1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI BÁO CÁO-THIẾT KẾ QUY HOẠCH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

27 396 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 2,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những hạn chế chính của điều kiện tự nhiên là a ảnh hưởng của lũ trên diện tích 1,9 triệu ha ở vùng đầu nguồn; b mặn xâm nhập trên diện tích khoảng 1,2-1,6 triệu ha ở vùng ven biển, ứng

Trang 1

Thời gian thực hiện: 18 tháng (9/2009-3/2011)

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thuộc lãnh thổ Việt Nam và nằm trong lưu vực sông Mekong Sông Mekong dài 4.200 km, chảy qua 6 nước là Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam, có diện tích lưu vực 795.000 km 2 , trong đó vùng Châu thổ 49.367 km 2 ĐBSCL là phần cuối cùng của Châu thổ sông Mekong, bao gồm 13 tỉnh/thành là Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và T.P Cần Thơ, với tổng diện tích tự nhiên khoảng 3,96 triệu ha, chiếm 79% diện tích toàn Châu thổ và bằng 5% diện tích toàn lưu vực sông Mekong

ĐBSCL có vị trí rất quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội của cả nước Với tiềm năng nông nghiệp to lớn, trong những năm qua, ĐBSCL luôn đóng góp trên 50% tổng sản lượng lương thực, quyết định thực hiện thành công chiến lược an ninh lương thực Quốc gia và chiếm chủ đạo trong xuất khẩu gạo (hơn 90%), từ 2005 đến nay mỗi năm trung bình 4,5-6,0 triệu tấn Đồng thời, ĐBSCL cũng cung cấp khoảng 70% lượng trái cây, trên 40% sản lượng thuỷ sản đánh bắt và trên 74,6% sản lượng thuỷ sản nuôi trồng của cả nước

Nổi bật lên nhất trong kết quả tăng trưởng của vùng phải kể đến sản lượng lúa

từ 2005 đến nay luôn đạt trên 18,0 triệu tấn Trong 20 năm trở lại đây, cứ trung bình 5 năm ĐBSCL lại tăng thêm khoảng 2,5 triệu tấn hay trung bình mỗi năm tăng thêm 500 ngàn tấn Năm 2010 ước đạt trên 21 triệu tấn Tổng sản lượng hải sản năm 2008 đạt trên 2 triệu tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng đạt trên 1,42 triệu tấn, đặc biệt sản lượng cá da trơn tăng nhanh trong mấy năm vừa qua

Kim ngạch xuất khẩu toàn vùng năm 2008 đạt 4,176 tỷ USD, trong đó thủy sản chiếm 65% sản lượng và 90% sản lượng xuất khẩu cả nước Giá trị công nghiệp năm

2007 trên địa bàn đạt trên 85.820 tỷ đồng

Công, nông nghiệp, xuất khẩu phát triển đã đưa cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm nông nghiệp, tăng công nghiệp và dịch vụ, với tỷ lệ năm 2008 với nông-lâm-ngư nghiệp là 45,9%; công nghiệp-xây dựng 21,3%; thương mại-dịch vụ 32,8% Đặc biệt khi nhìn lại kết quả chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) các năm gần đây, vùng ĐBSCL được đánh giá khá lạc quan

Tầm quan trọng của ĐBSCL đối với cả nước được thể hiện ở ảnh hưởng to lớn của vùng trong cán cân phát triển chung, trong đó, sản lượng lương thực không chỉ luôn chiếm hơn 50% sản lượng toàn quốc, mà còn nhờ vào sự ổn định nên có tỷ trọng an ninh lương thực cao hơn hẳn so với 2 vùng Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải miền Trung

Tuy nằm ở hạ lưu châu thổ sông Mekong, thừa hưởng nhiều thuận lợi từ vị trí địa lý, nguồn nước phong phú và được điều tiết tự nhiên bởi Biển Hồ, bờ biển và vùng biển rộng lớn với nhiều tài nguyên, đất đai bằng phẳng, màu mỡ và được phù sa bồi đắp hàng năm, thủy sản dồi dào với nhiều giống loài , song ĐBSCL cũng phải luôn đối

Trang 2

2

mặt với không ít khó khăn và hạn chế trong điều kiện tự nhiên, với những tác động không nhỏ và khôn lường từ các hoạt động ở thượng lưu, và hơn cả là với các mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ngay chính đồng bằng này

Trong tiến trình phát triển kinh tế-xã hội ở ĐBSCL, những hạn chế về điều kiện tự nhiên là rào cản không nhỏ, nếu không muốn nói là cực kỳ to lớn, đặc biệt đối với sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân Những hạn chế chính của điều kiện tự nhiên là (a) ảnh hưởng của lũ trên diện tích 1,9 triệu ha ở vùng đầu nguồn; (b) mặn xâm nhập trên diện tích khoảng 1,2-1,6 triệu ha ở vùng ven biển, ứng với độ mặn 4g/l; (c) đất phèn và sự lan truyền nước chua trên diện tích khoảng 1,2 triệu ha ở những vùng thấp trũng; (d) thiếu nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt trên diện tích khoảng 2,1 triệu ha ở những vùng xa sông, gần biển; và (e) xói lở bờ sông, bờ biển xảy ra nhiều nơi và ngày càng nghiêm trọng, cộng với nạn cháy rừng thường xảy ra, ô nhiễm nguồn nước ngày càng nghiêm trọng…

