Chính điều này sẽ dễ kéo theo những rủi ro không lường trước được trong hoạt động kinh doanh tín dụng của các Ngân hàng thương mại, khi vô tình đẩy các Ngân hàng vào việc hạ bớt chuẩn về
Trang 1KHOA KẾ TOÁN
KHOA KẾ TOÁN –––– TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
******
HOÀNG HOÀI PHƯƠNG
HOÀNG HOÀI PHƯƠNG MSSV : 40663490 MSSV : 40663490
NÂNG CAO KHẢ NĂNG
NÂNG CAO KHẢ NĂNG QUẢN TRỊ
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG RỦI RO TÍN DỤNG RỦI RO TÍN DỤNG TTTTẠI NGÂN HÀNG NGOÀI QUO I NGÂN HÀNG NGOÀI QUO I NGÂN HÀNG NGOÀI QUỐC DOANH ÁC DOANH VPBANK
VPBANK CHI NHÁNH CHI NHÁNH CHI NHÁNH H H HỒ Ồ Ồ C C CHÍ HÍ HÍ M M MINH INH INH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Ngành: Tài Chính
Ngành: Tài Chính –––– Ngân hàng Ngân hàng Ngân hàng
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – Tháng 7/2010
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN LỜI CẢM ƠN
NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ
DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
LLLLỜI MI MI MỞ ĐẦUUU
1 Lý do chọn đề tài 2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 3 Phương pháp nghiên cứu 4 Kết cấu nội dung nghiên cứu 5 Ý nghĩa của đề tài CH CHƯƠNG 1 NhNG 1 NhNG 1 Những vng vng vấn n n đề ccccơ bbbbản vn vn về rủi ro rủi ro rủi ro tín dụng vàtín dụng vàtín dụng và quququản trn trn trị rrrrủi ro trong hoi ro trong hoi ro trong hoạt t t t động tín dng tín dụng cng cng của Ngân hàng thương mạia Ngân hàng thương mạia Ngân hàng thương mại 1111
1.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại 2
1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại 2
1.1.2 Chức năng và vai trò chủ yếu của NHTM 2
1.2 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại 4
1.2.1 Khái niệm về hoạt động tín dụng Ngân hàng 4
1.2.2 Đặc điểm của hoạt động tín dụng Ngân hàng 4
1.3 Rủi ro trong hoạt động của Ngân hàng thương mại 6
Trang 31.3.1 Khái niệm rủi ro 6
1.3.2 Phân loại rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng 7
1.3.2.1 Rủi ro tín dụng 7
1.3.2.2 Rủi ro lãi suất 7
1.3.2.3 Rủi ro thanh toán 7
1.3.2.4 Rủi ro tỷ giá 7
1.3.2.5 Các rủi ro khác 8
1.4 Rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng trong NHTM 9
1.4.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng 9
1.4.2 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng 10
1.4.2.1 Từ các nhân tố vĩ mô 10
1.4.2.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng 12
1.4.2.3 Nguyên nhân từ phía ngân hàng 13
1.4.3 Hậu quả của rủi ro tín dụng 17
1.4.3.1 Đối với nền kinh tế 17
1.4.3.2 Đối với NHTM 18
1.4.4 Quản trị rủi ro tín dụng ở NHTM 20
1.4.4.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng 20
1.4.4.2 Nguyên lý của quản trị rủi ro tín dụng 20
1.4.4.3 Nội dung hoạt động quản trị rủi ro tín dụng 25
1.5 Kết luận 28
CH CHƯƠNG 2 Tổng quan về Ngân hàng NG 2 Tổng quan về Ngân hàng NG 2 Tổng quan về Ngân hàng Ngoài quốc doanh VPBank Ngoài quốc doanh VPBank Ngoài quốc doanh VPBank –––– Chi nhánh Chi nhánh Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh 292929 2.1 Tổng quan về VPBank 30
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 30
2.1.2 Vốn điều lệ 31
Trang 42.1.3 Mạng lưới hoạt động và nhân sự 32
2.2 Tổng quan về VPBank – Chi nhánh HCM 34
2.2.1 Quá trình hình thành 34
2.2.2 Tổ chức bộ máy quản lý 35
2.2.3 Hệ thống các sản phẩm 39
CH CHƯƠNG 3 Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vpbank NG 3 Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vpbank –––– Chi nhánh Hồ Chí MinhChi nhánh Hồ Chí MinhChi nhánh Hồ Chí Minh 414141 3.1 Thực trạng hoạt động tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng của VPBank – Chi nhánh Hồ Chí Minh trong những năm gần đây 42
3.1.1 Tình hình chung của nền kinh tế 42
3.1.2 Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh và hoạt động tín dụng 43
3.1.2.1 Hoạt động kinh doanh 43
3.1.2.2 Hoạt động huy động vốn 44
3.1.2.3 Hoạt động tín dụng 49
3.1.2.4 Dự phòng rủi ro tín dụng và quản lý nợ quá hạn, nợ xấu 57
3.2 Quy trình tín dụng 61
3.3 Chính sách tín dụng của VPBank 67
3.4 Cơ cấu tổ chức, hoạt động của bộ phận tín dụng và quản lý tín dụng 68
3.5 Nhận xét chung 70
CH CHƯƠNG 4 Các biện pháp nâng cao khả năng quản trị rủi ro tín dụng tại NG 4 Các biện pháp nâng cao khả năng quản trị rủi ro tín dụng tại Vpbank Vpbank –––– Chi nhánh Hồ Chí MinhChi nhánh Hồ Chí MinhChi nhánh Hồ Chí Minh 747474 4.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống quản trị rủi ro tín dụng 75
4.2 Các giải pháp nâng cao khả năng quản trị rủi ro tín dụng 76
4.2.1 Nâng cao trình độ cán bộ tín dụng – Hạn chế rủi ro đạo đức 76
4.2.2 Hoàn thiện quy trình tín dụng 78
4.2.2.1 Hoàn thiện hệ thống thông tin khách hàng 78
Trang 54.2.2.2 Thắt chặt và thực hiện đúng quy trình tín dụng 79
4.2.2.3 Nâng cao chất lượng thẩm định 80
4.2.2.4 Phân tán rủi ro tín dụng 81
4.2.2.4.1 Đa dạng hóa phương thức cho vay, sản phẩm cho vay 81
4.2.2.4.2 Đa dạng hóa khách hàng 81
4.2.2.4.3 Đa dạng hóa lĩnh vực đầu tư 81
4.2.2.4.4 Thực hiện đảm bảo tín dụng 81
4.2.3 Xử lý nợ quá hạn và nợ khó đòi 82
4.2.4 Xây dựng cơ cấu tổ chức kiểm soát nội bộ có hiệu lực 83
4.2.5 Đầu tư hệ thống hiện đại hóa công nghệ Ngân hàng 84
4.3 Các kiến nghị 85
KẾT LUẬN KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH SÁCH CÁC DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ HÌNH VẼ HÌNH VẼ
1 Hình vẽ 1.1: Các chức năng cơ bản của NHTM
2 Hình vẽ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức và bộ máy hoạt động của VPBank
3 Hình vẽ 2.2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức – bộ máy hoạt động tại VPBank – CNHCM
4 Hình vẽ 3.1: Quy trình tín dụng tại VPBank
Trang 7DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU
DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU
1 Bảng 3.1: Lợi nhuận sau thuế
2 Bảng 3.2: Tình hình huy động vốn từ khách hàng
3 Bảng 3.3 : Tình hình huy động vốn theo đối tượng khách hàng
4 Bảng 3.4: Tình hình huy động vốn theo thời gian tiền gửi
5 Bảng 3.5: Tổng dư nợ tín dụng
6 Bảng 3.6: Tình hình cho vay theo đối tượng khách hàng
7 Bảng 3.7: Tình hình cho vay theo thời hạn vay
8 Bảng 3.8: Tình hình sử dụng vốn để cho vay
9 Bảng 3.9: Tình hình nợ quá hạn
10 Bảng 3.10: Dự phòng rủi ro tín dụng tại VPBank - CNHCM
Trang 8DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 3.1: Lợi nhuận sau thuế từ 2007-2009
2 Biểu đồ 3.2: Huy động vốn từ khách hàng từ 2007-2009
3 Biểu đồ 3.3: Huy động vốn theo đối tượng khách hàng từ 2007 – 2009
4 Biểu đồ 3.4: Huy động vốn theo thời gian tiền gửi từ 2007-2009
5 Biểu đồ 3.5: Tổng dư nợ tín dụng của VPBank từ 2007 – 2009
6 Biểu đồ 3.6: Cho vay theo đối tượng khách hàng từ 2007-2009
7 Biểu đồ 3.7: Cho vay theo thời hạn vay từ 2007-2009
8 Biểu đồ 3.8: Tình hình sử dụng vốn để cho vay từ 2007-2009
9 Biểu đồ 3.9: Tỷ lệ huy động vốn/cho vay từ 2007-2009
10 Biểu đồ 3.10: Tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn từ 2007-2009
11 Biểu đồ 3.11: Dự phòng rủi ro tín dụng từ 2008 – 2009
Trang 9CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT
STT Ký hiệu viết tắtKý hiệu viết tắt Diễn giảiDiễn giải
1 NHTM Ngân hàng thương mại
2 NHNN Ngân hàng Nhà nước
3 VPBank – CNHCM
Ngân hàng thương mại cổ phần các Doanh nghiệp Ngoài Quốc doanh Việt Nam – Chi nhánh Hồ Chí Minh
4 CIC Trung tâm thông tin tín dụng của Ngân hàng
Nhà Nước
5 Nhân viên A/O Nhân viên Tín Dụng
6 TĐTS Thẩm định Tài sản
7 TSBĐ Tài sản bảo đảm
8 BĐS Bất động sản
9 BCTC Báo cáo tài chính
10 BTD Ban tín dụng
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU LỜI MỞ ĐẦU
1
