Với một thời giankhá dài làm việc tại Ban quản lý các dự án dạy nghề vốn ODA – một Ban quản lý dự án chuyên phụ trách quản lý, thực hiện các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODAtài trợ cho cơ
Trang 2SƠ ĐỒ
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, vốn là một hoạt động vật chất quan trọng cho mọihoạt động của nền kinh tế Nhu cầu về vốn đang nổi lên như một vấn đề mang tínhthiết yếu Để thực hiện chiến lược phát triển nền kinh tế với mục tiêu đến năm 2020Việt Nam sẽ trở thành một nước Công nghiệp hóa – hiện đại hóa cần một lượng vốnđầu tư rất lớn
Đương nhiên để duy trì những thành quả đã đạt được của nền kinh tế, giữvững nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao, tránh cho đất nước rơi vào tình trạng tụt hậu
so với các nước trong khu vực và trên thế giới; cũng như các nước đang phát triểnkhác - trong chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhànước ta, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA – Official DevelopmentAssistance) là một trong những nguồn vốn nước ngoài có ý nghĩa vô cùng quantrọng
Ở nước ta, các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA có tác động tích cực đếnphát triển kinh tế xã hội của các địa phương và vùng lãnh thổ, đặc biệt là các thànhphố và vùng kinh tế lớn của cả nước Đồng thời góp phần vào sự phát triển, nângcao hệ thống cơ sở hạ tầng đặc biệt là cơ sở hạ tầng nông thôn, phát triển nôngnghiệp, xóa đói giảm nghèo… Tuy nhiên, một thực tế không thể phủ nhận là nhiều
dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA hoạt động không hiệu quả, gây lãng phí lớn vàtạo gánh nặng nợ nần khó trả cho nhiều thế hệ Nhiều nghiên cứu cho thấy, mộttrong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là do các dự án này khôngđược thẩm định một cách kỹ càng trước khi quyết định thực hiện đầu tư, đặc biệt làcông tác thẩm định tài chính dự án còn bị coi nhẹ
Chính vì thế, mà thẩm định dự án đầu tư nói chung và thẩm định tài chính dự
án đầu tư bằng nguồn vốn ODA nói riêng là một yêu cầu mang tính lý luận và thựctiễn cao Việc nâng cao chất lượng công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư bằngnguồn vốn ODA đóng vai trò quan trọng trong việc ra quyết định đầu tư của cácBan quản lý dự án, nhằm tránh những tổn thất không đáng có Với một thời giankhá dài làm việc tại Ban quản lý các dự án dạy nghề vốn ODA – một Ban quản lý
dự án chuyên phụ trách quản lý, thực hiện các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODAtài trợ cho cơ quan chủ quản là Tổng cục dạy nghề, là một trong những cán bộ thamgia trực tiếp vào công tác thẩm định tài chính các dự án đầu tư, tôi nhận thấy đượcnhững cái mà công tác thẩm định tài chính dự án đã làm được và những cái cònchưa làm được Với những kiến thức về tài chính của mình, với mong muốn nghiên
Trang 4cứu những nhân tố sẽ làm tăng và làm giảm chất lượng thẩm định tài chính dự án tại
Ban quản lý các dự án, tôi quyết định chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng công tác thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ban quản lý các dự án dạy nghề vốn ODA” cho luận văn tốt nghiệp của mình.
Nội dung của luận văn gồm có ba chương:
Chương 1 Tổng quan về chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư vốn ODA
Chương 2 Thực trạng chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ban quản lý các dự án dạy nghề vốn ODA
Chương 3 Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư tại Ban quản lý các dự án dạy nghề vốn ODA
Trang 5CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI
CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ VỐN ODA
1.1 Tổng quan về Dự án đầu tư và thẩm định dự án đầu tư vốn ODA
1.1.1 Dự án đầu tư
1.1.1.1 Khái niệm dự án đầu tư
Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực về vật chất
và trí tuệ để sản xuất và kinh doanh trong 1 thời gian tương đối dài nhằm thu về lợinhuận và lợi ích kinh tế xã hội
Hoạt động đầu tư được thể hiện tập trung và rõ nét thông qua các dự án Hiệnnay từ “dự án” được sử dụng rất rộng rãi - ta thường nghe nói đến các dự án đầu tưphát triển tầm cỡ quốc gia hoặc quốc tế, song cũng có thể nói đến dự án của cá nhânmỗi người, như tiến hành một nghiên cứu thử nghiệm, viết một cuốn sách…Vậy cóthể hiểu “dự án đầu tư” là gì?
Dự án đầu tư là một tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn ra đểđầu tư của các nhà đầu tư: các nguồn vốn này được sử dụng để tạo mới, mở rộnghoặc cải tạo một đối tượng nào đó nhằm mục đích đem lại sự tăng trưởng về cả sốlượng lẫn chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ trên một địa bàn nhất định trongmột khoảng thời gian nhất định
Dù được xem xét dưới bất kỳ góc độ nào thì dự án đầu tư cũng bao gồm cácthành phần chính như sau:
- Các mục tiêu cần đạt được khi thực hiện dự án: Cụ thể là khi thực hiện, dự
án sẽ mang lại những lợi ích gì cho chủ đầu tư Những mục tiêu này cần được biểuhiện bằng kết quả cụ thể, mang tính định lượng rõ ràng
- Các hoạt động của dự án: Dự án phải nêu rõ những hoạt động cụ thể phải
tiến hành, địa điểm diễn ra các hoạt động của dự án, thời gian cần thiết để hoànthành, và các bộ phận có trách nhiệm thực hiện những hoạt động đó Cần lưu ý rằngcác hoạt động đó có mối quan hệ với nhau vì tất cả đều hướng tới sự thành công của
dự án và các mối quan hệ đó diễn ra trong một môi trường không chắc chắn Bởi vìmôi trường dự án không phải là môi trường hiện tại mà là môi trường tương lai
- Các nguồn lực: Hoạt động của dự án không thể thực hiện được nếu thiếu các
nguồn lực về vật chất, tài chính, con người… Vì vậy, phải nêu rõ các nguồn lực cầnthiết cho dự án Tổng hợp các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần cho dự án.Mỗi dự án bao giờ cũng được xây dựng và thực hiện trong sự giới hạn về nguồnlực.
1.1.1.2 Chu trình một dự án đầu tư
Trang 6Chu trình của một dự án đầu tư thông thường bao gồm năm bước như sau:
Bước 1 Xác định dự ánBước 2 Phân tích và lập dự ánBước 3 Duyệt dự án
Bước 4 Triển khai thực hiện dự ánBước 5 Nghiệm thu, tổng kết và giải thểCác bước này gắn bó chặt chẽ với nhau và đi theo một tiến trình logic, đểhiểu rõ hơn về chu trình của một dự án đầu tư ta sẽ phân tích chi tiết từng bước nhưsau:
Bước 1 – xác định dự án đầu tư: xác định dự án là giai đoạn đầu tiên trong
chu trình của một dự án có nhiệm vụ phát hiện những lĩnh vực có tiềm năng để đầu
tư phát triển, trên cơ sở đó hình thành sơ bộ nên các ý đồ đầu tư Việc xác định vàsàng lọc các ý đồ đầu tư có ảnh hưởng quyết định tới quá trình chuẩn bị và thựchiện dự án Dù công tác chuẩn bị và thực hiện dự án là rất tốt nhưng ý đồ ban đầu
đã hàm chứa các sai lầm cơ bản thì dự án vẫn có thể thất bại hay không đạt đượccác kết quả mong muốn
Trong thực tế ý đồ về một dự án đầu tư mới có thể xuất phát từ các nguồnnhư sau:
- Từ những chiến lược phát triển ngành hay chiến lược phát triển kinh tếquốc dân
- Thông qua việc phát hiện những nguồn tài nguyên, nguyên nhiên vật liệuchưa được khai thác và sử dụng có hiệu quả
- Dự án đầu tư có thể được đề xuất để đáp ứng những nhu cầu sản xuất tiêudùng ở thị trường trong nước và ngoài nước còn chưa được thỏa mãn
- Từ yêu cầu khắc phục những khó khăn và trở ngại đối với sự phát triểnkinh tế - xã hội do thiếu các điều kiện vật chất cần thiết
Trên cơ sở các lĩnh vực và ý đồ đầu tư khác nhau được đề xuất, cần tiến hànhnghiên cứu chi tiết hóa, lựa chọn ra những ý đồ đầu tư triển vọng nhất để tiến hànhchuẩn bị và phân tích trong giai đoạn tiếp theo
Bước 2 – phân tích và lập dự án: Sau khi xác định rõ ý đồ, mục tiêu, và các
phương tiện để thực hiện dự án, các chuyên gia tiến hành quá trình phân tích và lập
dự án Đây là quá trình nghiên cứu chi tiết các ý đồ đầu tư đã được đề xuất trên tất
cả các phương diện: thể chế - xã hội, thương mại, tài chính, kinh tế - kỹ thuật, tổchức quản lý… Để thực hiện nhiệm vụ này phải thu thập đầy đủ những thông tin
Trang 7cần thiết cho việc nghiên cứu về thị trường, môi trường tự nhiên, các nguồn nguyênvật liệu tại chỗ, các quy định và chính sách có liên quan của Chính phủ, về đặc điểmkinh tế - văn hóa – xã hội của dân cư trong vùng có liên quan đến dự án.