Để đáp ứng với nhu cầu phát triển của ĐBSCL, trong hơn 30 năm qua, nhiều công trình thủy lợi đã được đề xuất và xây dựng, đến nay diện tích ảnh hưởng mặn chỉ còn khoảng dưới 500.000 ha và diện tích ảnh hưởng chua phèn giảm đến mức tối thiểu chỉ còn dưới 100.000 ha Đặc biệt, từ 1996, sau khi có Quyết định 99-TTg về phát triển thủy lợi kết hợp với giao thông và dân cư, phê duyệt quy hoạch kiểm soát và sử dụng nước lũ của Thủ tướng Chính phủ năm 1998, cộng với Quyết định 84/TTg về danh mục đầu tư thuỷ lợi trong giai đoạn 2005-2015, mở đầu cho hàng loạt công trình thuỷ lợi ra đời, là động lực và đòn bẩy quan trọng cho vùng ĐBSCL có cơ hội và điều kiện phát triển nhanh chóng hơn Chính nhờ sự phát triển thủy lợi mang tính chiến lược ấy, cùng với ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật và động lực phát triển khác, ĐBSCL đã đưa sản lượng lúa từ 4,5 triệu tấn năm 1976 lên 18,3 triệu tấn năm 2004, 19,2 triệu tấn năm

2007 và 21,3 triệu tấn năm 2010, tạo những bước nhảy vọt mang tầm vóc lịch sử Song, với những biến động thiên nhiên và thị trường trong những năm qua, cùng với việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất với quy mô lớn và rộng khắp từ năm 2001 đến nay, đã

và đang đặt ra nhiều vấn đề cho công tác phát triển thủy lợi Những vấn đề đó không chỉ là những bài toán đặt riêng ngành thủy lợi, như kiểm soát lũ, cấp nước, tiêu nước, kiểm soát mặn, phòng chống xói lở bờ mà còn là sự phối hợp để giải bài toán đa mục tiêu với thủy lợi phục vụ cho phát triển nông nghiệp, dân cư, giao thông, cấp nước sinh hoạt, công nghiệp và đặc biệt là phục vụ phát triển thủy sản (mặn, lợ)

Thêm vào đó, trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu ngày càng thể hiện rõ nét

và diễn biến phức tạp, đặc biệt là trên 2 yếu tố dòng chảy từ thượng lưu và nước biển dâng Nếu như tác động của BĐKH lên giá trị trung bình xảy ra từ từ, phải mất hàng chục năm, thì tác động lên các giá trị cực trị xảy ra nhanh và ngày càng khốc liệt hơn Trong 10 năm qua, ĐBSCL đã xuất hiện 3 năm lũ lớn liên tiếp là 2000, 2001 và 2002 (trong đó lũ năm 2000 được xem là lũ lịch sử); 8 năm liền có lũ dưới trung bình và nhỏ (trong đó có lũ năm 2008 và 2010 là 2 năm lũ nhỏ lịch sử); 8 năm liền dòng chảy kiệt dưới trung bình (trong đó năm 2004, 2008 và 2010 là những năm thấp hơn cả, gây hạn hán nghiêm trọng và xâm nhập mặn sâu); bão lớn đổ bộ vào 2 năm 1997 (Linda) và

2006 (Durian); xói lở bờ sông, bờ biển xảy ra nhiều nơi với số lần tăng hơn (trên sông Tiền các năm 2001, 2002, 2004, 2005, sông Hậu các năm 2009, 2010 và ven biển Cà Mau 2 năm gần đây); cháy rừng xảy ra vào năm 2002 ở Vườn Quốc gia U Minh Thượng; tố lốc xuất hiện ngày càng nhiều và nguồn nước ngày càng bị ô nhiễm

Trang 3

3

Do vậy, để đáp ứng với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội trong giai đoạn 2020/2030 và tầm nhìn đến 2050, đặc biệt là ứng phó chủ động và hiệu quả với các tác động từ BĐKH, nước biển dâng và phát triển của các nước thượng lưu, trong đó có phát triển thuỷ điện, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao Viện Quy hoạch Thuỷ lợi miền Nam thực hiện Dự án “Quy hoạch thuỷ lợi tổng hợp Đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng”, được thực hiện trong 22 tháng, từ tháng 9/2009 đến tháng 6/2011

2010-Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là một trong các 2010-Bộ đã sớm xây dựng chương trình thích ứng với BĐKH-nước biển dâng lên nguồn nước, ngập lụt, hạn hán, sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực và hiện đang tích cực thực hiện các quy hoạch thuỷ lợi thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho 3 vùng ĐBSCL, Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải miền Trung

Quy hoạch tổng thể thủy lợi ĐBSCL trong điều kiện BĐKH, NBD là một dự án lớn

và phức tạp, cả về quy mô phối hợp (đa ngành), trải rộng theo không gian (toàn ĐBSCL) và nhìn về tương lai (dự báo đến 2020/2030 và tầm nhìn đến 2050), trong khi các ngành khác hoặc chưa quy hoạch đến 2020, hoặc chưa quy hoạch ứng phó với BĐKH, NBD và lại phải thực hiện trong thời gian ngắn Vì thế, trong quá trình thực hiện, Viện đã tiến hành nhiều cuộc hội thảo với 13 tỉnh/thành ĐBSCL và tất cả các ngành liên quan, cũng như mời các chuyên gia trong và ngoài ngành tham dự để lấy ý kiến đóng góp cho quy hoạch này

I PHẠM VI QUY HOẠCH

Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm 13 tỉnh, thành phố là Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau và thành phố Cần Thơ, với tổng diện tích tự nhiên khoảng 3,96 triệu ha, dân số khoảng 18 triệu người