1 Lý do chọn đề tàiLý do chọn đề tàiLý do chọn đề tài
Ngày nay, hoạt động ngân hàng đang không ngừng phát triển Sự phát triển đó có thể được nhận thấy trên tất cả các phương tiện, từ sự ra đời của các sản phẩm dịch vụ mới, tới sự ảnh hưởng từ hoạt động của ngân hàng đến nền kinh tế…Tất cả những chuyển biến đó đánh dấu cho một thời đại mới của kinh tế – thời đại lên ngôi của các Ngân hàng Hòa theo xu hướng đó, trong những năm qua hệ thống ngân hàng Việt Nam đã đổi mới một cách căn bản về mô hình tổ chức, cơ chế điều hành và nghiệp vụ…Đồng thời đã đạt được những thành tựu to lớn, đóng góp tích cực trong công cuộc đổi mới và phát triển nền kinh tế
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì hệ thống Ngân hàng Việt Nam cũng bộc lộ những yếu kém trong điều hành và hoạt động nghiệp vụ Những yếu kém đó là khó tránh khỏi khi các lý thuyết cũng như kinh nghiệm về quản lý các Ngân hàng thương mại trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường nước ta chưa được nghiên cứu đầy đủ cũng như kinh nghiệm còn non trẻ của nền kinh tế nước ta so với thế giới Chính vì vậy, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, khi các Ngân hàng thương mại đang từng bước bước vào vòng xoáy của chuyển động hội nhập và toàn cầu hóa thì các Ngân hàng thương mại cần phải có các kế hoạch chặt chẽ riêng cho mình để giảm thiểu những yếu kém, ngăn chặn những rủi ro hoạt động, nâng cao cạnh tranh, đồng thời khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế Trong đó, quản trị rủi ro tín dụng là một vấn đề nổi cộm, cần được quan tâm chú trọng nhiều hơn hết vì hoạt động tín dụng hàm chứa rất nhiều rủi ro, có thể gây ra tổn thất lớn cho Ngân hàng về tài chính và uy tín Trong tình hình hiện nay khi nhu cầu tín dụng của xã hội gia tăng cùng sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế, tạo một thị trường kinh doanh “màu mỡ” cho
Trang 11các Ngân hàng thương mại, thì đồng thời cũng dẫn đến những nguy cơ rủi ro rất cao buộc các Ngân hàng phải quan tâm nhiều hơn nữa để tránh những tổn thất hoạt động nặng nề Sự hội nhập thế giới đã làm gia tăng sự cạnh tranh vốn đã
“nóng” trong nước càng trở nên gay gắt khi các Ngân hàng thương mại vừa phải tranh giành thị phần với các đối thủ trong nước, vừa phải cạnh tranh với các đối thủ rất mạnh của nước ngoài vốn có tiềm lực tài chính, thương hiệu mạnh, kinh nghiệm quản lý và kinh doanh trội hơn hẳn, khiến các Ngân hàng thương mại trong nước phải chạy đua nước rút hơn nữa trong cuộc cạnh tranh với quá nhiều đối thủ Chính điều này sẽ dễ kéo theo những rủi ro không lường trước được trong hoạt động kinh doanh tín dụng của các Ngân hàng thương mại, khi vô tình đẩy các Ngân hàng vào việc hạ bớt chuẩn về yêu cầu an toàn đối với khách hàng của mình nhằm duy trì thị phần, làm tăng mức độ rủi ro cho Ngân hàng
Vì vậy, quản trị rủi ro tín dụng càng phải được chú trọng hơn nữa, phải được điều chỉnh, hoàn thiện nhằm xây dựng một hệ thống quản trị rủi ro tín dụng tối
ưu, ngăn ngừa tối đa những rủi ro có thể xảy đến, đồng thời khai thác tiềm năng lợi nhuận từ cơ hội hội nhập quốc tế Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng của quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng, và quá trình thực tập tại VPBank – chi nhánh Hồ Chí Minh, tiếp cận và học hỏi được nhiều từ thực tế, sinh viên đã chọn đề tài: “Nâng cao khả năng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Ngoài Quốc Doanh VPBank – Chi nhánh Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu của mình Qua đó hy vọng những kiến thức của mình từ quá trình học tập, nghiên cứu và theo dõi từ thực tế hoạt động của Ngân hàng sẽ có ích khi đưa ra những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng trong quá trình hội nhập quốc tế
Trang 122 Mục tiêu nghiên cứu đề tàiMục tiêu nghiên cứu đề tàiMục tiêu nghiên cứu đề tài
Thông qua quá trình thực tập tại Ngân hàng Ngoài Quốc Doanh VPBank – Chi nhánh Hồ Chí Minh, sinh viên đã được tiếp cận thực tế với các hoạt động, các nghiệp vụ của Ngân hàng, đặc biệt là nghiệp vụ tín dụng Qua đó, sinh viên đã có được một cái nhìn sâu rộng hơn về các chính sách tín dụng, quy trình tín dụng, bộ máy quản lý tín dụng…và hiểu sâu hơn những lý thuyết đã được học ở trường Vì vậy, với đề tài: “Nâng cao khả năng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Ngoài Quốc Doanh VPBank – Chi nhánh Hồ Chí Minh”, sinh viên muốn thể hiện những kiến thức lý thuyết mà mình đã học và tiếp thu về vấn đề quản trị rủi
ro tín dụng Bài chuyên đề nhằm mục đích tập trung vào các nội dung:
- Nghiên cứu một cách khoa học những lý luận cơ bản về tín dụng, rủi ro tín dụng và hệ thống quản trị rủi ro tín dụng Ngân hàng, tầm quan trọng và sự cần thiết xây dựng một hệ thống quản trị rủi ro tín dụng an toàn, hiệu quả, phù hợp với tình hình hiện tại và các biến động của tương lai
- Tìm hiểu thực trạng về mức độ, phương pháp quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng Ngoài quốc doanh VPBank chi nhánh TP.Hồ Chí Minh; những thành tựu đạt được và những hạn chế, khó khăn còn vướng mắc
- Đưa ra các đề xuất, giải pháp để khắc phục mặt hạn chế, khó khăn của hệ thống quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng, nhằm nâng cao tính hiệu quả,
an toàn
3
3 Phương pháp nghiên cứuPhương pháp nghiên cứuPhương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện chuyên đề có sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp so sánh phân tích và phương pháp thống kê để xác định được bản chất của vấn đề cần được nghiên cứu, để từ đó có thể đưa ra các biện pháp, đề xuất điều chỉnh và hoàn thiện
Trang 13
4 Kết cấu nội dung nghiKết cấu nội dung nghiKết cấu nội dung nghiên cứuên cứuên cứu
Kết cấu của đề tài gồm có 4 chương:
- Chương 1 Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
- Chương 2 Tổng quan về Ngân hàng Ngoài quốc doanh VPBank – Chi nhánh Hồ Chí Minh
- Chương 3 Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vpbank – Chi nhánh Hồ Chí Minh
- Chương 4 Các biện pháp nâng cao khả năng quản trị rủi ro tín dụng tại Vpbank – Chi nhánh Hồ Chí Minh
5
5 Ý nghĩa của đề tÝ nghĩa của đề tÝ nghĩa của đề tàiàiài
Quản trị rủi ro tín dụng luôn là một khâu cần được chú trọng nhiều nhất trong quá trình quản trị hoạt động của NHTM Chuyên đề dựa trên lý thuyết xây dựng hệ thống quản trị rủi ro tín dụng và thực trạng của hệ thống quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VPBank, từ đó đi sâu vào phân tích những vấn đề còn tồn tại, hạn chế Dựa trên những phân tích đó, cộng với các nghiên cứu, lý luận của nhiều nhà nghiên cứu, chuyên gia Ngân hàng cùng với các kiến thức của bản thân qua quá trình học tập từ các thầy cô giáo ở trường Đại học Mở TP.Hồ Chí Minh và thực tập tại Ngân hàng VPBank, tiếp thu được nhiều kinh nghiệm từ các anh chị cán bộ Tín dụng để có thể đưa ra các ý kiến, đề xuất xác đáng, phù hợp với thực tế, đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc chuẩn mực kinh doanh cũng như chuẩn mực của xã hội Qua việc nghiên cứu về hệ thống quản trị rủi ro tín dụng của NHTM, sinh viên mong muốn những suy nghĩ, đề xuất và những gì mình học hỏi được sẽ giúp ích cho quá trình nâng cao mức độ hiệu quả và an toàn của tổ chức mà mình thực tập và xa hơn nữa là từ đó có thể mở rộng nghiên cứu nhằm xây dựng một hệ thống quản trị rủi ro tín dụng tối ưu cho các NHTM Việt Nam
Trang 14
CHƯƠNG 1 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO
RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO
TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM
TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM
Trang 151.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại (NHTM)Tổng quan về Ngân hàng thương mại (NHTM)Tổng quan về Ngân hàng thương mại (NHTM)
1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại (NHTM)Khái niệm về Ngân hàng thương mại (NHTM)
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế, là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty,
xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn đó cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên
Nói một cách khác, NHTM là một định chế tài chính trung gian quan trọng, một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng – một tổ chức cung ứng vốn chủ yếu và hữu hiệu của nền kinh tế, có tư cách như thủ quỹ của xã hội Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại, đồng thời sử dụng số vốn đó để cấp tín dụng cho các thành phần kinh tế khác để phát triển kinh tế xã hội
1.1.2 Chức năng và vai trò chủ yyyyếu của NHTM a NHTM
Trong tiến trình phát triển, các NHTM càng ngày càng hoàn thiện mình cùng với những nỗ lực phát triển mạng lưới, hệ thống, sản phẩm…Lần lượt các sản phẩm dịch vụ mới ra đời, đáp ứng được những nhu cầu khác nhau của khách hàng đã chứng minh được chức năng và vai trò quan trọng của NHTM hiện nay Trái với cách nghĩ của nhiều người rằng Ngân hàng chỉ đóng một vai trò và chức năng nhỏ trong nền kinh tế là nhận tiền gửi và cho vay, các NHTM ngày nay đã chứng minh được rằng thực tế Ngân hàng đã thực hiện được nhiều chức năng mới để có thể duy trì khả năng cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu của xã hội Các NHTM ngày nay có những vai trò và chức năng cơ bản sau:
Trang 16- Vai trò trung gian: Chuyển các khoản tiết kiệm, chủ yếu từ hộ gia đình, thành các khoản tín dụng cho các tổ chức kinh doanh và các thành phần khác để đầu tư vào nhà cửa, thiết bị và các tài sản khác
- Vai trò thanh toán: Thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ (bằng cách phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và phân phối tiền giấy…)
- Vai trò người bảo lãnh: Cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất khả năng thanh toán (như phát hành thư tín dụng)
- Vai trò đại lý: Thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản của họ, phát hành hoặc chuộc lại chứng khoán (thường được thực hiện tại phòng ủy thác)
- Vai trò thực hiện chính sách: Thực hiện chính sách kinh tế của chính phủ, góp phần điều tiết sự tăng trưởng của kinh tế và theo đuổi mục tiêu xã hội
Hình vẽ 1.1: Các chức năng cơ bản của NHTM
Chức năng
ủy thác
Chức năng tiết kiệm
Ngân hàng hiện đạiNgân hàng hiện đại
Chức năng quản lý tiền mặt
Chức năng
môi giới
Chức năng
bảo hiểm
Chức năng ngân hàng
đầu tư và bảo lãnh
Chức năng thanh toán
Chức năng lập kế hoạch đầu tư Chức năng
tín dụng
Trang 171.2 HoHoHoạt t t t động tín dụng củađộng tín dụng củađộng tín dụng của NHTMNHTMNHTM
1.2.1 Khái niệm về hoạt động tín dụng Ngân hàngKhái niệm về hoạt động tín dụng Ngân hàng
Tín dụng Ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ Ngân hàng cho các chủ thể khác trong nền kinh tế trong một thời gian xác định với một khoản chi phí nhất định Cũng như quan hệ tín dụng khác, tín dụng Ngân hàng chứa đựng ba nội dung:
- Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng
- Sự chuyển nhượng này có tính thời hạn
- Sự chuyển nhượng này có kèm chi phí
Định nghĩa một cách đầy đủ thì tín dụng Ngân hàng còn bao gồm các khoản bảo lãnh của Ngân hàng cho các cam kết của khách hàng với bên thứ ba
1.2.2 Đặc điểm của hoạt động tín dụng Ngân hàngĐặc điểm của hoạt động tín dụng Ngân hàng
Trong hoạt động này, Ngân hàng vừa đóng vai trò là người đi vay (nhận tiền gửi của các chủ thể khác trong nền kinh tế hoặc phát hành các chứng chỉ tiền gửi: kỳ phiếu, trái phiếu Ngân hàng để huy động vốn), vừa đóng vai trò người cho vay (cấp tín dụng cho các chủ thể khác trong nền kinh tế bằng việc thiết lập các hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ…) Chính vì vai trò đặc biệt của Ngân hàng trong hoạt động tín dụng nên tín dụng Ngân hàng có những đặc điểm rất riêng biệt so với các loại tín dụng khác
Tín dụng ngân hàng là loại tín dụng chủ yếu và phổ biến nhất trong nền kinh tế thị trường Từ nhứng đặc điểm sau của tín dụng ngân hàng có thể thấy được tầm quan trọng của nó trong nền kinh tế quốc dân:
Trang 18Các đặc điểm của tín dụng Ngân hàng bao gồm:
- Chủ thể tham gia: Một bên là Ngân hàng, một bên là các chủ thể khác trong nền kinh tế như các công ty, các doanh nghiệp, hộ kinh doanh, hộ gia đình, cá nhân…
- Đối tượng: Chủ yếu là tiền tệ, có khi là tài sản
- Thời hạn: Rất linh hoạt, bao gồm ngắn hạn, trung và dài hạn tùy theo nhu cầu của khách hàng, mục đích sử dụng hoặc nhận định của Ngân hàng
- Công cụ: Linh hoạt với đa dạng các sản phẩm (kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng, các hợp đồng tín dụng…)
Do đây là nguồn vốn huy động của xã hội với khối lượng và thời hạn khác nhau, vì vậy nó có thể thỏa mãn các nhu cầu vốn đa dạng về khối lượng cũng như thời hạn và mục đích sử dụng Nó không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn để dự trữ vật tư hàng hóa, trang trải các chi phí sản xuất và thanh toán các khoản nợ, mà còn tham gia cấp vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản dài hạn và đáp ứng một phần đáng kể nhu cầu tín dụng tiêu dùng cá nhân
- Tính chất: Là hình thức tín dụng mang tính chất gián tiếp, trong đó Ngân hàng là trung gian tín dụng giữa những người tiết kiệm và những người cần vốn để sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng Có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp vốn cho nhu cầu kinh doanh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vì những doanh nghiệp này chưa có đủ điều kiện để tham gia vào thị trường vốn trực tiếp
- Mục đích: Tín dụng Ngân hàng nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng của các doanh nghiệp, cá nhân…qua đó Ngân hàng sẽ thu được lợi nhuận qua các khoản phí – lãi suất cho vay thu được từ khách hàng
Trang 191.3 Rủi ro trong hoạt động Rủi ro trong hoạt động Rủi ro trong hoạt động của của của Ngân hàng thương mạiNgân hàng thương mạiNgân hàng thương mại
1.3.1 Khái niệm rủi roKhái niệm rủi ro
Chúng ta có rất nhiều định nghĩa về danh từ “rủi ro”, mỗi định nghĩa đứng dưới nhiều góc độ và cách nhìn khác nhau Ta có thể ghi nhận một vài định nghĩa về “rủi ro” như sau:
- Theo Frank Knight : “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được”
- Theo Irving Preffer : “Rủi ro là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất”
- Theo Allan Willett : “Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi”
- Nhiều tác giả cho rằng : “Rủi ro là một sự không chắc chắn xảy ra hoặc ngày giờ xảy ra không chắc chắn”
Mặc dù có rất nhiều định nghĩa về “rủi ro” nhưng nhìn chung thì tất cả các định nghĩa đó đều đề cập đến hai vấn đề sau:
- Sự không chắc chắn, yếu tố bất trắc
- Một khả năng xấu : một biến cố không mong đợi, gây ra tổn thất
Tóm lại, rủi ro là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn Tuy nhiên, không phải sự không chắc chắn nào cũng là rủi ro, chỉ có những tình trạng không chắc chắn nào có thể ước đoán được xác suất xảy ra thì mới được xem là rủi ro Những tình trạng không chắc chắn nào chưa từng xảy ra và không thể ước đoán được xác suất xảy ra được xem như là sự bất trắc chứ không phải rủi ro Hiểu được khái niệm về rủi ro giúp ích cho chúng ta rất nhiều trong việc xác định và hiểu được bản chất của các vấn đề ảnh hưởng đến kết quả hoạt động tín dụng của một Ngân hàng Từ đó, ta có thể đưa ra những biện pháp hoặc đề xuất nhằm ngăn chặn các tổn thất cho Ngân hàng trong hoạt động tín dụng
