1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty cổ phần Giầy Cẩm Bình

61 163 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC BẢNG BIỂUBảng 1: Bảng phân tích kết quả kinh doanh của Công ty...Error: Reference source not found Bảng 2: Bảng phân tích cơ cấu tài sản – nguồn vốn của Công ty qua 3 năm...Erro

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1: Bảng phân tích kết quả kinh doanh của Công ty Error: Reference source

not found

Bảng 2: Bảng phân tích cơ cấu tài sản – nguồn vốn của Công ty qua 3 năm Error:

Reference source not found

Bảng 3: Cơ cấu vốn lưu độngcủa Công ty Error: Reference source not foundBảng 4: Nguồn hình thành vốn lưu động của Công ty Error: Reference source not

found

Bảng 5: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động Error: Reference source not found

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Vốn là một yếu tố không thể thiếu trong bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanhnào, đó là một trong những yếu tố cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển củadoanh nghiệp Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn theo đó là một trong những nhiệm vụtrọng tâm của công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp Trong cơ cấu vốn củadoanh nghiệp, nếu vốn cố định được ví như là xương cốt của một cơ thể sống thì vốnlưu động được ví như là huyết mạch của cơ thể đó, cơ thể ở đây chính là doanhnghiệp, bởi đặc điểm vận động tuần hoàn liên tục gắn liền với chu kỳ hoạt động sảnxuất kinh doanh Do đó, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động luôn được xem làhết sức quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp trong điều kiện cơ chế thị trường có sựcạnh tranh gay gắt như hiện nay

Công ty Giầy Cẩm Bình là một công ty cổ phần không nằm ngoài vòng xoáy

đó Công ty có vốn lưu động chiếm tỷ lệ lớn trong tổng vốn kinh doanh Công ty đang

có kế hoạch mở rộng hơn nữa hoạt động sản xuất kinh doanh nên việc quan tâm đếnhiệu quả sử dụng vốn lưu động được coi là một vấn đề thời sự đặt ra cho các nhà quảntrị doanh nghiệp

Xuất phát từ thực tế đó, đề tài: “ Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty cổ phần Giầy Cẩm Bình” được lựa chọn để nghiên cứu nhằm

góp phần giải quyết những đòi hỏi về lý luận và thực tiễn của việc nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp

2 Cấu trúc của chuyên đề

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục chuyên

đề được chia làm 3 chương :

Chương 1:Vốn lưu động trong doanh nghiệp và hiệu quả sử dụng vốn

lưu động.

Chương 2:Thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty cổ

phần Giầy Cẩm Bình.

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động

tại Công ty cổ phần Giầy Cẩm Bình.

Trang 5

Chương 1: VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP VÀ HIỆU QUẢ

SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG

1.1 Tổng quan về vốn lưu động trong doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm và đặc điệm vốn lưu động

 Khái niệm về vốn lưu động

Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản lưu động của doanhnghiệp Tài sản lưu động của doanh nghiệp thường bao gồm 2 bộ phận: tài sản lưuđộng trong sản xuất và tài sản lưu động trong lưu thông Tài sản lưu động trong sảnxuất bao gồm những vật tư dự trữ như nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu…và sản phẩm

dở dang trong quá trình sản xuất Tài sản lưu động trong lưu thông bao gồm: sản phẩmhàng hóa chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán, các khoản phí chờkết chuyển, chi phí trả trước

Những đối tượng lao động nói trên, xét về hình thái vật chất được gọi là tài sảnlưu động, xét về hình thái giá trị được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp Trongquá trình sản xuất kinh doanh các tài sản lưu động trong sản xuất và các tài sản lưuđộng trong lưu thông luôn vận động thay thế và chuyển hóa lẫn nhau, đảm bảo cho quátrình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành liên tục

Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa tiền tệ, để hình thành các tài sản lưu độngsản xuất và tài sản lưu động lưu thông các doanh nghiệp phải bỏ ra một số vốn đầu tưban đầu nhất định Vì vậy cũng có thể nói vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốntiền tệ ứng trước để đầu tư, mua sắm tài sản lưu động của doanh nghiệp

 Đặc điểm của vốn lưu động

Đặc điểm thứ nhất: Vốn lưu động của doanh nghiệp thường xuyên chuyển hóa

qua nhiều hình thái khác nhau tạo thành sự tuần hoàn của vốn lưu động

+ Trong doanh nghiệp sản xuất, vốn lưu động được vận động và chuyển hóaqua 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Giai đoạn dự trữ vật tư Vốn bằng tiền được được dùng để mua

sắm các đối tượng lao động để dự trữ cho sản xuất, ở giai đoạn này vốn lưu động đã từhình thái tiền tệ chuyển sang hình thái vốn vật tư hàng hóa

Giai đoạn 2: Giai đoạn sản xuất Ở giai đoạn này, doanh nghiệp tiến hành sản

Trang 6

xuất sản phẩm và các vật tư dự trữ ở giai đoạn 1 được đưa dần vào sản xuất Trải quaquá trình sản xuất các sản phẩm hàng hóa được tạo ra Như vậy, ở giai đoạn này vốnlưu động đã từ hình thái vốn vật tư hàng hóa chuyển sang hình thái vốn sản phẩm dởdang và sau đó chuyển sang hình thái vốn thành phẩm.

Giai đoạn 3: Giai đoạn lưu thông Vốn lưu động từ hình thái thành phẩm hàng

hóa chuyển lại thành tiền như hình thái ban đầu của nó và kết thúc kỳ chu chuyển Sosánh giữa T và T’, nếu T’ > T có nghĩa là doanh nghiệp kinh doanh có lãi( vì đồng vốnlưu động đưa vào sản xuất đã được gia tăng) do đó doanh nghiệp bảo toàn và phát triểnđược vốn lưu động Ngược lại nếu T’ < T có nghĩa là doanh nghiệp làm ăn bị lỗ vìđồng vốn thu về nhỏ hơn đồng vốn đã đưa vào sản xuất kinh doanh

Nói chung sự vận động của vốn lưu động trong doanh nghiệp sản xuất được mô

Giai đoạn 2: Giai đoạn bán Vốn lưu động chuyển từ hàng hóa dự trữ trở về

vốn bằng tiền như ban đầu và kết thúc kỳ chu chuyển

Tóm lại, sự vận động của vốn lưu động trong doanh nghiệp thương mại đượckhái quát như sau:

T – H – T’

Đặc điểm thứ hai: Nếu vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất thì

Vốn lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất, giá trị của nó được dịch chuyểntoàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được hoàn lại toàn bộ sau khi doanh nghiệptiêu thụ sản phẩm hàng hóa, cung ứng được dịch vụ, thu được tiền bán hàng về Nhưvậy: Vốn lưu động hoàn thành một vòng chu chuyển sau một chu kỳ sản xuất và tiêuthụ sản phẩm

Đặc điểm thứ ba: Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra

một cách thường xuyên, liên tục; các giai đoạn vận động của vốn lưu động đan xenvào nhau nên cùng một thời điểm vốn lưu động thường tồn tại dưới nhiều hình tháikhác nhau trong khâu sản xuất và lưu thông So với vốn lưu động, ở đặc điểm nàyhình thái vật chất của vốn cố định không thay đổi

Trang 7

Đặc điểm thứ tư: Số vốn lưu động cần thiết cho doanh nghiệp phụ thuộc vào

đặc điểm, chu kỳ kinh doanh và tình hình tiêu thụ của doanh nghiệp Trong doanhnghiệp thương mại, vốn lưu động thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn

Nghiên cứu đặc điểm của vốn lưu động giúp phân biệt vốn lưu động với cácvốn khác từ đó doanh nghiệp có những biện pháp quản lý, và sử dụng từng loại vốnkhác nhau một cách hiệu quả nhất

1.1.2 Phân loại vốn lưu động

Trong doanh nghiệp, vốn lưu động có rất nhiều loại mà lại tham gia vàomột chu kỳ sản xuất kinh doanh và thường xuyên thay đổi hình thái vật chất Do

đó, muốn quản lý và sử dụng tốt vốn lưu động người ta phải tiến hành phân loạitheo các tiêu thức sau:

1.1.2.1 Căn cứ vai trò của từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh

Theo tiêu thức này, vốn lưu động của doanh nghiệp được phân thành 3 loại:

 Vốn lưu động trong khâu dự trữ

Là bộ phận vốn lưu động để thiết lập, dự trữ về vật tư, hàng hóa trong quátrình sản xuất kinh doanh, đảm bảo doanh nghiệp tiến hành sản xuất liên tục Baogồm các khoản vốn sau:

Vốn nguyên, vật liệu chính: Là giá trị các vật tư dùng dự trữ sản xuất mà khi

tham gia vào sản xuất chúng cấu thành thực thể của sản phẩm

Vốn vật liệu phụ: Là giá trị các loại vật tư dự trữ dùng trong sản xuất Các loạivật tư này không cấu thành thực thể chính của sản phẩm mà nó kết hợp với nguyênvật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bên ngoài của sản phẩm hoặctạo điều kiện cho quá trình sản xuất sản phẩm thực hiện được thuận lợi

Vốn nhiên liệu: Là giá trị các loại nhiên liệu dự trữ trong hoạt động sản xuất

kinh doanh

Vốn phụ tùng thay thế: Là giá trị các loại vật tư dùng để thay thế, sửa chữa

các tài sản cố định dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh

Vốn vật liệu đóng gói: Là giá trị của các vật tư mà khi tham gia vào quá trình

sản xuất nó cấu thành bao bì bảo quản sản phẩm

Vốn công cụ lao động nhỏ: Là giá trị các công cụ, dụng cụ không đủ tiêu

chuẩn là tài sản cố định, dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh

Trang 8

 Vốn lưu động trong khâu sản xuất: Bao gồm các khoản vốn sau:

Vốn sản phẩm dở dang: Là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất kinh

doanh đã bỏ ra cho các loại sản phẩm đang trong quá trình sản xuất

Vốn bán thành phẩm tự chế: Đây là phần vốn lưu động phản ánh giá trị các

chi phí sản xuất kinh doanh bỏ ra khi sản xuất sản phẩm đã trải qua những công đoạnsản xuất nhất định nhưng chưa hoàn thành sản phẩm cuối cùng (thành phẩm)

Vốn chi phí trả trước: Là các chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có tác dụng

cho nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nên chưa thể tính hết vào giá thành sản phẩmtrong kỳ này mà còn được tính dần vào giá thành sản phẩm của một số chu kỳ tiếptheo như: Chi phí nghiên cứu thí nghiệm, cải tiến kỹ thuật, chi phí xây dựng, lắp đặtcác công trình tạm thời, chi phí về giàn giáo lắp dùng trong xây dựng cơ bản…

Loại vốn này được dùng cho quá trình sản xuất, đảm bảo cho quá trình sảnxuất của các bộ phận sản xuất trong dây chuyền công nghệ được liên tục, hợp lý

 Vốn lưu động trong khâu lưu thông: Bao gồm:

Vốn thành phẩm: Là giá trị những thành phẩm đã được sản xuất xong, đạt tiêu

chuẩn kỹ thuật và đã được nhập kho

Vốn bằng tiền: Vốn bằng tiền là lượng tiền của doanh nghiệp có được do ngânsách cấp, tự có, vốn vay, hay bổ sung từ lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp Nótồn tại dưới hình thức tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển Vốnbằng tiền có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp nắm giữmột lượng tiền mặt lớn thì doanh nghiệp sẽ tránh được tình trạng thiếu tiền, đảm bảokhả năng thanh toán kịp thời, không đi vay nên không phải chịu lãi suất và áp lực trả

nợ Doanh nghiệp sẽ nhận được nhiều ưu đãi từ nhà cung cấp nếu thanh toán sớm.Tuy nhiên, doanh nghiệp nên xem xét giữa lãi suất và chiết khấu được hưởng, bởi vì

dự trữ tiền nhiều sẽ ảnh hưởng đến chi phí cơ hội và chi phí quản lý tiền

Các khoản đầu tư ngắn hạn: Đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn

hạn… Đầu tư tài chính ngắn hạn có khả năng chuyển đổi thành tiền nhanh Đầu tư tàichính ngắn hạn thường có lợi nhuận thấp hơn các loại tài sản đang hoạt động

Các khoản vốn trong thanh toán: Các khoản phải thu, các khoản tạm ứng…Chủ yếu trong khoản mục vốn này là các khoản phải thu khách hàng, thể hiện số tiền

mà khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng hóa, dịch vụdưới hình thức bán trước, trả sau Khoản mục vốn này liên quan chặt chẽ đến chínhsách tín dụng thương mại của doanh nghiệp, một trong những chiến lược quan trọng

Trang 9

của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Ngoài ra, trong một số trường hợpmua sắm vật tư, hàng hóa, doanh nghiệp còn phải ứng trước tiền cho người cung cấp

1.1.2.2 Căn cứ theo các hình thái biểu hiện

 Vốn bằng tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn

Vốn bằng tiền: Bản thân tiền mặt là loại tài sản không lãi Tuy nhiên, trong hoạt

động kinh doanh của doanh nghiệp việc giữ tiền mặt là cần thiết Khi doanh nghiệpgiữ đủ lượng tiền mặt cần thiết thì doanh nghiệp không bị lãng phí vốn tiền mặt,vừa cóđược lợi thế trong kinh doanh

Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn

Việc tách riêng khoản mục này giúp cho doanh nghiệp dễ dàng theo dõi khảnăng thanh toán nhanh của mình đồng thời có những biện pháp linh hoạt để vừa đảmbảo khả năng thanh toán vừa nâng cao khả năng sinh lời của vốn lưu động Doanhnghiệp có thể sử dụng một phần vốn của mình để đầu tư vào chứng khoán ngắn hạn,đầu tư ngắn hạn như góp vốn liên doanh ngắn hạn… nhằm mục tiêu sinh lợi Đặc biệtcác khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn của doanh nghiệp còn có ý nghĩa là bước đệmquan trọng trong việc chuyển hóa giữa tiền mặt và các tài sản có tính lợi kém hơn.Điều này giúp doanh nghiệp sinh lợi tốt hơn và huy động được một lượng tiền đủ lớnđảm bảo nhu cầu thanh khoản

 Các khoản phải thu

Là các khoản nợ mà doanh nghiệp cần phải thu của các đối tượng khác nhưphải thu khách hàng, các khoản ứng trước cho người bán, thuế giá trị gia tăng đượckhấu trừ, phải thu nội bộ và các khoản phải thu khác Trong đó khoản phải thu củakhách hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất vì trong nền kinh tế thị trường việc mua bán chịu

là không thể tránh khỏi

Nghiên cứu các khoản phải thu giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụngvốn

Trang 10

 Hàng tồn kho

Trong quá trình sản xuất, việc tiêu hao đối tượng lao động diễn ra thường xuyênliên tục, nhưng việc cung ứng nguyên vật liệu thì đòi hỏi phải cách quãng, mỗi lần chỉmua vào một lượng nhất định Do đó, doanh nghiệp phải thường xuyên có một lượnglớn nguyên vật liệu, nhiên liệu… nằm trong quá trình dự trữ, hình thành nên khoảnmục vốn dự trữ Vốn dự trữ là biểu hiện bằng tiền của nguyên vật liệu chính, nguyênvật liệu phụ, nhiên liệu, bán thành phẩm, bao bì, vật liệu bao bì… Loại vốn này thườngxuyên chiếm tỷ trọng tương đối trong vốn lưu động

Nguyên, nhiên vật liệu: Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu.