II QUAN ĐIỂM

- Xuất phát từ thực tế ở Đồng bằng sông Cửu Long trong điều kiện biến đổi ngày càng bất lợi của thời tiết, khí hậu, thuỷ văn; phù hợp với quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp (cây trồng, vật nuôi) của nhân dân các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; nâng cao giá trị sản xuất hàng hoá trên một đơn vị diện tích

- Điều chỉnh bổ sung quy hoạch thuỷ lợi trên cơ sở kế thừa, cập nhật, bổ sung, điều chỉnh Quy hoạch thuỷ lợi Đồng bằng sông Cửu Long đã được phê duyệt theo Quyết định số 84/2006/QĐ-TTg ngày 19/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ; phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực thuộc Đồng bằng sông Cửu Long

- Điều chỉnh quy hoạch thuỷ lợi góp phần bảo vệ, phát triển tài nguyên nước, tài nguyên đất vùng ĐBSCL; kết hợp hài hoà giải pháp công trình và phi công trình, nhất

là các giải pháp về quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi; tận dụng hiệu quả các lợi ích

do thiên nhiên mang lại (lũ mang phù sa, nguồn lợi thuỷ sản, vệ sinh đồng ruộng, sinh thái mặn và nuôi trồng thuỷ sản ); hạn chế tác hại do nước gây ra, nhất là hạn hán, lũ lụt, xâm nhập mặn, các tác hại do biến đổi khí hậu, nước biển dâng; bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững

Trang 4

4

- Ưu tiên điều chỉnh, bổ sung danh mục công trình nhằm khép kín, hoàn thiện các hệ thống thủy lợi lớn trong vùng đã được đề xuất trong Quyết định 84/2006/QĐ-TTg nhằm phát huy hiệu quả của các công trình; các công trình phát huy hiệu ích tổng hợp, phục vụ

đa mục tiêu; các công trình, hệ thống có đủ năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; đảm bảo các tiêu chí về kinh tế, kỹ thuật, xã hội và môi trường

- Các phương án quy hoạch phát triển thuỷ lợi tuy đã được lựa chọn nhưng vẫn là những phương án “mở” để có thể điều chỉnh, thay đổi khi cần thiết Mỗi công trình, hệ thống công trình đề xuất cũng đều đáp ứng các tiêu chí về kinh tế, kỹ thuật, xã hội và môi trường

- Huy động mọi nguồn lực từ ngân sách Nhà nước, các nguồn vốn hợp pháp khác trong nước và ngoài nước, đóng góp của người dân vùng hưởng lợi để đầu tư xây dựng công trình theo Quy hoạch.   

III MỤC TIÊU QUY HOẠCH

3.1 Mục tiêu chung

- Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch nhằm hoàn thiện hệ thống thuỷ lợi, phục vụ sản xuất nông nghiệp trong tình hình mới, chủ động thích ứng trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng; góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững;

- Căn cứ nội Quy hoạch này, các ngành, các cấp xây dựng, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cho phù hợp với định hướng phát triển chung của ĐBSCL nói riêng và lưu vực sông Mê Công nói chung;

- Điều chỉnh, bổ sung các chương trình, dự án ưu tiên đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi và kế hoạch thực hiện hàng năm giai đoạn 2010-2020; sau năm 2020 và định hướng đến năm 2050;

- Đề xuất, kiến nghị các vấn đề còn tồn tại, tiếp tục nghiên cứu bổ sung quy hoạch nhất

là trong điều kiện sử dụng nước thượng lưu sông Mê Công, tình hình biến đổi khí hậu

và nước biển dâng trong tương lai. 

3.2 Mục tiêu cụ thể

- Phát triển thuỷ lợi góp phần đảm bảo an toàn dân sinh, sản xuất, cơ sở hạ tầng cho khoảng 32 triệu dân ĐBSCL (ước tính đến năm 2050), trong đó khoảng 20 triệu dân vùng ngập lũ và 12 triệu dân vùng ven biển;

- Hoàn thiện hệ thống thuỷ lợi góp phần đảm bảo an ninh lương thực Quốc gia; chủ động cấp nước, tiêu thoát nước, kiểm soát lũ, kiểm soát mặn ổn định cho 1,781 triệu ha đất lúa vùng ĐBSCL; chủ động nguồn nước đảm bảo lịch thời vụ và quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi (tập trung vào vụ 3 trong năm); đề xuất giải pháp cung cấp nước ngọt, nước mặn ổn định và bền vững cho khoảng 0,7 triệu ha diện tích nuôi trông thuỷ sản nước lợ và nước ngọt;

- Hoàn chỉnh hệ thống đê biển, đê bao ngăn mặn ven biển và dọc sông, cùng với hệ thống cống điều tiết nhằm ngăn mặn, giữ ngọt phục vụ sản xuất nông nghiệp theo hướng gia tăng giá trị và lợi nhuận trên một đơn vị diện tích, khai thác tốt nhất ba thế mạnh: Sản xuất lúa; Nuôi trồng thuỷ sản; Trồng và chế biến các loại rau, quả và thực phẩm đem lại hiệu quả cao;

Trang 5

IV NHIỆM VỤ CHỦ YẾU CỦA QUY HOẠCH

- Phối hợp với các ngành, các địa phương cập nhật, bổ sung quy hoạch phát triển trên

cơ sở tiếp tục triển khai các công trình theo Quyết định 84/2006/QĐ-TTg

- Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch thuỷ lợi ĐBSCL trong điều kiện BĐKH-NBD phù hợp với Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu

- Trên cơ sở định hướng Chiến lược phát triển thủy lợi, Chiến lược phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, triển khai hoàn thiện, khép kín hệ thống thuỷ lợi đã đề xuất trong Quy hoạch để phát huy nhiệm vụ thiết kế Điều chỉnh mục tiêu, nhiệm vụ của các công trình

đã đề xuất đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới Xây dựng mới các công trình phục vụ

đa mục tiêu ứng phó với BĐKH-NBD

V TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN THUỶ LỢI Ở ĐBSCL

5.1 Tình hình đầu tư thuỷ lợi ĐBSCL

Ngày 09/02/1996, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 99/QĐ-TTg về “Định hướng dài hạn và kế hoạch 5 năm 1996-2000 đối với việc phát triển thủy lợi, giao thông và xây dựng nông thôn vùng ĐBSCL” Theo quyết định này, ngay từ 1996, nhiều

công trình thủy lợi kết hợp với giao thông, đặc biệt là giao thông nông thôn và bố trí dân cư đã được triển khai, nâng cao hiệu quả của các công trình kết cấu hạ tầng cơ sở cho vùng ĐBSCL

Ngày 21/6/1999, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định 144/QĐ-TTg về phê duyệt

“Quy hoạch về kiểm soát và sử dụng nước lũ vùng ĐBSCL giai đoạn từ nay đến 2010”

Với Quyết định này, sự đầu tư cho vùng lũ được đẩy mạnh, mà tập trung trước hết là vùng Tứ giác Long Xuyên Chỉ trong 4 năm, 1996-1999, nhiều công trình trong hệ thống kiểm soát lũ vùng TGLX ra đời và đến nay, hệ thống kiểm soát lũ này đã khá hoàn chỉnh, bao gồm các tuyến thoát lũ ra biển Tây, các đập tràn kiểm soát lũ đầu vụ tuyến Vĩnh Tế, các cửa thoát lũ qua QL80 và ra biển…

Tiếp đến, ngày 19/4/2006, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 84/2006/QĐ-TTg

về việc phê duyệt“Điều chỉnh bổ sung Quy hoạch thuỷ lợi Đồng bằng sông Cửu Long

giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến 2020”, kèm theo Quyết định phê duyệt là danh

mục đầu tư các công trình thủy lợi từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ cho các giai đoạn đến năm 2010 và 2020, trong đó giai đoạn 2006-2010 ưu tiên tập trung đầu tư cho 79 công trình, chủ yếu giải quyết những vấn đề cấp bách nhất về thủy lợi tại các địa phương ở ĐBSCL về các mặt như kiểm soát lũ, cấp nước tưới, tiêu, ngăn mặn, phòng chống sạt lở, nuôi trồng thuỷ sản…

Trang 6

6

Theo vùng thủy lợi, các công trình được phân ra ĐTM 27 công trình, TGLX 16 công trình, BĐCM 27 công trình và vùng giữa ST-SH 9 công trình Theo cấp quản lý, có 14 công trình/hệ thống công trình do Bộ NN&PTNT quản lý và 65 công trình/hệ thống công trình được giao cho địa phương quản lý Theo đơn vị quản lý nguồn vốn, vốn do Trung ương quản lý chiếm khoảng 33% và vốn do các tỉnh quản lý 67%

Các công trình trong QĐ 84/TTg của Thủ tướng Chính phủ được chia theo cấp quản

lý gồm hai nhóm: (i) Nhóm do Bộ NN&PTNT quản lý gồm các công trình liên vùng, liên tỉnh với 14/79 công trình; (ii) Nhóm phân cấp cho địa phương quản lý nằm trong phạm vi từng tỉnh gồm 55/79 công trình

5.2 Thành tựu phát triển thuỷ lợi ĐBSCL

a Những thành tựu đạt được:

Cùng với các công trình thuỷ lợi được hình thành qua hàng trăm năm, trong hơn 30 năm đầu tư, xây dựng gần đây, với số vốn đầu tư lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng, huy động cả từ Trung ương, địa phương và người dân, ĐBSCL đã hình thành một hệ thống công trình thủy lợi khá hoàn chỉnh, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của toàn đồng bằng

- Về tưới, khoảng trên 1,4 triệu ha (trên 90% diện tích vụ Đông-Xuân và Hè-Thu) đã

được chủ động tưới bằng hệ thống kênh, cống các cấp, kể cả những vùng có khó khăn

về nguồn nước như Tứ giác Hà Tiên, Nam Măng Thít, Quản Lộ-Phụng Hiệp, ven biển Đông, biển Tây, vùng phèn nặng ở trung tâm ĐTM, TGLX… Một số nơi do chưa chủ động được nguồn cấp ngọt từ sông chính nhưng cũng đã hình thành hệ thống bờ bao, cống bọng, thậm chí cống có quy mô khá lớn để trữ, giữ nước mưa, tạo điều kiện kéo dài thời gian có ngọt từ 6-7 tháng trước đây lên 9-10 tháng, thậm chí hơn 11 tháng trong năm

- Về kiểm soát lũ, ngay từ những năm đầu Thập niên 90 của Thế kỷ 20, đứng trước

yêu cầu tăng vụ, đảm bảo sản xuất vụ Hè-Thu, người dân vùng ngập lụt ĐBSCL đã triển khai dạng bờ bao kiểm soát lũ đầu vụ (tháng Tám), mang lại hiệu quả thiết thực cho vùng ngập lũ Đến nay, tuy việc phát triển hệ thống bờ bao kiểm soát lũ đầu vụ, kể

cả nhiều nơi chuyển sang hình thức kiểm soát lũ cả năm ngay trong vùng ngập trung bình (từ 1,5-2,5 m) là tự phát, không theo quy hoạch, song, cùng với hệ thống kiểm soát

lũ do Nhà nước đầu tư, trong đó có đê bảo vệ các khu dân cư tập trung, thì phải thấy rằng, kiểm soát lũ ĐBSCL là hướng đi đúng đắn, đã đạt những thành quả đáng kể, giúp