Nội dung chủ yếu của giai đoạn phân tích và lập dự án là nghiên cứu mộtcách toàn diện tính khả thi của dự án Tuy vậy, đối với những dự án có quy mô lớnthì trước khi thực hiện nghiên cứu khả thi nên có bước nghiên cứu tiền khả thi.Trong bước nghiên cứu này, tất cả mọi phương diện chuẩn bị và phân tích dự ánđều được đề cập tới, song chỉ dừng lại ở mức độ chi tiết vừa đủ để chứng minhmột cách khái quát rằng, ý đồ dự án đầu tư được đề xuất là đúng đắn và việc tiếptục phát triển ý đồ này là có tiềm năng Nghiên cứu tiền khả thi cũng giúp loại bỏbớt những vấn đề không cần thiết, cũng như xác định các vấn đề cần đặc biệt chú
ý, nhờ đó giúp cho việc định hướng nghiên cứu và tiết kiệm chi phí chuẩn bị đầu
án đầu tư: dự án có phức tạp hay không, đã được nhận thức đến mức độ nào, dự án
có tính chất sáng tạo hay chỉ là lặp lại… Về kinh phí, nghiên cứu khả thi thườngchiếm khoảng 5% toàn bộ chi phí đầu tư của dự án Thời gian nghiên cứu có thể làmột tháng, hai tháng hoặc dài hơn nữa phụ thuộc vào quy mô và tính chất của dự án
mà nó nghiên cứu Kết thúc nghiên cứu khả thi cũng là hết giai đoạn phân tích vàlập dự án đầu tư
Thực tế đã chứng minh tầm quan trọng của công tác phân tích và lập dự ánđầu tư Chuẩn bị tốt và phân tích kỹ lưỡng sẽ làm giảm những khó khăn trong giaiđoạn thực hiện, cũng như cho phép đánh giá chính xác hơn tính hiệu quả và khảnăng thành công của dự án
Bước 3 – duyệt dự án: Duyệt dự án là giai đoạn thường thực hiện với sự
tham gia của các cơ quan nhà nước, các tổ chức tài chính và các thành phần kháctham gia vào dự án, nhằm xem xét lại toàn bộ những kết luận đã được đưa ra trongquá trình chuẩn bị và phân tích dự án, trên cơ sở đó chấp nhận hay bác bỏ dự án Dự
Trang 8án sẽ được thông qua và đưa vào thực hiện nếu nó được xác nhận là hiệu quả và cótính khả thi cao Còn đối với trường hợp ngược lại, dự án có thể được sửa đổi bổsung hay buộc phải xây dựng lại hoàn toàn khi còn có những bất hợp lý trong thiết
kế dự án
Bước 4 – triển khai thực hiện dự án: Triển khai thực hiện dự án bắt đầu khi
kinh phí được đưa vào Giai đoạn này có thể chia thành những thời kỳ nhỏ hơn tùythuộc vào quy mô của dự án là lớn hay nhỏ Chẳng hạn, thời kỳ thứ nhất là thi côngxây dựng các công trình cơ sở Sau khi hoàn thành xây dựng cơ bản, dự án chuyểnsang thời kỳ phát triển Trong thời kỳ này dự án bắt đầu sinh lợi và trả dần nhữngkhoản nợ trong thời kỳ đầu Thời kỳ thứ ba bắt đầu khi dự án đã đạt đến sự pháttriển toàn bộ, nói cách khác các công trình đầu tư ban đầu đã được sử dụng hết côngsuất và kéo dài cho tới khi dự án chấm dứt hoạt động
Thực hiện dự án là kết quả của một quá trình chuẩn bị và phân tích kỹ lưỡng,tuy nhiên, trong thực tế rất ít khi dự án được tiến hành hoàn toàn đúng như đã hoạchđịnh Tình hình chung của nhiều dự án là không đảm bảo được tiến độ thời gian vàchi phí dự kiến, thậm chí có những dự án phải thay đổi thiết kế ban đầu do giải pháp
kỹ thuật không thích hợp hay thiếu vốn,…Một số khó khăn cơ bản thường phải đốimặt trong quá trình thực hiện dự án
- Khó khăn về mặt tài chính: thường xuất hiện do những biến động về giá
cả, hay do việc thiếu các nguồn vốn cần thiết trong quá trình thực hiện Hệ quả tấtyếu là dự án bị trì hoãn, chi phí gia tăng hoặc trong một số trường hợp quy mô của
dự án bị thu hẹp
- Hạn chế về mặt quản lý: hạn chế lớn nhất đối với nhiều dự án là thiếunhững cán bộ quản lý giỏi, cơ cấu tổ chức, phân công trách nhiệm không rõ ràng, sựphối hợp kém hiệu quả giữa các bên tham gia dự án Những yếu kém trong quản lýthường gây ra tình trạng chậm trễ khi thực hiện và chi phí vượt mức, giám sát thiếuchặt chẽ và phản ứng kém linh hoạt trước những thay đổi của môi trường kinh tế -
xã hội
- Khó khăn về kỹ thuật: phát sinh do việc cung ứng vật tư, máy móc, thiết
bị không thích hợp hay kém chất lượng, hoặc do những sai lầm ngay trong thiết kếban đầu, hoặc do sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ mới
- Các biến động chính trị: với những dự án thực hiện trong thời gian dàicòn phải đối mắt với một loại khó khăn nữa: khó khăn về chính trị Chưa kể tới cácbiến động hay sự hỗn loạn chính trị, các dự án thường chịu tác động của những thayđổi trong các chính sách kinh tế - xã hội của Chính phủ, hay mức độ ưu tiên của
Trang 9Chính phủ cho dự án không được như trước nữa
Những khó khăn và biến động thường xảy ra trong giai đoạn thực hiện dự
án, đòi hỏi các nhà quản lý phải hết sức linh hoạt, nhạy bén đồng thời phải thườngxuyên giám sát, đánh giá quá trình thực hiện để kịp thời đưa ra các biện pháp giảiquyết thích hợp, thậm chí xem xét điều chỉnh lại các mục tiêu và phương tiện thựchiện nếu cần
Bước 5 – nghiệm thu, tổng kết và giải thể: Nghiệm thu, tổng kết và giải thể
là giai đoạn tiến hành sau khi thực hiện xong dự án Đánh giá nghiệm thu có nhiệm
vụ làm rõ những thành công và thất bại trong toàn bộ quá trình xác định, phân tích
và lập dự án, cũng như trong khi thực hiện để rút ra những kinh nghiệm và bài họccho quản lý các dự án khác trong tương lai
Kết thúc và giải thể dự án như thế nào cũng là vấn đề cần bàn tới, tốt hơn cả
là ngay từ khi tiến hành lập dự án, ít nhất ở đây có hai vấn đề quan trọng cần bànđến là: bàn giao (hay phân chia) sử dụng các kết quả của dự án cũng như nhữngphương tiện mà dự án còn để lại; và bố trí lại công việc cho các thành viên tham gia
dự án, nhất là những người đã được biệt phái hoàn toàn khỏi cơ quan cũ sau mộtthời gian dài làm việc cho dự án
1.1.1.3 Phân loại dự án đầu tư
Mỗi dự án đầu tư có quy mô và sức ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội là khácnhau, do vậy, để dễ dàng cho công tác kiểm tra, quản lý chúng ta tiến hành phânloại các dự án đầu tư Có rất nhiều tiêu thức để phân loại dự án đầu tư, tuy nhiên, ta
sử dụng các tiêu thức chính sau đây để phân loại dự án đầu tư:
1 Theo cơ cấu tái sản xuất
Nếu lấy cơ cấu tái sản xuất làm tiêu thức để phân loại các dự án đầu tư, ta cóhai loại dự án đầu tư sau: Dự án đầu tư theo chiều rộng và dự án đầu tư theo chiềusâu
Dự án đầu tư theo chiều rộng: dự án đầu tư theo chiều rộng là dự án đầu tư
trên cơ sở cải tạo và mở rộng cơ sở vật chất hiện có, xây dựng mới với những kỹthuật công nghệ cơ bản như cũ Thứ nhất, đó là đầu tư xây dựng mới nhà cửa, cấutrúc hạ tầng theo thiết kế được phê chuẩn lần đầu tiên Như vậy lượng tài sản vậtchất đã được tăng thêm, tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, tuy vậy tính kỹthuật của công trình hay tài sản đó vẫn dựam trên những thiết kế có sẵn, chưa đượccải tạo và hiện đại hóa Thứ hai, các dự án đầu tư theo chiều rộng còn là các dự ánmua sắm máy móc thiết bị để đổi mới thay thế cho những máy móc thiết bị cũ theomột dây chuyền công nghệ đã có từ trước Đây cũng có thể là mua sắm từ đầu, tức
Trang 10lúc bắt đầu sản xuất kinh doanh, hoặc cũng có thể là mua sắm sau một thời gianhoạt động để thay thế một phần hoặc cả dây chuyền những máy mọc thiết bị đã cũ
Các dự án đầu tư theo chiều rộng thường mang các đặc điểm sau:
- Lượng vốn sử dụng lớn và khê đọng lâu: vốn lớn vì đầu tư theo chiều rộngthường là để mở rộng quy mô, do đó lượng máy móc thiết bị, nhà cửa thường rấtlớn, đòi hỏi một lượng vốn lớn tương ứng để chi trả Bên cạnh đó, những tài sản này
có thời gian khấu hao là rất dài, dẫn đến tình trạng vốn bỏ ra bị khê đọng lâu
- Thời gian thực hiện đầu tư và thời gian thu hồi vốn lâu: các dự án đầu tưtheo chiều rộng là các dự án man tính chất lâu dài, có khi hàng chục năm mới thuhồi hết vốn
- Tính chất kỹ thuật phức tạp, độ mạo hiểm cao: một hoạt động đầu tư theochiều rộng thường được thực hiện ở nhiều khâu từ cơ sở vật chất đến quy trình côngnghệ, do đó để đồng bộ hóa đòi hỏi những kỹ thuật phức tạp, thậm chí là hết sứcphức tạp Kỹ thuật phức tạp cộng thêm thời gian thực hiện lâu là những yếu tốkhiến dự án có độ rủi ro cao đòi hỏi phải phân tích đánh giá một cách kỹ lưỡng, cẩnthận khi lập các dự án này
Mặc dù có những đặc điểm mang tính khó thuyết phục như trên, nhưng các
dự án đầu tư theo chiều rộng vẫn đóng những vai trò quan trọng Đi cùng với những
dự án này là việc quy mô sản xuất được mở rộng, tăng năng suất lao động, giảiquyết công ăn việc làm cho người lao động, tăng doanh thu lợi nhuận trong tươnglai góp phần vào sự tăng trưởng chung
Dự án đầu tư theo chiều sâu: dự án đầu tư theo chiều sâu là dự án đầu tư
được thực hiện dựa trên cơ sở cải tạo, mở rộng, nâng cấp, đồng bộ hóa, hiện đại hóa
cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, hoặc xây dựng lại, hoặc đầu tư mới một dây chuyềncông nghệ, xây dựng một nhà máy mới nhưng kỹ thuật công nghệ phải hiện đại hơn
kỹ thuật công nghệ hiện có hoặc kỹ thuật công nghệ trung bình của ngành, vùngnhằm duy trì năng lực đã có
Thứ nhất, đó là việc cải tạo, mở rộng, nâng cấp, đồng bộ hóa, hiện đại hóadây chuyền hiện có thay thế dây chuyền công nghệ cũ Dự án này được thực hiệnkhi máy móc thiết bị đã cũ làm giảm năng suất lao động Thứ hai, đó còn là hoạtđộng phát triển nguồn nhân lực và đầu tư để tổ chức lại bộ máy quản lý, phươngpháp quản lý Các dự án đầu tư theo chiều sâu mang nặng mặt “chất”, làm sao đểhiệu quả đạt được cao hơn, do vậy mà đầu tư phát triển nguồn nhân lực cũng là điềutất yếu
Trang 11Các dự án đầu tư theo chiều sâu có lượng vốn đầu tư, thời gian thực hiện và
độ rủi ro thấp hơn các dự án đầu tư theo chiều rộng Và một đặc điểm nữa của loại
dự án này đó là tốc độ tăng vốn lớn hơn tốc độ tăng về lao động Do tính chất côngnghệ hiện đại, đồng bộ hóa, tự động hóa, mà trong các dự án đầu tư theo chiều sâukhông yêu cầu mức tăng lao động tăng cùng với mức tăng của vốn
2 Theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội
Theo lĩnh vực hoạt động trong xã hội, dự án đầu tư có thể phân chia thành baloại như sau: Dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh; dự án đầu tư phát triểnKhoa học công nghệ và dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
Dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh:là dự án mà ý đồ đầu tư nhằm
vào mục đích nâng cao, gia tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanhnghiệp Các dự án này thường có vốn đầu tư là vốn tự có của doanh nghiệp, vốn vay
và vốn liên doanh, liên kết
Dự án đầu tư phát triển Khoa học công nghệ: đây là dự án mà ý đồ đầu tư
nhằm vào mục đích nâng cao, phát triển hệ thống khoa học công nghệ Hiện nay,các dự án đầu tư phát triển khoa học công nghệ tại các địa phương chủ yếu tập trungvào lĩnh vực nông – lâm nghiệp, thủy sản và phát triển nông thôn (chiếm từ 40 đến60%); mảng điều tra cơ bản và khoa học xã hội - nhân văn (chiếm 30%), còn lại làcác ngành, lĩnh vực khác Các dự án này có một đặc điểm chung là nguồn vốn ngânsách nhà nước chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng vốn đầu tư Tuy nhiên, lâu nayvẫn có tình trạng xảy ra là nguồn ngân sách hằng năm Nhà nước dành cho Khoa học– công nghệ "rót" về các địa phương đều bị cắt xén, hoặc phân bổ thiếu hợp lý.Không ít nơi kinh phí dành cho hoạt động nghiên cứu, triển khai các đề tài, dự ánkhoa học – công nghệ chiếm tỷ lệ nhỏ, trong khi chi cho hoạt động bộ máy lại cao;hoặc dàn trải một cách manh mún Bởi vậy, chưa có những đề tài, dự án đầu tư pháttriển khoa học công nghệ lớn mà chủ yếu chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ, lẻ
Dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng: đây là các dự án mà ý đồ đầu tư nhằm
mục đích nâng cao, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng Các dự án này đầu tư pháttriển ba loại cơ sở hạ tầng đó là: cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cơ sở hạ tầng xã hội và cơ
sở hạ tầng môi trường Trong đó, các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật
là các dự án phục vụ cho đời sống và sản xuất bao gồm: các công trình thiết bịchuyển tải và cung cấp năng lượng, mạng lưới giao thông, cấp thoát nước, thông tinliên lạc Các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng xã hội bao gồm các công trìnhphục vụ cho các địa điểm dân cư như nhà văn hóa, bệnh viện, trường học, nhà ở và
Trang 12các hoạt động dịch vụ công cộng khác Các công trình này thường gắn với các địađiểm dân cư làm cơ sở góp phần ổn định, nâng cao đời sống dân cư trên vùng lãnhthổ Các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng môi trường bao gồm các dự án phục
vụ cho việc giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái của đất, nước và môi trườngsống của con người Đấy là các dự án phòng chống thiên tai, các dự án bảo vệ đấtđai, vùng biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên
3 Theo các giai đoạn hoạt động của dự án đầu tư trong quá trình tái sản xuất
xã hội
- Dự án đầu tư thương mại
- Dự án đầu tư sản xuất
4 Theo thời gian thực hiện
Theo tiêu chí thời gian thực hiện, có thể chia dự án đầu tư thành hai loại: Dự
án đầu tư ngắn hạn và dự án đầu tư dài hạn
Dự án đầu tư ngắn hạn:
Dự án đầu tư dài hạn:
5 Theo sự phân cấp quản lý
Theo sự phân cấp quản lý của nhà nước hiện nay, các dự án đầu tư được chiathành bốn loại: Dự án quan trọng quốc gia; dự án nhóm A; dự án nhóm B và dự ánnhóm C
Dự án quan trọng quốc gia:dự án quan trọng quốc gia là dự án đầu tư, dự án
công trình độc lập hoặc một cụm công trình liên kết chặt chẽ với nhau thỏa mãn đầy
a) Nhà máy điện hạt nhân;
b) Dự án, công trình sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học từ 50 hécta (ha) trở lên; rừng phòng hộ đầu nguồn từ 50 hécta (ha) trở lên; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay, chắn sóng lấn biển, bảo vệ môi trường từ 500 hécta (ha) trở lên; rừng sản xuất từ 1000 hécta (ha) trở lên;
- Dự án, công trình sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa nước từ hai vụ trở lên với quy mô từ 500 hécta (ha) trở lên;
Trang 13- Dự án, công trình phải di dân tái định cư từ hai mươi nghìn người trở lên ở miền núi, từ năm mươi nghìn người trở lên ở các vùng khác;
- Dự án, công trình đầu tư tại địa bàn có di tích quốc gia có giá trị đặc biệt quan trọng về lịch sử, văn hóa; danh lam thắng cảnh được xếp hạng cấp quốc gia;
- Dự án, công trình đầu tư tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh
- Dự án, công trình đòi hỏi phải áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt cần đượcQuốc hội quyết định
Dự án nhóm A: dự án nhóm A là các dự án đầu tư thỏa mãn một trong các
điều kiện sau:
- Các dự án thuộc phạm vi bảo vệ an ninh, quốc phòng có tính chất bảo mậtquốc gia, có ý nghĩa chính trị - xã hội quan trọng, thành lập và xây dựng hạ tầngkhu công nghiệp mới - không kể mức vốn
Các dự án sản xuất chất độc hại, chất nổ không phụ thuộc quy mô đầu tư không kể mức vốn
Các dự án: công nghiệp điện, khai thác dầu khí, chế biến dầu khí, hóa chất,phân bón, chế tạo máy (bao gồm cả mua và đóng tàu, lắp ráp ôtô), xi măng, luyệnkim, khai thác, chế biến khoáng sản; các dự án giao thông: cầu, cảng biển, cảngsông, sân bay, đường sắt, đường quốc lộ - có mức vốn trên 600 tỷ đồng
- Các dự án: Thủy lợi, giao thông ( ngoài điểm A-c), cấp thoát nước và côngtrình kỹ thuật hạ tầng; kỹ thuật điện; sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tin học, hóadược, thiết bị y tế, công trình cơ khí khác, sản xuất vật liệu, bưu chính viễn thông;BOT trong nước; xây dưng khu nhà ở; đường giao thông nội thị thuộc các khu đôthị đã có quy hoạch chi tiết được duyệt - có mức vốn trên 400 tỷ đồng
- Các dự án: hạ tầng kỹ thuật của khu đô thị mới; các dự án: Công nghiệpnhẹ, sành sứ, thủy tinh,, in; vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, mua sắm thiết
bị xây dựng; sản xuất nông lâm, ngư nghiệp, nuôi trồng thủy sản; chế biến nông,lâm sản - có mức vốn trên 300 tỷ đồng
- Các dự án: Y tế, văn hóa, giáo dục, phát thanh, truyền hình, xây dựng dândụng, kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khác -
có mức vốn trên 200 tỷ đồng
Dự án nhóm B: dự án nhóm B là các dự án đầu tư thỏa mãn một trong các
điều kiện sau:
Trang 14- Các dự án: công nghiệp điện, dầu khí, hóa chất, phân bón, chế tạo máy (baogồm cả mua và đóng tàu, lắp ráp ôtô), xi măng, luyện kim, khai thác, chế biếnkhoáng sản; các dự án giao thông: cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt,đường quốc lộ - có mức vốn từ 30 đến 600 tỷ đồng.