Trang 201.3.2 Phân loại rủi ro trong kinh doanh Ngân hàngPhân loại rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng 1.3.2.1 Rủi ro tín dụngRủi ro tín dụngRủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh khi một bên hoặc các bên tham gia hợp đồng tín dụng không có khả năng thanh toán cho các bên còn lại Đối với NHTM rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp Ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của các khoản cho vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi vay không đúng hạn Nếu tất cả các khoản vay của Ngân hàng đều được thanh toán đầy đủ và đúng hạn cả gốc và lãi thì Ngân hàng không bị rủi ro tín dụng Ngược lại, nếu người vay tiền không có khả năng trả nợ hoặc cố ý không trả nợ thì rủi ro tín dụng nảy sinh
1.3.2.2 Rủi ro lãi suấtRủi ro lãi suấtRủi ro lãi suất
Lãi suất là giá cả của sản phẩm Ngân hàng, nên có tác động trực tiếp đến giá trị tài sản Có và tài sản Nợ của Ngân hàng Mọi sự thay đổi của lãi suất đều có thể tác động đến việc tăng, giảm thu nhập, chi phí và lợi nhuận của Ngân hàng Nếu thu nhập từ lãi không lớn hơn chi phí về lãi thì Ngân hàng sẽ gặp rủi
ro về lãi suất Rủi ro lãi suất là rủi ro do biến động của lãi suất gây nên
1.3.2.3 Rủi ro thanh toánRủi ro thanh toánRủi ro thanh toán
Rủi ro thanh toán là rủi ro nguy hiểm nhất của Ngân hàng, có liên quan đến sự sống còn của Ngân hàng Một ngân hàng hoạt động bình thường phải đảm bảo được khả năng thanh toán, tức là phải đáp ứng được các nhu cầu thanh toán trong hiện tại, tương lai và các nhu cầu thanh toán đột xuất Nếu không đáp ứng được các nhu cầu thanh toán đó Ngân hàng có thể bị mất khả năng thanh toán và có nguy cơ phá sản
1.3.2.4 Rủi ro tỷ giá Rủi ro tỷ giá
Rủi ro tỷ giá là rủi ro phát sinh do sự biến động của tỷ giá gây ra Những rủi
ro này có thể phát sinh trong tất cả các hoạt động nghiệp vụ liên quan đến ngoại
Trang 21tệ của Ngân hàng như: cho vay, huy động vốn bằng ngoại tệ, mua bán, đầu tư chứng khoán bằng ngoại tệ…Đó chính là kết quả của việc Ngân hàng thực hiện các giao dịch ngoại tệ phục vụ cho khách hàng và cho chính bản thân mình, hoặc ngân hàng huy động vốn bằng ngoại tệ và đầu tư vào các tài sản Có bằng ngoại tệ
1.3.2.5 Các rủi ro khác Các rủi ro khác
Ngoài những rủi ro cơ bản trên thì hoạt động kinh doanh của Ngân hàng còn phải chịu những rủi ro khác như:
- Rủi ro môi trường – rủi ro do môi trường hoạt động của Ngân hàng gây nên như sự biến động của thiên nhiên, kinh tế khủng hoảng, suy thoái, thay đổi chính sách pháp luật của Nhà nước…Đây là những rủi ro mà Ngân hàng khó kiểm soát được, chúng có thể làm suy yếu khả năng chịu đựng rủi ro của Ngân hàng hoặc gây ra những thiệt hại về tài chính
- Rủi ro về công nghệ – rủi ro này thường xảy ra trong các trường hợp như Ngân hàng đã đầu tư rất lớn vào phát triển công nghệ nhưng hiệu quả sử dụng lại không cao, không tiết kiệm chi phí cho Ngân hàng theo như mong muốn Hoặc hệ thống công nghệ của Ngân hàng trục trặc làm ảnh hưởng đến việc điều hành hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
- Các rủi ro khác như rủi ro hoạt động, rủi ro quốc gia, rủi ro pháp lý… Qua việc tìm hiểu những rủi ro trên, ta nhận thấy rằng trong hoạt động thường ngày của một Ngân hàng có rất nhiều rủi ro có thể xảy ra, gây ra những thiệt hại không nhỏ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của Ngân hàng Chính vì vậy việc xây dựng một hệ thống quản lý để phòng chống những rủi ro này là cực kỳ quan trọng khi mà các Ngân hàng đang tìm cách mở rộng thị phần một cách nhanh chóng nhằm đạt được vị thế cao trong cuộc cạnh tranh gay gắt ở thị trường
Trang 221.4 Rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng trong NHTMRủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng trong NHTMRủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng trong NHTM
1.4.1 Khái niệm về rủiKhái niệm về rủi ro tín dụngro tín dụngro tín dụng
Rủi ro tín dụng ngân hàng được định nghĩa như những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra do khách hàng của Ngân hàng không có khả năng hoặc không có đủ năng lực thực hiện các nghĩa vụ của họ, bao gồm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, cam kết với bên thứ ba mà Ngân hàng đã đứng ra bảo lãnh cho các cam kết này, các nghĩa vụ này đã được ký kết giữa khách hàng và Ngân hàng thông qua hợp đồng tín dụng
Rủi ro này phát sinh từ việc Ngân hàng quyết định cấp tín dụng cho các khách hàng có chất lượng tồi hoặc không nhận biết được các dấu hiệu xấu của khách hàng sau khi đã thực hiện cấp tín dụng cho khách hàng Đây là rủi ro có khả năng xảy ra rất lớn trong quá trình các Ngân hàng cung cấp các sản phẩm tín dụng cho thị trường Đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam khi mà hệ thống thông tin chính thức, đáng tin cậy của các doanh nghiệp là không đầy đủ, vì vậy dễ dẫn tới các khoản cấp tín dụng không được quyết định chính xác Ngoài ra, các ngành nghề kinh tế Việt nam đang trong quá trình phát triển dưới mức cạnh tranh cao giữa rất nhiều các chủ thể kinh doanh đang hoạt động kinh doanh mang nặng tư tưởng kinh nghiệm, sử dụng các phương pháp quản lý kinh doanh không bài bản theo kiểu gia đình Chính vì cách kinh doanh như vậy, mức độ tuân thủ các cam kết của các khách hàng sử dụng sản phẩm tín dụng của Ngân hàng tại Việt Nam là không cao, có xu hướng tùy tiện sử dụng vốn vay của Ngân hàng để kỳ vọng mang lại lợi nhuận cao nhất cho mình mà không cân nhắc đầy đủ mức độ rủi ro trong từng giao dịch và không sử dụng tư vấn của bên cấp tín dụng là Ngân hàng Hiện tượng này luôn đặt “rủi ro đạo đức” trong các khoản cấp tín dụng của NHTM Việt nam trong tình trạng báo động cao nhất
Trang 23Rủi ro tín dụng là loại rủi ro cơ bản nhất của Ngân hàng Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của NHTM như: hoạt động bảo lãnh, tài trợ ngoại thương, cho thuê tài chính…Mức độ rủi ro tín dụng đươc đánh giá qua chỉ tiêu: Tỷ lệ nợ quá hạn/Tổng dư nợ, Tỷ lệ nợ khó đòi/Tổng dư nợ quá hạn Các chỉ tiêu này có kết quả càng nhỏ thể hiện chất lượng tín dụng của Ngân hàng cao và rủi ro tín dụng của Ngân hàng thấp
1.4.2 Nguyên nhân của rủNguyên nhân của rủi ro tín dụngi ro tín dụngi ro tín dụng
1.4.2.1 Từ các nhân tố vĩ môTừ các nhân tố vĩ môTừ các nhân tố vĩ mô
Rủi ro tín dụng xảy ra do những nguyên nhân xuất phát từ môi trường kinh tế không ổn định, điển hình như:
- Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới: Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn lệ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu), dầu thô, may gia công…vốn nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới, nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động xấu, làm ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
- Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế: Quá trình tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của Ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh của các NHTM trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các Ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng
Trang 24lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các Ngân hàng nước ngoài thu hút
- Sự tấn công của hàng nhập lậu: Với hàng trăm km biên giới trên bộ và trên biển cùng địa hình địa lý phức tạp và tình hình đời sống nghèo khó của dân cư vùng biên giới, cuộc chiến đấu với hàng lậu đã kéo dài dai dẳng từ rất nhiều năm nay mà kết quả là hàng lậu vẫn tràn lan tại các thành phố lớn, làm điêu đứng các doanh nghiệp trong nước và các ngân hàng đầu tư vốn cho các doanh nghiệp này Các mặt hàng kim khí điện máy, gạch men, vải vóc, quần áo, mỹ phẩm…là những ví dụ tiêu biểu cho tình hình hàng lậu ở nước ta
- Thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý đã dẫn đến khủng hưởng thừa về đầu tư trong một số ngành: Nền kinh tế thị trường tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, chính nguyên nhân này sẽ khiến các nhà kinh doanh luôn tìm kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tư vào và sẽ rời bỏ những ngành không đem lại lợi nhuận như mong đợi cho họ và do đó có sự chuyển dịch vốn từ ngành này qua ngành khác và đây cũng là một hiện tượng khách quan Tuy nhiên ở nước ta thời gian qua, hiện tượng này đã phát triển một cách tự phát, hoàn toàn không đi kèm với sự quy hoạch hợp lý, hợp tác, phân công lao động, chuyên môn hóa lao động, dẫn đến sự bất lực trong vai trò quản lý của các hiệp hội nghề nghiệp và sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước Điều này dẫn đến sự gia tăng quá nhiều vốn đầu tư vào một số ngành, xảy ra khủng hoảng thừa, lãng phí tài nguyên quốc gia Đây cũng là một nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp và nền kinh tế
Trang 25
1.4.2.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng Nguyên nhân từ phía khách hàng
Đối với khách hàng vay là doanh nghiệp:
Hiện tượng tương đối phổ biến là việc sử dụng vốn vay sai mục đích Sau khi nhận được vốn vay, các doanh nghiệp thường có động cơ đầu tư vào các dự án rủi ro có mức sinh lời cao, làm giảm khả năng hoàn trả nợ cho Ngân hàng Những nguyên nhân góp phần làm tăng động cơ này là do vấn đề xử lý tranh chấp ở nước ta chưa thật sự đạt hiệu quả, các biện pháp chế tài chưa đủ mạnh cũng như khả năng kiểm soát sử dụng vốn vay chưa tốt ở Ngân hàng Bên cạnh đó, cũng có những nguyên nhân xuất phát từ nội lực bản thân doanh nghiệp như sự kém hiệu quả trong quản lý, điều hành, hạn chế trong năng lực chuyên môn của đội ngũ nhân viên; hay do quy trình công nghệ sản xuất còn lạc hậu nên không tạo ra được những sản phẩm mang tính cạnh tranh
Ngoài ra, tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém thiếu minh bạch cũng là nguyên nhân gây ra rủi ro cho Ngân hàng Vì vậy khi cán bộ Ngân hàng lập các phân tích tài chính của doanh nghiệp dựa trên những số liệu mà doanh nghiệp đã cung cấp thường thiếu tính thực tế và xác thực Đây cũng là nguyên nhân vì sao Ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng
Đối với khách hàng vay là cá nhân:
Nguyên nhân gây ra rủi ro có thể do hoạt động kinh doanh không gặp thuận lợi, khả năng quản lý tài chính yếu kém, nguồn hoàn trả từ thu nhập cơ bản bị suy giảm do mất việc hay chuyển sang công việc kém hơn, hay do những nguyên nhân bất thường khác Ngoài ra còn phải kể đến do sự suy giảm đạo đức của khách hàng, để đạt được mục tiêu vay vốn của mình mà không ít khách hàng đã giả tạo hồ sơ, hợp đồng mua bán vòng vo nhằm vay được vốn từ Ngân hàng
Trang 26Điều đó đòi hỏi NHTM nói chung, cán bộ tín dụng , thẩm định nói riêng phải làm tốt, chính xác việc phân loại đối tượng vay vốn Để từ đó có các biện pháp kiểm tra, đôn đốc, giúp đỡ và hướng dẫn để phòng ngừa rủi ro tương ứng một cách hữu hiệu
1.4.2.3 Nguyên nhân từ phía ngân hàngNguyên nhân từ phía ngân hàngNguyên nhân từ phía ngân hàng
Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ:
Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra Ngân hàng Nhà Nước ở tính thời gian vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm tra viên, do việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùng với công việc kinh doanh Nhưng trong thời gian trước đây, công việc kiểm tra nội bộ của các Ngân hàng hầu như chỉ tồn tại trên hình thức là chính, chưa được các cấp lãnh đạo quan tâm đúng mức
Chính sách tín dụng chưa đạt đến tầm chiến lược trong quá trình hoạt động kinh doanh:
Chính sách tín dụng giữ vai trò quan trọng trong việc định hướng lĩnh vực đầu tư, cơ cấu tín dụng cũng như quy định các chính sách cho vay và cơ chế giám sát thực hiện quản lý vốn vay của Ngân hàng Tuy nhiên, chính sách tín dụng hiện nay của các NHTM phần lớn chưa đạt được đến tầm chiến lược, chưa triệt để tuân theo quy tắc thị trường, thậm chí còn bị cuốn theo các khẩu hiệu kinh tế và chủ nghĩa thành tích Song song với những khiếm khuyết trong việc thiết lập chính sách, các quy trình tín dụng được đề ra chưa đảm bảo tính hợp lý và chặt chẽ như thông tin cần được thực hiện trong các bước quy trình không được chi tiết, đầy đủ và mối quan hệ giữa các bước chưa được nhận thức đúng đắn Thêm vào đó, quy trình và chính sách tín dụng chưa vận dụng một cách nghiêm túc
Trang 27Bố trí cán bộ thiếu đạo đức:
Đạo đức là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc giải quyết vấn đề hạn chế rủi ro tín dụng Nhiều vụ án kinh tế lớn trong những năm gần đây đều liên quan đến sự tha hóa, biến chất của các cán bộ tín dụng Yếu tố có tầm quan trọng kế đến là năng lực, trình độ và kinh nghiệm của cán bộ tín dụng Đa phần các cán bộ tín dụng làm việc theo kiểu đa năng, tích lũy kinh nghiệm, không chuyên sâu vào một ngành cụ thể nào nên không có nhiều kiến thức chuyên ngành vì thế rất dễ đưa ra những đánh giá sai lầm trong công tác thẩm định, gây bức xúc cho khách hàng hoặc khách hàng thông tin sai mà không nhận ra được
Thiếu phân chia trách nhiệm trong công tác thẩm định, đánh giá khách hàng và quản lý danh mục tài sản đảm bảo:
Công tác thẩm định, đánh giá khách hàng và dự án, phương án vay vốn vẫn còn là vấn đề thật sự khó khăn khi khả năng tiếp cận thông tin khách hàng còn nhiều hạn chế, thiếu sự hỗ trợ từ phía cơ quan quản lý Nhà nước Hiện nay, công tác đánh giá khách hàng tại các NHTM chủ yếu dựa vào cảm tính chủ quan của cán bộ nghiệp vụ và các thông tin thu thập được qua báo chí, internet… Thêm vào đó, một thực tế là hiện nay chỉ có một vài NHTM có bộ phận thẩm định tách biệt với bộ phận tín dụng, còn lại hầu hết cán bộ tín dụng ở các NHTM phải thực hiện tất cả các khâu của quy trình tín dụng Chính điều này đã dẫn đến áp lực trong công việc và cán bộ không chuyên sâu trong công tác thẩm định
Quản lý danh mục tài sản đảm bảo là một yêu cầu cần thiết trong công tác quản lý rủi ro tín dụng, và là một mắt xích quan trọng trong cho vay, thu hồi nợ và xử lý các khoản nợ xấu Tuy nhiên, trong thực tế việc quản lý tài sản đảm bảo tại các NHTM chưa được quan tâm thỏa đáng Việc kiểm tra, quản lý và giám sát
Trang 28đối với các tài sản đảm bảo chưa thật sự chặt chẽ; việc đánh giá tài sản đảm bảo còn mang tính chủ quan, thiếu căn cứ khoa học và chưa áp dụng các phương pháp định giá thích hợp Bên cạnh đó, tâm lý lạm dụng vào tài sản đảm bảo vẫn còn tồn tại, sẽ rất nguy hiểm nếu cán bộ tín dụng quên rằng khoản vay phải được trả bằng lợi nhuận của chính phương án sản xuất kinh doanh chứ không phải bằng tiền từ thanh lý tài sản đảm bảo và tài sản đảm bảo chỉ là phương án thu hồi nợ cuối cùng Ngoài ra, thông tin không đối xứng về giá trị thực của tài sản đảm bảo giữa khách hàng và Ngân hàng cùng là một rủi ro trong quá trình định giá
Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay:
Các Ngân hàng thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi cho vay mà nới lỏng quá trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay Khi Ngân hàng cho vay thì khoản cho vay cần phải được quản lý một cách chủ động để đảm bảo sẽ được hoàn trả Theo dõi nợ là một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của Ngân hàng nói chung Việc theo dõi hoạt động của khách hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra trong hợp đồng tín dụng giữa khách hàng và Ngân hàng nhằm tìm ra những cơ hội kinh doanh mới và mở rộng cơ hội kinh doanh Tuy nhiên trong thời gian qua các NHTM chưa thực hiện tốt công tác này Điều này một phần do yếu tố tâm lý ngại gây phiền hà cho khách hàng của cán bộ Ngân hàng, một phần do hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh tại các doanh nghiệp quá lạc hậu, không cung cấp đươc kịp thời, đầy đủ các thông tin mà NHTM yêu cầu
Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo, vai trò của CIC (Credit Information Center) chưa thực sự hiệu quả:
Kinh doanh Ngân hàng là một nghề đặc biệt, huy động vốn để cho vay hay nói cách khác là đi vay để cho vay, do vậy vấn đề rủi ro trong hoạt động tín dụng
Trang 29là không thể tránh khỏi, các Ngân hàng cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm hạn chế rủi ro Sự hợp tác nảy sinh do nhu cầu quản lý rủi ro đối với cùng một khách hàng khi khách hàng này vay tiền tại nhiều Ngân hàng Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một khách hàng là một con số cụ thể , có giới hạn tối
đa của nó Nếu do sự thiếu trao đổi thông tin, dẫn đến việc nhiều Ngân hàng cùng cho vay một khách hàng đến mức vượt quá giới hạn tối đa thì rủi ro chia đều cho tất cả chứ không chừa một Ngân hàng nào
Trong quá trình cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt như hiện nay, vai trò của CIC là rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin kịp thời, chính xác để các Ngân hàng có các quyết định cho vay hợp lý Đáng tiếc là hiện nay Ngân hàng dữ liệu của CIC chưa đầy đủ và thông tin còn quá đơn điệu, chưa được cập nhật và xử lý kịp thời
Tóm lại, rủi ro tín dụng có thể phát sinh do rất nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan Các biện pháp phòng chống rủi ro có thể nằm trong tầm tay của các NHTM nhưng cũng có những biện pháp vượt ngoài khả năng của riêng từng Ngân hàng, liên quan đến vấn đề nội tại của bản thân nền kinh tế đang chuyển đổi, đang định hướng mô hình phát triển ở Việt Nam Trong phạm vi tầm tay của các Ngân hàng, rủi ro tín dụng phụ thuộc vào năng lực của bộ phận tín dụng trong việc phát hiện và hạn chế rủi ro từ lúc xem xét quyết định cho vay cũng như trong suốt thời gian vay Năng lực cấp tín dụng phụ thuộc vào chuyên môn của cán bộ tín dụng và nhân viên của họ và các nguồn lực của Ngân hàng về nhân sự cũng như về cơ sở vật chất Do vậy biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng sâu sắc nhất vẫn là các biện pháp liên quan đến việc đào tạo, bố trí cán bộ và cơ chế kiểm tra, giám sát hành vi của cán bộ trong quá trình xử lý công việc Thực hiện tốt các biện pháp này có thể cho rằng con đường quản lý rủi ro tín dụng của ngành Ngân hàng xem như đã đi được hơn một nửa
Trang 301.4.3 Hậu quả của rủi ro tín dụngHậu quả của rủi ro tín dụng
1.4.3.1 Đối với nền kinh tế Đối với nền kinh tế
Rủi ro trong hoạt động tín dụng Ngân hàng luôn luôn là vấn đề cần được quan tâm, do hoạt động này của Ngân hàng có tính nhạy cảm cao, ảnh hưởng mạnh đến sự ổn định kinh tế xã hội Hoạt động Ngân hàng liên quan đến hoạt động doanh nghiệp, các ngành và cá nhân vì vậy khi một Ngân hàng gặp rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì người gửi tiền ở các Ngân hàng khác sẽ hoang mang
lo sợ và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền ở các Ngân hàng, làm cho toàn bộ hệ thống Ngân hàng gặp khó khăn
Lịch sử hoạt động Ngân hàng thế giới đã chứng kiến không ít Ngân hàng lớn bị phá sản, mà hậu quả của nó thậm chí không giới hạn trong phạm vi một quốc gia mà lan ra cả nhiều nước trong khu vực hay toàn cầu Ơû Việt Nam vào những năm 1989 – 1990 cũng xảy ra tình trạng người dân đổ xô đi rút tiền gửi tại các quỹ tín dụng gây ra sự đổ vỡ hàng loạt quỹ tín dụng Đổ vỡ đã gây ra tổn thất lớn cho các quỹ tín dụng và hệ thống Ngân hàng, người gửi tiền và nền kinh tế nói chung, đặc biệt đã ảnh hưởng không nhỏ đến lòng tin của người gửi tiền mà chúng ta phải mất một thời gian dài mới lấy lại được Thời gian gần đây, không ít lần NHNN Việt Nam phải can thiệp để cứu vãn tình thế và khôi phục hoạt động cho một số NHTMCP, vì những lý do khác nhau, có nguy cơ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán Ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hơn nữa là sự hoảng loạn của các Ngân hàng ảnh hưởng lớn đến toàn bộ nền kinh tế, nó làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định
Nếu những tổn thất do rủi ro trong hoạt động tín dụng gây ra ở mức kiểm soát được thì việc xử lý tương đối dễ dàng trong giới hạn cho phép của quỹ dự phòng bù đắp rủi ro tín dụng Nhưng khi tổn thất quá lớn, vượt quá khả năng xử
Trang 31lý của Ngân hàng thì vấn đề sẽ trở nên nghiêm trọng, gây hậu quả khó lường không những cho Ngân hàng đó mà ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định, và là nguy cơ tiềm ẩn cho khủng hoảng tài chính
1.4.3.2 Đối với Ngân hàng thương mạiĐối với Ngân hàng thương mạigân hàng thương mại
Tổn thất về tiền:
Việc quản lý yếu kém các rủi ro liên quan đến hoạt động cấp tín dụng, việc gặp phải các hành vi lừa đảo chắc chắn sẽ dẫn tới các tổn thất về tiền xuất phát từ việc không thu hồi được tiền gốc, lãi cho vay hoặc Ngân hàng phải thực hiện các cam kết thay cho doanh nghiệp Đây là tổn thất rất lớn, khi mà Ngân hàng thu lợi nhuận cho vay từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất đầu vào cộng chi phí hoạt động thì một khoản cấp tín dụng không thu hồi được sẽ làm tiêu tan công sức của một tháng, một năm hoặc nhiều năm lao động cật lực của toàn bộ hệ thống của một Ngân hàng
Việc điều hành không tốt về mặt lãi suất đầu ra của Ngân hàng cũng có thể sẽ làm cho các nỗ lực lao động và chấp nhận rủi ro của một Ngân hàng trở nên vô ích và trong một số trường hợp còn gây ra lỗ cho hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng Kinh doanh Ngân hàng là để tìm kiếm lợi nhuận, một phần lợi nhuận Ngân hàng xuất phát từ việc chấp nhận rủi ro Tuy nhiên, chúng ta phải quản lý được rủi ro chứ không phải luôn bị rủi ro ảnh hưởng, tác động tiêu cực đến hoạt động Ngân hàng của mình Quản lý rủi ro tốt sẽ là cơ hội cho Ngân hàng phát triển mạnh mẽ, vượt qua các đối thủ cạnh tranh một cách nhanh chóng
Trang 32Tổn thất về uy tín của Ngân hàng:
Trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng, “niềm tin” của khách hàng là tài sản rất lớn của một Ngân hàng Khách hàng của Ngân hàng là dân chúng và các tổ chức kinh tế luôn quan sát hoạt động hàng ngày của Ngân hàng Họ quan sát để đánh giá Ngân hàng có đang dùng tiền của họ để đầu tư hiệu quả và an toàn không, họ đánh giá Ngân hàng có đủ uy tín để có thể huy động được nguồn vốn giá rẻ nhằm cung cấp tín dụng cho họ một cách ổn định không Mặt khác, các tổ chức kinh tế của nước ngoài cũng có một hệ thống đánh giá tổng thể các Ngân hàng Việt Nam và từng Ngân hàng Việt Nam vì các Ngân hàng thường hay cung cấp các dịch vụ tín dụng cho đối tác của họ tại Việt Nam
Theo nhận định chung của công chúng thì hoạt động cấp tín dụng là hoạt động chủ yếu của Ngân hàng, mang lại lợi nhuận chủ yếu cho Ngân hàng (mặc dù trên thực tế các Ngân hàng ngày càng gia tăng thu nhập của mình thông qua các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng) Vì vậy, việc một Ngân hàng cho vay các khách hàng bị mất khả năng chi trả nhiều sẽ làm cho danh tiếng của Ngân hàng đó bị giảm sút nhanh chóng