ổn định và phát triển kinh tế-xã hội nói chung và sản suất nông nghiệp nói riêng trong vùng ngập lụt Cùng với hệ thống các cụm dân cư được xây dựng theo chương trình dân

cư vùng ngập lũ, hệ thống giao thông kết hợp thủy lợi đã kết nối các khu dân cư với hệ thống giao thông liên huyện, liên tỉnh và quốc gia, tạo thành địa bàn sinh sống vững chắc, an toàn và chủ động trong vùng ngập lũ

- Về tiêu nước, do còn nhiều vùng trũng thấp, vùng ảnh hưởng lũ lớn, nên hiện hệ

thống tiêu thoát nước chỉ có thể phục vụ tốt cho khoảng 80% diện tích sản xuất nông nghiệp với mục tiêu sản xuất ổn định 2 vụ lúa Đông-Xuân và Hè-Thu Những năm mưa lớn, lũ rút muộn thường gây khó khăn cho sản xuất ở ĐBSCL về thời vụ do chưa đáp ứng tốt khả năng tiêu thoát nước mưa, nước lũ

- Về hệ thống đê biển, đê cửa sông, vùng ven biển và cửa sông ĐBSCL đã từng bước

hình thành hệ thống đê ngăn mặn, kiểm soát triều cường, sóng cao và đang nâng dần lên khả năng chống chọi với nước dâng do bão Nhiều tuyến đê đã phát huy tốt hiệu quả

Trang 7

7

trong kiểm soát mặn và phòng tránh thiên tai, như các tuyến đê biển Tiền Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang… Các tỉnh Bến Tre, Cà Mau, tuy hệ thống đê biển chưa khép kín nhưng từng đoạn tuyến cũng đã phát huy tác dụng tích cực trong bảo vệ sản xuất nông nghiệp

- Về cải tạo và phát triển vùng đất phèn, nhờ hệ thống thủy lợi, mặc dù có lúc, có nơi,

do phát triển kênh và cống vùng phèn gây nên những tác động tiêu cực lên chất lượng nước trong vùng và lân cận, song, sau nhiều năm phát triển, đến nay, cơ bản chung ta

đã hiểu và làm chủ được vùng đất phèn, biến những vùng đất phèn rộng lớn ở ĐTM, TGLX và BĐCM thành những vùng sản xuất lúa ổn định 2-3 vụ Hiện chỉ còn một ít đất phèn nặng ở vùng rốn phèn ĐTM (Bắc Đông-Bo Bo), BĐCM (Hồng Dân, Phước Long)… nhưng cũng được sử dụng trồng tràm và cây công nghiệp

- Về kết hợp giao thông-thủy lợi-dân cư, nhờ thực hiện Quyết định 99/QĐ-TTg, hầu

hết công trình thủy lợi xây dựng trong thời gian sau này ở tất cả các vùng đều có sự kết hợp khá tốt giữa nạo vét, nâng cấp kênh, xây dựng bờ bao với giao thông nông thôn, giao thông liên huyện, bố trí địa bàn dân cư…, đặc biệt ở vùng ngập lụt

- Về chống xói lở bờ biển, xói lở, bồi lắng sông, kênh, trong những năm qua đã có

nhiều công trình kè được xây dựng, việc nạo vét cửa sông, dọc kênh cũng được thực hiện, mang lại hiệu quả nhất định trong bảo vệ các khu dân cư, các công trình ven biển, ven sông, đảm bảo khả năng cấp nước, thoát lũ của toàn hệ thống…

- Về phòng chống cháy rừng, nhờ hệ thống đê bao, cống điều tiết nước và hệ thống

trạm bơm, các Vườn Quốc gia U Minh Thượng, Tràm Chim, U Minh Hạ, các khu Bảo tồn thiên nhiên Xẻo Quýt, Lung Ngọc Hoàng, Trà Sư… đã được bảo vệ khá tốt qua những năm gần đây

b Những tồn tại trong quản lý quy hoạch và phát triển thuỷ lợi ĐBSCL:

- Trong vùng ngập lũ trung bình, theo quy hoạch lũ chỉ sản xuất 2 vụ lúa Xuân, Hè-Thu), lên bờ bao bảo vệ vụ Hè-Thu khi gặp lũ sớm (lũ tháng 8) Song trong những năm qua, diện tích bao đê kiểm soát lũ cả năm để sản xuất 3 vụ phát triển nhanh (thêm vụ Thu-Đông), đặc biệt ở 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp, tác động đến nhiều mặt

(Đông-về dòng chảy lũ, nước ngầm và môi trường

- Ở vùng ven biển, ở những nơi trước đây chỉ làm một vụ Mùa, nay nhờ có nước ngọt (trữ trong đồng hay chuyển từ sông vào) đã tăng lên 2 vụ khá ổn định (Đông-Xuân và Hè-Thu) trong nhiều năm qua Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, nhiều chân ruộng được người dân sản xuất 3 vụ (thêm vụ Xuân-Hè), khiến việc cấp nước cho vùng ven biển gặp rất nhiều khó khăn, kém ổn định

- Nhiều hạng mục công trình được thay đổi quy mô, chức năng và nhiệm vụ trong quá trình chuẩn bị đầu tư