- Các dự án: Thủy lợi, giao thông ( ngoài điểm B-a), cấp thoát nước vàcông trình kỹ thuật hạ tầng; kỹ thuật điện; sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tinhọc, hóa dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí, sản xuất vật liệu, bưu chính viễnthông; BOT trong nước; xây dựng khu nhà ở; trường phổ thông, đường giao thôngnội thị thuộc các khu đô thị đã có quy hoạch chi tiết được duyệt - có mức vốn từ
20 đến 400 tỷ đồng
- Các dự án: hạ tầng kỹ thuật của khu đô thị mới; các dự án: công nghiệpnhẹ, sành sứ, thủy tinh,, in; vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, thiết bị xâydựng; sản xuất nông lâm, ngư nghiệp, nuôi trồng thủy sản; chế biến nông, lâm sản -
có mức vốn từ 15 đến 300 tỷ đồng
- Các dự án: Y tế, văn hóa, giáo dục, phát thanh, truyền hình, xây dựng dândụng, kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khác -
có mức vốn từ 7 đến 200 tỷ đồng
Dự án nhóm C: dự án nhóm C là các dự án đầu tư thỏa mãn một trong các
điều kiện sau:
- Các dự án: công nghiệp điện, dầu khí, hóa chất, phân bón, chế tạo máy (baogồm cả mua và đóng tàu, lắp ráp ôtô), xi măng, luyện kim, khai thác, chế biếnkhoáng sản; các dự án giao thông: cầu, cảng biển, cảng sông, sân bay, đường sắt,đường quốc lộ - có mức vốn dưới 30 tỷ đồng Các trường phổ thông nằm trong quyhoạch - không kể mức vốn
- Các dự án: Thủy lợi, giao thông ( ngoài điểm C-a), cấp thoát nước vàcông -trình kỹ thuật hạ tầng; kỹ thuật điện; sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, tinhọc, hóa dược, thiết bị y tế, công trình cơ khí, sản xuất vật liệu, bưu chính viễnthông; BOT trong nước; xây dựng khu nhà ở; trường phổ thông, đường giao thôngnội thị thuộc các khu đô thị đã có quy hoạch chi tiết được duyệt - có mức vốn dưới
20 tỷ đồng
- Các dự án: hạ tầng kỹ thuật của khu đô thị mới; các dự án: công nghiệpnhẹ, sành sứ, thủy tinh,, in; vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, thiết bị xâydựng; sản xuất nông lâm, ngư nghiệp, nuôi trồng thủy sản; chế biến nông, lâm sản -
có mức vốn từ dưới 15 tỷ đồng
Trang 15- Các dự án: Y tế, văn hóa, giáo dục, phát thanh, truyền hình, xây dựng dândụng, kho tàng, du lịch, thể dục thể thao, nghiên cứu khoa học và các dự án khác -
có mức vốn dưới 7 tỷ đồng
6 Theo cấp độ nghiên cứu
Theo cấp độ nghiên cứu thì dự án đầu tư được chia thành hai loại như sau:
Dự án tiền khả thi và dự án khả thi
Dự án tiền khả thi:dự án tiền khả thi là dự án cần thực hiện các công
việc như:
- Phân tích thị trường: Mức cung và giá cả về hàng hoá và dịch vụ hay cácnhu cầu tương đối về dịch vụ xã hội được ước tính, định lượng hoá và lý giải chứngminh
- Phân tích kỹ thuật: Các thông số nhập lượng của dự án được xác định mộtcách chi tiết và các ước tính vế chi phí được xây dựng
- Phân tích nhân lực và quản lý: Nhu cầu nhân lực cần thiết cho việc thựchiện cũng như vận hành dự án được xác định một cách chi tiết, và nguồn nhân lựcđược xác định với số lượng cụ thể
- Phân tích tài chánh hay ngân sách: Chi và thu tài chính được phân tíchcùng với việc đánh giá các phương án tái trợ khác nhau
- Phân tích hiệu quả kinh tế: Các dữ liệu tài chính được điều chỉnh thànhcác dữ liệu kinh tế Chi phí và lợi ích của dự án được tính từ quan điểm của cảnền kinh tế
- Phân tích hiệu quả xã hội: Dự án được tính theo quan điểm của những đốitượng được hưởng lợi từ dự án và từ những đối tượng phải chịu chi phí cho dự án
Ta nên định lượng hóa mức lợi ích được hưởng và chi phí phải chịu của các nhómnầy ở những chổ nào có thể làm được
Dự án khả thi: dự án khả thi là dự án cần thực hiện những công việc sau:
- Xác định những căn cứ để xác định sự cần thiết phải đầu tư: Bao gồm cácvấn đề sau: các căn cứ pháp lý để xây dựng dự án; tính hợp lý của dự án; phân tíchcác yếu tố cần thiết để xây dựng dự án
- Lựa chọn hình thức đầu tư
- Các mục tiêu và sản phẩm của dự án: Bao gồm các bước : Mục tiêu phát
triển dài hạn, mục tiêu ngắn hạn, sản phẩm dự án
- Phân tích đặc điểm khu vực của dự án: bao gồm các vấn đề sau: diện tích
sử dụng và vị trí lắp đặt gồm một số phương án về địa điểm; vận chuyển và kết cấu
Trang 16hạ tầng; khí tượng thuỷ văn của khu vực dự án; địa hình và địa chất công trình; cácyếu tố cần thiết khác và một số thông số kỹ thuật của dự án
- Phân tích sự lựa chọn công nghệ
- Các phương án và giải pháp xây dựng bao gồm các bước sau:
Phương án bố trí mặt bằng Các giải pháp xây dựng Khối lượng xây dựng và chi phí xây dựng
Tổ chức thi công xây lắp Tiến độ thi công xây lắp
- Phân tích tài chính bao gồm các bước sau :
Căn cứ phân tích tài chínhBảng dự trù doanh thu hằng nămVốn lưu động
Bảng dự trù chi phí sản xuất hằng năm Bảng dự trù lãi lỗ hằng năm
Bảng dự trù cân đối thu chiBảng tóm tắt cân đối tái sản Các chỉ số đánh giá hiệu quả tài chínhPhương án trả nợ vay
Phân tích độ nhạy
- Phân tích kinh tế xã hội bao gồm : phân tích định tính và phân tích định
lượng
7 Theo nguồn vốn đầu tư
Theo nguồn vốn đầu tư dự án đầu tư được chia thành năm loại: Dự án đầu tưbằng nguồn vốn Ngân sách nhà nước; dự án đầu tư bằng nguồn vốn đầu tư trực tiếp
và gián tiếp nước ngoài (FDI và FII); dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triểnchính thức (ODA); dự án đầu tư bằng nguồn vốn huy động của doanh nghiệp và cácnguồn vốn khác và dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗn hợp
Dự án đầu tư bằng nguồn vốn Ngân sách nhà nước: đây là các dự án đầu tư
có nguồn vốn hoàn toàn từ Ngân sách Nhà nước Và ngân sách nhà nước đầu tư chocác dự án này được hình thành từ:
- Một phần tích lũy trong nước và lệ phí
- Vốn viện trợ theo dự án của các Chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các
tổ chức của Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác
Trang 17- Vốn thu hồi nợ của Ngân sách đã cho vay ưu đãi các năm trước
- Vốn vay của Chính phủ dưới hình thức trái phiếu
- Vốn thu từ thuế giao quyền sử dụng đất do Chính phủ quy định
- Vốn thu từ bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước
- Các nguồn vốn huy động khác do Chính phủ quy định
Dự án đầu tư bằng nguồn vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và gián tiếp (FII) nước ngoài:
-Dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI – Foreign Direct Investment) là các
dự án đầu tư mà người đầu tư vốn và người sử dụng vốn là một chủ thể và nguồnvốn đầu tư là của nước ngoài Ở nước ta hiện nay các dự án đầu tư trực tiếp nướcngoài chủ yếu tập trung ở các ngành: khai thác dầu khí, xây dựng, bất động sản, dulịch,…và đang có xu hướng chuyển dịch sang một số dự án đầu tư phát triển một sốngành công nghiệp
-Dự án đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII – Foreign Indirect Investment) là các
dự án đầu tư mà người đầu tư vốn và người sử dụng vốn không là một chủ thể vànguồn vốn đầu tư là của nước ngoài
Dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA – Official Development Assistance): đây là các dự án đầu tư có nguồn vốn đầu tư là nguồn
vốn hỗ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho vay với điềukiện ưu đãi ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước đang và kém pháttriển được các các cơ quan chính thức của chính phủ trung ương và điạ phươnghoặc các cơ quan thừa hành của chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chứcphi chính phủ tài trợ Vốn ODA phát sinh từ nhu cầu cần thiết của một quốc gia,được tổ chức quốc tế hay nước bạn xem xét và cam kết tài trợ thông qua một hiệpđịnh quốc tế được đại diện có thẩm quyền hai bên nhận và hỗ trợ vốn ký kết Hiệpđịnh ký kết hỗ trợ này được chi phối bởi công pháp quốc tế
Dự án đầu tư bằng nguồn vốn huy động của doanh nghiệp và các nguồn vốn khác: đây là các dự án đầu tư mà nguồn vốn huy động là vốn tự có của doanh
nghiệp, lợi nhuận giữ lại từ hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn vay từ các tổ chứctín dụng như các ngân hàng thương mại và các nguồn vốn khác
Dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗn hợp: đây là các dự án đầu tư có nguồn
vốn huy động từ nhiều nguồn khác nhau Đó có thể là một dự án mà vốn đầu tư vừa
là nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA vừa là ngân sách nhà nước…
Ngoài ra, còn có thể phân loại dự án đầu tư theo các tiêu chí như vùng, lãnhthổ,…
Trang 181.1.2 Dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA
1.1.2.1 Khái niệm dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA
Dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA là một tập hợp các đề xuất có liên quanđến việc bỏ vốn ra để đầu tư của các nhà tài trợ nguồn vốn ODA: các nguồn vốnnày được sử dụng để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo một đối tượng nào đó nhằmmục đích đem lại sự tăng trưởng về cả số lượng lẫn chất lượng của sản phẩm haydịch vụ trên một địa bàn nhất định trong một khoảng thời gian nhất định theo địnhhướng phát triển của quốc gia nhận viện trợ và những tiêu chí đầu tư của nhà tài trợ
1.1.2.2 Vai trò của dự án đầu tư bằng vốn ODA
Dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA thể hiện mối quan hệ đối ngoại giữa Nhàtài trợ và bên nhận viện trợ, và đối với mỗi bên nó sẽ mang những ý nghĩa quantrọng khác nhau
+) Đối với nước viện trợ
