thế mạnh vềcác loại gia vị tương ớt, Lắc Rắc, bột canh… nên khả năng cạnh tranh khá tốt Nhận xét về các đối thủ,Vina Acecook vẫn là một doanh nghiệp hiện đang có nhiềuthế mạnh công nghệ thiết bị sản xuất, có kinh nghiệm marketing nên khả năng giữthị phần lớn mì cao cấp là chắc chắn Vifon, với chính sách mở rộng mặt hàng nội

Ngày đăng: 18/05/2015, 19:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 5: Thị phần mỳ ăn liền phân khúc thấp cấp - luận văn quản trị kinh doanh THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM MỲ ĂN LIỀN CÔNG TY TNHH KINH DOANH VÀ CHẾ BIẾN LƯƠNG THỰC HÀ VIỆT
Sơ đồ 5 Thị phần mỳ ăn liền phân khúc thấp cấp (Trang 43)
Bảng 1: Khảo sát một số loại mỳ ăn liền cao cấp - luận văn quản trị kinh doanh THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM MỲ ĂN LIỀN CÔNG TY TNHH KINH DOANH VÀ CHẾ BIẾN LƯƠNG THỰC HÀ VIỆT
Bảng 1 Khảo sát một số loại mỳ ăn liền cao cấp (Trang 47)
Bảng 2: Tiêu chí khảo sát - luận văn quản trị kinh doanh THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM MỲ ĂN LIỀN CÔNG TY TNHH KINH DOANH VÀ CHẾ BIẾN LƯƠNG THỰC HÀ VIỆT
Bảng 2 Tiêu chí khảo sát (Trang 48)
Sơ đồ 6:  Mô hình thiết lập hệ thống lực lượng bán hàng - luận văn quản trị kinh doanh THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM MỲ ĂN LIỀN CÔNG TY TNHH KINH DOANH VÀ CHẾ BIẾN LƯƠNG THỰC HÀ VIỆT
Sơ đồ 6 Mô hình thiết lập hệ thống lực lượng bán hàng (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w