- Các hệ thống công trình và nhiều công trình chưa được đầu tư xây dựng đồng bộ

- Một số hệ thống công trình được xây dựng khá hoàn chỉnh nhưng việc quản lý vận hành hệ thống chưa được chú trọng

- Nhiều công trình, hệ thống công trình chưa thích ứng với điều kiện BĐKH, NBD trong 20-30 năm tới và xa hơn, đến năm 2050

VI KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU-NƯỚC BIỂN DÂNG

6.1 Diễn biến khí tượng-thuỷ văn ĐBSCL những năm gần đây

Trang 8

8

Trong các thập niên gần đây, ĐBSCL đã và đang gánh chịu những tác động khá mạnh mẽ do biến đổi khí hậu, nước biển dâng gây nên, trong đó lũ có những biến động ngày càng lớn giữa năm lũ lớn và lũ nhỏ, bão nhiều và mạnh hơn, hạn hán nghiêm trọng hơn, cháy rừng, sạt lở bờ sông, tố lốc, triều cường xuất hiện ngày càng nguy hiểm hơn Chỉ tính trong 10 năm qua, ĐBSCL đã có:

- 3 năm liên tiếp từ 2000-2002 có lũ lớn, trong đó năm 2000 là lũ lớn lịch sử Trong dãy tài liệu mực nước nhiều năm tại Tân Châu và Châu Đốc từ 1924 đến nay, 3 năm lũ lớn liên tiếp, trong đó có lũ năm 2000 là điều khá đặc biệt, do trước đó cũng có những nhóm năm lũ lớn như vậy nhưng không lớn bằng Tại Tân Châu, đỉnh lũ năm 2000 (5,06 m) chỉ đứng thứ 2 sau lũ 1961 (5,12 m), trong khi tổng lượng đạt đến 430 tỷ m3, lớn hơn lũ 1961 chừng 15 tỷ m3

- 7 năm liên tiếp, từ 2003 đến 2009, ĐBSCL có lũ dưới trung bình, trong đó tại Tân Châu năm 2006 có mực nước 4,00 m và năm 2008 chỉ đạt 3,65 m, thuộc năm cực nhỏ trong 70 gần đây Lũ dòng chính nhỏ, tổng lượng nhìn chung chỉ đạt 80-90% tổng lượng trung bình, kéo theo mực nước lũ trong nội đồng cũng rất thấp, một vài năm hầu như nội đồng đói lũ (các năm 2003, 2008 và 2009, tổng lượng lũ chỉ đạt dưới 70% tổng lượng lũ trung bình)

- 2 lần có bão lớn đổ bộ và ảnh hưởng đến ĐBSCL là bão Linda năm 1997 và bão Durian năm 2006 Theo thống kê, trong hơn 100 năm qua, ĐBSCL hứng chịu 3 trận bão đổ bộ trực tiếp, trong đó có trận bão năm 1904, cách bão Linda 93 năm, trong khi bão Durian chỉ cách bão Linda 9 năm

- 8 năm liền ĐBSCL gặp hạn, đặc biệt hạn kết hợp dòng chảy kiệt trên sông Mekong và xâm nhập mặn sâu vào năm 2004 và 2008 Diễn biến hạn-mặn đầu năm 2010 cũng cho thấy có xu thế gần với năm 2004

- Tố lốc xuất hiện nhiều và gây hậu quả nghiêm trọng

- Cháy rừng xảy ra ở nhiều nơi, đặc biệt đợt cháy rừng Vườn Quốc gia U Minh Thượng vào năm 2002 mà ảnh hưởng của nó đến nay vẫn chưa được khắc phục

- Sạt lở bờ biển, bờ sông xảy ra với số lần, số vị trí và cường độ cao, như sạt lở ven biển Tiền Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và gần đây là biển phía Tây của tỉnh Cà Mau Sạt lở

bờ sông, kênh cũng xẩy ra với cường suất cao, ảnh hưởng nhất định đến ổn định kinh tế-xã hội của nhiều địa phương, như sạt lở bờ sông Tiền tại Tân Châu, Hồng Ngự, Sa Đéc, Vĩnh Long… sạt lở trên Hậu tại Châu Đốc và trên QL91 thời gian gần đây…

- Nước biển có xu thế ngày càng dâng cao, theo đánh giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tại Vũng Tàu (biển Đông), mực nước biển trung bình 50 năm qua đã tăng khoảng 12 cm Triều cường trên nền nước biển dâng ngày càng uy hiếp nghiêm trọng các vùng đất thấp, kể cả các thành phố ven biển ảnh hưởng triều như Cần Thơ, Cà Mau, Vĩnh Long…

6.2 Kịch bản biến đổi dòng chảy thượng lưu

Tổng hợp các nghiên cứu, đánh giá của các tổ chức quốc tế, cân nhắc các kết quả chính thức của Ban Thư ký MRC được công bố gần đây nhất (tháng 9/2009 và tháng 4/2010), cân bằng các tác động do biến đổi khí hậu, phát triển hồ chứa và gia tăng cấp nước ở tất cả các nước thượng lưu, kịch bản chung cho dòng chảy đến Kratie cho các giai đoạn như Bảng 01

Trang 9

9

Bảng 01: Kịch bản biến đổi dòng chảy đến Kratie theo các nguồn khác nhau (%)

