Báo hiệu đường dây Các tín hiệu đường dây hướng đi * Tín hiệu chiếm Là tín hiệu được gửi đi khi bắt đầu cuộc gọi nhằm thiết lập lại trạng thái mạch vào từ trạng thái rỗi sang trạng thái
Trang 1Thảo Luận Môn Học
Kỹ thuật chuyển mạch và tổng đài số
Chủ đề :Tìm hiểu báo hiệu kênh kết hợp-hệ thống
báo hiệu R2
Sv : Triệu văn Mạnh
Bùi Văn tài
Trang 21.1 KHÁI QUÁT
Hệ thống báo hiệu R2 là hệ thống báo hiệu kênh riêng, được thiết kế
để phục vụ cho chức năng trao đổi thông tin giữa các tồng đài trong mạng viễn thông Hệ thống báo hiệu này được sử dụng cho cả mạng
quốc gia và mạng quốc tế
Hệ thống báo hiệu R2 cũng thích hợp cho các phương thức tự động
và bán tự động Đồng thời nó có thể áp dụng cho các đường trung kế tương tự (Analog) hay trung kế số (Digital).Hệ thống báo hiệu R2 được
phân thành hai loại:
Báo hiệu đường dây
Báo hiệu thanh ghi
Trang 31.2 phương thức truyền tín hiệu của báo hiệu R2
Hệ thống báo hiệu R2 được thực hiện theo giao thức bắt
buộc Điều này thể hiện ở chỗ tín hiệu hướng đi được gửi đi liên tục cho tới khi nhận được tín hiệu hướng về từ tổng đài đầu kia Việc báo hiệu được thực hiện giữa bộ truyền mã CS (Code Sender) và bộ nhận mã CR (Code Receiver) Trong bộ
truyền mã CS, ngoài các thiết bị truyền để truyền tín hiệu, báo hiệu còn có các thiết bị nhận để nhận tín hiệu điều khiển
Tương tự như vậy, bộ nhận mã CR cũng có các thiết bị nhận và thiết bị truyền tín hiệu.
Quá trình truyền bắt buộc trong báo hiệu R2 được thực hiện như sau:
Trang 4s R R S
a c
b
f
e d
g
Hình 1.1 Báo hiệu bắt buộc
Trang 5a Tín hiệu được truyền liên tục dưới dạng mã đa tần từ bộ CS
Trang 6e Bộ CR nhận thấy bộ CS đã ngừng truyền tín hiệu thứ nhất, nó
ra lệnh cho thiết bị truyền của nó ngừng truyền tín hiệu điều
khiển vì biết rằng CS đã nhận được tín hiệu này
f Bộ CS nhận thấy tín hiệu điều khiển đã ngừng truyền Nó chuẩn
bị truyền tín hiệu thứ hai
g Bộ CS tiếp tục truyền tín hiệu thứ hai và quá trình trên lại
được lặp lại
Trang 7Báo hiệu đường dây
Các tín hiệu đường dây hướng đi
* Tín hiệu chiếm
Là tín hiệu được gửi đi khi bắt đầu cuộc gọi nhằm thiết lập lại trạng thái mạch vào từ trạng thái rỗi sang trạng thái bị chiếm
* Tín hiệu xoá thuận
Là tín hiệu được gửi đi để kết thúc cuộc gọi, nhằm giải phóng tổng đài bị gọi và các khối chuyển mạch đang tham gia phục
vụ cho cuộc gọi
Trang 8Các tín hiệu đường dây hướng về
* Tín hiệu công nhận chiếm
Sau khi nhận được tín hiệu chiếm tổng đài bị gọi sẽ phát tín hiệu công nhận chiếm cho tổng đài gọi xác nhận việc mạch vào đã
chuyển từ trạng thái rỗi sang trạng thái bị chiếm
Trang 9* Tín hiệu xoá ngược
Là tín hiệu gửi đến tổng đài gọi khi thuê bao bị gọi đặt máy Trong chế độ bán tự động, tín hiệu này thực hiện chức năng
giám sát
* Tín hiệu giải phóng hoàn toàn
Tại tổng đài bị gọi sau khi nhận được tín hiệu xoá thuận
sẽ gửi về tổng đài gọi tín hiệu giải phóng hoàn toàn để xác định
đã sẵn sàng phục vụ các khối chuyển mạch và tổng đài bị gọi hoàn toàn tự do, sẵn sàng phục vụ cho cuộc gọi khác
Trang 10* Tín hiệu khoá mạch
Tín hiệu này được gửi trên các mạch rỗi tới tổng đài gọi để gây nên trạng thái bận nhằm bảo vệ việc
chiếm mạch tiếp theo.