Đối với các nước xuất khẩu vốn thì dự án đầu tư vốn ODA là kênh dẫn chocác công ty của họ hoạt động thuận lợi hơn ở các nước nhận viện trợ Cùng với sựgia tăng của các dự án đầu tư vốn ODA, kéo theo nó là sự gia tăng buôn bán thôngthương giữa hai quốc gia Ngoài ra, nước viện trợ còn đạt được những mục đích vềchính trị, ảnh hưởng của họ về kinh tế - văn hóa đối với nược nhận viện trợ cũngtăng lên Đối với các tổ chức đặc thù như Tổ chức xóa đói giảm nghèo JFPR củaChính phủ Nhật Bản hay các dự án đầu tư của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)thì vai trò của các dự án này đối với họ chính là đáp ứng được mục tiêu vì một Châu
Á phát triển bền vững – đúng với tôn chỉ khi các tổ chức này được thành lập
+) Đối với Việt Nam (nước nhận viện trợ)
Đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, các dự án đầu tư vốn ODA
là cơ sở cho sự phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật, cho sự phát triểncủa ngành giáo dục, y tế, hỗ trợ phát triển ngành nông nghiệp…
Một trong những yếu tố quan trọng góp phần đẩy nhanh quá trình CNH,HĐH đất nước đó là yếu tố khoa học công nghệ và khả năng tiếp thu những thànhtựu khoa học tiên tiến của đội ngũ lao độn g Thôn g qua cá c dự ánODA cá c nhà tài trợ có những hoạt động nhằm giúp Việt Nam nâng cao trình
độ khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực như: cung cấp các tàiliệu kỹ thuật, tổ chức các buổi hội thảo với sự tham gia của những chuyên gianước ngoài, cử các cán bộ Việt Nam đi học ở nước ngoài, tổ chức các chương trìnhtham quan học tập kinh nghiệm ở những nước phát triển, cử trực tiếp chuyên gia
Trang 19sang Việt Nam hỗ trợ dự án và trực tiếp cung cấp những thiết bị kỹ thuật, dâychuyền công nghệ hiện đại cho các chương trình, dự án Thông qua những hoạtđộng này các nhà tài trợ sẽ góp phần đáng kể vào việc nâng cao trình độkhoa học, công nghệ và phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam và đây mới chính
là lợi ích căn bản, lâu dài đối với chúng ta
Hơn nữa, các dự án đầu tư ODA mà các nước, các tổ chức dành cho ViệtNam thưởng ưu tiên vào phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật, phát triển nguồnnhân lực tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển cân đối giữa các ngành, các vùngkhác nhau trong cả nước và điều đó góp phần vào việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế ởnước ta
Các dự án đầu tư ODA góp phần tăng khả năng thu hút nguồn vốn FDI vàtạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển Các nhà đầu tư nước ngoài khi quyếtđịnh bỏ vốn đầu tư vào một nước, trước hết họ quan tâm tới khả năng sinh lợicủa vốn đầu tư tại nước đó Do đó, một cơ sở hạ tầng yếu kém như hệ thốnggiao thông chưa hoàn chỉnh, phương tiện thông tin liên lạc thiếu thốn và lạc hậu, hệthống cung cấp năng lượng không đủ cho nhu cầu sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư
vì những phí tổn mà họ phải trả cho việc sử dụng các tiện nghi hạ tầng sẽlên cao Một hệ thống ngân hàng lạc hậu cũng là lý do làm cho các nhàđầu tư e ngại, vì những chậm trễ, ách tắc trong hệ thống thanh toán và sựthiếu thốn các dịch vụ ngân hàng hỗ trợ cho đầu tư sẽ làm phí tổn đầu tưgia tăng dẫn tới hiệu quả đầu tư giảm sút Như vậy, đầu tư của chính phủ vào việcnâng cấp, cải thiện và xây mới các cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, ngânhàng đều hết sức cần thiết nhằm làm cho môi trường đầu tư trở nên hấpdẫn hơn Nhưng vốn đầu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng là rất lớn và nếuchỉ dựa vào vốn đầu tư trong nước thì không thể tiến hành được do đó các dự ánđầu tư vốn ODA sẽ là nguồn vốn bổ sung hết sức quan trọng Một khi môi trườngđầu tư được cải thiện sẽ làm tăng sức hút đối với dòng vốn FDI Mặtkhác,việc sử dụng vốn ODA để đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện chocác nhà đầu tư trong nước tập trung đầu tư vào các công trình sản xuất kinhdoanh có khảnăng mang lại lợi nhuận
1.1.2.3 Chu trình của một dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA
Mỗi quốc gia có một quy định riêng về việc sử dụng nguồn vốn ODA, và chutrình của một dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA ở Việt Nam cũng có những khácbiệt đối với chu trình của một dự án đầu tư thông thường, nó bao gồm ba bước
Trang 20chính như sau:
1 Giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA
2 Triển khai thực hiện dự án ODA
3 Đánh giá, kết thúc dự án ODA
Mỗi bước chính ở trên lại bao gồm nhiều bước chi tiết hơn, và sẽ được trìnhbày cụ thể dưới đây
Giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA
Giai đoạn này gồm bốn bước chi tiết sau:
+) Nghiên cứu xác định sự cần thiết và tính ưu tiên của dự án
Đối với mỗi dự án độc lập, đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ dự án Tuynhiên, theo một quy trình tổng thể, việc xác định dự án là kết quả của quy hoạch sửdụng nguồn vốn ODA của Chính phủ và của các Bộ, ngành được xác định trongdanh mục kêu gọi vốn ODA do Thủ tướng phê duyệt Dự án được sự ưu tiên trongnăm tài khóa hoặc năm tài khóa tiếp theo của Chính phủ nước đi vay (nước nhậnviện trợ) và Nhà tài trợ
Chính phủ hàng năm phải căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội,quy hoạch tổng thể, kế hoạch 5 năm để đưa ra danh mục các dự án ưu tiên nhằmvận động ODA Trên cơ sở các danh mục dự án ưu tiên, các Bộ ngành liên quan vàNhà tài trợ sẽ tổ chức các cuộc đối thoại trực tiếp để đánh giá lại các vấn đề liênquan đến khuôn khổ chiến lược trung hạn, các chính sách quốc gia và khu vực, tiềmnăng phát triển của đất nước,… sau đó các bên sẽ xác định các dự án phù hợp và cótính ưu tiên cao
+) Nghiên cứu tiền khả thi
Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ODA phảiđược xây dựng theo quy định hiện hành về quản lý đầu tư xây dựng và những nộidung đặc thù của nguồn vốn ODA như sau:
Thứ nhất, vị trí vai trò của dự án đầu tư trong quy hoạch phát triển ngành, địa
phương
Thứ hai, lý do sử dụng vốn ODA, thế mạnh của Nhà tài trợ về công nghệ,
kinh nghiệm quản lý, tư vấn chính sách thuộc lĩnh vực được quản lý
Thứ ba, đánh giá các điều kiện ràng buộc theo quy định của nhà tài trợ đối
với các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA
Thứ tư, bối cảnh và sự cần thiết phải đầu tư cũng như nhu cầu sử dụng vốn ODA Thứ năm, dự kiến mục tiêu, quy mô và hình thức đầu tư: các dự án thành
Trang 21tổ chức thực hiện,…
+) Nghiên cứu khả thi
Cũng giống như báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thicũng phải bao gồm các bước như trên, nhưng ở mức độ phân tích, đánh giá sâu hơn,chi tiết hơn và có bổ sung những nội dung sau trên cơ sở tính đặc thù của nguồn vốnODA, đó là:
Thứ nhất, phân tích ảnh hưởng môi trường của dự án đầu tư
Thứ hai, phân tích hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế xã hội của dự án đầu
tư có tính đến các ràng buộc theo quy định của nhà tài trợ
Thứ ba, tính bền vững của dự án đầu tư sau khi hoàn thành (khả năng quản lý
- Đối với các dự án ODA thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng, Bộ Kếhoạch & Đầu tư là cơ quan chủ trì tổ chức thẩm định Đối với các dự án ODA thuộcthẩm quyền phê duyệt của Thủ trưởng Cơ quan chủ quản, cấp có thẩm quyền phêduyệt giao cho cơ quan chức năng trực thuộc chủ trì tổ chức thẩm định mà cụ thể ởđây là Ban quản lý dự án
- Trong quá trình thẩm định, cơ quan chủ trì tổ chức thẩm định phải xem xétcác nội dung đã thỏa thuận với Nhà tài trợ, ý kiến thẩm định của Nhà tài trợ hoặc
Trang 22đại diện của Nhà tài trợ, ý kiến đồng thuận hoặc ý kiến khác nhau giữa các bên phảiđược phản ánh trong báo cáo thẩm định
- Hồ sơ thẩm định dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA bao gồm:
Thứ nhất, tờ trình đề nghị thẩm định của Chủ dự án
Thứ hai, ý kiến bằng văn bản của Thủ trưởng cơ quan chủ quản ( đối với các
dự án đầu tư do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt)
Thứ ba, văn kiện của dự án đầu tư, văn kiện là báo cáo nghiên cứu tiền khảthi hoặc báo cáo nghiên cứu khả thi
Các văn bản thỏa thuận, bản ghi nhớ với Nhà tài trợ hoặc đại diện của Nhàtài trợ, báo cáo của đoàn chuyên gia thẩm định hoặc thực hiện theo yêu cầu của Nhàtài trợ
- Báo cáo thẩm định phải nêu rõ ý kiến thẩm định về:
Tính chuẩn xác của các dữ liệu, luận cứ, tính toán, kết luận và đề xuất nêutrong văn kiện được thẩm định
Tính khả thi của dự án đầu tư
Tính hợp lý của việc sử dụng nguồn vốn ODA cho dự án đầu tư
Những vấn đề còn bất cập, tồn tại, hướng xử lý, biện pháp xử lý, tổ chức cótrách nhiệm xử lý và thời hạn xử lý
Những cam kết về thay đổi cơ chế, chính sách, sự khác biệt về thủ tục thựchiện chương trình, dự án ODA; yêu cầu về điều kiện tiên quyết, điều kiện của Nhàtài trợ đối với khoản vốn ODA
Đề xuất cơ quan chủ trì đàm phán điều ước quốc tế cụ thể về ODA
Triển khai thực hiện dự án ODA
Giai đoạn này bao gồm các bước: lập kế hoạch thực hiện chi tiết, đấu thầu lựachọn nhà thầu cung ứng hàng hóa và dịch vụ, quản lý việc thực hiện hợp đồng,kiếm soát chất lượng công việc
+) Công tác quy hoạch, lập kế hoạch tài chính cho dự án
- Nguyên tắc của lập kế hoạch tài chính: việc lập kế hoạch tài chính ơhải đảmbảo tuân thủ các quy định hiện hành của luật pháp Việt Nam, các cam kết giữaChính phủ Việt Nam và các nhà tài trợ nước ngoài trong việc thực hiện các dự ánđầu tư vốn ODA Các chủ dự án có trách nhiệm sử dụng nguồn vốn này và vốn đốiứng đúng mục đích và hiệu quả Vốn đưa vào kế hoạch được phân bổ theo nội dungcông việc và theo Mục lục Ngân sách nhà nước, phù hợp với tiến độ và khả năngthực tế triển khai của dự án ODA Việc lập kế hoạch vốn phải đầy đủ, căn cứ vào