Nguyên liệu và vật liệu chính là nguyên liệu, vật liệu mà sau quá trình gia côngchế biến sẽ cấu thành hình thái vật chất của sản phẩm Nguyên liệu ở đây chính là cácđối tượng lao động chưa qua chế biến công nghiệp

Vật liệu phụ là những vật liệu có tác dụng phụ trong quá trình sản xuất kinhdoanh, được sử dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính để hoàn thiện và nâng cao tínhnăng, chất lượng của sản phẩm hoặc được sử dụng để đảm bảo cho công cụ lao độnghoạt động bình thường, hoặc dùng để phục vụ cho nhu cầu kĩ thuật, nhu cầu quản lý

Nhiên liệu là những thứ dùng để tạo nhiệt năng như than đá, củi, xăng,dầu Nhiên liệu trong các doanh nghiệp thực chất là một loại vật liệu phụ, tuy nhiên

nó được tách ra thành một loại riêng vì việc sản xuất và tiêu dùng nhiên liệu chiếmmột tỷ trọng lớn và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nhiên liệucũng có yêu cầu kĩ thuật quản lý hoàn toàn khác với các loại vật liệu phụ thôngthường

Công cụ, dụng cụ trong kho

Sản phẩm dở dang: Bao gồm sản phẩm chưa hoàn thành và sản phẩm hoàn

thành chưa làm thủ tục nhập kho thành phẩm Tồn kho trong quá trình sản xuất chủyếu là sản phẩm chưa hoàn thành Đó là các loại nguyên liệu nằm tại từng công đoạncủa dây chuyền sản xuất Trong nền kinh tế thị trường, sản phẩm làm ra đòi hỏi trình

độ công nghệ cao, quá trình sản xuất ngày càng có nhiều công đoạn Nếu dây chuyềnsản xuất càng dài, càng phức tạp, có nhiều công đoạn nhỏ phân tách thì sản phẩm dởdang sẽ càng nhiều

Thành phẩm tồn kho: Tồn kho thành phẩm luôn tồn tại trong một doanh nghiệp

tại một thời kì nhất định Sau khi hoàn thành các công đoạn sản xuất, hầu như tất cảcác doanh nghiệp đều chưa thể tiêu thụ hết ngay các sản phẩm của mình Có rất nhiều

Trang 11

nguyên nhân gây ra hiện tượng này Để tiêu thụ sản phẩm có thể cần phải sản xuất đủ

cả lô hàng mới được xuất kho, có “ độ trễ” nhất định giữa sản xuất và tiêu dùng, quytrình chế tạo nhiều công đoạn tốn nhiều thời gian hoặc doanh nghiệp sản xuất các mặthàng mang tính thời vụ

Hàng gửi bán là những hàng hóa, thành phẩm gửi bán đại lý, ký gửi; Hàng hóa,

sản phẩm chuyển cho đơn vị cấp dưới hạch toán phụ thuộc để bán; Trị giá dịch vụ đãhoàn thành, bàn giao cho người đặt hàng, nhưng chưa được chấp nhận thanh toán

Hàng mua đang đi trên đường là những hàng hóa, vật tư mua ngoài đã thuộc

quyền sở hữu của doanh nghiệp còn đang trên đường vận chuyển, ở bến cảng, bến bãihoặc đã về đến doanh nghiệp nhưng đang chờ kiểm nhận nhập kho

Giá trị của hàng tồn kho trong đơn vị phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động cungứng, sản xuất và tiêu thụ, chính sách dự trữ của doanh nghiệp và đặc điểm của hàngtồn kho

 Giá trị tài sản lưu động khác

Vốn lưu động còn tồn tại trong các khoản tạm ứng, chi phí trả trước, chi phí chờkết chuyển, các khoản thế chấp, ký quỹ, ký cược ngắn hạn Việc quản lý tốt các khoảnnày góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Việc phân loại vốn lưu động theo cách này tạo điều kiện thuận lợi cho việc xemxét, đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp Mặt khác,biết được kết cấu vốn lưu động theo hình thái biểu hiện, doanh nghiệp có định hướng

để điều chỉnh vốn lưu động một cách có hiệu quả, phát huy chức năng của các thànhphần vốn

1.1.2.3 Phân loại theo nguồn hình thành

Theo nguồn hình thành về vốn chia vốn lưu động thành các nguồn:

Nguồn vốn điều lệ: là số vốn lưu động được hình thành từ nguồn vốn điều lệban đầu khi thành lập hoặc nguồn vốn điều lệ bổ sung trong quá trình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp Nguồn vốn này cũng có sự khác biệt giữa các loại hìnhdoanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau

Nguồn vốn tự bổ sung: đây là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung trong quátrình sản xuất kinh doanh của mình như lợi nhuận của doanh nghiệp được giữ lại để táiđầu tư sản xuất

Nguồn vốn liên doanh, liên kết: là số vốn lưu động được hình thành từ việc góp

Trang 12

vốn liên doanh của các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh Các bên tham gia có thểgóp vốn bằng nhiều hình thức như: tiền mặt, hoặc bằng hiền vật như là vật tư, hànghóa theo thỏa thận của các bên.

Nguồn vốn đi vay: các doanh nghiệp có thế vay vốn của các ngân hàng thươngmại hoặc các tổ chức tín dụng, vốn vay người lao động trong doanh nghiệp, hoặc vaycác doanh nghiệp khác

Nguồn vốn huy động từ thị trường vốn: bằng việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu.Việc phân loại vốn lưu động theo nguồn hình thành giúp cho doanh nghiệp thấyđược cơ cấu nguồn vốn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động trong hoạt động sản xuất kinhdoanh của mình, từ góc độ quản lý tài chính mọi nguồn tài trợ đều có chi phí sử dụngnhất định Do đó doanh nghiệp cần xem xét cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu để tối thiểu chiphí sử dụng vốn của mình

1.1.3 Vai trò của vốn lưu động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Để tiến hành sản xuất, ngoài TSCĐ như máy móc, thiết bị, nhà xưởng doanhnghiệp phải bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua sắm hàng hóa, nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất Như vậy vốn lưu động là điều kiện đầu tiên để doanhnghiệp đi vào hoạt động hay nói cách khác vốn lưu động là điều kiện tiên quyết củaquá trình sản xuất kinh doanh

Vốn lưu động còn có khả năng quyết định đến quy mô hoạt động của doanhnghiệp Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong việc sử dụngvốn nên khi muốn mở rộng quy mô của doanh nghiệp phải huy động một lượng vốnnhất định để đầu tư ít nhất là đủ để dự trữ vật tư hàng hóa Vốn lưu động còn giúp chodoanh nghiệp chớp được thời cơ kinh doanh và tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp

Vốn lưu động còn là bộ phận chủ yếu cấu thành nên giá thành sản phẩm do đặcđiểm luân chuyển toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm Giá trị của hàng hóa bán rađược tính toán trên cơ sở bù đắp được giá thành sản phẩm cộng thêm một phần lợinhuận Do đó, vốn lưu động đóng vai trò quyết định trong việc tính giá cả hàng hóa

bán ra.

Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh và đánh giá quá trình vận động của vật

tư, cũng tức là phản ánh và kiểm tra quá trình mua sắm, dự trữ sản xuất, tiêu thụ sảnphẩm của doanh nghiệp Nhưng mặt khác, vốn lưu động luân chuyển nhanh hay chậmcòn phản ánh số lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay không, thời gian nằm ở khâu sảnxuất và lưu thông sản phẩm có hợp lý không

Trang 13

1.1.4 Kết cấu vốn lưu động và các nhân tố ảnh hưởng tới kết cấu vốn lưu động

* Kết cấu vốn lưu động

Kết cấu VLĐ là quan hệ tỷ lệ giữa các loại vốn lưu động cá biệt trong tổng sốvốn lưu động của doanh nghiệp Nghiên cứu kết cấu vốn lưu động giúp ta phát hiện ranhững sai sót, bất hợp lý trong cơ cấu mà điều chỉnh bổ sung kịp thời

VLĐ là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh, vấn đề tổ chức quản lý, sửdụng vốn lưu động có hiệu quả sẽ quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển củadoanh nghiệp, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay Doanh nghiệp sửdụng vốn lưu động có hiệu quả, điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp tổ chứcđược tốt quá trình mua sắm dự trữ vật tư, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, phân bổ hợp

lý vốn trên các giai đoạn luân chuyển để vốn luân chuyển từ loại này thành loại khác,

từ hình thái này sang hình thái khác, rút ngắn vòng quay của vốn

Để quản lý vốn lưu động được tốt cần phải phân loại vốn lưu động Có nhiềucách phân loại vốn, mỗi cách phân loại có tác dụng riêng phù hợp với yêu cầu củacông tác quản lý Thông qua các phương pháp phân loại giúp cho nhà quản trị tàichính doanh nghiệp đánh giá tình hình quản lý và sử dụng vốn của những kỳ trước, rút

ra những bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý kỳ này để ngày càng sử dụnghiệu quả hơn vốn lưu động Cũng như từ các cách phân loại trên doanh nghiệp có thểxác định được kết cấu vốn lưu động của mình theo những tiêu thức khác nhau

Trong các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu vốn lưu động cũng không giốngnhau Nghiên cứu kết cấu của vốn lưu động sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn nhữngđặc điểm riêng về số vốn lưu động mà mình đang quản lý và sử dụng Từ đó xác địnhđúng các trọng điểm và biện pháp quản lý vốn lưu động có hiệu quả hơn phù hợp vớiđiều kiện cụ thể của doanh nghiệp Mặt khác thông qua việc thay đổi kết cấu vốn lưuđộng của mỗi doanh nghiệp trong những thời kỳ khác nhau có thể thấy được nhữngbiến đổi tích cực hoặc những hạn chế về mặt chất lượng trong công tác quản lý, sửdụng vốn lưu động của từng doanh nghiệp