Các phiên bản báo hiệu đường dây
Trong báo hiệu đường dây có hai phiên bản (Version), một phiên bản dùng cho báo hiệu đường dây tương tự (Analog) và một phiên bản dùng cho báo hiệu
đường dây số (Digital).
Trang 11Phiên bản báo hiệu đường dây tương tự:
Nguyên tắc truyền của phiên bản này là có âm hiệu khi rỗi và
không có âm hiệu khi bận
Trong báo hiệu đường dây kiểu tương tự, đối với mỗi hướng truyền dẫn cần phải có một kênh báo hiệu sử dụng tần số ngoài băng thoại là 3825Hz Trạng thái đường dây được phản ánh qua
bảng sau đây:
Trang 13Các điều kiện để thực hiện báo hiệu đường dây:
Tần số báo hiệu danh định là 3825Hz
Sai số so với tần số trên không vượt quá 4Hz
Thời gian để chuyển trạng thái có âm hiệu sang không có âm
hiệu là 40 ± 10 (ms)
Thời gian nhỏ nhất để nhận biết có âm hiệu ở hướng đi và mất
âm hiệu ở hướng về là 250 ± 50 (ms)
Phiên bản báo hiệu đường dây số:
Trong hệ thống truyền dẫn số PCM 30/32 người ta sử dụng một kênh thoại (TS16) để tổ chức hai kênh báo hiệu ở các khung 1 –
15 Sự sắp xếp các kênh báo hiệu trong khe thời gian TS16 của hệ
thống PCM 30 như sau:
Trang 15Hướng đi gồm bit a f và bit b f
Hướng về gồm bit a b và bit b b
Trang 16Trong đó:
-a f: : cho biết trạng thái hoạt động của các thiết bị chuyển mạch
đầu gọi ra và trạng thái của đường dây thuê bao gọi
-b f.: cho biết có sự cố trên hướng từ tổng đài gọi tới tổng đài bị gọi
-a b: cho biết trạng thái của thuê bao bị gọi
-b b: cho biết thiết bị chuyển mạch ở tổng đài bị gọi rỗi hay bận.
Trang 17Báo hiệu thanh ghi
Báo hiệu thanh ghi trong hệ thống báo hiệu R2 được sử dụng ở nước ta là kiểu báo hiệu bị khống chế, nghĩa là báo hiệu mà việc truyền thông tin giữa các tổng đài được thực hiện lần lượt theo
sự hỏi đáp
Trong báo hiệu R2 người ta sử dụng mã đa tần là các tổ hợp hai trong sáu tần số để truyền báo hiệu thanh ghi giữa các tổng đài Các mã đa tần này sẽ được thu và phát bởi các thiết bị mã đa
tần
Thứ tự các tổ hợp mã theo hai hướng được quy định theo bảng
sau đây:
Trang 19Báo hiệu hướng đi: Các tín hiệu hướng đi được chia thành hai nhóm: tín hiệu nhóm I và tín hiệu nhóm 2.
a) Báo hiệu hướng đi nhóm I:
Các tín hiệu nhóm I chủ yếu mang thông tin về địa chỉ của thuê bao bị gọi.
Trang 20b) Báo hiệu hướng đi nhóm II:
Các tín hiệu nhóm II là tín hiệu chỉ thị về đặc tính cuộc gọi và thuê bao chủ gọi
Trang 21Báo hiệu hướng về
Báo hiệu hướng về được chia làm hai nhóm: báo hiệu hướng về
nhóm A và báo hiệu hướng về nhóm B
a) Báo hiệu hướng về nhóm A:
Các tín hiệu nhóm A được sử dụng để trả lời xác nhận cho các tín hiệu hướng đi nhóm I (trong một số trường hợp được dùng để trả lời cho các tín hiệu hướng đi nhóm II) và thực hiện chức năng
chuyển đưa các thông tin báo hiệu
Trang 23b) Báo hiệu hướng về nhóm B:
Các tín hiệu hướng về nhóm B cũng dùng để trả lời xác nhận cho một hướng
đi nhóm II trong thủ tục báo hiệu bắt buộc Đồng thời các tín hiệu này thực hiện chức năng chuyển đưa các thông tin về trạng thái thiết bị chuyển mạch
hay trạng thái đường dây thuê bao bị gọi
Trang 24
Các phương pháp truyền tín hiệu báo hiệu thanh ghi
- Trong quá trình kết nối cuộc gọi từ tổng đài chủ gọi đến tổng đài bị gọi có thể có một số tổng đài khác tham gia kết nối Và báo hiệu thanh ghi có ba phương pháp truyền như sau:
- Truyền báo hiệu kiểu từng chặng (Link By Link).
- Truyền báo hiệu kiểu xuyên suốt (End To End)
- Truyền báo hiệu kiểu hỗn hợp (Mixed).
Trang 251 Phương pháp truyền báo hiệu kiểu từng chặng
Phương pháp này liên quan đến việc truyền tín hiệu giữa các tổng đài kế cận Với báo hiệu kiểu từng chặng, số hiệu của thuê bao bị gọi sẽ bị giảm dần qua mỗi tổng đài quá
giang, từ đầy đủ cho đến khi chỉ còn một phần của số bị gọi
Trang 26* Ưu điểm: Dễ dàng phát hiện các tín hiệu (nhiễu, méo do trễ, méo do nhiễu…).
* Nhược điểm:
-Tại các tổng đài quá giang, các thanh ghi vừa phải có chức
năng nhận số hiệu vừa phải có chức năng gửi số hiệu Do vậy việc xử lý tại các thanh ghi này phức tạp hơn.
- Thời gian thiết lập cuộc gọi lâu vì số các số hiệu truyền trên tuyến lớn.
- Khi sử dụng các tín hiệu thanh ghi hướng về thì thời gian
chiếm các thanh ghi quá giang tăng lên do tất cả các thanh ghi trên một kết nối nhiều liên kết phải được kết nối để
truyền về tín hiệu cuối cùng
Trang 272 Phương pháp truyền báo hiệu kiểu xuyên suốt
Trong báo hiệu kiểu xuyên suốt, các thanh ghi của tổng đài quá giang chỉ nhận các số đủ để định tuyến Thanh ghi của tổng đài xuất phát cuộc gọi sẽ làm việc trong suốt thời gian thiết lập cuộc gọi, nó cần được chuẩn bị dể gửi một phần thông tin địa chỉ khi có yêu cầu bằng các tín hiệu hướng về Thanh ghi quá giang sẽ được giải phóng khỏi kết nối khi kết nối được phát triển lên phía trước từ
tổng đài quá giang đó
Trang 28TĐ A TĐ B TĐ C TĐ DKhu vực Hà Nội (04) Khu vực Nam Định (0350)
Trang 29Ưu điểm:
- Các thanh ghi của tổng dài xuất phát cuộc gọi được phép điều khiển thiết lập cuộc gọi Từ đó cho phép các khả năng định tuyến từ tổng đài xuất phát
- Tại các tổng đài quá giang, các thanh ghi chỉ có chức năng nhận một phần
số hiệu thuê bao bị gọi chứ không cần gửi Do đó quá trình xử lý tại các thanh ghi này dễ dàng hơn
- Thời gian thiết lập cuộc gọi nhanh vì số các số hiệu truyền trên tuyến ít.
- Thời gian chiếm các thanh ghi của các tổng đài quá giang giảm xuống.
- Giảm lượng trễ sau khi quay số vì các thanh ghi được giải phóng sớm hơn, thông mạch nhanh hơn.
Trang 303 Phương pháp truyền báo hiệu kiểu kết hợp
Đây là phương pháp vừa sử dụng báo hiệu kiểu từng chặng vừa sử dụng báo hiệu kiểu xuyên suốt.