Trang 23nhu cầu sát thực của dự án cho năm tới Cơ quan chủ quản ưu tiên bố trí đủ vốn đốiứng trong dự toán ngân sách hàng năm nhằm thực hiện các cam kết tại các điều ướcquốc tế ODA đã ký và phù hợp với khả năng giải ngân thực tế hàng năm của dự ánODA
- Kế hoạch tài chính của dự án ODA bao gồm:
Vốn ODA được phân chia chi tiết thưeo từng nguồn vốn vay nợ, vốn viện trợkhông hoàn lại được chia tách theo từng quốc gia viện trợ hay tổ chức viện trợ.Vốn đối ứng trong nước cần được chi tiết theo từng nguồn vốn được cấp từNgân sách Trung ương, vốn được cấp từ Ngân sách địa phương, vốn tín dụng trongnước, vốn tự có của chủ đầu tư, vốn đóng góp của người thụ hưởng dự án và cácnguồn vốn khác theo quy định
- Phương thức lập kế hoạch tài chính: kế hoạch tài chính có thể được lập chotoàn bộ hoặc một phần của dự án ODA, khi lập phải căn cứ vào tính chất chi của dự
án Nếu dự án chi cho đầu tư xây dựng cơ bản thì phải lập kế hoạch tài chính theonguồn vốn xây dựng cơ bản, dự án có tính chất chi hành chính sự nghiệp phải lập kếhoạch tài chính theo nguồn vốn hành chính sự nghiệp,… và cụ thể theo từng lĩnhvực chi, các dự án hỗn hợp thì cấu phần dự án có hình thức chi nào sẽ được lập kếhoạch quản lý chi tiêu và quyết toán theo hình thức chi đó
- Bố trí vốn đối ứng trong nước: để có thể bố trí vốn đối ứng trong kế hoạchhàng năm, dự án đầu tư vốn ODA phải đảm bảo hai điều kiện: điều ước quốc tế về
dự án đã có hiệu lực; đã hoàn thành xong các thủ tục đầu tư trong nước (dự án khảthi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt)
Tất cả các dự án đầu tư vốn ODA có yêu cầu về vốn đối ứng hàng năm đềuphải lập kế hoạch vốn đối ứng Các cơ quan chủ quản tổng hợp kế hoạch vốn đốiứng của các dự án ODA do mình trực tiếp quản lý Đối với các dự án đầu tư vốnODA mà trong Điều ước quốc tế được ký kết không quy định cụ thể phía Việt Namphải đóng góp vốn đối ứng thì không bố trí vốn đối ứng, kể cả vốn góp bằng tiền,hiện vật hay bằng các trách nhiệm khác Các dự án ODA phải tính toán đầy đủ nhucầu vốn đối ứng trong kế hoạch năm tới, kể cả phần vốn đối ứng cho nguồn vốn vaynăm trước đã được phê duyệt nhưng chưa giải ngân và phải dự trù các khoản thuế(kể cả các khoản thuế nộp theo hình thức ghi thu, ghi chi)
+) Thủ tục chuẩn bị đầu tư, thẩm định, giám sát, quản lý các dự án thành phần
Đây là quá trình triển khai thực hiện dự án bao gồm các bước thực hiện:
Trang 24-Hợp đồng tư vấn lập khảo sát thiết kế (đối với một số quốc gia tài trợ, họyêu cầu phải tuyển tư vấn là đơn vị tư vấn của quốc gia đó)
-Thẩm định dự án đầu tư: chủ đầu tư, ban quản lý dự án trình hồ sơ lên các
cơ quan có thẩm quyền
-Phê duyệt kế hoạch đấu thầu đối với các dự án đầu tư lớn chia thành nhiềugói thầu
Quá trình phê duyệt hồ sơ mời thầu
Phê duyệt giá gói thầu
Mở thầu, đánh giá kết quả lựa chọn nhà thầu
Đánh giá, kết thúc dự án đầu tư vốn ODA
Khi kết thúc thời gian hoạt động dự án, cần phải tiến hành đánh giá dự ántrên các cơ sở chính sau:
Dự án có đạt được mục tiêu trực tiếp đề ra hay không?
Dự án có góp phần vào tăng trưởng và phát triển nền kinh tế quốc dân haykhông?
Hiệu quả của việc đạt được các mục tiêu đó ra sao?
Những bài học cần rút ra
Sau khi kết thúc, giám đốc Ban quản lý dự án phải làm báo cáo về tình hình thựchiện và đánh giá dựa trên các cơ sở trên với sự xác nhận của Cơ quan chủ quản vàgửi về Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ tài chính, Ngân hàng nhà nước Việt Nam và Vănphòng Chính phủ
1.1.2.4 Đặc điểm của dự án đầu tư bằng vốn ODA
Mỗi một dự án đầu tư bằng vốn ODA có những đặc thù riêng có của nó tùythuộc vào mục đích của nước nhận viện trợ cũng như nước viện trợ, nhưng nhìnchung các dự án này có một số đặc điểm chung như sau:
- Nguồn vốn đầu tư: Toàn bộ hoặc một phần nguồn vốn thực hiện dự ánODA là do các tổ chức/chính phủ nước ngoài, các tổ chức song phương tài trợ Cơchế tài chính trong nước đối với việc sử dụng ODA là cấp phát, cho vay (toànbộ/một phần) từ ngân sách Nhà nước Các dự án ODA thường có vốn đối ứng làkhoản đóng góp của phía Việt Nam bằng hiện vật và giá trị để chuẩn bị và thực hiệncác chương trình, dự án (có thể dưới dạng tiền được cấp từ ngân sách hoặc nhân
Trang 25lực, cơ sở vật chất) Nguồn vốn là điểm khác biệt lớn nhất giữa dự án ODA với các
dự án khác; kèm theo nó là các yêu cầu, quy định, cơ sở pháp lý về quản lý và thựchiện của nhà đầu tư và nhà tài trợ
- Tính tạm thời: Tính tạm thời có nghĩa là các dự án ODA có khởi điểm vàkết thúc xác định Dự án không phải là loại công việc hàng ngày, thường tiếp diễn,lặp đi lặp lại theo quy trình có sẵn Dự án có thể thực hiện trong một thời gian ngắnhoặc có thể kéo dài trong nhiều năm Về mặt nhân sự, dự án không có nhân công cốđịnh, họ chỉ gắn bó với dự án trong một khoảng thời gian nhất định (một phần hoặctoàn bộ thời gian thực hiện dự án) Khi dự án kết thúc, các cán bộ dự án có thể phảichuyển sang/tìm kiếm một công việc/hợp đồng mới
- Tính duy nhất: mặc dù có thể có những mục đích tương tự, nhưng mỗi dự
án ODA phải đối mặt với những vấn đề về nguồn lực, môi trường và khó khăn khácnhau Hơn thế nữa, ở mức độ nhất định, mỗi dự án đem lại các sản phẩm, dịch vụ
“duy nhất”, không giống hoàn toàn với bất kỳ dự án nào khác Ví dụ như đều vớimục đích xây nhà nhưng các dự án có sự khác biệt về chủ đầu tư, thiết kế, địađiểm, Khi sử dụng kinh nghiệm trong việc lập kế hoạch các dự án tương tự nhau,cần phải hiểu rõ các đặc trưng riêng của mỗi dự án Hơn thế nữa, cần phải phân tíchthật kỹ lưỡng cũng như có kế hoạch chi tiết trước khi bắt đầu thực hiện
- Sự phát triển của dự án luôn luôn là sự chi tiết hóa: Đặc tính này đi kèmvới tính tạm thời và duy nhất của một dự án ODA Trong suốt quá trình thực hiện
dự án, ở mỗi bước thực hiện cần có sự phát triển và liên tục được cụ thể hoá vớimức độ cao hơn, kỹ lưỡng, công phu hơn Ví dụ như: Mục đích ban đầu đặt ra của
dự án ”Đảm bảo an ninh lương thực và nước sạch cho những người nông dân nghèo
ở tỉnh X” có thể được cụ thể hoá là “Ưu tiên tập trung nâng cao năng suất, sảnlượng lương thực và tiếp thị và tiếp đến cung cấp nguồn nước sạch cho người dân”khi nhóm thực hiện dự án phát triển các hiểu biết của mình về mục đích, phạm vi,sản phẩm của dự án
- Tính giới hạn: Mỗi dự án ODA được thực hiện trong một khoảng thời gian,nguồn lực và kinh phí nhất định Các nhà quản lý cần phải liên tục cân bằng về nhucầu, tài chính, nguồn lực và lịch trình để hoàn thành dự án, đảm bảo yêu cầu củanhà đầu tư và nhà tài trợ
1.1.3 Thẩm định dự án đầu tư bằng vốn ODA
1.1.3.1 Sự cần thiết của việc thẩm định dự án đầu tư bằng vốn ODA
Thẩm định dự án đầu tư là việc rà soát, kiểm tra lại một cách khoa học,
Trang 26khách quan và toàn diện mọi nội dung của dự án và liên quan đến dự án nhằmkhẳng định tính hiệu quả cũng như tính khả thi của dự án trước khi đưa ra quyếtđịnh đầu tư.
Có thể nói rằng mục đích của việc thẩm định dự án đầu tư là nhằm phát hiệnngăn chặn những dự án xấu không có tính khả thi, không bỏ sót các dự án tốt trongquy luật ngày càng khan hiếm của các nguồn lực Công việc thẩm định dự án đầu tư
là nhắm đến quyền lợi và sự an toàn của chính các đối tượng có liên quan đến dự án
đó là quyền lợi của nhà tài trợ, quyền lợi của quốc gia Kết quả thẩm định vì vậyphải độc lập với tất cả những ý muốn chủ quan cho dù nó đến từ bất kì phía nào
Các dự án đầu tư mang tính chiến lược một mặt thường có ảnh hưởng rất lớnđối với đơn vị thực hiện, mặt khác luôn có những rủi ro đi kèm quá trình đầu tư dù
dự án đó đã được tính toán kỹ lưỡng Để đánh giá hết hiệu quả cũng như tính khảthi của dự án, các chủ đầu tư, các nhà quản lý và các nhà tài trợ đều phải tiến hànhthẩm tra, xem xét các chỉ tiêu tài chính, kinh tế, xã hội môi trường của dự án Quaquá trình thẩm tra đó, họ có thể thấy được những mặt tích cực và tiêu cực của dự án,
từ đó cân nhắc xem có nhên thực hiện dự án hay không Như vậy, mục đích củaviệc thẩm định dự án là nhằm loại bỏ ở mức độ có thể những rủi ro có nguy cơ mắcphải của dự án và trợ giúp cho việc ra quyết định đầu tư
Thẩm định dự án đầu tư có thể được xem là quá trình thẩm tra, xem xét, đánhgiá một cách khoa học, toàn diện những nội dung ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế, xãhội và tính khả thi của dự án; từ đó ra quyết định có đầu tư hay không.Các dự án kinh tế thường dự tính một thực tế trong tương lai, vì vậy thường mangtính phỏng đoán và vì độ chính xác không đạt đến 100% Mặt khác, các chủ đầu tưkhi tiến hành phân tích đánh giá các chỉ tiêu kinh tế thường không lường hết đượcnhững thay đổi của thị trường nên những đánh giá đó thường mang tính thời điểm
và chủ quan Bên cạnh đó, một quyết định đầu tư là một quyết định tài chính dàihạn, đòi hỏi lượng vốn không nhỏ, với một thời gian hoàn vốn tương đối dài, chịuảnh hưởng của những biến động trên thị trường Hơn nữa, những biến động đó kéotheo những ảnh hưởng về kinh tế, xã hội môi trường đến nhiều phía Vì vậy thẩmđịnh là một công đoạn không thể thiếu, giúp hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêucực đến các bên
Việc thẩm định dự án sẽ giúp loại bỏ những dự án xấu, lựa chọn được những
dự án tốt, hứa hẹn một hiệu quả cao Đứng trên mỗi góc độ, thẩm định dự án đềuđem lại những kết quả nhất định và có ý nghĩa riêng với mỗi bên
Trang 27- Về phía chủ đầu tư: việc thẩm định dự án sẽ giúp các chủ đầu tư lựa chọnđược những dự án tối ưu, có tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện tự có và khảnăng huy động các nguồn tài chính; tạo điều kiện thực hiện có hiệu quả dự án, manglại lợi nhuận lớn trong tương lai.