(*) Để so sánh, tính toán thêm kịch bản kiệt năm 2050 giảm -30%

6.3 Kịch bản nước biển dâng

Theo Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố tháng 6/2009, với kịch

bản phát thải trung bình B2, mực nước biển vùng ĐBSCL sẽ có sự gia tăng theo từng

giai đoạn trong Bảng 02

Bảng 02: Kịch bản mực nước biển dâng trung bình và mực nước đỉnh triều tương ứng 

Trung bình Đỉnh triều Trung bình Đỉnh triều Trung bình Đỉnh triều Mực nước đỉnh triều

Hình 01: Những vấn đề của ĐBSCL hiện nay

6.4 Hình ảnh ĐBSCL đến năm 2050 dưới tác động của BĐKH-NBD

6.4.1 Tác động đến xâm nhập mặn

Kết quả tính toán xâm nhập mặn hiện trạng và năm 2050 cho thấy:

Trang 10

Bảng 04: Tổng hợp diện tích xâm nhập mặn Max các tháng 2-4 với độ mặn 1 và 4 g/l

Tháng II Tháng III Tháng IV Tháng II Tháng III Tháng IVTổng DT (ha) 3.820.000 3.820.000 3.820.000 3.820.000 3.820.000 3.820.000

o

o

o

o o

o

o

o o o

BIEÅN ÑOÂNG

> 24 24 20 12 1

Trμ Vinh

BÕn Tre

Mü Tho VÜnh Long Cao L·nh

T©n An

VÞ Thanh

o

o o

o

o

o

o o

o

o

o o o

BIEÅN ÑOÂNG

> 24 24 20 12 1

Trμ Vinh

BÕn Tre

Mü Tho VÜnh Long Cao L·nh

T©n An

VÞ Thanh

Trang 11

> 4g/l 1.691 1.987 +296 2.072 +381 2.146 +455 Tổng DT 3.820 3.820 7,7% 3.820 10,0% 3.820 11,9%

Hình 02: Ranh giới xâm nhập mặn đến 2050 với các kịch bản giảm dòng chảy kiệt thượng lưu khác nhau

 

- Ứng với kịch bản dòng chảy kiệt thượng lưu giảm 15%:

Trang 12

12

- Đối với ranh mặn cao nhất:

+ Độ mặn 1 g/l: Trên sông Tiền qua TP Vĩnh Long 11 km (cao hơn hiện nay 27 km)

và trên sông Hậu qua TP Cần Thơ 5 km (cao hơn hiện nay 20 km)

+ Độ mặn 4 g/l: Trên sông Tiền qua TP Mỹ Tho 17 km (cao hơn hiện nay 20 km) và trên sông Hậu ngang TP Cần Thơ (cao hơn hiện nay 15 km)

- Đối với diện tích ảnh hưởng mặn lớn nhất:

+ Độ mặn >1 g/l: Diện tích ảnh hưởng mặn chiếm 66,6% (tăng 386.600 ha so với hiện nay, tương ứng 10,1% diện tích)

+ Độ mặn >4 g/l: Diện tích ảnh hưởng mặn chiếm 52,4% (tăng 311.652 ha so với hiện nay, tương ứng 8,2% diện tích)

- Đối với sản xuất nông nghiệp: Khoảng 4/5 diện tích vùng BĐCM (trừ Tây sông

Hậu), toàn bộ các Dự án Gò Công, Bảo Định, Bắc Bến Tre, Mỏ Cày, Nam Măng Thít, Tiếp Nhật, bị mặn trên 4 g/l bao bọc và xâm nhập

- Đối với cấp nước dân sinh: Ngoài các đô thị Bến Lức, Tân An, Bến Tre, Trà Vinh,

Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Rạch Giá, Hà Tiên, thêm Mỹ Tho, Vĩnh Long và Cần Thơ bị mặn

6.4.2 Tác động đến ngập lụt

Ứng với lũ thượng lưu tăng 15% đến năm 2050, kết quả mô phỏng thuỷ lực cho thấy, do lũ tăng 15%, mực nước lũ tuỳ từng vùng có thể tăng 30-40 cm Do mực nước biển dâng, mực nước trong đồng bằng có thể tăng 12-17 cm Tổng hợp tác động bởi 2 yếu tố trên, mực nước ngập lụt ở ĐBSCL đến năm 2050 có thể gia tăng từ 50-60 cm Điều này dẫn đến:

- Đối với diện tích ngập lụt:

+ Độ ngập >0,5 m: Diện tích ngập lên đến 3.197.473 ha (chiếm 83,7% diện tích toàn đồng bằng), tăng 407.827 ha so với hiện trạng (tương ứng 10,6% diện tích)

+ Độ ngập >1,0 m: Diện tích ngập lên đến 2.463.555 ha (chiếm 64,5% diện tích toàn đồng bằng), tăng 660.636 ha so với hiện trạng (tương ứng 17,3% diện tích)

là 2 thành phố Cần Thơ và Vĩnh Long

+ Thoát nước: Trong mùa lũ, việc thoát nước của các độ thi đã rất khó khăn, nay do BĐKH-NBD, việc thoát nước càng khó khăn hơn Các đô thị gồm Mỹ Tho, Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau việc tiêu thoát nước sẽ vô cùng khó khăn và chắc chắn phải nhờ đến sự hỗ trợ của tiêu động lực

- Đối với thời gian ngập (xét với mức ngập >0,5 m):

+ Đầu lũ (tháng VIII): Diện tích ngập đã lên đến 2.861.633 ha (chiếm 74,9% diện tích toàn đồng bằng), tăng 863.148 ha so với hiện nay (tương ứng 22,6% diện tích)

+ Cuối lũ (tháng XI): Diện tích ngập vẫn còn 2.711.685 ha (chiếm 71,0% diệ tích toàn đồng bằng), tăng 678.180 ha so với hiện nay (tương ứng 17,8% diện tích)

- Đối với diễn biến lũ:

+ Lũ xuất hiện sớm hơn từ 0,5-1,0 tháng

Trang 13

6.5 Những tác động khác từ BĐKH và phát triển thượng lưu đến 2050

- Một khi hệ thống hồ chứa thượng lưu ĐBSCL được hoàn thành, tác động của chúng

đến ĐBSCL là cực kỳ to lớn, cả những tác động tích cực và tác động tiêu cực Những tác động tích cực như điều hoà dòng chảy lũ-kiệt đối với năm trung bình làm giảm lũ và tăng kiệt xuống hạ lưu có thể được ghi nhận, song còn nhiều vấn đề cũng cần được đánh giá kỹ hơn Song, những tác động tiêu cực thì hình như là khá rõ ràng và có thể nhận biết ngay, đó là:

- Biến lũ vào ĐBSCL từ lũ trung bình thành lũ nhỏ, lũ nhỏ thành không lũ ĐBSCL là

đồng bằng tồn tại và phát triển nhờ lũ Nếu không có lũ, nhịp sống của ĐBSCL này bị đảo lộn và sẽ nảy sinh nhiều vấn đề về môi trường và dòng chảy mùa kiệt Trong khi

đó, với những trận lũ lớn (như lũ 1961, 1978, 2000…) thì hầu như hệ thống hồ chứa không cắt được lũ mà còn làm cho lũ lớn hơn Điều này dẫn đến lũ hàng năm ở ĐBSCL ngày càng có sự chênh lệch nhiều hơn, lũ lớn càng lớn hơn và lũ nhỏ càng nhỏ hơn Hậu quả là ĐBSCL phải đối mặt với các mùa lũ rất khác xa nhau, chênh lệch mực nước hàng năm ngày càng lớn hơn, khiến gia tăng xói lở và mất ổn định lòng sông

- Giảm phù sa: Theo đánh giá của MRC, lượng phù sa, đặc biệt là phù sa đáy (chủ yếu

là cát xây dựng) xuống ĐBSCL sẽ giảm dần và đạt mức giảm lớn nhất là khoảng 40%

so với hiện nay do hệ thống hồ chứa thượng lưu, ít nhất là trong khoảng 50 năm đến, sau đó có thể ổn định và tăng trở lại Giảm phù sa kéo theo giảm chất lượng bồi bổ đồng ruộng và gia tăng xói lở lòng sông, bờ biển, đặc biệt là làm giảm mức độ tiến ra biển của mũi Cà Mau như hiện nay

Ngày đăng: 18/05/2015, 17:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 02: Kịch bản mực nước biển dâng trung bình và mực nước đỉnh triều tương ứng - BÀI BÁO CÁO-THIẾT KẾ QUY HOẠCH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Bảng 02 Kịch bản mực nước biển dâng trung bình và mực nước đỉnh triều tương ứng (Trang 9)
Bảng 03:  Tổng hợp diện tích xâm nhập mặn Max các tháng 2, 3, 4 theo độ mặn - BÀI BÁO CÁO-THIẾT KẾ QUY HOẠCH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Bảng 03 Tổng hợp diện tích xâm nhập mặn Max các tháng 2, 3, 4 theo độ mặn (Trang 10)
Hình 01:  Xâm nhập mặn ở ĐBSCL - BÀI BÁO CÁO-THIẾT KẾ QUY HOẠCH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Hình 01 Xâm nhập mặn ở ĐBSCL (Trang 10)
Bảng 06: Thay đổi diện tích xâm nhập mặn >4 g/l giữa các kịch bản giảm dỏng chảy  kiệt so với Hiện trạng khi nước biển dâng 30 cm (đơn vị: 1.000 ha) - BÀI BÁO CÁO-THIẾT KẾ QUY HOẠCH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Bảng 06 Thay đổi diện tích xâm nhập mặn >4 g/l giữa các kịch bản giảm dỏng chảy kiệt so với Hiện trạng khi nước biển dâng 30 cm (đơn vị: 1.000 ha) (Trang 11)
Bảng 05: Khoảng cách xâm nhập mặn (>4g/l) gia tăng giữa các kịch bản giảm dòng  chảy kiệt so với hiện trạng khi nước biển dâng 30 cm (đơn vị: km) - BÀI BÁO CÁO-THIẾT KẾ QUY HOẠCH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Bảng 05 Khoảng cách xâm nhập mặn (>4g/l) gia tăng giữa các kịch bản giảm dòng chảy kiệt so với hiện trạng khi nước biển dâng 30 cm (đơn vị: km) (Trang 11)
Hình 03: Ngập lụt ĐBSCL - BÀI BÁO CÁO-THIẾT KẾ QUY HOẠCH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Hình 03 Ngập lụt ĐBSCL (Trang 13)
Hình 04: Sơ đồ quy hoạch tổng thể thuỷ lợi ĐBSCL trong điều kiện BĐKH-NBD - BÀI BÁO CÁO-THIẾT KẾ QUY HOẠCH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Hình 04 Sơ đồ quy hoạch tổng thể thuỷ lợi ĐBSCL trong điều kiện BĐKH-NBD (Trang 16)
Hình 05: Quy hoạch tổng thể thuỷ lợi ĐBSCL trong điều kiện BĐKH-NBD - BÀI BÁO CÁO-THIẾT KẾ QUY HOẠCH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Hình 05 Quy hoạch tổng thể thuỷ lợi ĐBSCL trong điều kiện BĐKH-NBD (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w