Chính vì lý do này mà các NHTM cần quan tâm tới chất lượng các khoản cấp tín dụng của mình Các Ngân hàng cần có sự đầu tư đúng mức cho việc quản lý các hoạt động quản lý tín dụng của mình để tránh việc tổn thất tài chính xuất phát từ các khoản cấp tín dụng cũng như các ảnh hưởng của các khoản tín dụng xấu đối với các hoạt động khác của Ngân hàng, gây tổn hại tới danh tiếng của Ngân hàng đối với dân chúng, tổ chức kinh tế trong nước và nước ngoài Điều này càng quan trọng hơn khi Việt Nam đang trong quá trình hội nhập với các nền kinh tế của thế giới
Trang 331.4.4 Quản trị rủi ro tín dụng ở NHTMQuản trị rủi ro tín dụng ở NHTM
1.4.4.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng
Hoạt động tín dụng của Ngân hàng luôn luôn tiềm ẩn rủi ro, gây ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả kinh doanh và uy tín của chính Ngân hàng và có tính dây chuyền, ảnh hưởng rất mạnh đến toàn bộ đời sống, kinh tế, chính trị của một quốc gia Vì vậy, để hoạt động tín dụng Ngân hàng phát triển vững chắc, an toàn và hiệu quả, cần phải kiểm soát và hạn chế được rủi ro thông qua công tác quản trị rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng
Quản trị rủi ro tín dụng là xác định mức độ rủi ro tín dụng mà một Ngân hàng mong muốn, nhận diện được mức độ rủi ro hiện nay mà Ngân hàng đang gánh chịu và sử dụng các biện pháp và công cụ tài chính để điều chỉnh mức độ rủi ro theo mức rủi ro mong muốn
Hay nói cách khác, quản trị rủi ro tín dụng Ngân hàng là một quá trình chấp nhận rủi ro đã được tính toán trước chứ không phải là trốn tránh rủi ro và chấp nhận rủi ro là điều kiện cần thiết để thu lợi nhuận trong tương lai
1.4.4.2 Nguyên lý của quản trị rủi ro tín dụng Nguyên lý của quản trị rủi ro tín dụng
Tín dụng là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu, đồng thời cũng là nghiệp vụ có nguy
cơ rủi ro cao nhất của Ngân hàng Do vậy mối lo lắng lớn nhất trong hoạt động tín dụng của ngân hàng cũng chính là rủi ro tín dụng Để có thể hạn chế rủi ro tín dụng đến mức thấp nhất, các tổ chức tín dụng phải quản trị tín dụng
Quản trị tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chính sách và biện pháp quản lý tín dụng nhằm đạt mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững
Các khái niệm “lựa chọn đối nghịch” và “rủi ro đạo đức” đã cung cấp một khuôn khổ để hiểu các nguyên lý mà một ngân hàng phải thực hiện để giảm rủi
ro tín dụng và cấp các khoản tín dụng thành công
Trang 34- Lựa chọn đối nghịch xuất hiện trên thị trường tín dụng bởi vì những người
đi vay xấu (khả năng vỡ nợ lớn) lại là những người sẵn sàng chập nhận mọi điều kiện của khoản vay; nói cách khác, những khách hàng có nhiều khả năng đưa lại hậu quả không mong muốn, thì thường là những người được lựa chọn để cho vay Đó chính là sự lựa chọn đối nghịch trong tin dụng Những khách hàng với những dự án rủi ro càng cao, sẽ thu được càng nhiều lợi nhuận nếu dự án thành công theo nguyên lý tương quan giữa rủi ro và lợi nhuận, do đó họ là những người hăm hở nhất để vay được tiền Nhưng chính họ sẽ là người mang lại rủi ro cao nhất nếu dự án không thành công Rõ ràng là, họ là những người ít được mong đợi cho vay nhất, bởi vì khả năng không hoàn trả được nợ vay là rất lớn
- Rủi ro đạo đức tồn tại trên thị trường tín dụng bởi vì những người đi vay có thể phát sinh động cơ dính líu vào các hoạt động không được người cho vay mong muốn Trong tình huống như vậy, người cho vay sẽ trở thành đối tượng chịu rủi ro đạo đức Khi khách hàng đã nhận được khoản vay, họ có thể mạo hiểm đầu tư vào các dự án có rủi ro cao với kỳ vọng thu được nhiều hơn nếu thành công và không đầu tư vào các dự án như trong hợp đồng tín dụng đã nêu ra Điều này tương đương với việc rủi ro càng cao khiến cho khoản vay càng khó thu hồi
Để kinh doanh an toàn và có lãi, ngân hàng phải vượt qua được vấn đề “lựa chọn đối nghịch” và “rủi ro đạo đức”, là nguyên nhân chủ yếu khiến cho khoản tín dụng không thu hồi được Nỗ lực giải quyết các vấn đề này giúp giải thích hàng loạt các nguyên lý quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng, như: sàng lọc và giám sát, thiết lập mối quan hệ khách hàng lâu dài và tin tưởng, hạn mức tín dụng, thế chấp bảo đảm tiền vay, và hạn chế tiêu dùng
Trang 35
Sàng lọc và giám sát (screening and monitoring)Sàng lọc và giám sát (screening and monitoring)Sàng lọc và giám sát (screening and monitoring)
Thông tin bất cân xứng xuất hiện trên thị trường tín dụng bởi vì người cho vay có ít thông tin hơn so với người đi vay về dự án đầu tư và các hoạt động của chính người đi vay Trạng thái này khiến ngân hàng phải sản xuất thông tin để sàng lọc và giám sát khoản vay
- Sàng lọc: Lựa chọn đối nghịch trên thị trường tín dụng đòi hỏi người cho vay phải sàng lọc loại những người vay xấu ra khỏi những người vay tốt Muốn cho việc sàng lọc khách hàng vay có hiệu quả, ngân hàng phải tập hợp các thông tin tin cậy về những người vay tiền Trên cơ sở các thông tin thu thập được sẽ tiến hành tính điểm tín dụng, đánh giá xếp loại khách hàng có triển vọng tốt hay xấu để quyết định cho vay
- Theo dõi giám sát việc sử dụng vốn vay: Để hạn chế việc khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích hoặc sử dụng vốn vào các hoạt động kinh doanh có mức độ rủi ro cao, dẫn đến ít có khả năng trả nợ Trong quá trình cho vay, nhân viên tín dụng thường xuyên phải kiểm tra, đánh giá tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng, vấn đề tuân thủ theo các điều khoản đã ghi trong hợp đồng tín dụng, nếu họ không tuân theo có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế, thi hành những quy định của hợp đồng Điều này đòi hỏi việc soạn thảo hợp đồng tín dụng cần phải rõ ràng, đầy đủ, chính xác và chặt chẽ
Xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng Xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng
Xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng là một trong những nguyên lý quan trọng trong quản lý rủi ro tín dụng, đây là một cách để ngân hàng thu được thông tin chính xác hơn về những người vay tiền của họ
Nếu một khách hàng đã có quan hệ lâu đời với Ngân hàng trong các hoạt động gửi hoặc vay tiền, thì thông qua các giao dịch phát sinh trên tài khoản tiền
Trang 36gửi, tiền vay, nhân viên tín dụng có thể biết được nhu cầu và khả năng thanh toán của khách hàng…Qua đó giúp cho Ngân hàng giảm thiểu các chi phí có liên quan đến thu thập thông tin, đánh giá tiềm năng và rủi ro tín dụng của khách hàng Việc phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro tín dụng cũng trở nên dễ dàng và đảm bảo chính xác hơn Đối với khách hàng, mối quan hệ lâu dài với Ngân hàng cũng giúp họ dễ được vay Ngân hàng với mức lãi suất thấp, vì Ngân hàng phải bỏ ra ít chi phí hơn trong việc thu thập thông tin đánh giá khách hàng Vậy nên có thể nói một cách khác thì sự gắn bó chặt chẽ giữa Ngân hàng và khách hàng đem lại lợi ích cho cả hai: Ngân hàng sẽ giảm được rủi ro liên quan đến việc lựa chọn khách hàng, và khách hàng cũng được hưởng mức lãi suất vay thấp hơn
Hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng
Ngân hàng tạo mối quan hệ lâu dài và thu thập thông tin bằng cách phát hành “hạn mức tín dụng” cho các khách hàng Đó là cam kết của Ngân hàng: trong một khoảng thời gian nhất định sẽ cấp tín dụng cho doanh nghiệp tối đa bằng hạn mức đã duyệt theo mức lãi suất gắn với mức lãi suất thị trường tại thời điểm cho vay Hạn mức tín dụng là một phương thức hữu hiệu nhằm giảm chi phí Ngân hàng trong việc sàng lọc và thu thập thông tin
Bảo đảm tiền vay Bảo đảm tiền vay
Bảo đảm tiền vay là một trong những công cụ quan trọng để quản lý rủi ro tín dụng Biện pháp bảo đảm tiền vay hữu hiệu nhất là sử dụng tài sản thế chấp – Cho vay có tài sản đảm bảo Trong trường hợp khách hàng không hoàn trả được vốn vay và lãi, Ngân hàng có thể bán tài sản đảm bảo để bù đắp lại tổn thất của mình do món vay gây nên
Ngoài ra, Ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng mở tài khoản tại chính Ngân hàng mình và giữ lại một khoản vốn vay tối thiểu, chẳng hạn 5% giá trị món vay để dự phòng Bằng cách này Ngân hàng có thể giám sát đối với người
Trang 37vay tiền một cách có hiệu quả hơn, đồng thời giúp tăng được khả năng hoàn trả tiền vay Trong trường hợp nếu người vay vỡ nợ, ngân hàng lấy phần đó để bù đắp một phần món vay tổn thất
Tuy nhiên cần phải nhấn mạnh rằng, các khoản bảo đảm tiền vay – tài sản đảm bảo chỉ là phương án dự phòng, bù đắp một phần nào thiệt hại nếu rủi ro tín dụng xảy ra, chứ không thể phòng ngừa được toàn bộ rủi ro có thể xảy ra Vì vậy không nên có tâm lý quá lạm dụng vào tài sản đảm bảo
Bảo hiểm tín dụng Bảo hiểm tín dụng
Trong hoạt động tín dụng, có những khách hàng vay mang nhiều rủi ro, những vẫn là những khách hàng tiềm năng Để có thể hạn chế rủi ro mà vẫn giữ được khách hàng, Ngân hàng có thể chuyển rủi ro cho các chủ thể khác có khả năng chịu đựng rủi ro bằng cách thực hiện bảo hiểm tín dụng
Hạn chế tín dụng Hạn chế tín dụng
Để hạn chế rủi ro tín dụng, đôi khi Ngân hàng cũng cần phải từ chối cung cấp tín dụng cho những khách hàng có nhu cầu vay và sẵn sàng trả lãi suất cao, hoặc chỉ là đáp ứng một phần trong toàn bộ nhu cầu vay của khách hàng
Việc từ chối cho vay đối với khách hàng nhằm ngăn ngừa hiện tượng lựa chọn đối nghịch trong cho vay vì những khách hàng có khả năng vay vốn với lãi suất cao thường sử dụng vốn vay vào những dự án có mức độ rủi ro cao
Lập quỹ dự phòng rủi ro Lập quỹ dự phòng rủi ro
Quỹ dự phòng rủi ro tạo ra nguồn bù đắp tổn thất cho Ngân hàng khi có rủi
ro xảy ra Do vậy, lập quỹ dự phòng rủi ro được coi là một trong những biện pháp quan trọng để tăng khả năng chống đỡ rủi ro của Ngân hàng, giúp Ngân hàng có thể ổn định và phát triển được hoạt động kinh doanh trong trường hợp có rủi ro xảy ra Mỗi NHTM cần phải trích lập dự phòng rủi ro đúng và đủ theo quy định của pháp luật
Trang 381.4.4.3 Nội dung hoạt động quản trị rủi ro tín dụng Nội dung hoạt động quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị rủi ro tín dụng là một phần của hệ thống quản trị rủi ro hoạt động của NHTM Vì vậy, nội dung của quá trình quản trị rủi ro tín dụng cũng dựa trên nền tảng hoạt động của một chương trình quản trị rủi ro nói chung Một chương trình quản trị rủi ro toàn diện bao gồm bốn yếu tố sau: xác định hạn mức rủi ro, đánh giá rủi ro, theo dõi tổng thể rủi ro và đánh giá việc quản trị rủi ro
Xác định hạn mức rủi ro (đưa ra Xác định hạn mức rủi ro (đưa ra Xác định hạn mức rủi ro (đưa ra mức rủi ro chấp nhận được)mức rủi ro chấp nhận được)mức rủi ro chấp nhận được)
Các bộ phận nghiệp vụ chịu rủi ro phải xác nhận hạn mức rủi ro cho bộ phận mình, là mức rủi ro nhất định mà Ngân hàng có thể chấp nhận được trong nỗ lực để có được lợi nhuận, trên cơ sở sẵn sàng chịu đựng rủi ro và sức mạnh tài chính của Ngân hàng, trên cơ sở sẵn sàng chịu đựng rủi ro và sức mạnh tài chính của Ngân hàng HĐQT theo định kỳ có trách nhiệm xem xét lại và thông báo các hạn mức đó Các mức này sau đó được thông báo tới toàn bộ nhận viên, bộ phận nghiệp vụ và ban điều hành, ban điều hành chịu trách nhiệm đảm bảo các bộ phận nghiệp vụ tuân thủ các hạn mức này
Đánh giá rủi roĐánh giá rủi roĐánh giá rủi ro
Việc đánh giá rủi ro đòi hỏi phải xác định được những rủi ro liên quan đến những sản phẩm, dịch vụ hay hoạt động của Ngân hàng, phải có các chốt kiểm tra nằm trong quy trình nghiệp vụ (hệ thống kiểm soát nội bộ) để kiềm chế rủi ro trong các hạn mức đã được đề ra cùng với các biện pháp để theo dõi các trường hợp ngoại lệ vượt hạn mức rủi ro
Quy trình đánh giá rủi ro có bốn yếu tố: Nhận biết rủi ro, định lượng rủi ro, theo dõi rủi ro và kiểm soát rủi ro
- Nhận biết rủi ro: Bước đầu tiên để có một chương trình quản trị rủi ro hiệu quả là phải nhận biết và xác định được các loại rủi ro mà Ngân hàng có thể
Trang 39gặp phải thông qua phân tích đặc thù của các sản phẩm, dịch vụ và các quy trình hoạt động
- Định lượng rủi ro: là việc đề ra và xem xét lại hạn mức rủi ro, giúp ban điều hành xác định được rủi ro cần được ưu tiên theo dõi và kiểm soát Việc định lượng rủi ro được xác định trên cơ sở thống kê, dựa trên hai biến số: khả năng mất mát và tần số mất mát Khả năng mất mát thể hiện con số tuyệt đối của từng khoản mất mát Tần số mất mát thể hiện khả năng mất mát có thể xuất hiện Ngoài hai biến số trên, các yếu tố khác như luật pháp, quy chế, tình hình kinh tế và thị trường, kế hoạch của từng bộ phận cũng được xem xét trong mô hình này
- Theo dõi rủi ro: Là việc thực hiện đầy đủ các hệ thống, các thủ tục kiểm soát, nhờ đó Ban điều hành có thể theo dõi được mức rủi ro của từng lĩnh vực kinh doanh Công việc theo dõi rủi ro bao gồm cả việc thường xuyên đánh giá tính tổn thất của các loại rủi ro, mức độ rủi ro thực tế, việc trao đổi thông tin trong nội bộ Ngân hàng, xem xét lại các số liệu, điều tra việc đi chệch chính sách đã đề ra Công việc này đòi hỏi Ngân hàng phải có các hệ thống thông tin hoàn hảo để Ban điều hành và Hội đồng quản trị nhận được mọi thông tin và báo cáo một cách kịp thời
- Kiểm soát rủi ro: Rủi ro được kiểm soát bằng việc thực hiện các thủ tục nằm trong hệ thống kiểm soát nội bộ trong các quy trình kinh doanh và hoạt động nhằm giảm thiểu rủi ro Chi phí cho các thủ tục kiểm soát cao có thể giảm thiểu rủi ro tối đa nhưng hiệu quả thấp, ngược lại chi phí cho các thủ tục kiểm soát thấp có thể đem lại lợi nhuận nhưng rủi ro cũng có thể cao Ban điều hành phải tìm ra sự cân đối tối ưu giữa chi phí cho các thủ tục kiểm soát và lợi ích đem lại từ các thủ tục đó, từ đó lựa chọn các thủ tục kiểm soát rủi ro phù hợp Với mỗi loại rủi ro người ta cần có biện pháp kiểm soát
Trang 40tương ứng Mọi nhân viên có liên quan phải được đào tạo và được phổ biến đầy đủ về các hướng dẫn thực hiện các biện pháp giảm thiểu rủi ro Ban điều hành có trách nhiệm phát hiện điểm yếu kém, thiếu sót của hệ thống các biện pháp kiểm soát một cách kịp thời để điều chỉnh, bổ sung
Theo dõi tổng thể rủi ro:Theo dõi tổng thể rủi ro:Theo dõi tổng thể rủi ro:
Theo dõi tổng thể rủi ro là việc phân phối các quá trình quản trị rủi ro Cần thiết lập một bộ phận đặc biệt, độc lập với các bộ phận chức năng chịu rủi ro gọi là phòng quản trị rủi ro, thực hiện chức năng theo dõi tổng thể rủi ro
Phòng quản trị rủi ro phải phối hợp chặt chẽ với tất cả các bộ phận chức năng liên quan để đảm bảo rằng tất cả rủi ro hiện tại và tương lai đều được nhận biết, các loại rủi ro được kiểm soát một cách hiệu quả trong hạn mức rủi ro Nhân viên phòng quản trị rủi ro phải được đào tạo ở tất cả các lĩnh vực trong Ngân hàng về nguyên tắc quản trị rủi ro, hỗ trợ các trưởng bộ phận chức năng đánh giá rủi ro, xác định sự ưu tiên trong quản trị rủi ro, đảm bảo các biện pháp kiểm soát rủi ro hiệu quả, phù hợp được thực hiện Phòng quản trị rủi ro cần báo cáo trực tiếp kết quả công việc của họ cho Hội đồng quản trị hay cho một ban do HĐQT ủy nhiệm
Đánh giá quản trị rủi ro:Đánh giá quản trị rủi ro:
Là việc kiểm tra và đánh giá tính hiệu quả của chương trình quản trị rủi ro Kiểm toán nội bộ có trách nhiệm đánh giá công việc quản trị rủi ro bao gồm cả việc xem xét các bộ phận kinh doanh có quản trị rủi ro trong hạn mức rủi ro hay không, liệu phòng quản trị rủi ro có thực hiện đúng, đủ các chức năng của mình hay không Đây là một khâu quan trọng trong nội dung quản trị rủi ro, vì qua đó có thể kịp thời phát hiện những lỗ hổng trong hệ thống quản trị, chấn chỉnh và sữa chữa để tránh phát sinh rủi ro