- Về phía các cơ quan chuyên quản; thẩm định dự án sẽ giúp họ đánh giáđược tính cần thiết và phù hợp của dự án đối với tổng thể các kế hoạch chương trìnhkinh tế của nhà nước tại địa phương Xác định được hiệu quả của việc sử dụng cácnguồn lực xã hội của dự án, xác định được những tác động có lợi và có hại của dự
án đối với môi trường và những lợi ích khác
- Về phía nhà tài trợ; thẩm định dự án giúp họ đưa ra được quyết định sửdụng tài chính của mình một cách chính xác Thông qua quá trình thẩm định, họ sẽnắm được các luồng chi phí và giá trị thu được từ dự án; đánh giá được khả năngthanh toán của chủ đầu tư trong quá trình thực hiện dự án; đảm bảo an toàn tàichính cho mình
1.1.3.2 Nội dung thẩm định dự án đầu tư bằng vốn ODA
Công tác thẩm định dự án đầu tư bằng vốn ODA là khâu quan trọngtrong thời kỳ chuẩn bị dự án, được thực hiện bằng kỹ thuật phân tích dự án để
ra quyết định đầu tư Công tác thẩm định mỗi dự án khác nhau có những bướckhác nhau nhưng nhìn chung bao gồm các bước: Thẩm định thị trường, thẩmđịnh kỹ thuật, thẩm định tổ chức – quản lý dự án, thẩm định tài chính và thẩmđịnh kinh tế - xã hội
a) Thẩm định thị trường
Là việc tiến hành phân tích các kết quả nghiên cứu thị trường nhằm đưa racác kết luận hợp lý, chính xác về thị trường thực hiện của dự án Thẩm định thịtrường giúp các chuyên gia lựa chọn mục tiêu, xác định rõ phương hướng và quy
mô của dự án
b) Thẩm định kỹ thuật
Là việc phân tích mặt kỹ thuật của dự án Thẩm định kỹ thuật là công việcphức tạp, đòi hỏi phải có các chuyên gia kỹ thuật chuyên sâu về từng khía cạnh kỹthuật của dự án Sự chính xác trong thẩm định kỹ thuật sẽ quyết định tính khả thicủa dự án về mặt kỹ thuật, làm cơ sở cho các bước thẩm định tiếp theo
Thẩm định kỹ thuật thường bao gồm các nội dung: thẩm định sự cần thiếtcủa dự án Thẩm định xem quy mô dự kiến của dự án có phù hợp hay không, thẩmđịnh công nghệ và trang thiết bị có được đảm bảo về chất lượng và giá cả, thẩm
Trang 28định nguồn nguyên liệu và các yếu tố đầu vào khác xem nhu cầu nguyên vật liệu đãtính toán có thực sự phù hợp với trang thiết bị công nghệ hay không, mức dự trữnhư thế nào để dự án có thể được triển khai tốt và liên tục… Ngoài ra trong thẩmđịnh kĩ thuật cũng cần xem xét phương án địa điểm xây dựng cũng như phương ánkiến trúc vì đó cũng là điều kiện quan trọng để dự án có thể vận hành tốt.
Về lao động và chính sách tiền lương cần: xác định rõ nhu cầu về lao động,căn cứ vào yêu cầu kỹ thuật và hoạt động điều hành dự án; xác định nguồn lao động
và chi phí tuyển dụng, đào tạo, xác định hình thức trả lương hợp lý Với đặc thù làcác dự án từ nguồn vốn ODA – những dự án hầu hết có yêu cầu kỹ thuật và khoahọc công nghệ cao mà trình độ khoa học kỹ thuật trong nước chưa đủ trình độ tiếpnhận thì cần thỏa thuận để bên bán hay bên hỗ trợ vốn đưa chuyên gia tư vấn sang
hỗ trợ
d) Thẩm định kinh tế - xã hội
Là việc đánh giá dự án có những tác động gì đối với nền kinh tế và xã hội
Ta phải tiến hành xem xét những lợi ích kinh tế xã hội ròng mà dự án đem lại Lợiích kinh tế xã hội ròng của dự án là chênh lệch giữa các lợi ích mà nền kinh tế và xãhội thu được so với các đóng góp mà nền kinh tế và xã hội đã phải bỏ ra khi thựchiện dự án
Lợi ích mà xã hội thu được chính là sự đóng góp của dự án đối với việc thựchiện các mục tiêu chung của xã hội, của nền kinh tế Những lợi ích này có thể đượcxem xét một cách định tính như đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế, phục vụviệc thực hiện các chủ trương chính sách của nhà nước, góp phần chống ô nhiễmmôi trường, cải tạo dân sinh,… hoặc đo lường bằng cách tính toán định lượng nhưmức tăng thu cho ngân sách, mức gia tăng số người có việc làm, mức tăng thu ngoạitệ,…
Trang 29Khi thẩm định kinh tế - xã hội của các dự án đầu tư bằng vốn ODA cần tậptrung vào các mục tiêu chủ yếu sau: nâng cao mức sống của dân cư được thể hiệngián tiếp qua các số liệu cụ thể về mức gia tăng sản phẩm quốc dân, gia tăng tíchlũy vốn, gia tăng đầu tư, tốc độ phát triển và tăng trưởng,…; phân phối lại thu nhậpthể hiện qua sự đóng góp của dự án vào việc phát triển các vùng kinh tế, nâng caođời sống của tầng lớp dân cư nghèo; tăng thu và tiết kiệm ngoại tệ; gia tăng số laođộng có việc làm; nâng cao năng suất lao động, đào tạo lao động có trình độ taynghề cao, tiếp nhận chuyển giao công nghệ hoàn thiện cơ cấu sản xuất của nền kinhtế; phát triển các ngành công nghiệp chủ đạo có tác dụng thúc đẩy sự phát triển củacác ngành khác
e) Thẩm định tài chính dự án đầu tư
Nội dung cuối cùng trong công tác thẩm định dự án đầu tư chính là thẩmđịnh tài chính dự án đầu tư Đó là việc xem xét đánh giá và đưa ra những con số cụthể về khả năng sinh lợi của vốn đầu tư Thẩm định tài chính dự án cho phép nhàđầu tư đánh giá tính khả thi về mặt tài chính của dự án Mục đích chính của thẩmđịnh tài chính dự án là xác định chi phí và lợi ích của dự án, từ đó xây dựng và xemxét các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của dự án nhằm từ đó đánh giá tính khảthi của dự án về khía cạnh tài chính là có hay không
Điều quan trọng trong thẩm định tài chính dự án là phải xây dựng được một
hệ thống định mức tiêu chuẩn các chỉ tiêu thông qua việc nghiên cứu kỹ thị trườngcũng như mặt bằng hàng hóa, dịch vụ cung ứng ở thời điểm tiến hành triển khai dự
án Thẩm định tài chính dự án đầu tư là một nội dung rất quan trọng ảnh hưởngsống còn đến sự thành bại của một dự án đầu tư và sẽ được phân tích rõ ở phần sau
1.2 Thẩm định tài chính dự án đầu tư bằng vốn ODA
1.2.1 Khái niệm thẩm định tài chính dự án đầu tư
Thẩm định tài chính dự án là việc xem xét, đánh giá và đưa ra những con số
cụ thể về khả năng sinh lời của vốn đầu tư và qua đó cho phép nhà đầu tư đánh giátính khả thi về mặt tài chính của dự án
Thẩm định tài chính dự án là việc kiểm tra và rà soát lại về mặt tài chính của
dự án để tính toán chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án làm cơ sở cho việc ra quyếtđịnh đầu tư vào dự án Như vậy thẩm định tài chính chỉ đánh giá khía cạnh tài chínhcủa dự án như quy mô vốn đầu tư, cơ cấu nguồn vốn, tính toán thu chi, lãi lỗ, nhưngchính những nội dung này lại là yếu tố cơ bản mang lại lợi ích thiết thực cho nhàđầu tư và cho cả cộng đồng Thẩm định tài chính là cơ sở quan trọng giúp các nhà
Trang 30đầu tư quyết định có nên thực hiện dự án hay không, là cơ sở để tiến hành phân tíchkinh tế xã hội.
1.2.2 Sự cần thiết phải thẩm định tài chính dự án đầu tư bằng vốn ODA
Trên thực tế, phần lớn các dự án đầu tư thực hiện dở dang, thất bại là do đãkhông được thẩm định một cách kỹ lưỡng trước khi thực hiện, còn mang tính chủquan của người lập dự án Do vậy, khi có những thay đổi thực tế ngoài dự kiến cácchủ đầu tư thường lâm vào tình thế lúng túng và bị động Chính vì lẽ đó, đối với bất
kỳ dự án đầu tư nào, việc thẩm định dự án đầu tư, đặc biệt là thẩm định tài chính dự
án đầu tư là khâu vô cùng quan trọng, không thể thiếu khi tiến hành lập dự án
Thẩm định tài chính dự án là một trong những công việc quan trọng của một
dự án vốn ODA bởi các lý do sau:
- Đó là công việc nhằm khẳng định tiềm lực tài chính cho việc thực hiện
dự án
- Phân tích những kết quả hạch toán kinh tế của dự án
Thẩm định tài chính dự án nhằm xác định chi phí và lợi ích của dự án, từ đóxây dựng và xem xét các tiêu chuẩn đánh giá dự án Thông qua phân tích ta xácđịnh được quy mô đầu tư, cơ cấu các loại vốn, tính toán thu chi, những lợi ích thiếtthực mang lại cho nhà đầu tư và cộng đồng Thẩm định tài chính dự án đầu tư giúpbảo vệ dự án tốt khỏi bị bác bỏ, ngăn chặn những dự án tồi, góp phần đảm bảo việc
sử dụng hiệu quả vốn đầu tư và được thể hiện trên các khía cạnh sau:
+ Giúp cho chủ đầu tư lựa chọn được phương án đầu tư tốt nhất
+ Giúp cho cơ quan quản lý vĩ mô của Nhà nước đánh giá được tính phù hợpcủa dự án với quy hoạch phát triển chung của ngành, vùng lãnh thổ và của cả nướctrên các mặt mục tiêu, quy mô, quy hoạch và hiệu quả
+ Giúp cho việc xác định những lợi ích cũng như những hạn chế của dự ántrên các mặt khi đi vào hoạt động , từ đó có các biện pháp để khai thác những lợiích và làm giảm những hạn chế
Đánh giá hiệu quả về mặt tài chính sẽ giúp dự án có được đưa vào quy hoạchvốn ODA của Chính phủ hay không? Và thẩm định tài chính dự án là cơ sở để tiếnhành phân tích kinh tế - xã hội, một yếu tố rất được chú trọng và ưu tiên đối vớiviệc phân bổ nguồn vốn ODA của Chính phủ cho các dự án
1.2.3 Nội dung thẩm định tài chính dự án đầu tư bằng vốn ODA
Để việc thẩm định tài chính dự án đầu tư vốn ODA được chi tiết, cụ thể và
có tính chính xác cao nhất, Ban quản lý dự án cần tiến hành thẩm định rất nhiều nội
Trang 31dung Xuất phát từ tính đa dạng của các thông tin mà Ban quản lý dự án sử dụngtrong quá trình lập dự án đầu tư, những thông tin được sử dụng trong thẩm định tàichính dự án đầu tư được chia thành hai nhóm, bao gồm:
Thông tin tồn tại độc lập với dự án: các quy chế quản lý của chính phủ và các
cơ quan quản lý về tài chính; tỷ lệ lạm phát thực tế và dự kiến; tỷ giá hối đoái giữacác đồng tiền,…
Thông tin dự báo từ dự án đầu tư gồm: tổng mức đầu tư của dự án; thời giantriển khai và vận hành khai thác dự án; chi phí dự kiến hàng năm của dự án; cácthông tin khác,…
Căn cứ vào các thông tin trên, việc thẩm định tài chính dự án đầu tư đượctiến hành như sau:
a) Thẩm định tổng vốn đầu tư của dự án
Đây là chỉ tiêu quan trọng đầu tiên cần được xem xét khi tiến hành thẩm địnhtài chính dự án Xác định tổng mức vốn đầu tư chính xác có ý nghĩa quan trọng đốivới tính khả thi của dự án Tổng mức vốn đầu tư của dự án bao gồm toàn bộ số vốncần thiết để thiết lập và đưa dự án vào hoạt động Tổng mức vốn đầu tư được chialàm hai loại: vốn đầu tư vào tài sản cố định và vốn đầu tư vào tài sản lưu động
Vốn đầu tư vào tài sản cố định bao gồm: chi phí chuẩn bị, chi phí xây lắp vàmua sắm thiết bị,… Trong đó, chi phí chuẩn bị là những chi phí trước khi thực hiện
dự án, chi phí này gián tiếp hoặc liên quan đến việc tạo ra và vận hành khai thác tàisản cố định đó để đạt được mục tiêu đầu tư và bao gồm các loại chi phí khác nhaunhư: chi phí khảo sát, thiết kế, chi phí cho ban quản lý, đào tào,… Các chi phí nàykhó có thể tính toán được một cách chính xác nên cần xem xét đầy đủ các khoảnmục để dự trù được sát với thực tế
Vốn đầu tư vào tài sản lưu động gồm các chi phí để tạo ra các tài sản lưuđộng ban đầu nhằm đảm bảo cho dự án có thể đi vào hoạt động theo các điều kiệnkinh tế, kỹ thuật đã dự tính Nó thường là các loại chi phí: chi phí nguyên vật liệu,điện nước, dự phòng để bù đắp các chi phí khác của dự án và dự trữ trong trườnghợp có rủi ro,…
Dự toán vốn đầu tư có ý nghĩa quan trọng vì đủ kinh phí thì dự án mới thựchiện và hoạt động theo đúng tiến độ đã đề ra, nhưng nếu dự án được tài trợ dư thừavốn thì gây ra sự lãng phí, kém hiệu quả Thẩm định vốn đầu tư sẽ rà soát lại toàn
bộ việc dự toán vốn đầu tư Thẩm định vốn đầu tư kiểm tra tính hợp lý của tổng vốnđầu tư vào dự án và từng hạng mục đầu tư, nếu chưa hợp lý thì đưa ra cách điều
Trang 32chỉnh, việc điều chỉnh tổng vốn đầu tư phải được sự thông qua của cơ quan quản lý
dự án Các dự án đầu tư vốn ODA thường là các dự án có quy mô lớn và đối với các
dự án lớn thường áp dụng phương pháp dự toán tổng thể và việc xác định vốn đầu
tư phải được thiết lập theo từng giai đoạn của dự án từ giai đoạn chuẩn bị đầu tưcho đến khi kết thúc đầu tư Đối với mỗi dự án điều quan trọng không chỉ xác địnhchính xác tổng mức vốn đầu tư cần thiết mà còn xác định cơ cấu nguồn vốn của nó
b) Thẩm định nguồn tài trợ của dự án đầu tư
Đối với các dự án đầu tư vốn ODA, thì công việc thẩm định nguồn tài trợ chỉ
đi vào những yếu tố chính sau:
- Nguồn vốn ODA tài trợ cho dự án là nguồn vốn 100% viện trợ không hoànlại, hay nguồn vốn 100% vay với điều kiện ưu đãi, hay nguồn vốn hỗn hợp vừa cókhoản không hoàn lại vừa có khoản vay?