* Các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu vốn lưu động

Có ba nhóm nhân tố chính ảnh hưởng tới kết cấu VLĐ của doanh nghiệp

Các nhân tố về mặt cung ứng vật tư như: khoảng cách giữa doanh nghiệp với

nơi cung cấp, khả năng cung cấp của thị trường, kỳ hạn giao hàng và khối lượng vật tưđược cung cấp mỗi lần giao hàng, đặc điểm thời vụ của chủng loại vật tư cung cấp

Trang 14

Các nhân tố về mặt sản xuất như: đặc điểm, kỹ thuật, công nghệ sản xuất của

doanh nghiệp; mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo; độ dài của chu kỳ sản xuất;trình độ tổ chức quá trình sản xuất

Các nhân tố về mặt thanh toán như: phương thức thanh toán được lựa chọn

theo các hợp đồng bán hàng; thủ tục thanh toán; việc chấp hành kỷ luật thanh toángiữa các doanh nghiệp

1.1.5 Nguồn hình thành vốn lưu động

1.1.5.1 Theo quan hệ sở hữu về vốn

Vốn chủ sở hữu: Là số vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp,doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt như vốnđầu tư từ ngân sách Nhà nước, vốn do doanh nghiệp tư nhân bỏ ra, vốn góp cổ phầntrong công ty cổ phần…

Các khoản nợ: Là các khoản vốn lưu động được hình thành từ vốn vay cácNgân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác, vay thông qua phát hành tráiphiếu, các khoản nợ chưa thanh toán…

1.1.5.2 Theo thời gian huy động vốn và sử dụng vốn

Nguồn vốn lưu động thường xuyên: Là nguồn có tính chất ổn định nhằm hình

thành nên tài sản lưu động thường xuyên cần thiết, bao gồm các khoản dự trữ vềnguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm nằm trong biên độ dao động của chu

kỳ kinh doanh Đặc điểm của nguồn vốn này là thời gian sử dụng kéo dài

Hoặc:

Nguồn vốn lưu động tạm thời: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (có thời

gian sử dụng dưới 1 năm), chủ yếu là để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời

về vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh Nguồn vốn này baogồm các khoản vay ngắn hạn của Ngân hàng, các tổ chức tín dụng và các khoản nợngắn hạn khác

Giá trị còn lại của TSCĐ và các TSDH

khác

-Tổng nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp

Trang 15

Việc phân loại nguồn vốn lưu động như trên giúp cho nhà quản lý xem xét huyđộng các nguồn vốn lưu động một cách phù hợp với thời gian sử dụng để nâng caohiệu quả tổ chức và sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp, ngoài ra việc phân loạivốn lưu động theo hình thức này còn giúp cho nhà quản lý lập các kế hoạch tài chínhhình thành nên những dự định về tổ chức nguồn vốn lưu động trong tương lai, trên cơ

sở xác định quy mô, số lượng vốn lưu động cần thiết để lựa chọn nguồn vốn lưu độngnày mang lại hiệu quả cao nhất cho bản thân doanh nghiệp

Nguồn vốn bên trong: là nguồn vốn được huy động từ bản thân doanh nghiệp

Nguồn vốn bên trong doanh nghiệp bao gồm: lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư,khoản khấu hao tài sản cố định, tiền nhượng bán tài sản, vật tư không cần dùng hoặcthanh lý tài sản cố định Nếu doanh nghiệp phát huy hết được khả năng của nguồn vốnbên trong đồng nghĩa với việc khả năng tự chủ về mặt tài chính sẽ được tăng cường,

Nguồn vốn bên ngoài: Nguồn vốn từ bên ngoài bao hàm một số nguồn chủ yếu

sau: vay người thân, vay các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác, gọigóp vốn liên doanh liên kết, tín dụng thương mại của nhà cung cấp, thuê tài sản, huyđộng vốn bằng cách phát hành chứng khoán(đối với một số loại hình doanh nghiệpđược pháp luật cho phép) Huy động vốn từ bên ngoài giúp doanh nghiệp đạt được cơcấu tài chính linh hoạt hơn, mặt khác có thể gia tăng được doanh lợi vốn chủ sở hữuthông qua việc sử dụng hiệu quả đòn bẩy tài chính

Việc phân loại nguồn vốn lưu động theo phạm vi huy động giúp các nhà quản

lý tài chính có biện pháp thích hợp để khai thác, sử dụng tối đa mọi nguồn vốn lưuđộng hiện có của doanh nghiệp

1.2 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Hiệu quả là một khái niệm luôn được đề cập trong nền kinh tế thị trường: các doanhnghiệp luôn hướng tới hiệu quả kinh tế, chính phủ nỗ lực đạt hiệu quả kinh tế xã hội

Theo nghĩa chung nhất, hiệu quả là một khái niệm phản ánh trình độ sử dụngcác yếu tố cần thiết để tham gia vào một hoạt động nào đó với những mục đích xác

Trang 16

định do con người đặt ra Như vậy, có thể hiểu hiệu quả sử dụng vốn là một phạm trùkinh tế đánh giá trình độ sử dụng các nguồn vật lực của doanh nghiệp để đạt kết quảcao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh với tổng chi phí là thấp nhất.

Như đã trình bày ở trên, vốn lưu động của doanh nghiệp được sử dụng cho cácquá trình: dự trữ, sản xuất và lưu thông Quá trình vận động của vốn lưu động bắt đầu

từ việc dùng tiền tệ mua sắm vật tư dự trữ cho sản xuất, tiến hành sản xuất và khi sảnxuất trong doanh nghiệp tổ chức tiêu thụ để thu về một số vốn dưới hình thái tiền tệban đầu với giá trị tăng thêm Mỗi lần vận động như vậy gọi là một vòng luân chuyểncủa vốn lưu động Doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động đó càng hiệu quả bao nhiêu thìcàng có thể sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được nhiều bấy nhiêu Vì lợi ích kinh doanhđòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng hợp lý, hiệu quả hơn từng đồng vốn lưu độnglàm cho mỗi đồng vốn lưu động hàng năm có thể mua sắm nguyên- nhiên vật liệunhiều hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm và tiêu thụ được nhiều hơn Tất cả điều đó cũngđồng nghĩa với việc doanh nghiệp nâng cao tốc độ luân chuyển vốn lưu động( số vòngquay vốn lưu động trong một năm)

Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động chúng ta có thể sử dụng nhiều chỉtiêu khác nhau nhưng tốc độ luân chuyển vốn lưu động là chỉ tiêu cơ bản và tổng hợpnhất phản ánh trình độ sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động

1.2.2.1 Tốc độ luân chuyển vốn lưu động

Tốc độ luân chuyển vốn lưu động là một chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả

sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp Tốc độ luân chuyển vốn lưu động nhanhhay chậm nói lên tình hình tổ chức các mặt: mua sắm, dự trữ sản xuất, tiêu thụ củadoanh nghiệp có hợp lý hay không, các khoản vật tư dự trữ sử dụng tốt hay không,các khoản phí tổn trong quá trình sản xuất – kinh doanh cao hay thấp… Thông quaphân tích chỉ tiêu tốc độ luân chuyển vốn lưu động có thể giúp cho doanh nghiệp đẩynhanh được tốc độ luân chuyển, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Có 2 chỉ tiêu đánh giá tốc độ luân chuyển vốn lưu động, đó là:

(1) Số vòng quay vốn lưu động (VLĐ) trong kỳ

Doanh thu thuần

Vốn lưu động bình quân trong kỳ

Số vòng quay vốn lưu động =

Trang 17

(2) Thời gian luân chuyển vốn lưu động (Số ngày một vòng quay vốn

lưu động)

Với số ngày kì phân tích tương ứng1 năm là 360 ngày, 1 quý là 90 ngày, 1

tháng là 30 ngày; Thường lấy thời gian của kỳ phân tích là 1 năm hay 360 ngày

Chỉ tiêu này nói lên độ dài bình quân của một lần luân chuyển của vốn lưuđộng hay số ngày bình quân cần thiết để vốn lưu động thực hiện một vòng quay trong

kỳ Ngược với chỉ tiêu số vòng quay vốn lưu động trong kỳ, thời gian luân chuyển vốnlưu động càng ngắn chứng tỏ vốn lưu động càng được sử dụng có hiệu quả

Các nhân tố ảnh hưởng đến tốc độ luân chuyển vốn lưu động

Để đánh giá rõ hơn tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động kỳ này so với kỳkhác, so với kỳ kế hoạch hoặc so với trung bình ngành chúng ta cần phải phân tích ảnhhưởng của các nhân tố đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động Qua đó phát hiện nguyênnhân và đưa ra biện pháp quản lý phù hợp

Để phân tích vấn đề này, chúng ta vận dụng phương pháp thay thế liên hoànnhư sau:

- Đối tượng phân tích: Mức tăng (giảm) của số vòng quay vốn lưu động

VLĐđầu kỳ + VLĐcuối kỳ

2

Số ngày kỳ phân tích

Số vòng quay vốn lưu động

Số ngày một vòng quay vốn lưu động =

SVLĐ = SVLĐ1 - SVLĐ0 =

DTT1 DTT0

Trang 18

SVLĐ1 : Số vòng quay vốn lưu động kỳ phân tích.

SVLĐ0 : Số vòng quay vốn lưu động kỳ gốc

DTT1 : Doanh thu thuần kỳ phân tích

DTT0 : Doanh thu thuần kỳ gốc

VLĐBQ1 : Vốn lưu động bình quân kỳ phân tích

VLĐBQ0 : Vốn lưu động bình quân kỳ gốc

Ta có các nhân tố ảnh hưởng như sau:

- Ảnh hưởng của doanh thu thuần: Thể hiện mức độ ảnh hưởng của sự thayđổi của doanh thu thuần đến sự tăng giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động

- Ảnh hưởng của vốn lưu động bình quân: Thể hiện mức độ ảnh hưởng của

sự thay đổi của vốn lưu động bình quân đến sự tăng giảm hiệu quả sử dụng vốn lưuđộng

Như vậy:

1.2.2.2 Mức tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển vốn

Từ sự phân tích tốc độ luân chuyển của vốn lưu động ta có thể xem xét sự ảnhhưởng do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động tới mức độ tiết kiệm hay lãng phí vốnlưu động trong kỳ Công thức tính như sau:

Nếu thời gian luân chuyển kỳ này ngắn hơn kỳ trước thì doanh nghiệp sẽ tiếtkiệm được vốn lưu động Số vốn lưu động tiết kiệm được có thể sử dụng vào mục

DTT = -

Doanh thu thuần kỳ phân tích

Số ngày 1 vòng quay VLĐ kỳ gốc

Số ngày 1 vòng quay VLĐ kỳ phân tích

Trang 19

đích khác nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động Nếu thời gian luân chuyểnvốn lưu động kỳ này dài hơn kỳ trước thì doanh nghiệp đã lãng phí vốn lưu động.

1.2.2.3 Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động

Là một chỉ tiêu ngược với số vòng quay của vốn lưu động Hệ số đảm nhiệmvốn lưu động phản ánh số vốn lưu động cần có để đạt được một đồng doanh thuthuần Hệ số này càng nhỏ phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệpcàng cao Thật tốt nếu một công ty nào đó mà vốn lưu động bỏ ra càng ít mà thu được

số doanh thu thuần càng cao, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn của công ty đó là rất tốt

1.2.2.4 Hệ số sinh lời của vốn lưu động

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động có thể tạo bao nhiêu đồng lợinhuận trước thuế hoặc sau thuế thu nhập doanh nghiệp Hệ số sinh lời của vốn lưuđộng càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao

Với việc nghiên cứu về vốn lưu động, hiệu quả sử dụng vốn lưu động và cácchỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động chúng ta thấy được tầm quan trọngcủa vốn lưu động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vốn lưuđộng có mặt trong mọi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh từ khâu dự trữ( vốn lưuđộng dự trữ), khâu sản xuất( vốn lưu động sản xuất) đến khâu lưu thông( vốn lưuđộng lưu thông) và vận động theo những vòng tuần hoàn Tốc độ luân chuyển vốnlưu động là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động, việc tăng tốc

độ luân chuyển vốn lưu động sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động cóhiệu quả hơn: có thể tiết kiệm vốn lưu động, nâng cao mức sinh lợi của vốn lưuđộng Qua đó ta thấy được sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưuđộng của doanh nghiệp

Vốn lưu động bình quân

Hệ số đảm nhiệm VLĐ = Doanh thu thuần

Lợi nhuận trước thuế( Lợi nhuận sau thuế)

=

Hệ số sinh lời của vốn lưu

Trang 20

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh

nghiệp

1.2.3.1 Các nhân tố khách quan

Ảnh hưởng của môi trường kinh tế vĩ mô như lạm phát có thể dẫn tới sự mất

giá của đồng tiền làm cho vốn của các doanh nghiệp bị mất dần theo tốc độ trượt giá

của tiền tệ hay các nhân tố tác động đến cung cầu hàng hóa của doanh nghiệp, nếu

nhu cầu hàng hóa giảm xuống sẽ làm cho hàng hóa của doanh nghiệp khó tiêu thụ, tồnđọng gây ứ đọng vốn, doanh thu ít hơn, lợi nhuận giảm sút và như thế sẽ làm giảmhiệu quả sử dụng vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng Khi nền kinh tế rơi vàotình trạng lạm phát thì bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng chịu ảnh hưởng, nhận biếtđược điều này doanh nghiệp sẽ có những chính sách phù hợp để sản xuất có hiệu quả

Tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật: Do tác động của cuộc cách mạng khoa

học công nghệ nên sẽ làm giảm giá trị tài sản, vật tư Vì vậy, nếu doanh nghiệpkhông bắt kịp điều này để điều chỉnh kịp thời giá trị của sản phẩm thì hàng hoá bán ra

sẽ thiếu tính cạnh tranh, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn nói chung và vốn lưu độngnói riêng Do đó, để sử dụng vốn có hiệu quả doanh nghiệp phải xem xét đầu tư vàocông nghệ nào và phải tính đến hao mòn vô hình do phát triển không ngừng của tiến

bộ khoa học kỹ thuật

Rủi ro rủi ro là những điều bất thường, không lường trước được xảy ra trong

tương lai như là hỏa hoạn, lũ lụt, động đất, sóng thần do những rủi ro xảy ra trongquá trình sản xuất kinh doanh mà các doanh nghiệp phải chịu những tổn thất hay phải

bỏ ra những chi phí rất lớn để khắc phục tổn thất Chi phí tăng sẽ làm giảm lợi nhuận

và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động Nghiên cứu vấn đề này để doanh nghiệp

có những biện pháp phòng ngừa rủi ro để đảm bảo cho việc sản xuất kinh doanh không

bị gián đoạn làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Ngoài ra, hiệu quả sử dụng vốn lưu động còn chịu ảnh hưởng bởi các nhân tốkhác như: các chính sách vĩ mô của Nhà nước có sự điều chỉnh, thay đổi về chính sáchchế độ, hệ thống pháp luật

1.2.3.2 Các nhân tố chủ quan

Ngoài các nhân tố khách quan nêu trên còn rất nhiều nhân tố chủ quan của chínhbản thân doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động cũng như toàn

bộ quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp Chẳng hạn như:

Tác động của chu kỳ sản xuất kinh doanh: Đây là một đặc điểm quan trọng gắn

Trang 21

trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Nếu chu kỳ ngắn, doanh nghiệp

sẽ thu hồi vốn nhanh nhằm tái tạo, mở rộng sản xuất kinh doanh Ngược lại nếu chu kỳsản xuất dài doanh nghiệp sẽ chịu một gánh nặng ứ đọng vốn và lãi phải trả cho cáckhoản vay Trong hoạt động kinh doanh thì việc xác định chu kỳ sản xuất kinh doanh

là thường xuyên liên tục, xác định chính xác doanh nghiệp sẽ có khả năng quay vòngvốn nhiều hơn, từ đó tạo ra được nhiều lợi nhuận hơn

Trình độ đội ngũ cán bộ công nhân viên: Yếu tố con người là yếu tố quyết định

trong việc đảm bảo sử dụng vốn có hiệu quả trong doanh nghiệp

Công nhân sản xuất có tay nghề cao, có kinh nghiệm, có khả năng tiếp thu côngnghệ mới, phát huy được tính sáng tạo trong công việc, có ý thức giữ gìn và bảo quảntái sản xuất trong quá trình lao động, tiết kiệm trong sản xuất, từ đó tăng hiệu quả sửdụng vốn

Trình độ cán bộ quản lý cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả sử dụngvốn của doanh nghiệp Trình độ quản lý về mặt tài chính là hết sức quan trọng Trongquá trình hoạt động, việc thu chi phải rõ ràng, tiết kiệm, đúng việc, đúng thời điểm thìmới có thể nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Trình độ quản lý còn thểhiện ở quản lý hàng tồn kho, quản lý khâu sản xuất, quản lý khâu tiêu thụ Thấy được

rõ tầm quan trọng của trình độ cán bộ quản lý nhà lãnh đạo có thể có những lựa chọnđúng đắn và đào tạo kịp thời những người có năng lực và loại bỏ những cá nhân yếukém, có những chính sách khen thưởng kịp thời để phát huy được hết khả năng củacông nhân viên, từ đó nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn lưu động

Việc xác định cơ cấu và nhu cầu vốn lưu động: Khi doanh nghiệp xác định một

nhu cầu vốn lưu động không chính xác và một cơ cấu vốn không hợp lý cũng gây ảnhhưởng không nhỏ tới hiệu quả sử dụng vốn Nếu doanh nghiệp xác định nhu cầu vốnlưu động quá cao sẽ không khuyến khích doanh nghiệp khai thác các khả năng tiềmtàng tìm mọi biện pháp cải tiến hoạt động sản xuất kinh doanh để nâng cao hiệu quảcủa vốn lưu động Ngược lại, nếu doanh nghiệp xác định nhu cầu vốn lưu động quáthấp sẽ gây nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,doanh nghiệp thiếu vốn sẽ không đảm bảo sản xuất liên tục gây ra những thiệt hại dongừng sản xuất, không có khả năng thanh toán và thực hiện các hợp đồng đã ký kếtvới khách hàng Và xác định nhu cầu vốn phù hợp thực tế sử dụng vốn sẽ góp phầnnâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Chất lượng công tác quản lý vốn lưu động cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu

quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp Bởi vì, công tác quản lý vốn lưu động sẽ

Trang 22

giúp cho doanh nghiệp dự trữ được một lượng tiền mặt tốt vừa đảm bảo được khả năngthanh toán vừa tránh được tình trạng thiếu tiền mặt tạm thời hoặc lãng phí do giữ quánhiều tiền mặt, đồng thời cũng xác định được một lượng dự trữ hợp lý giúp cho quátrình sản xuất kinh doanh được liên tục mà không bị dư thừa gây ứ đọng vốn Nếutrình độ quản lý của doanh nghiệp mà yếu kém sẽ dẫn đến thất thoát vật tư hàng hóatrong quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, dẫn đế sử dụng lãngphí vốn lưu động, hiệu quả sử dụng vốn thấp.Ví dụ như công tác quản lý các khoảnphải thu kém gây nên tình trạng thất thu, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụngvốn lưu động Nghiên cứu nhân tố này giúp doanh nghiệp kiểm soát được một cách tối

đa vốn lưu động hiện có

Lựa chọn các dự án đầu tư: Việc lựa chọn dự án và thời điểm đầu tư cũng có

một vai trò quan trọng đối với hiệu quả sử dụng vốn Nếu doanh nghiệp biết lựa chọnmột dự án khả thi và thời điểm đầu tư đúng lúc thì sẽ tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóalợi nhuận qua đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung và vốn lưu độngnói riêng Nếu doanh nghiệp đầu tư, sản xuất ra những sản phẩm và dịch vụ có chấtlượng cao, mẫu mã phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, đồng thời giá thành thấp thìhàng hóa tiêu thụ được nhanh, tăng vòng quay của vốn lưu động, nâng cao hiệu quả sửdụng vốn lưu động và ngược lại Do đó lựa chọn dự án đầu tư là nhân tố cơ bản ảnhhưởng rất lơn đến đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp

Trên đây là những nhân tố chủ yếu làm ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn lưuđộng của doanh nghiệp Để hạn chế những tiêu cực ảnh hưởng không tốt tới hiệu quả

sử dụng vốn lưu động, các doanh nghiệp cần nghiên cứu xem xét một cách kỹ lưỡng

sự ảnh hưởng của từng nhân tố, tìm ra nguyên nhân của những mặt tồn tại trong việc

tổ chức sử dụng vốn lưu động, nhằm đưa ra những biện pháp hữu hiệu nhất, để hiệuquả của đồng vốn lưu động mang lại là cao nhất

Trang 23

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI

CÔNG TY CỔ PHẦN GIẦY CẨM BÌNH

2.1 Khái quát về Công ty cổ phần Giầy Cẩm Bình

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển Công ty

• Tên gọi: Công Ty Cổ Phần Giầy Cẩm Bình

• Tên quốc tế: Cam Binh Shoes Company

• Ngày thành lập: 01/05/1988

• Vốn ban đầu: 24,6 tỷ đồng

• Trụ sở chính: Km7, thị trấn Lai Cách, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương

• Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần

• Mã số thuế: 0800236734

• Sđt: 084.0320.3786414

Công ty Cổ Phần Giầy Cẩm Bình – Hải Dương từ 30/9/2000 trở về trước làdoanh nghiệp nhà nước được thành lập rất muộn(ngày 01/5/1988) so với doanhnghiệp khác trong tỉnh, tiền thân nó có tên gọi “ XÍ NGHIỆP DỆT XUẤT KHẨUHẢI HƯNG” được tiếp quản trên nền tảng của trường đảng tỉnh trước đây với diệntích 2.5 ha

Quá trình phát triển đi lên của Công ty được chia làm 4 giai đoạn:

Giai đoạn 1(1988-1990).

Vào thời kỳ này sản phẩm của doanh nghiệp là sản xuất kinh doanh mặt hàngdệt may khăn mặt, khăn tắm xuất khẩu sang các nước Đông Âu với qui mô nhỏ, côngnghệ thiết bị lạc hậu(với 200 máy dệt đã qua sử dụng từ những năm 1960 của nhà máydệt 8/3 được cải tiến để dệt khăn mặt, khăn tắm Cán bộ công nhân kỹ thuật rất hạnchế, tổng số lao động có 255 người, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả trong khi đóvốn lưu động chỉ có 177 triệu đồng, vốn cố định chỉ có 831 triệu đồng

Giai đoạn 2(1991-5/1995).

Sau khi các nước Đông Âu tan rã, một mặt để phù hợp với cơ chế mới(kinh tếnước ta lúc bấy giờ chuyển từ tập trung bao cấp sang thời kỳ mới) Từ năm 1991-5/1995 công ty lại chuyển đổi từ sản xuất khăn mặt, khăn tắm sang sản xuất kinhdoanh mặt hàng may mặc quần áo xuất khẩu, lúc đó doanh nghiệp đổi tên thành “CÔNG TY DỆT MAY CẨM BÌNH” Song sản xuất và chiến lược vẫn trong vòngluẩn quẩn không thoát ra khỏi những khó khăn của ngành may mặc nói chung vào thời

Trang 24

điểm này, nhất là doanh nghiệp lần đầu tiên bước vào ngành sản xuất may mặc.

Giai đoạn 3(5/1995- 30/9/2000).

Xuất phát từ những đặc điểm khó khăn trên, cộng với ngành sản xuất giấy lúcnày đang có xu hướng phát triển trong cả nước, nắm bắt thời cơ kịp thời từ tháng5/1995 công ty lại một lần nữa mạnh dạn thay đổi phương án sản xuất, phương án sảnphẩm: Từ sản xuất kinh doanh mặt hàng may mặc quần áo sang sản xuất kinh doanhgiầy thể thao, giầy vải, dép, đế giầy cao su xuất khẩu các loại từ nhỏ đển lớn Nhìnchung giai đoạn này là giai đoạn khó khăn, với sự giúp đỡ của tỉnh nhất là ngành chủquản là SỞ CÔNG NGHIỆP, cùng với sự giúp đỡ của các ngành hữu quan trong vàngoài tỉnh, cùng với sự giúp đỡ nỗ lực của các cán bộ công nhân viên trong công ty đãđưa công ty phát triển và tăng trưởng ngày càng lớn mạnh

Giai đoạn 4(30/9/2000 đến nay).

Thực hiện chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước về việc cổ phần hóa cácdoanh nghiệp đồng thời được sự chỉ đạo trực tiếp của UBND tỉnh đến ngày 30/9/2000công ty lại một lần nữa mạnh dạn thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp(theo quyết đinhsố: 2940/QĐ- UB ngày 25/9/2000 của UBND tỉnh), thời kỳ này công ty đổi tên thành

“CÔNG TY CỔ PHẦN GIẦY CẨM BÌNH” Từ đó đến nay công ty liên tục đầu tưquy mô sản xuất, nhập thêm nhiều máy móc thiết bị hiện đại tiên tiến, từng bước khépkín công nghệ, mở rộng mặt bằng sản xuất, diện tích công ty từ 2.5ha lên tới 5ha Từchỗ chỉ có 1323 lao động vào năm 2000 lên tới 1830 lao động vào năm 2004, và 1948vào năm 2005…đã giải quyết tích cực việc làm cho lao động trong tỉnh nói chung vàhai huyện nói riêng( Cẩm Giàng và Bình Giang) nói riêng, điều này không những đãgóp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế của tỉnh nhà, và của địa bàn mà còn tíchcực góp phần hạn chế các tệ nạn xã hội

Nhìn chung cán bộ công nhân viên trong công ty luôn có việc làm ổn định, đờisống người lao động luôn được đảm bảo cả về vật chất lẫn tinh thần Từ chỗ nhàxưởng lúc đầu chỉ có 6800m2 đến nay là 21.340m2 tiếp tục tăng cường mở rộng thịtrường trong và ngoài nước Do đó cán bộ công nhân viên ngày càng thêm tin tưởngvào sự lãnh đạo của Đảng ủy- HĐQT-BGĐ công ty

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Công ty

Chức năng: Công ty Cổ phần Giầy Cẩm Bình là một công ty sản xuất, gia công

các loại giầy dép thể thao xuất khẩu Công ty chuyên sản xuất giầy thể thao các loại đểxuất khẩu và sản xuất gia công giầy dép các loại phục vụ nhu cầu của công ty và phục

vụ các đơn vị bạn Nguyên vật liệu chính sử dụng chính là: da các loại, giả da, PU, vải

Trang 25

lót, mút xốp, hoá chất, keo, xăng Sự đóng góp của Công ty đối với địa bàn tỉnh HảiDương là rất to lớn Công ty cổ phần giầy Cẩm bình hiện có 2 lĩnh vực sản xuất: Lĩnhvực sản xuất gạch Ceramic và sản xuất giầy.

Nhiệm vụ: - Công ty luôn sản xuất và kinh doanh đáp ứng đúng các mặt hàng,

các chỉ tiêu đã đăng ký với bên khách hàng

- Luôn tuân thủ theo các chính sách, chế độ pháp luật của Nhà nước về quản lýtài chính…, quản lý nguồn vốn…

- Chịu sự kiểm tra và thanh tra của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theoquy định của Pháp luật

- Luôn thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ cảnh quan

và phòng cháy chữa cháy tại doanh nghiệp theo đúng quy định

- Đảm bảo điều kiện an toàn, vệ sinh trong lao động cho công nhân, thực hiệncác chính sách BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN cho các công nhân

- Luôn tìm hiểu thị trường, mở rộng quy mô, nâng cao năng suất, giảm chi phí

- Nghiên cứu và thực hiện có hiệu quả các biện pháp nhằm nâng cao sản xuất

do công ty sản xuất nhằm nâng cao sức cạnh tranh

- Áp dụng khoa học kỹ thuật, cải thiện môi trường sản xuất, máy móc thiết bị,bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công nhân viên

2.1.3 Mô hình tổ chức của Công ty

Bộ máy của công ty được tổ chức theo cơ cấu chức năng Trong bộ máy quản lýcủa Công ty cơ quan cao nhất là hội đồng quản trị bao gồm 5 người: 1 chủ tịch, 1 phóchủ tịch, 3 uỷ viên Bộ phận trực tiếp quản lý doanh nghiệp là ban giám đốc bao gồm:

1 Giám đốc, 2 phó giám đốc Một điều kiện thuận lợi của công ty là các thành viêntrong hội đồng quản trị cũng chính là người của công ty, chính điều này đã giúp choviệc ra quyết định quản lý một cách nhanh chóng, kịp thời và đặc biệt là phù hợp vớitình hình thực tế của công ty Dưới ban gián đốc có 9 phòng ban với các chức năng,nhiện vụ khác nhau

Trang 26

Biểu đồ 1:

MÔ HÌNH TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN GIẦY CẨM BÌNH

2.1.4 Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty trong 3 năm(2010-2012)

Là một công ty cổ phần hoạt động kinh doanh, kết quả kinh doanh luôn là tiêuchí hàng đầu đánh giá hiệu quả hoạt động nói chung và hiệu quả sử dụng vốn lưu độngcủa công ty nói riêng Sau đây là bảng phân tích kết quả kinh doanh của Công ty giaiđoạn 2010 – 2012:

Ban Giám đốc

Phòng bảo vệ

Phòng

cơ điện

Phòng KCS

Phòng hành chính

Phòng

tổ chức

Phòng vật tư

Phân xưởng

gò ráp

Phân xưởng chuẩn bị

Phân xưởng may

Phân xưởng

chặt

Hội đồng quản trị

Trang 27

Bảng 1: Bảng phân tích kết quả kinh doanh của Công ty

Đơn vị: VNĐ

Chỉ tiêu

Năm 2010 Năm 2011 So sánh năm 2011 - 2010 Năm 2012 So sánh năm 2012 - 2011

Số tiền Số tiền Số tiền độ(%)Tốc Số tiền Số tiền Tốc độ(%)

(Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2010, 2011, 2012)

Trong những năm qua tình hình hoạt động của Công ty đã có những thay đổi rõnét Điều này được thể hiện rõ qua tình hình doanh thu, lợi nhuận của Công ty trong 3

năm 210-2012

Chỉ trong 3 năm mà doanh thu của Công ty có những tăng giảm đáng kể, nếunhư năm 2011 doanh thu đạt 330,922,043,258 đồng, đạt mức tăng khoảng102% so với

năm 2010 thì sang năm 2012 doanh thu lại giảm nhẹ và đạt 311,604,506,607 đồng,

giảm với số tương đối là 6% và tuyệt đối là 19,317,536,651 đồng so với năm 2011

Giá trị giá vốn hàng bán của năm 2011 đạt 301,507,596,633đồng gấp khoảng 2 lần

năm 2010 và năm 2012 là 289,486,017,757 đồng giảm khoảng 4% so với năm 2011

Lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp giảm dần qua các năm, giá trị năm 2011 đạt

1,817,695,415 đồng giảm 137,635,590 tđồng so với năm 2010 tương ứng là giảm 7 %

Và lợi nhuận sau thế còn giảm ở năm 2012 cụ thể là giảm 53% so với năm 2011

Trang 28

Tuy nhiên các chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp cũng tăng quacác năm, giá trị trong năm 2012 là 5,497,137,306 đồng với mức tăng so với năm 2011

là 11 %

Tóm lại, hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty có xu hướng giảm Hàngnăm, tổng lợi nhuận trước thuế có sự biến động giảm, doanh thu có tăng nhưng mứctăng trưởng của của giá vốn hàng bán tăng mạnh hơn, điều này làm giảm lợi nhuận củacông ty Việc tăng giá vốn nhiều hơn là do dây chuyền sản xuất gạch lát mới đi vàohoạt động, hiệu suất hoạt động chưa cao, do vậy mà chi phí đầu vào cao hơn so vớiđầu ra Đồng thời năm 2011 chi phí tài chính của Công ty cũng nhiều hơn do Công tyvay nợ nhiều hơn, trong khi đó nguồn vốn chiếm dụng của bên thứ 3 lại giảm đi mộtcách đáng kể

Nhìn tổng thể kết quả kinh doanh của Công ty, ta có thể thấy phần nào hiệu quảhoạt động, xu hướng phát triển theo các giai đoạn thời gian tuy nhiên để có thể hiểusâu về tình hình tài chính không thể không xét đến cơ cấu tài sản – nguồn vốn

Dữ liệu của “ Bảng phân tích cơ cấu tài sản- nguồn vốn” qua các năm của Côngty( Bảng 2), biểu đồ “ Cơ cấu và tài sản”( Biểu đồ 2) và biểu đồ “ Cơ cấu và tăngtrưởng nguồn vốn” (Biểu đồ 3) cho thấy Công ty có tổng tài sản tương đối và có sựtăng trưởng nhanh trong những năm vừa qua Cụ thể ở đây, giá trị tổng tài sản trongnăm 2010 chỉ đạt 192,362 triệu đồng nhưng sang năm 2011 tổng giá trị tài sản đã là194,811 tăng 1 % so với năm 2011 Và đặc biệt là sang năm 2012, tổng giá trị tài sảntăng với tốc độ nhanh hơn, đạt 208,805 triệu đồng tăng 7% so với năm 2011 Trong cơcấu tài sản của Công ty, tài sản lưu động chiếm tỷ trọng là khoảng 50%, trong đó hàngtồn kho và các khoản phải thu chiếm tỷ trọng rất lớn Hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớnkhoảng 80% trong tổng vốn lưu động và số lượng hàng tồn kho tăng dần qua các năm.Điều này cho ta thấy việc tiêu thụ sản phẩm của Công ty có xu hướng giảm Các khoảnphải thu có tỷ trọng tương đối nhỏ là dấu hiệu cho thấy Công ty quản lý tốt việc thutiền của khác hàng Năm 2012 hàng tồn kho tăng 61% các khoản phải thu giảm 21%

so với năm 2011 Về nguồn vốn, nguồn vốn chủ sở hữu tăng giảm không đáng kể quacác năm và vẫn giữ nguyên ở mức 15% trên tổng nguồn vốn Điều này chứng tỏ rằngcông ty ít bị phụ thuộc bởi chủ nợ

Trang 29

Bảng 2: Bảng phân tích cơ cấu tài sản – nguồn vốn của Công ty qua 3 năm

Đơn vị: VNĐ

Chỉ tiêu

Giá trị(VNĐ) trọng(%)Tỷ Giá trị(VNĐ) trọng(%)Tỷ 2010(%)So với Giá trị(VNĐ) trọng(%)Tỷ 2011(%) So với

PTNH 23.044.858.265 11,98 17.808.199.450 9,14 -22,72 13.995.159.574 0,07 -21,413.Hàng tồn kho 44.383.026.954 23,07 65.300.753.899 33,52 47,13 104.988.827.905 50,28 60,784.TSNH khác 8.046.833.162 4,18 6.354.016.582 3,26 -21,04 3.870.435.318 0,02 -39,09

B.TS dài hạn 109.071.287.094 56,70

101.419.658.81

5 52,06 -7,02 83.375.794.875 39,93 -17,79

1.TSCĐ 108.399.049.275 56,35 101.032.029.815 99,62 -6,80 82.924.087.875 39,71 -17,922.TS dài hạn

B.Nguồn

VCSH 29.437.073.646 15,30 29.434.573.646 15,11 -0,01 29.428.973.646 14,09 -0,02

1.VCSH 29.429.136.293 15,30 29.429.136.293 15,11 0,00 29.429.136.293 14,09 0,002.Nguồn

(Nguồn: Bảng cân đối kế toán năm 2010, 2011, 2012)

Về sản và cơ cấu tài sản:

Tổng tài sản năm 2012 tăng 13,993 triệu đồng tương ứng với mức tăng 7.18%

so với năm 2011 nguyên nhân là do sự tăng lên của khoản mục tài sản ngắn hạn Việctăng tài sản ngắn hạn là do hàng tồn kho tăng( hàng tồn kho tăng 39,688 triệu đồng).Hàng tồn kho tăng là do hàng sản xuất bán ra chậm làm thành phẩm tồn kho nhiều lên.Doanh nghiệp cần tích cực tìm kiếm thị trường để bán hàng tránh để hàng tốn đọngảnh hưởng tới ngân quỹ Trong tài sản ngắn hạn ta thấy năm 2012 Công ty đã tích cựcthu hồi các công nợ phải thu nên công nợ phải thu giảm Khoản mục tài sản dài hạnnăm 2012 tiếp tục tăng do Công ty vẫn đầu tư thêm để hoàn thiện dây chuyền 2 Tuynhiên về mặt tổng giá trị tài sản dài hạn giảm do Công ty trích khấu hao qua một kỳbáo cáo

Năm 2011: Tổng tài sản đạt 194,812 triệu đồng trong đó tài sản lưu động vàđầu tư ngắn hạn là 93,392 triệu đồng chiếm 47.94% trên tổng tài sản tăng 12.13% so

Trang 30

với năm 2010 nguyên nhân là do hàng tồn kho tăng và lượng tiền mặt tại quỹ đã giảmđáng kể, do công ty tích cực thu hồi công nợ nên các khoản phải thu ngắn hạn cũnggiảm, tài sản cố định và đầu tư dài hạn là 101,420 triệu đồng chiếm 52.06% trên tổngtài sản.

Năm 2012: Tổng tài sản đạt 208,805triệu đồng trong đó tài sản lưu động và đầu

tư ngắn hạn là 125,429 triệu đồng chiếm 60.07% trên tổng tài sản, ở năm này tài sảnngắn hạn tăng so với năm 2011 và tài sản dài hạn giảm Nguyên nhân của việc tăng tàisản ngắn hạn là do hàng tồn kho tăng lên quá nhiều trong khi tiền mặt tại quỹ của công

ty giảm, điều này cho thấy công ty không ngừng mở rộng sản xuất kinh doanh, tài sản

cố định và đầu tư dài hạn là 83,376 triệu đồng chiếm 39.93% trên tổng tài sản

Ta có thể thấy tỷ trọng tài sản ngắn hạn của Công ty năm 2012 tăng so với năm

2011, và xu hướng này sẽ tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo Đây là một sự hợp

lý do Công ty đã đầu tư vào tài sản cố định tương đối hoàn thiện, máy móc dây chuyềnthiết bị được vận hành ổn định, nay tập trung vốn vào tài sản lưu động nhằm tănglượng sản xuất, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh Tài sản dài hạn của Công ty giảm đichủ yếu là do Công ty thực hiện trích khấu hao qua một niên độ tài chính Ta cũng cóthể thấy rằng tài sản dài hạn trong năm 2012 cũng tăng thêm 7,173 triệu đồng Tỷtrọng tài sản ngắn hạn tăng lên do năm 2012 là năm khó khăn khiến việc sản xuất kinhdoanh bán hàng chậm nên tài sản lưu động của Công ty tăng lên

Biểu đồ 2: Cơ cấu và tăng trưởng tài sản

Ngày đăng: 18/05/2015, 14:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Giáo trình “ Phân tích tài chính Doanh nghiệp” – GS.TS Ngô Thế Chi và PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ – NXB Tài chính năm 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tài chính Doanh nghiệp
Nhà XB: NXB Tài chính năm 2008
1. PGS.TS. Lưu Thị Hương (chủ biên), giáo trình tài chính doanh nghiệp NXB Thống kê, năm 2005 Khác
2. Giáo trình Tài chính doanh nghiệp - Bộ xây dựng, NXB xây dựng năm 2004 Khác
3. PGS.TS. Lưu Thị Hương, PGS.TS. Vũ Duy Hào (đồng chủ biên), Quản trị tài chính doanh nghiệp, NXB tài chính, năm 2006 Khác
1. Bài giảng của các thầy cô trong Viện Ngân Hàng – Tài chính Khác
2. Các báo cáo tài chính của Công ty Giây Cẩm Bình năm 2010, 2011, 2012 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Bảng phân tích kết quả kinh doanh của Công ty - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty cổ phần Giầy Cẩm Bình
Bảng 1 Bảng phân tích kết quả kinh doanh của Công ty (Trang 27)
Bảng 2: Bảng phân tích cơ cấu tài sản – nguồn vốn của Công ty qua 3 năm - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty cổ phần Giầy Cẩm Bình
Bảng 2 Bảng phân tích cơ cấu tài sản – nguồn vốn của Công ty qua 3 năm (Trang 29)
Bảng 3: Cơ cấu vốn lưu độngcủa Công ty - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty cổ phần Giầy Cẩm Bình
Bảng 3 Cơ cấu vốn lưu độngcủa Công ty (Trang 32)
Bảng 4: Nguồn hình thành vốn lưu động của Công ty - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty cổ phần Giầy Cẩm Bình
Bảng 4 Nguồn hình thành vốn lưu động của Công ty (Trang 35)
Bảng 5: Hiệu quả sử dụng vốn lưu động - Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty cổ phần Giầy Cẩm Bình
Bảng 5 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w