- Nguồn vốn tài trợ cho dự án ngoài nguồn vốn ODA, nước tài trợ có yêu cầukhoản vốn đối ứng từ nước nhận viện trợ hay không?
- Nguồn vốn ODA tài trợ là từ nước nào hay tổ chức nào?
c) Thẩm định hiệu quả tài chính dự án đầu tư vốn ODA
Cũng giống như các dự án đầu tư thông thương, dự án đầu tư bằng nguồnvốn ODA sử dụng các phương pháp giá trị hiện tại ròng (NPV), tỷ lệ nội hoàn(IRR), thời gian hoàn vốn đầu tư (PP), để đánh giá hiệu quả tài chính của dự ánđầu tư
+) Giá trị hiện tại ròng (Net Present value – NPV)
Giá trị hiện tại ròng của một dự án đầu tư là số chênh lệch giữa giá trị hiện tạicủa các luồng tiền ròng kỳ vọng trong tương lai với giá trị hiện tại của vốn đầu tư
0
1 (1 k) CF
CF NPV n
CFt là dòng tiền xuất hiện tại năm thứ t của dự án, t chạy từ 1 đến n
n là số năm thực hiện dự án
k là lãi suất chiết khấu (giả định không đổi trong các năm)
Nếu NPV>0 có nghĩa là việc thực hiện dự án sẽ tạo ra giá trị tăng thêm chochủ đầu tư; NPV<0 có nghĩa là dự án không đủ bù đắp vốn đầu tư bỏ ra làm giảmgiá trị khi đầu tư; NPV=0 tức là dự án thực hiện chỉ đủ trang trải những chi phí đã
bỏ ra mà không mang lại giá trị tăng thêm cho chủ đầu tư
Sử dụng NPV để lựa chọn dự án đầu tư: Trường hợp chỉ có một dự án, bác
Trang 33bỏ dự án khi NPV âm, lựa chọn dự án có NPV dương; Trường hợp có nhiều dự ánloại trừ nhau, tức là việc chấp nhận dự án này cũng là việc loại bỏ dự án khác, thì sẽlựa chọn dự án có NPV dương lớn nhất; Trường hợp có sự hạn chế ngân sách sẽchọn tổ hợp các dự án có tổng NPV cao nhất.
Ưu điểm của NPV là tính trên dòng tiền và xét giá trị thời gian của tiền tệ, cóxét đến quy mô của dự án và thoã mãn yêu cầu tối đa hoá lợi nhuận, phù hợp vớiquan điểm của cải ròng được tạo ra phải là lớn nhất
Tuy nhiên việc sử dụng chỉ tiêu NPV để đưa ra quyết định đầu tư có thểkhông hoàn toàn đúng với lý thuyết Một dự án có NPV dương nhưng NPV quá nhỏ
so với tổng vốn đầu tư thì vẫn không được chấp nhận Hoặc khi so sánh NPV củahai dự án với nhau, một dự án có NPV cao hơn dự án kia nhưng tỷ lệ NPV so vớivốn đầu tư thì thấp hơn dự án kia có NPV thấp nhưng đạt tỷ lệ so với vốn đầu tưcao hơn thì sẽ lựa chọn dự án nào Ngoài ra tiêu chuẩn NPV cũng tỏ ra bất lợi khi sosánh dự án có vốn đầu tư khác nhau hay thời gian đầu tư khác nhau Do vậy sự kếthợp với những chỉ tiêu khác nhau vẫn là điều cần thiết khi tiến hành thẩm định tàichính dự án trong các điều kiện thực tế cụ thể
+) Tỷ suất hoàn vốn nội bộ IRR
Tỷ suất hoàn vốn nội bộ là tỷ lệ chiết khấu mà tại đó giá trị hiện tại ròng của dự ánbằng 0 Tức là:
0
RR)1
=
−+
∑
=
CF I
CF
n t
t
Có một số phương pháp thường được sử dụng để tính IRR đó là
- Phương pháp tính trực tiếp: từ công thức nêu trên ta tính trực tiếp ra đượcgiá trị IRR và đó chính là tỷ suất hoàn vốn nội bộ của dự án đầu tư Phương phápnày được áp dụng trong trường hợp dự án đầu tư có những dòng tiền các kỳ bằngnhau
- Phương pháp nội suy: đây là phương pháp được sử dụng nhiều hơn trongthực tế Theo phương pháp này ta phải tìm ra 2 tỷ lệ chiết khấu, một cho NPV cógiá trị dương (IRR1), một cho NPV có giá trị âm (IRR2) Tỷ suất hoàn vốn nội bộcần tính (ứng với NPV=0) sẽ nằm giữa hai tỷ lệ chiết khấu IRR1 và IRR2 Việc nộisuy giá trị gần đúng IRR được tính theo công thức:
IRR= IRR1 + (NPV1(IRR2-IRR1))/(NPV1+NPV2)
Việc tính toán IRR được sử dụng bằng các phần mềm máy tính thông dụngtrên cơ sở các thuật toán tính gần đúng giá trị căn cứ vào phương trình trên hoặc sử
Trang 34dụng phương pháp thử và sai.
IRR phản ánh khả năng sinh lợi của dự án, nó cho biết tỷ lệ sinh lời hàngnăm trên một đồng vốn đầu tư, chưa tính đến chi phí cơ hội của vốn đầu tư Tức lànếu như chiết khấu các luồng tiền theo IRR, PV sẽ bằng đầu tư ban đầu C0 Hay nóicách khác,nếu chi phí vốn bằng IRR, dự án sẽ không tạo thêm được giá trị haykhông có lãi
Từ phân tích trên, ta dễ dàng nhận thấy rằng nếu IRR lớn hơn chi phí vốn (tỷ
lệ chiết khấu của dự án) thì dự án được coi là có tính khả thi, trường hợp này tươngđương với dự án có NPV dương Ngược lại, nếu như IRR nhỏ hơn chi phí vốn thì
dự án sẽ không được chấp nhận Đối với một tập hợp các dự án phụ thuộc với nhauthì ta sẽ lựa chọn các dự án có IRR lớn hơn chi phí vốn và IRR max Các nhà thẩmđịnh sẽ căn cứ vào nguyên tắc trên để đánh giá dự án
Ưu điểm của IRR là đã khắc phục được nhược điểm của NPV, có thể so sánhđược các dự án có quy mô vốn đầu tư và thời gian khác nhau vì nó thể hiện tỷ suấtsinh lời bình quân hàng năm của dự án Có thể tính IRR mà không cần biết lãi suấtchiết khấu do vậy có thể bỏ qua việc xác định chi phí vốn
Về nhược điểm, một dự án rất dễ dẫn tới IRR đa trị, có nghĩa là cùng tồn tạimột lúc nhiều hơn một giá trị của IRR làm cho NPV bằng 0 Điều này gây khó khăncho quá trình đánh giá hiệu quả của dự án
+) Thời gian hoàn vốn đầu tư (PP)
Vốn đầu tư được thu hồi như thế nào, trong vòng bao nhiêu năm cũng là mốiquan tâm của các nhà đầu tư Cùng với các chỉ tiêu khác như nhau, dự án có thờigian thu hồi vốn nhanh thì càng có mức rủi ro của việc thu hồi vốn càng thấp
Thời gian hoàn vốn (PP) của một dự án đầu tư là độ dài thời gian để thu hồi
đủ vốn đầu tư ban đầu hay là độ dài thời gian dự tính cần thiết để các dòng tiền ròngcủa dự án bù đắp được chi phí của nó
PP = Tổng số vốn đầu tư/ (Lợi nhuận sau thuế + Khấu hao)
Khấu hao được coi là một nguồn thu của dự án và được tính vào chi phí sảnxuất để xác định lợi nhuận trong khỉ tiêu thời gian hoàn vốn đầu tư trong thẩm địnhtài chính dự án có nhiều nhược điểm hơn so với các chỉ tiêu khác, do trong quá trìnhtính toán không tính đến giá trị thời gian của tiền Hơn nữa, bỏ qua việc tính toánđến tác động của các dòng tiền của dự án sau thời gian hoàn vốn
Hiện nay, một số nhà phân tích đầu tư còn sử dụng một chỉ tiêu thời gianhoàn vốn sau khi đã tính đến yếu tố thời gian của tiền Chỉ tiêu này được gọi là thời
Trang 35gian thu hồi vốn có tính đến chiết khấu Thực chất đây là việc tính toán thời gianthu hồi vốn căn cứ theo giá trị hiện tại của các luồng tiền Tuy nhiên, phương phápnày vẫn mắc phải một số nhược điểm cơ bản của chỉ tiêu thời gian hoàn vốn, vì nókhông quan tâm đến các luồng tiền sau thời gian thu hồi vốn Và do vậy có thể bỏqua các cơ hội đầu tư tốt.
+) Chỉ số doanh lợi (PI)
Chỉ số doanh lợi PI được sử dụng như là một chỉ tiêu xếp hạng dự án khi bịgiới hạn về nguồn vốn Nó được tính bằng tổng giá trị hiện tại của các dòng tiềntrong tương lai chia cho vốn đầu tư bỏ ra ban đầu:
0
1 ( 1 )
CF k
CF PI
Sử dụng PI khắc phục được khó khăn khi sử dụng chỉ tiêu NPV do PI là sốtương đối, phản ánh khả năng sinh lời của một đồng vốn đầu tư trong cả vòng đờicủa dự án, do đó nó có thể so sánh được các dự án có thời gian và quy mô vốn đầu
tư khác nhau.Tuy nhiên PI cũng có nhược điểm giống IRR là không phản ánh đượcquy mô gia tăng giá trị cho chủ đầu tư Việc thẩm định dựa vào PI và NPV thườngcùng dẫn tới một kết luận như nhau
d) Thẩm định dòng tiền của dự án đầu tư
Việc xác định dòng tiền đầu tư có phù hợp hay không là một trong những cơ
sở để Ban quản lý dự án đưa ra những phân tích, đánh giá nhằm xác định hiệu quảtài chính của dự án đầu tư
Dòng tiền của dự án được hiểu là các khoản chi và thu được kỳ vọng xuấthiện tại các mốc thời gian khác nhau trong suốt chu kỳ của dự án đầu tư Nếu ta lấytoàn bộ khoản tiền thu được trừ đi khoản tiền đã chi thì khoảng chênh lệch này đượcđịnh nghĩa là dòng tiền của dự án tại các mốc thời gian khác nhau (thường là từngnăm) Dòng tiền của dự án có thể dương cũng có thể âm
Trang 36Dòng tiền bao gồm có dòng tiền vào và dòng tiền ra của dự án Dòng tiềnvào (CIF) phản ánh các khoản tiền thu từ hoạt động sản bán sản phẩm hàng nămcủa dự án Dòng tiền ra (COF) phản ánh các khoản tiền chi ra hàng năm phát sinh từviệc vận hành dự án, hay cách khác nó phản ánh các luồng tiền chi ra để mua sắmtài sản, xây dựng và các khoản chi phí của dự án Trong dòng tiền ra của dự án,chiphí chìm bị loại bỏ, tuy nhiên chi phí cơ hội vẫn được tính vào dòng tiền.
Dòng tiền vào (CIF) của dự án gồm có: Thu từ các hoạt động bán các sảnphẩm của dự án; Thu từ các hoạt động tài chính; Thu khác
Dòng tiền ra (COF) của dự án gồm có: Các khoản chi phí cố định đó là muasắm máy móc thiết bị, chi phí xây dựng, chi phí sữa chữa bảo quản thườngxuyên…;Các khoản chi biến đổi: Chi phí nguyên, nhiên liệu, tiền lương nhâncông….; Các khoản chi tài chính: chi phí mua bảo hiểm,lãi vay phải trả…; Cáckhoản chi khác
Chênh lệch giữa dòng ra và dòng vào của dự án chính là dòng tiền ròng(NCF) của dự án,là cơ sở để tính hiệu quả kinh tế của dự án Ta có:
NCF = CIF – COF
Trong đó: NCF là dòng tiền ròng;
CIF là dòng tiền vào của dự án;
COF là dòng tiền ra của dự án
Đối với nhiều dự án, năm cuối cùng thường xuất hiện thêm một dòng tiềnnữa, đó là dòng thu hồi tài sản (bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu động ròng).Dòng tiền này thường được cộng gộp với dòng tiền năm cuối để làm cơ sở tínhNPV Dòng tiền thu hồi tài sản được xác định bằng chênh lệch giữa dòng thu vàdòng chi từ hoạt động thanh lý tài sản
Phân tích dòng tiền của dự án thực sự là một nội dung quan trọng trong phântích tài chính dự án Nó là hoạt động chiếm phần lớn thời gian cũng như nội dungcông việc của quá trình phân tích Từ việc đánh giá các nhân tố cấu thành nêndoanh thu và chi phí của dự án đến tổng hợp chúng lại thành những dòng thu và chicủa dự án, dòng trả nợ, dòng khấu hao tài sản cố định…
e) Thẩm định tỷ lệ chiết khấu
Để xem dự án có hiệu quả hay không, chỉ tiêu NPV thường được sử dụngnhiều nhất và để xác định được chính xác NPV của dự án thì việc xác định chínhxác lãi suất chiết khấu là điều tối quan trọng Lãi suất chiết khấu được hiểu là tỷ lệ
mà nhờ đó dòng tiền của dự án được quy về hiện tại Cơ sở để lựa chọn lãi suất
Trang 37chiết khấu là phân tích rủi ro và khả năng sinh lợi của dự án Hơn nữa cơ cấu vốncũng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc lựa chọn lãi suất chiết khấu Nhưvậy về bản chất lãi suất chiết khấu của một dự án chính là chi phí vốn của dự án đó.
Đối với các dự án đầu tư tại Ban quản lý dự án, có đặc thù là vốn vay ODA
từ các nhà tài trợ, và một phần vốn đối ứng của nhà nước (phần vốn đối ứng nàyđược cán bộ thẩm định coi như vốn chủ sỡ hữu đối với các doanh nghiệp), do đó họ
sử dụng công thức tính sau:
WACC = (S/S+B)*rS +(B/S+B)*rB
Trong đó: rS là chi phí của vốn đối ứng
rB là chi phí nợ hay là lãi vay
S/S+B là tỷ trọng giá trị của vốn chủ sở hữu
B/S+B là tỷ trọng giá trị của nợ
Việc dự báo tỷ lệ chiết khấu phụ thuộc nhiều vào mức độ rủi ro của dự án đó,nên việc xem xét mức độ rủi ro trong hoạt động đầu tư của dự án là cần thiết khimuốn tính toán được một tỷ lệ chiết khấu có độ chính xác cao Khi tính lãi suấtchiết khấu của dự án đầu tư cần đảm bảo nguyên tắc quan trọng là nguyên tắc nhấtquán trong mối quan hệ giữa xác định dòng tiền và lựa chọn lãi suất chiết khấu
f) Thẩm định độ nhạy của dự án đầu tư
Khi tiến hành thẩm định tài chính dự án đầu tư, cán bộ thẩm định cần xemxét mức độ tin cậy của các thông tin về dự án như các dòng tiền dự tính, mức độ rủi
ro tối đa có thể xảy ra
Việc thẩm định mức độ tin cậy của dự án giúp Ban lãnh đạo không bỏ lỡ cơhội đầu tư hay quyết định đầu tư sai, việc làm này giúp cho việc tính toán một tý lệchiết khấu hợp lý của dự án Nếu việc dự tính các dòng tiền là không đáng tin cậythì tất cả các tình toán sau đó đều không có ý nghĩa, dẫn đến những quyết định đầu
tư sai lầm và ngược lại Để đánh giá mức độ tin cậy của dòng tiền, các chỉ tiêu tàichính như NPV, IRR, tỷ lệ chiết khấu ta có thể sử dụng phương pháp sau:
Trước khi tính toán các chỉ tiêu tài chính phải căn cứ vào các dòng tiền dựtính và các giả định để dự tính nó được coi là tình huống cơ sở Cần xem xét các saisót dẫn đến kết quả tính toán không chính xác bằng cách thay đổi một số giả thiết
dự tính trong tương lai như đặt các mức cao hơn hay thấp hơn các yếu tố của dự án
Phân tích tình huống có thể xảy ra, nếu hầu hết các giả thiết đều cho kết quảNPV dương thì có thể lấy đó làm căn cứ tiến hành thực hiện dự án còn trường hợpNPV âm thì tạm kết luận mức rủi ro dự tính cao và cần xem xét lại trước khi ra
Trang 38quyết định đầu tư và đo đó có thể phải điều chỉnh lại tỷ lệ chiết khấu của dự án chophù hợp.
1.3 Chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư bằng vốn ODA
1.3.1 Khái niệm chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư bằng vốn ODA
Chất lượng là một khái niệm tương đối trừu tượng, mỗi người, mỗi tổ chức
có thể có những cách hiểu khác nhau về chất lượng Theo hệ thống quản lý chấtlượng ISO: chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng cácyêu cầu Theo đó chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư vốn ODA là tập hợpcác chỉ tiêu bao gồm các nội dung thẩm định tài chính, quy trình thẩm định, kỹthuật thẩm định đáp ứng được yêu cầu của mục tiêu đề ra
Đối với thẩm định tài chính dự án vốn ODA, một dự án có chất lượng thẩmđịnh tốt có nghĩa là dự án đó khi được thực hiện trong tương lai sẽ diễn biến theođúng những gì mà nhà phân tích đã nhận định trong phần thẩm định tài chính cả vềvốn đầu tư, doanh thu, chi phí, lợi nhuận, số năm hoàn vốn thực tế…Một dự án saukhi kết thúc được nhìn nhận và đánh giá lại nếu lợi nhuận đem lại hoặc các mục tiêukhác mà dự án không đạt được như trong phân tích lúc ban đầu cũng như đã có sựsai lệch trong phân tích tài chính Nguyên nhân có thể do việc quản lý vận hành dự
án Tuy vậy, phương pháp thẩm định tài chính dự án có hiệu quả và chính xác làđiều kiện tiền đề để vận hành một dự án tốt
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư bằng vốn ODA
Để dự án đầu tư bằng vốn ODA ngày càng hiệu quả cần phải nâng cao chấtlượng thẩm định tài chính dự án đầu tư Chất lượng thẩm định tài chính dự án đượcthể hiện ở một số chỉ tiêu cơ bản sau:
1 Sự tuân thủ quy trình thẩm định.
Quy trình thẩm định bao gồm: Nội dung thẩm định, phương pháp thẩm định,trình tự thẩm định Đó là quá trình mà khi làm thẩm định dự án cán bộ thẩm địnhphải tuân theo Cần phải đảm bảo độ chính xác, tính khách quan trong quá trìnhthẩm định, kết quả thu được từ việc thẩm định phải phản ánh đúng thực tế hiệu quảcủa dự án khi dự án đi vào khai thác sử dụng Trong quá trình thẩm định dự án cán
bộ thẩm định phải khách quan, không theo ý kiến chủ quan của cá nhân hay chủ đầu
tư để đánh giá dự án Những đánh giá đúng đắn với độ tin cậy cao có được từ việcthẩm định tài chính dự án sẽ trợ giúp đắc lực cho việc ra quyết định đầu tư
2 Thời gian và chi phí thẩm định
Trang 39Thời gian thẩm định tài chính dự án là khoảng thời gian mà cán bộ thẩm địnhbắt đầu thu thập thông tin để thẩm định dự án đến khi thẩm định xong Tuỳ từngđiều kiện, hoàn cảnh cụ thể có thể đặt ra một chuẩn mực thời gian cho thẩm định tàichính dự án.Ví dụ có thể đặt thời gian cho thẩm định tài chính dự án theo các dự ánnhóm A, nhóm B và nhóm C hoặc đặt chỉ tiêu thời gian cho từng khâu của dự án.
Nếu thời gian thẩm định ngắn, các cán bộ tôn trọng quá trình thẩm định,lượng thông tin thu thập đầy đủ, cập nhật, quá trình xử lý thông tin tốt thì có thểxem chất lượng thẩm định là cao Ngược lại để đảm bảo các tiêu chuẩn của thôngtin và quá trình thẩm định mà thời gian thẩm định kéo dài làm ảnh hưởng đến lợinhuận đem lại của dự án nhất là các dự án mang tính thời vụ cao Do vậy, sự thuậntiện, nhanh chóng nhưng chặt chẽ và chính xác trong quá trình thẩm định sẽ giúpgiảm chi phí tối đa có thể cũng như giúp chủ đầu tư đưa ra những quyết định đầu tưđúng đắn
Chi phí thẩm định dự án cũng rất quan trọng Đó là những khoản chi phí bỏ
ra cho việc tiến hành thẩm định dự án như chi phí thuê cán bộ thẩm định,chi phí thuthập thông tin, tiền mua máy móc thiết bị, công nghệ xử lý thông tin Thẩm định tàichính cũng giống hoạt động tài chính khác là một hoạt động cung cấp dịch vụ,lượng chi phí bỏ ra ảnh hưởng lớn đến doanh thu và giá cả của dịch vụ, phản ánhchất lượng của dịch vụ đó Chất lượng thẩm định tài chính dự án sẽ cao nếu chi phí
bỏ ra là nhỏ nhất mà vẫn đảm bảo các yêu cầu khác của thẩm định
Thời gian và chi phí là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng thẩmđịnh tài chính dự án Trong thời đại công nghệ thông tin như hiện nay bất kỳ một sựchậm trễ nào cũng có thể đem lại hậu quả khôn lường nhất là đối với các hoạt độngđầu tư lớn như dự án được đầu tư bằng nguồn vốn ODA Hơn thế nữa, mọi nguồnlực là có hạn, người ta không thể lãng phí nó Tối thiểu hoá chi phí thẩm định tàichính dự án đến mức có thể là mục tiêu cần hướng tới và là yếu tố để quyết địnhchất lượng thẩm định tài chính dự án
3 Tính hợp lý của các nội dung thẩm định
Nội dung thẩm định là vấn đề cốt lõi của công tác thẩm định Để ra mộtquyết định đầu tư, chủ đầu tư phải dựa vào các nội dung thẩm định tài chính dự án
đã được thực hiện, lấy đó làm căn cứ, làm cơ sở để lựa chọn dự án này, loại bỏ dự
án kia hay quyết định không thực hiện đầu tư Các nhà tài trợ, các cơ quan có thẩmquyền cũng căn cứ vào đó để quyết định có rót vốn đầu tư hay không, có phê duyệt
dự án hay không Hay nói cách khác, các nội dung thẩm định tài chính dự án có vai
Trang 40trò rất quan trọng, quyết định đến sự thành bại của một dự án đầu tư Nếu chúng tatiến hành phân tích những nội dung thẩm định tài chính không thực sự cần thiếtthay vì thẩm định những nội dung quan trọng hoặc thẩm định không hết các nộidung để lấy đó làm căn cứ ra quyết định đầu tư thì hiển nhiên dự án đó sẽ ẩn chứarất nhiều rủi ro và khả năng thất bại là hoàn toàn có thể xảy ra Vì thế tính hợp lýcủa các nội dung thẩm định cũng là một chỉ tiêu cần thiết khi đánh giá chất lượngthẩm định tài chính dự án đầu tư.
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định tài chính dự án đầu tư bằng vốn ODA
Việc xem xét các nhân tố có ảnh hưởng đến chất lượng của công tác thẩmđịnh tài chính dự án sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể, từ đó có những cách xử
lý phù hợp tới các yếu tố tác động để đảm bảo việc thẩm định tài chính dự án đầu tưbằng nguồn vốn ODA có chất lượng tốt nhất Các nhân tố ảnh hưởng bao gồm:nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan