1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Việt Nam trên chặng đường đổi mới và phát triển kinh tế

421 320 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 421
Dung lượng 39,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Con đường phải vượt qua là phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền kinh tế thị trường định hưống xã hội chủ nghĩa; lấy chủ

Trang 3

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Nước ta đang trong tiến trình đổi mồi, chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giối trong điều kiện toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ Trước bối cảnh lịch sử mối, chúng ta có những thời cơ mói song cũng phải đổì mặt với những thách thức hết sức to lớn Con đường phải vượt qua

là phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền kinh tế thị trường định hưống xã hội chủ nghĩa; lấy chủ nghĩa Mác

- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động; nâng cao hiệu lực quản lý của

bộ máy nhà nước trên mọi mặt đời sông kinh tế - xã hội; tiếp tục bảo vệ và phát triển hệ giá trị chuẩn mực và các giá trị văn hoá của dân tộc.

Giới thiệu cùng bạn đọc cuốn sách Việt Nam trên chặng

đường đổi mới và phát triển kinh tê, của TS Nguyễn Minh Tú,

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia mong muôn cung cấp cho bạn đọc, trước hết là các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách, một cách phân tích toàn cảnh những cái

đã qua, dự báo toàn cảnh tương lai sắp tới của nền kinh tế Việt Nam.

Trang 4

Mặc dù còn một sô thông tin chưa cập nhật, một sô kiến nghị của tác giả nêu ra còn cần được tiếp tục tranh luận

Song trân trọng những cố gắng tìm tòi nghiêm túc, nhiệt

tâm của tác giả, với mong muôn góp thêm một tiếng nói thúc đẩy tiến trình đổi mới xây dựng đất nước, chúng tôi xuất bản cuốn sách làm tài liệu tham khảo.

Lần đầu ra mắt bạn đọc, hơn nữà, với một chủ đề quá lớn và phức tạp, chắc rằng sách còn những thiếu sót Chúng tôi mong nhận được sự phê bình, góp ý của bạn đọc để cuôn sách có thể hoàn chỉnh hơn.

Tháng 12 năm 2001

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ Qưốc GIA

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung chuyển sang nền kinh tế thị trường trong bổỉ cảnh kinh tế - chính trị thế giới đang trong quá trình cơ cấu lại một cách sâu sắc Hơn nữa, Việt Nam nằm trong khu vực châu Á với nền văn minh Trung Hoa đặc sắc và có sự phát triển kinh t ế năng động nhất trong mấy thập kỷ qua Liệu Việt Nam có phát triển vượt lên được theo con đường phương Đông, con đường Việt Nam riêng có của mình hay không?

So vối nhiều nước trong khu vực, sự nghiệp phát triển của Việt Nam bị chậm vài thập kỷ Việt Nam đã bị tụ t hậu khá xa về kinh tế, là một trong những nước nghèo nhất th ế giới, và có nguy cơ sẽ còn tụt hậu mạnh hơn nữa nếu không

có một đường lối, chiến lược thông minh và một quyết tâm cao (Bảng 1)

Trang 6

Bảng 1: So sánh xuất phát điểm kinh tè của Việt Nam

và một sô nước và lãnh thổ trong khu vực

Nước và

lãnh thổ

Năm xuất phát cất cánh

Dân số (triệu)

GNP*

(Tỷ USD)

GNP/người (USD)

Nguồn: Những thách thức trên con đường cải cách ở Đông Dương,

Nxb Chính trị quôc gia, Hà Nội, 1994, tr 286.

Để tránh tụt hậu, chắc chắn Việt Nam phải hội nhập vào cộng đồng thế giới, nhưng hội nhập thế nào, theo hướng nào, theo phương thức nào, tiếp thu cái gì là một vấn đề lựa chọn mang tính quyết định

Trong khi đang tiếp tục tiến hành đổi mói và phát triển kinh tế, Việt Nam phải đốì mặt với chính mình, với quá khứ

và di sản của mình Một mặt, ta phải tiếp thu di sản, cũng

như ảnh hưởng của văn hoá vùng Đông Á (Nho giáo), tác động của các nhân tô" truyền thông Đông Á (Phật giáo) và

mặt khác, phải thấy được sự bảo thủ và mặt tiêu cực của cơ

chế kinh tế tập trung quan liêu trong mấy thập kỷ qua, đó là chưa kể đến nhừng ảnh hưởng của văn hoá phương Tây thâm nhập vào Việt Nam ngày càng tăng trong thời gian gần đây Như vậy, Việt Nam là giao điểm của nhiều vùng văn hoá Chúng ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của nước ta như thế nào? Cái gì là tích cực và tinh hoa mà Việt Nam cần chắt

Trang 7

lọc và đón nhận? Đâu là con đường Việt Nam sẽ đi? Dẫu có chấp nhận hay không chấp nhận thì các di sản này vẫn tồn tại, gắn vối hiện tại và tương lai của chúng ta.

Bên cạnh đó, sau thời kỳ "chiến tranh lạnh", thê giới đang bước vào quá trình cơ cấu lại vê chính trị và kinh tế Cơ cấu quyền lực chính trị - quân sự đang có những biến đổi phức tạp mới thay thê cho sự đốì đầu của hai hệ thông trong thời

kỳ "chiến tranh lạnh" trước đây Nền kinh tê thế giới đang trong quá trình cấu trúc lại một cách căn bản và chắc chắn

có tác động mạnh mẽ tới nền kinh tê của từng quốíc gia

Tiếp thu di sản của lịch sử và sự cần thiết phải vượt lên

Hiện tại và tương lai bao giờ cũng là sự tiếp nối của quá khứ và nội sinh trong nó những di sản của quá khứ Mưu toan cắt đứt lịch sử, phủ nhận sạch trơn quá khứ, cũng như

sự bảo thủ nhắm mắt làm ngơ hoặc phủ nhận cái mới, cái tiến bộ đều dẫn tới kìm hãm sự phát triển và không sớm thì muộn chắc chắn sẽ bị quá trình phát triển của lịch sử đào thải Các di sản quá khứ có tác động khác nhau tới hiện tại

và tương lai tuỳ thuộc vào khả năng của con người Có những

di sản có lợi và phù hợp với sự phát triển, có những di sản lại

có hại hoặc bất lợi, cũng có thể có những di sản không có ảnh hưởng lớn đến thực tại và tương lai, tức mang tính chất

"trung tính" Những tác động này không mang tính quy định sẵn, mà phụ thuộc cơ bản vào việc con người có nhận thức được chúng không và có chủ động tạo môi trường và tiền đê cho chúng hoặc phát huy tác dụng hoặc hạn chê tác dụng được không Nếu không nhận thức được chúng, không có đối sách phù hợp thì các nhân tố thuận lợi thậm chí có thể trở thành

Trang 8

nhân tố bất lợi, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội có thê trở nên rối ren và quá trình phát triển có thể bị chậm lại Lịch

sử phát triển của loài người cho thấy, không một đâ't nước nào phát triển thành công mà lại không có bản sắc dân tộcLịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã để lại nhiều truyền thông tốt đẹp: lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần bất khuất, kiên cường cứu nước và giữ nước, tinh thần đoàn kết, nhường cơm sẻ áo, nhất là vào những thời điểm cam go; tinh thần lao động cần cù, chịu khó; tính linh hoạt, sáng tạo và khả năng thích ứng cao Tuy nhiên, bên cạnh đó

có nhiều thói quen, nhiều tập quán, nhiều di sản tác động không có lợi cho quá trình phát triển Nếu không ý thức được đầy đủ về ảnh hưỏng của di sản quá khứ, ta sẽ không xác định được điểm xuất phát; không biết được cái gì thuận lợi, tích cực cần phải tạo điều kiện để tận dụng và phát huy; không biết những cái gì bất lợi, tiêu cực cần phải hạn chê và vượt qua do đó ta sẽ khó hình dung được một cách rõ ràng mục tiêu và con đường ta sẽ đi, cũng như không thể ý thức được một cách rõ ràng và có chủ đích cái cần thiết, cái mối phải đưa vào thực tế Tình hình' đó có nguy cơ dẫn đến m ột quá trình tiến triển tự phát, xen lẫn cũ, mới, làm ta quẽn mất hoặc không ý thức được cái cũ vẫn đang tồn tại, van nhập vào tư duy và hành động của ta; cái cũ này hoặc là tổn tại dưới dạng phân giải hoà nhập vào thực tại, hoặc dưới dạng chờ thời cơ trỗi dậy, hoặc được tân trang, biến dạng, thay đổi màu da để thích nghi vói thực tại, với cái mối - mầm mống của sự tái sinh xã hội cũ, con người cũ, lối sống cũ Đồng thời, ta cũng quên, hoặc không có khả năng nhận thức

Trang 9

thực tê và nhận thức cái mới, thậm chí nhận thức của ta vê

lý tưởng và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, của dân tộc có thể

bị sai lệch và bị thành kiến

Với ý nghĩa đó, có thể có ba vân đề chính để lại những dâu

ân đáng kể và ảnh hưởng lớn đến thời đại của chúng ta, đó là

di sản Nho giáo (pha trộn với Phật giáo), quá trình tiếp thu

và vận dụng chủ nghĩa Mác -Lênin ở nước ta và cuối cùng là

sự đôi mặt với chủ nghĩa tư bản, tư tưởng kinh tê tư sản

Riêng vấn đê thứ ba này, nó không chỉ là di sản của quá khứ

mà còn là sự thách đố, sự trăn trở trong hiện tại và cả trong

tương lai

Về di sản Nho giáo, ngay từ thời kỳ Duy Tân, nhiều thế hệ

cha anh đã tìm cách tiếp thu tư tưởng dân chủ phương Tây

và sau này là tư tưởng Mác - Lênin, song dâu ấn Nho giáo để

lại vẫn đậm nét Theo truyền thống phương Đông, các nhà

Duy Tân không quan tâm đễn nội dung kinh tế và xã hội,

nên cho rằng dân chủ là dân thay vua làm chủ quyền quốc

gia "Quốc dân - đồng bào" (chứ không phải công dân - cá

nhân); trau dồi "công đức" (chứ không phải đấu tranh cho tự

do, bình đẳng và công bằng xã hội) để giành độc lập và xây

dựng đất nước

Ý thức hệ Nho giáo có vai trò quan trọng trong tổ chức

nhà nước và xã hội, trong giáo dục, đào tạo con người, xây

dựng những ước vọng, những tâm lý, hệ giá trị Nho giáo bảo

vệ một chính quyền thống nhất, một dòng họ chính thống,

ủng hộ tập trung quyền hành vào tay vua Nho giáo không

chỉ dùng luận thuyết giáo điều mà còn dùng "lễ" và "nghĩa"

để văn hoá hoá nó thành những giá trị đạo đức và thẩm mỹ

Trang 10

Người dân sống trong một chê độ chính trị - xã hội như vậy

và với ý thức hệ Nho giáo ăn sâu bén rễ như vậy và do chủ yếu sông trong môi trường làng, xã nên họ mang nặng tâm lý

và lối sông phụ thuộc, thụ động, chờ đợi, sông biết phận, không được vượt phận và vô lễ, giữ cái tôi nhỏ bé của bản thân, của gia đình, của họ, của làng xã Với trật tự trên - dưỏi kiểu gia đình theo lý tưởng Nho giáo: cha từ, con hiếu, người trên ân đức và người dưới phục tùng và biết ơn, con người sông nhường nhịn để có cuộc sông êm ấm, tình nghĩa thì người ta chỉ mong muôn bình quân và đại đồng, mong muốn thái bình, an cư, lạc nghiệp là điều dễ hiểu

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, đặc biệt

là sau khi miền Bắc đi vào xây dựng xã hội mối, khi đang tìm tòi con đường nối tiếp hợp lý vối lịch sử và bứt ra khỏi quá khứ thì do hoàn cảnh của lịch sử lúc đó, chúng ta đã du nhập

mô hình kinh tế kê hoạch hoá tập trung của Liên Xô và Trung Quốc cùng với việc nhận thức và vận dụng một cách chưa sáng tạo tư tưởng Mác - Lênin trong xây dựng mô hình kinh tế phù hợp với điều kiện nưốc ta Khi còn đang mò mẫm với mô hình kinh tê du nhập nói trên và đang bắt đầu trăn • trở với các vấn đề nảy sinh thì cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước bùng nổ làm gián đoạn con đường tìm tòi, sáng tạo

mô hình kinh tê mối, mô hình tổ chức xã hội mới Như vậy, ỏ Việt Nam có một sự kết hợp giữa tư tương Nho giáo, tư tưởng Mác - Lênin đã có phần bị giáo điều hoá và được nhận thức, được nuôi dưỡng trong môi trường chiến tranh lâu dài Vì vậy, mô hình kinh tế Việt Nam là một mô hình rất đặc trưng, pha trộn nhiều màu sắc, phản ánh nhiều xu thê và rất phức

Trang 11

tạp Nghiên cứu mô hình kinh tê Việt Nam, vì vậy, cần phải

có cách tiếp cận lịch sử toàn diện và cụ thể

Lý luận Mác - Lênin là học thuyết khoa học có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự phát triển xã hộì, trong đồi sông chính trị thê giới và phong trào công nhân quốc tế Nó lầ nền tảng tư tưởng cho sự ra đời của hệ thông xã hội chủ nghĩa thế giới, thể hiện khát vọng cao cả của nhân loại hướng tới một chế độ xã hội tốt đẹp hơn, tiến bộ hơn theo nghĩa đầy đủ nhất của từ này Nó là một sự đôi chứng, một sự kiểm chứng và là một sự thách thức lớn nhất đối với hệ thống tư bản chủ nghĩa

đã và đang vấp phải nhiều khó khăn, khủng hoảng, buộc nó phải tự điều chỉnh, tự thay đổi để có thể tiếp tục tồn tại và phát triển Việc sụp đô hệ thông xã hội chủ nghĩa vừa qua không có nghĩa đơn giản là sự sụp đổ tư tưởng Mác - Lênin vối tư cách là một học thuyết khoa học Tuy nhiên, cần ý thức rằng, đã là một học thuyết khoa học thì không thể coi nó như Kinh thánh và càng không thể giáo điều; nó có những sáng tạo và có những hạn chế tất yếu mang tính lịch sử Do vậy, một người mácxít chân chính, một nhà yêu nước chân chính

là người phải có trách nhiệm và sứ mệnh làm giàu học thuyết

đó vê mặt khoa học và thực tiễn để nó tiếp tục có sức sông như một tinh hoa của nhân loại

Nhưng đáng tiếc, trong quá trình vận dụng tư tưởng Mác - Lênin đã có sự nhầm lẫn giữa mục tiêu và phương tiện, có một sự trái ngược giữa lời nói và việc làm, có sự xa rời các triết lý nền tảng và phương pháp luận khoa học của nó Đảng

và Nhà nước ta sở dĩ lãnh dạo được cách mạng dân tộc dân chủ và giải phóng đất nưốc thành công và được nhân dân tin

Trang 12

yêu, ủng hộ chính là nhò trước hết vào việc Đảng ta đã đê ra được các mục tiêu phù hợp với lợi ích thiết tha của dân tộc, của nhân dân Nhưng sau khi cách mạng thành công và trong công cuộc xây dựng kinh tê đã có sự nhầm lẫn trong cách xử lý mối quan hệ giữa mục tiêu và phương tiện, coi trọng

xử lý các vâ’n đề cơ chế, về quan hệ sản xuất, coi đó là mục tiêu, trong khi lại sao nhãng, coi nhẹ các vấn đề giải phóng lực lượng sản xuất để tạo ra của cải, dịch vụ cho xã hội

Đất nước ta chuyển đổi sang nên kinh tê thị trường định hưóng xã hội chủ nghĩa, thực chất là một cuộc giải phóng xã hội lần thứ hai, theo đó cáe tiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi

tổ chức kinh tế, xã hội, mỗi địa phương và vùng lãnh thổ được "giải phóng" Sự kết nối, tác động tương hỗ giữa chúng

sẽ được thực hiện thông qua một cơ chê mới là cơ chê thị trường kết hợp với các chuẩn mực đạo đức, văn hoá và xã hội mang bản sắc Việt Nam

Trên một thập kỷ qua, công cuộc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đã đưa đất nước ta thoát ra khỏi hủng hoảng về kinh tế, xã hội; đạt được sự ổn định nền kinh tế và mức tăng trưởng kinh tế cao và liên tục từ năm 1991 trở lại đây; đời sống nhân dân đã ngày càng được cải thiện; nhiều mặt của đời sống xã hội đã được thay đổi tích cực; nền kinh

tế đã được mở cửa với th ế giới, giúp Việt Nam sử dụng được các lợi thê so sánh của mình và có được nguồn tăng trưởng quan trọng bên ngoài Tuy nhiên, cũng đã xuất hiện nhiều vân đề mới đặt ra đáng phải suy ngẫm Các quan hệ kinh tê thị trường một mặt phá vỡ những cơ cấu và cơ chế cũ kìm hãm sự phát triển, nhưng mặt khác cũng gây ra những vấn

Trang 13

đề mới, những mặt tiêu cực, mật trái cần phải được xem xét

và xử lý Một là, nền kinh tê thị trường mở ra nhiều quan hệ mới và mở ra một sự đa dạng, một sự năng động mới trong xã

hội theo đó công dân cọ quyển tự do sản xuất - kinh doanh

và hoạt động kinh tế Tuy nhiên, các hoạt động này cần phải

có khung khổ luật pháp hữu hiệu, là cái chưa hề có trong cơ

chê quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung và việc xây dựng

nó cần phải có thời gian Vì vậy, không tránh khỏi hiện tượng

cạnh tranh không lành mạnh, vi phạm quyền và tự do của

người khác Hai là, do những động cơ lợi nhuận và do khung

khổ pháp lý chưa hình thành đầy đủ nên có những xói mòn

về các giá trị đạo đức và các giá trị văn hoá truyền thông

Đây là một trong những thách thức lốn nhất đặt ra không chỉ

riêng đối với Việt Nam, mà còn đôi với tất cả các nước đang

phát triển Ba là, việc chuyển sang nền kinh tế thị trường có

nội dung quan trọng là phải mở cửa nền kinh tế, hội nhập với

kinh tế khu vực và kinh tê thê giói Điều này cũng có nghĩa

là Việt Nam sẽ phải đôi mặt với văn minh mới của nền công

nghiệp, nền văn minh phương Tây, nước ngoài, những sự lai

căng về văn hoá cũng như những tệ nạn, sự tha hoá bên

ngoài nhập vào Việt Nam Những quá trình và những hiện

tượng này nếu không được nhận thức và kiểm soát tốt sẽ dẫn

đến sự suy đồi về văn hoá, xã hội, cản trở sự phát triển ổn

định và bền vững của đất nước

Như vậy, đổi mới kinh tê ở Việt Nam là một quá trình

phức tạp, chịu ảnh hưởng của ba thói quen, ba nếp nghĩ, ba

cơ chế Quan sát nhiều hiện tượng hiện nay người ta thây rõ

ở những nơi, những lúc khi nguyên tắc tổ chức Đảng bị buông

Trang 14

lỏng, pháp luật và kỷ cương Nhà nước bị coi thường, hiện lên bóng dáng của quá khứ, của cái cũ và cái hư hỏng mới Lúc

đó, tố chức Đảng, chính quyền bị suy yếu, một bộ phận cán

bộ, nhất là cán bộ có chức, có quyền bị thoái hoá, biến chất, thậm chí rất nhanh, ở những nơi đó ta thấy các nhân vật quan lại, hương, lý xuất hiện trong đội ngũ cán bộ các cấp xã, huyện; người ban ơn và người giáo huấn cho dân xuất hiện ở một sô" ông quan lãnh đạo; sự an phận thủ thường (chờ số mệnh và chò On trên), không dám đấu tranh, khai mỏ cái mới xuất hiện ở nhiều cán bộ, nhân dân Trong những năm đổi mới, nưóc ta đã giành được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội, nhưng cũng vấp phải sai lầm, để xảy ra nhiều tiêu cực Vậy, vấn đề đặt ra là, để tiếp tục đổi mới, phát triển, trước hết phải bắt đầu từ nhận thức thực tiễn Nhận thức được chiều sâu thực tiễn là rấ t quan trọng giúp chúng ta tìm ra con đường đúng đắn đưa cách mạng nưốc ta tiếp tục tiến lên dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh Con đường đi lên đó của đất nước ta không bằng phẳng, dễ dàng, nhưng chắc chắn sẽ đi đến thắng lợi

Tháng 10 năm 2001

T á c g iả

Trang 16

từ Trung ương tới địa phương Các dơn vị sản xuất hầu như không có quyền độc lập, tự chủ và hoạt động giông như một

cỗ máy theo hệ thông kế hoạch dã định sẵn, theo mệnh lệnh của cấp trên Họ không có quyên lựa chọn sản phẩm cần được sản xuất, lựa chọn người cung ứng, người tiêu thụ; họ không

có quyền định giá Vì không có cạnh tranh và do chê độ kế

hoạch hoá tập trung đó, nên ngự trị cơ chê chi phí: chi phí

Trang 17

sản xuất càng cao, lợi nhuận càng lớn, trích thương càng lớn.Các doanh nghiệp vì vậy, không quan tâm tới hao phí và hiệuquả; quy mô doanh nghiệp càng lớn thì phúc lợi xã hội cànglớn Chuẩn mực cho hoạt động của các đơn vị sản xuất là hệthông định mức đã được xây dựng thông nhất và có hiệu lựcchung cho tất cả đơn vị sản xuất do các cơ quan nhà nước

Một hệ thông coi như được lập kế hoạch và kiểm soát một cách chặt chẽ nhưng thực ra lại là một hệ thông hết sức lỏng lẻo do nó chỉ dựa trên những mệnh lệnh hành chính thuần tuý (từ bên ngoài) mà không dựa vào mệnh lệnh của chính tự thân nó Đơn giản là các mục tiêu kế hoạch sản xuất luôn luôn được "điều chỉnh”, mỗi khi các dơn vị sản xuất không hoàn thành kế hoạch đã đề ra, do các "bất khả kháng” nảy sinh và do các điều kiện khách quan đưa lại Tình trạng này

đã được J Cocnai gọi là "thực trạng ngân sách mểm" và bản chất của nền kinh tế kiểu này là nền kinh tế "thiếu hụt" Có thể một sô" xí nghiệp "không hoàn thành kế hoạch" là do

"vướng mắc" với cấp trên, hoặc với các cơ quan chức năng nhà nước có liên quan, hoặc tình hình hoạt động của xí nghiệp đã quá tồi tệ, giông như cái nhọt đã đến kỳ phải vỡ đến mức giám đô"c hoặc cấp chủ quản không còn khả năng cứu vãn hoặc bưng bít sự thật được nữa Đây là một nghịch lý của nền

kinh tê kế hoạch hoá tập trung: một mặt, nó phân bổ và điều

Trang 18

Tuy nhiên, đôi vối một nước dang phát triển như Việt Nam, vào giai đoạn đẩu của quá trình phát triển ở những năm 1960, cơ chế kinh tê này có ưu điểm là thúc đẩy nhanh tích tụ vôn Cho đến nảm 1975, nên kinh tế kế hoạch hoá tập trung ở miền Bắc đã đưa lại một sô" kết quả, trong bối cảnh cuộc chiến tranh kéo dài và ác liệt nhất trên thế giới từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Có thể nói rằng, đó là nền kinh

tế kế hoạch hoá tập trung của chiến tranh, bị bóp méo trầm trọng do chiến tranh Do vậy, bức tranh kinh tế của miền Bắc Việt Nam trong thời kỳ trước 1975 (và của miền Nam Việt Nam cũng vậy) là rất phức tạp

Tuy là mô hình kinh tế du nhập và bị chiến tranh chi phối sâu sắc, miền Bắc Việt Nam đã đạt được một sô" thành quả, đặc biệt trong thời kỳ kế hoạch 5 năm 1960-1965 (so sánh Bảng 2)

tiết hoạt động k in h tê một cách tập tru n g q u a n liêu, như n g

đế hoàn th à n h được các kê hoạch ấy.

Bảng 2: Tăng trưởng kinh tê thời kỳ ké hoạch

5 nám lần thứ nhất (1960-1965)

1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm 3,0%

2 Tốc độ tăng dân số bình quản hàng năm 3,0%

3 Tốc độ tăng tổng sản phẩm xâ hội 9,1% 4

%

Tốc độ tăng tổng sản lượng cóng nghiệp 13,6%

5 Tốc độ tăng tổng sản lượng nông nghiệp 4,2%

6 Gia tăng sản lượng lương thực chính 3,4%

Trang 19

Có một sự thật là ngay trong thời kỳ này đã có mầm mông của tư tưởng đổi mới kinh tế Vào năm 1964, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã quyêt định thành lập nhóm chuyên gia chịu trách nhiệm nghiên cứu cải tiến quản lý kinh tế Vào thời gian này, người ta chưa đề cập đến khái niệm "cải cách

kinh tế" hay cải cách kinh tế thị trường, bởi hai lý do Thứ nhất, trong bôi cảnh của tình hình chính trị, kinh tế lúc đó

và trong bốì cảnh của khôi kinh tê xã hội chủ nghĩa đang ở vào thời điểm vàng son của nó không thể có những bước đi

quá xa, thoát ly thực tế lịch sử Mặt khác, lúc đó cũng chưa

có sự phổ biến của mô hình kinh tê thị trường ỏ Việt Nam Chỉ có một điều chắc chắn rằng, không chỉ trong nhân dân

mà ngay trong các cấp lãnh đạo đã nhận thức được rằng, mô hình kinh tê hiện hành cần được cải tiến, sửa đổi sao cho có hiệu quả hơn Trong thời gian từ 1954 đến 1970, ở Việt Nam

đã có một sô" chủ trương tuy rất ít ỏi nhưng đã có dâu hiệu của cải cách kinh tê mang tính định hướng thị trường Điển hình là thí điểm cải tiến quản lý kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp

Như vậy, đổi mới kinh tê hướng theo thị trường ở Việt Nam có nguồn gốc từ rất sớm và đã được thực tế Việt Nam ấp

ủ, kiểm nghiệm ngay từ buổi đầu của mô hình kế hoạch hoá tập trung Và cũng chính đây là một cuộc "cách mạng" mới, một cuộc đấu tranh thực sự giữa cái cũ và cái mới; giữa cái vận động tất yếu của lịch sử và cái duy ý chí, chủ quan; giữa

Trong thòi kỳ này, tốíc độ công nghiệp hoá tương đôi cao, theo đó tỷ ]ệ tích luỹ - đ ầu tư đã đ ạ t mức đ ỉn h điểm là 25,1% vào năm 1965.

Trang 20

thực tê sinh động và lý luận giáo điều Thời kỳ "vật vã" và thí nghiệm cải cách này là thời kỳ thai nghén cho công cuộc đôi mới kinh tế của Việt Nam sau này Đối mới kinh tê của Việt Nam theo hướng thị trường là một quá trình lịch sử lâu dài

và thực tế nàv cho thấy Việt Nam là một nưóc năng động trong tư duy và trong hành động

Thòi kỳ tiếp sau, từ I960 đến 1975, là thời kỳ chiến tranh

ở cả hai miền Nam - Bắc cả hai miền đều phụ thuộc nặng nề

vào viện trợ nước ngoài chủ yếu phục vụ cho chiến tranh

ra khắp miền Nam Việt Nam cùng vối thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976-1980) Theo đó, phong trào "cải tạo xã hội chủ nghĩa" đôi với tư sản ở miền Nam đã được phát động,

ở thành thị hầu như tất cả các xí nghiệp và công ty tư nhân

đã được chuyển sang hình thức công tư hợp doanh Còn ở nông thôn, hầu hết nông dân phải vào hợp tác xã hoặc tập đoàn sản xuât (thê hiện qua sô" liệu về diễn biến của phong trào hợp tác xã thông qua tỷ lệ sô" hộ xã viên hợp tác xã trên tổng sô" hộ nông dân - so sánh Bảng 3) Sô" liệu Bảng 3 minh chứng cho nhận định chính thông lúc đó cho rằng, ở miền Nam sau mười năm giải phóng, công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa tiến hành chậm chạp Trong bôi cảnh lúc đó, tỷ trọng của "kinh tê" xã hội chủ nghĩa" trong nền kinh tê" vẫn râ"t lớn,

Trang 21

dĩ nhiên có chiều hướng giảm đi sau thời kỳ thông nhất hai miền Nam - Bắc (so sánh Bảng 3) Vào thòi kỳ đó, xét theo hình thái sở hữu, nền kinh tế cơ bản được chia ra làm hai khu vực: khu vực kinh tê xã hội chủ nghĩa, bao gồm xí nghiệp quốc doanh, hợp tác xã; khu vực kinh tế phi xã hội chủ nghĩa - tức kinh tế tư nhân còn bị kỳ thị và bị phân biệt đối xử.

nghĩa trong thu nhập

quốc dân (giá thực tế)

Nguồn: Thành tựu và triển vọng kinh tế, xã hội Việt N am 1955-

2015 Trung tâm Tính toán u ỷ ban Kê hoạch Nhà nước, 5-1985.

Trang 22

Số liệu thôĩig kê ở trên lý giải tại sao miền Nam lại dị ứng

với mô hình kinh tê kê hoạch hoá tập trung và giữ vai trò quan trọng đối với quá trình đổi mới kinh tế của Việt Nam Nhân tô "miền Nam" trở thành một trong những lực đẩy cho cải cách hướng theo thị trường ở Việt Nam sau này

Cho đến đầu những năm 1980, mền kinh tế Việt Nam vẫn chưa bộc lộ rõ những khuyết tật và yếu kém của nó Một sô> chỉ tiêu của nền kinh tế vẫn đạt được mức tăng ổn định Trong thời kỳ 1976-1985, mức tăng bình quân của tổng sản phẩm xã hội đạt 4,5%, của thu nhập quôc dân sản xuất đạt 3,8%, của giá trị tổng sản lượng nông nghiệp đạt 4,2%, của giá trị tổng sản lượng công nghiệp đạt 7,4%, của tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 14,0%, của tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 3,5% và của thu nhập quốc dân sử dụng là 2,3% Riêng tốc độ tăng trong thòi kỳ 1981-1985 nhanh hơn thời kỳ 1976-

1981 Tuy nhiên, các mức tăng nói trên còn chậm chạp, nhất

là khi so sánh vói tỷ lệ tăng dân số cao so với mức tăng bình

quân 2,2% trong cùng thời kỳ Điều đặc biệt chú ý là tỷ lệ tăng trưởng hàng năm của nhiều chỉ tiêu kinh tế chủ yếu rất bấp bênh, chẳng hạn trong thời kỳ 1977 đến 1980 tốc độ gia tăng xuất khẩu là 45%, 1%, - 2% và 5%; tốc độ gia tăng của nhập khẩu là 19%, 7%, 17% và - 14%; tốíc độ gia tăng sản xuất lương thực là - 6%, - 3%, 14%, và 3% (so sánh Bảng 4) Sản lượng của nhiều sản phẩm quan trọng, như vải, xi măng, điện, than và thép đã giảm mạnh Đời sống nhân dân do vậy vẫn rất khó khăn, không những không được cải thiện, mà ngày càng khó khăn hơn Dường như những nỗ lực chính sách dựa trên cơ sở kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao

Trang 23

cấp trước đây không những không thể giải quvẽt dược tình hình này mà còn làm cho nó trẩm trọng thêm.

Bảng 4: C hỉ so phát triển tổng sấn phẩm x ã hội

và thu nhập quốc dán 1976 - 1980 (giá so sánh 1970,1976 = 100%)

-Nguồn: S ố liệu thông kê ĩ 976-1980, Tổng cục Thống kê, 1981.

Bắt đầu từ cuối những năm 1980, tình hình kinh tế nước

ta có nhiều biểu hiện xấu đi, có thể do một sổ nguyên nhân

chính sau đây:

- Nguồn dự trữ của viện trợ cho hai miền trong thời kỳ trước chiến tranh đang cạn dần, trong khi viện trợ mới không còn dôi vối miền Nam và sút giảm mạnh đốì với miển Bắc Nển kinh tê Việt Nam trong thời kỳ đó dược ví như "cây tầm gửi", "đứa trẻ trưởng thành còn bú mẹ" do dựa quá nhiều vào viện trợ nước ngoài

Trang 24

- Thị trường miên Nam vốn đã phát triển hơn đang cựa mình để bung ra phát triển.

- Những yếu tô" tự nhiên của thị trường và nền kinh tế thị trường đang nhen nhóm và lớn mạnh (chẳng hạn tự do, tự chủ kinh doanh, trao đối mua bán trên thị trường đôi ngược với chỉ'huy mệnh lệnh và chia cắt thị trường theo cách thúc hành chính)

- Việt Nam nằm trong khu vực kinh tế năng động Đông Nam Á và châu Á Mặc dù sau 197Õ và đặc biệt từ sau năm

1979 khi xảy ra chiến tranh biên giới Tây Nam, quan hệ kinh tế và thương mại giữa Việt Nam và nhiều nước, trong

đó có nhiều nước trong khu vực đã chính thức bị cắt đứt, nhưng quan hệ thương mại giữa Việt Nam với Xingapo, Hồng Công, Đài Loan, Thái Lan, Nhật Bản và một sô" nưóc khác vẫn được duy trì Những quan hệ này chẳng những tác động tới Việt Nam voi tư cách là tác nhân cho cải cách kinh tế hướng theo thị trường, mà còn là nguồn lực cho sự hồi phục, duy trì và tăng trưởng kinh tê", tạo điều kiện thuận lợi cho bình thường hoá quan hệ kinh tế với các nước sau này

Đây là thời kỳ lịch sử quan trọng của Việt Nam để khốp nôi hai nền kinh tê Nam - Bắc, khớp nôi hai giai đoạn chiến tranh - hoà bình, khốp nối hai cơ chế kinh tê" Vì vậy, Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ V của Đảng Cộng sản Việt Namvào tháng 3 năm 1982 đã cho rằng ’’Thành công rực rơ của Đảng ta và nhân dân ta là đà nhanh chóng thông nhâ"t nước

Trang 25

nhà vê mặt Nhà nước"1 Đồng thời, tại Đại hội này, lần đầu tiên Đảng đã nhận thức được "khuyết điểm, sai lầm vê lãnh đạo và quản lý là nguyên nhân chủ yếu gây ra hoặc làm trẩm trọng' thêm tình hình khó khăn vê kinh tế và xã hội trong những năm qua"1 2 và nhận thức được sự bảo thủ, trì trệ của

cơ chế chính sách hiện hành Vì vậy, Đại hội V là cột mốc lịch

sử quan trọng đánh dấu một chất lương mới trong sự tự phê bình của Đảng và là bước khởi đầu quan trong cho quá trình

"tự đổi mới Đảng" sau này

Mặc dù Đại hội này chưa nêu rõ tư tưởng đổi mới kinh tế, nhưng đã đề ra nhiệm vụ "thiết lập trật tự mới, xã hội chủ nghĩa trên mặt trận phân phối lưu thông", bao gồm nhiều vấn đề kinh tế vĩ mô đang nổi lên ngày càng phức tạp hơn: lưu thông hàng hoá trong nưốc, chính sách tài chính - tiền tệ, giá cả, tiền lương Đặc biệt, Đại hội cũng đã bắt đầu để cập

"xác lập chế độ quản lý và kế hoạch hoá đúng dắn, đổi mới chê độ quản lý và kế hoạch hoá hiện hành" Lãnh đạo Đảng

và Nhà nước Việt Nam đã bước đầu nhận thức được vai trò quan trọng của các công' cụ tài chính - tiền tệ dưdi thuật ngữ

"chính sách đòn bẩy kinh tế" "để thúc đẩy và kiểm tra chặt chẽ hoạt động của sản xuất - kinh doanh" và do vậy đã nêu

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại hiểu toàn quốc

lần thứV, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1982, t.l, tr.23.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại hiểu toàn quốc

lần thứV, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1982, t.l, tr.36.

Trang 26

ra một trong những nhiệm vụ chủ yếu của thời kỳ 1981-1985

là "Đối mới một bước hệ thông quản lý kinh tế" Tuy nhiên,

vào thòi điểm này, tư tưởng cải cách kinh tế theo hướng thị

trường chưa được nêu một cách chính thức mà chủ yếu vẫn là

tư tương "cải thiện", "sửa chữa" cơ chê cũ trên cơ sở vẫn giữ

nguyên bản chất của nó

3 T hời k ỳ 1981-1985: T h ử n g h iệ m c ả i c á c h v à sự

tr ă n trở lộ t x á c c ủ a cơ c h ê k in h t ế k ê h o ạ c h h o á tậ p

tr u n g

Bước vào thời kỳ này, tình hình kinh tê tiếp tục xấu đi Đã

bắt đầu có những áp lực muốn "xé rào", vì cơ chê kế hoạch

hoá tập trung gây tù túng cho các lực lượng sản xuất Quan

hệ thị trường đang bắt đầu cựa mình để bung ra, trước hết là

trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp quốc doanh và

thương nghiệp Chính vì vậy, Ban Bí thư Trung ương Đảng

Cộng sản Việt Nam đã ban hành Chỉ thị 100-CT/TW, ngày

13-1-1981 vê cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã

nông nghiệp Đây là biện pháp đột phá và có ý nghĩa lịch sử

đôi với cơ chê hợp tác xã kiểu cũ Các hợp tác xã này thực

châT là các xí nghiệp bị quốc doanh hoá, không khuyến khích

được người nông dân, không phù hợp với sản xuât nông

nghiệp Theo chính sách này, nông dân được nhận ruộng

khoán, chỉ cần nộp sản lượng khoán, còn lại được quyền tự

tiêu thụ và bán cho các cơ quan nhà nước theo giá thoả

thuận, và sau này được quyền tiêu thụ trên thị trường tự do

Nhò vậy, đã tạo ra động lực mới trong sản xuất nông nghiệp;

Trang 27

Biện pháp đột phá thứ hai khởi đầu cho quá trình cải cách thị trường sau này là Quyết định 25/CP của Chính phủ ban hành vào tháng 1 năm 1981 Theo Quyết đinh này, các xí nghiệp quốc doanh được quyển xây dựng ba kế hoạch: kế hoạch A, kế hoạch B và kế hoạch c Kế hoạch A là kế hoạch pháp lệnh của Nhà nước; Nhà nước cung ứng đầu vào, doanh nghiệp sản xuất và phải cung ứng theo giá quy định và theo địa chỉ đã định Kế hoạch B là kế hoạch theo đó doanh nghiệp có thể tận dụng công suất dư thừa của kế hoạch A và được tự do cung ứng đầu vào, được tự tiêu thụ trên thị trường

tự do, chỉ cần nộp một khoản đóng góp "khoán” nhất định cho Nhà nước Kế hoạch c là kế hoạch do doanh nghiệp được tự chủ đầu tư mua sắm năng lực sản xuất mới trên cơ sở vốn tự

có, tự cung ứng đầu vào, tự tiêu thụ sản phẩm trên thị trường tự do Đây là quyết định quan trọng mở đầu cho quá

trình thị trường hoá và thương mại hoá các doanh nghiệp

nhà nước Điều này cho phép các doanh nghiệp nhà nước tiếp cận với thị trường tự do và bước đầu xác lập quyền tự chủ nhất định trong sản xuất - kinh doanh, dần dần "cai sữa" từ bao cấp ngân sách của Nhà nước

Tuy nhiên, việc tồn tại đồng thời ba loại kế hoạch, ba loại

cơ chế nói trên đôi với doanh nghiệp nhà nước dường như đâ làm cho Nhà nước mất khả năng kiểm soát đôì vối các doanh

nghiệp, và rộng hơn nữa là đối với toàn bộ nền kinh tế Vì

vậy, trong thời kỳ trước năm 1986, đã có nhiều ý kiến cho rằng, Chính phủ đã mất khả năng kiểm soát nền kinh tế.sản x u ấ t nông nghiệp đâ tăn g lên 5,3% tro n g thời kỳ n à y so với 2% của thời kỳ 1976-1980.

Trang 28

Nhiều doanh nghiộp dã lợi dụng năng lực sản xuất và đầu vào của kế hoạch A với giá cả bao cấp dê triển khai thực hiện

kẽ hoạch B và kê hoạch c Dì nhiên, các doanh nghiệp hăng say với kê hoạch B và ngày càng gắn bó với kê hoạch c Quản

lý tài chính đôi với doanh nghiệp với ba cơ chế khác nhau là không thẽ\thực hiện được Rõ ràng, mối quan tâm lớn nhất

và định hưống chủ yếu của các doanh nghiệp là kê hoạch c

và B Không thể quản lý được một hệ thông kinh tế với cơ chê

ba giá và không thể có một hộ thông thông kê và hệ thông kế toán nào hữu hiệu có thể phản ánh trung thực được tình hình tài chính doanh nghiệp Nhiều doanh nghiệp đã "tận dụng" các điều kiện của kế hoạch A để chuyển cho kế hoạch B và c Cùng một lúc tại cùng một cửa hàng bán lẻ với cùng một mặt

hàng, cùng một chất lượng, giá của kế hoạch A thường rẻ và

được phân phôi theo các kênh thương nghiệp bán buôn, bán

lẻ của Nhà nước; giá của kê hoạch B, c thường là đắt hơn và dược bán tự do Theo nguyên tắc của thị trường, hành vi của người kinh doanh và do tình trạng "thiếu hụt", "khan hiếm" hàng hoá lúc đó không hoặc hầu như không có sản phẩm A

để bán, chỉ có sản phẩm B và c Các tổ chức kinh doanh, nhất

là tư nhân, tư thương tìm cách móc nổì với các cơ sỏ sản xuất, hoặc các tổ chức thương nghiệp nhà nước để mua hàng hoá và

"ăn chia" phần chênh lệch giá sản phẩm của kế hoạch A với các

tố chức này Hầu như tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức

xà hội cũng đều cô" gắng mua - bán trực tiếp với các cơ sở này với giá rẻ để "phân phối" lại cho cán bộ của cơ quan mình, hoặc lại bán ra ngoài thị trường tự do đê hưởng chênh lệch giá, phần nào giải quyết đời sôhg cho cán bộ, nhân viên

Trang 29

Do tình hình trên và những áp lực cải cách tiếp tục tăng lên, Nhà nước đã ban hành Quyết định 146, Quyết định 156 nhằm tăng quyền tự chủ cho các doanh nghiệp nhà nưốc Quyết định 217, năm 1987 của Chính phủ đã tạo ra quyển tự chủ một cách tương đối toàn diện cho các doanh nghiệp nhà nước như tự xây dựng kế hoạch sản xuất - kinh doanh, tuyển dụng lao động, tiêu thụ sản phẩm Nhờ các biện pháp mạnh

mẽ đó, tăng trưởng kinh tế có xu hướng khá hơn

Bảng 5: Tốc độ tăng trưởng hàng nãm của một sô chỉ tiêu kinh t ế (%)

Trang 30

Trong khi đó, nhiều chỉ tiêu xã hội có xu hướng tăng trưởng chậm hoặc sa sút mạnh Tỷ lệ tảng bình quân hàng năm của sinh viên đại học và trung học chuyên nghiệp trong thòi kỳ này

là (âm) -12% (thời kỳ 1976-1980 là 9,4%, thời kỳ 1986-1989 là - 0,1%); tỷ lệ tăng học sinh phổ thông cũng có xu hướng tương tự, chỉ đạt mức 0,6% (thòi kỳ 1976-1980 là 2,2%, thời kỳ 1986-1989

là 0,7%); tỷ lệ tăng số giường bệnh cũng'chỉ đạt mức 1,2% (thời

Bảng 6: Diện tích gieo trổng cây lương thực

và sản lượng lương thực bình quân đầu người

Năm Diện tích trồng

cây lương thưc

(l.ooòha)

Sản lượng lương thực quy thoc (1.000 tấn)

Sản lượng lương thực (quy thóc) đầu người (kg/người)

Trang 31

Sô" liệu trên cho thấy, sản lượng lương thực đầu người của Việt Nam quá thấp, chưa vượt qua được ngưỡng của đói kém triền miên, trong khi cơ chế giá mang tính chất kế hoạch hoá tập trung ỉàm méo mó quan hệ cung - cầu và cơ cấu giá cả Hơn nữa, tuy Việt Nam là một nước nông nghiệp, song có diện tích đất canh tác nông nghiệp ít ỏi, và diện tích đất nông nghiệp đầu người bình quân rất thấp, thuộc loại thấp nhất thế giới, chỉ 0,1 ha/người trong khi tốc độ gia tăng dân sô" rất cao, bình quân đạt 2,19 %/năm.

Trong khi đó, công nghiệp (kể cả xây dựng và giao thông vận tải) có xu hướng tăng trưởng ổn định hơn Khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh đã bắt đầu có xu hướng tăng trương

và ngày càng giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, chiếm

tỷ lệ bình quân 47,41% trong tổng sản phẩm xã hội thời kỳ 1981-1985

Trong lĩnh vực thương nghiệp đã có sự thay đổi lớn, theo

đó khu vực ngoài quốc doanh đang ngày càng giữ vai trò quan trọng hơn và đã chiếm tỷ lệ bình quân 54,46% trong tổng mức bán lẻ xã hội của thời kỳ 1981-1985

Tỷ lệ gia tăng xuất khẩu trong thòi kỳ này đạt bình quân hàng năm 15,94%, song thất thường và có xu hướng giảm dần Đặc biệt, cán cân thương mại đôi ngoại tồi tệ do bị thâm hụt nặng; kim ngạch nhập khẩu bình quân gấp 2,81 lần so với xuâ"t khẩu, trong khi cán cân thanh toán của Việt Nam không sáng sủa Dì nhiên, nguồn nhập siêu khổng lồ dưới dạng nợ này chủ yếu do Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây cung cấp Do vậy, có nhà kinh tê" đã nói rằng, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tê" cộng sinh vào bên ngoài Thị trường

Trang 32

xuất khẩu của Việt Nam thời kỳ này chủ yếu vẫn là Liên Xô

và Đông Áu trước đây, gấp 1.62 lần so với thị trường ngoài các nước xã hội chủ nghía, vối cách tính 1 USD tương đương

1 Rúp chuyến nhượng Trong thời kỳ này, nông sản và khoáng sản thô, như than đá, thiếc, cao su thiên nhiên, hàng mây tre, thêu đan, chè, lạc, tôm, cá, mực đông lạnh, dầu hồi, quế là những mặt hàng xuất khẩu chủ lực

Một số’ chỉ tiêu xã hội, đặc biệt về giáo dục và đào tạo trong thời kỳ này có xu hướng xâu đi vào đầu thời kỳ, sau đó

có được cải thiện chút ít vào cuổì thời kỳ, trừ lĩnh vực đào tạo cao đẳng và đại học (so sánh Bảng 7)

Bảng 7: Số lượng học sinh theo niên khoá

(1.000 người)

Số học sinh

1980-1981

1982

1981- 1983

1982- 1984

1983- 1985

1984 Tổng số học sinh 12.737,2 12.350,2 11.875,7 12.017,9 12.346,0

- Học sinh phổ thông 11.836,7 11.680,0 11.337,1 11.498,2 11.813,1

- Học sinh trung học 136,2 116,2 112,7 115,5 131,6 chuyên nghiệp

- Học sinh đại học 153,8 149,3 139,3 128,7 125,7 trong nước

Nguồn: Việt Nam - Con sô và sự kiện 1945-1989, Tổng cục Thông kê, Hà Nội, 1990.

Hệ thô>ng y tế đặc biệt xuống cấp trầm trọng cả về sô" lượng bệnh viện, phòng khám, trạm y tế, sô" giường bệnh (so sanh Bảng 8) và chất lượng dịch vụ

Trang 33

Bảng 8: Một sô' chỉ tiêu y

Năm Số bệnh viện/

phòng khám (cái)

Số giường bệnh binh quân/10.000

dân

Số y, bác sĩ bình quân/10.000

về cải cách thị trường ở Việt Nam Thậm chí, còn có chủ trương tiến hành cải cách trên cơ sở cơ cấu cũ, cơ chế cũ

Tuy nhiên, trong thời gian này, ỏ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây đang ấp ủ những đảo lộn

hệ thông kinh tê" - xã hội Đang có những cuộc tranh luận, những cuộc hội thảo quốc gia và quốc tê" ở các quy mô khác nhau về chuyển đổi hệ thống kinh tế Đường lối của Việt Nam do vậy cũng nằm trong bối cảnh của diễn biến chung này Lần đầu tiên đã có sự phân tích, mổ xẻ cơ chê" kinh tế kê" hoạch hoá tập trung trong sự so sánh với cơ chê" kinh tế thị trường; đánh giá lại cải cách kinh tê" của Liên Xô và Đông Âu trước đây; phê phán một cách khoa học nhiều

Trang 34

luận điểm cơ sở và thiết chê cơ bản của cơ chế kế hoạch tập trung (chế độ công hữu và gắn với nó là vai trò không chê

vĩ mô của Nhà nước, môi quan hệ giữa tập trung và phân quyền, ); lần đầu tiên cũng đưa ra khái niệm cải cách

"tiệm tiến", cải cách "tức thòi" và hình thành các phương thức cải cách vối điểm mạnh và điểm yếu của chúng; lần đầu tiên đưa ra khái niệm "quản lý kinh tế vĩ mô", Kể từ cuối năm 1985 trở đi đến cuối năm 1986, trưốc khi tiến hành Đại hội lần thứ"VI của Đảng, ở Việt Nam cũng đã diễn

ra những tranh luận sôi nổi về các vấn đề lý luận kinh tế: chẳng hạn nhiều luận điểm kinh tế của Mác - Lênin được nhấn mạnh lại như nền sản xuất hàng hoá, quan hệ hàng - tiền, nhiều vấn đề được đặt ra để nghiên cứu kỹ hơn như sở hữu tư nhân và vai trò khu vực tư nhân, vai trò của ngoại thương và độc quyền ngoại thương

Một sự kiện quan trọng đặc biệt trong thời kỳ này và song song vói quá trình trên là Việt Nam đã tiến hành cuộc tổng điểu chỉnh giá - lương - tiền năm 1985, nâng tổng mặt bằng giá (của các hàng hoá do các đơn vị doanh nghiệp nhà nước sản xuất), tiền lương của cán bộ, công nhân viên thuộc nhà nước, kể cả khối doanh nghiệp nhà nước và cải cách tiền tệ (đổi tiền) Kết quả "khả quan" của công cuộc cải cách này chỉ diễn ra trong khoảng 3 tháng, sau đó là những đợt leo thang

về giá cả, sụt giá nhanh chóng giá trị đồng tiền bản tệ, từ đó

mở đầu cho thời kỳ khủng hoảng kinh tế mới mà biểu hiện đặc trưng nhất, nổi bật nhất là nạn lạm phát phi mã dưòng như không có khả năng ngăn chặn trong thời kỳ tiếp theo

Trang 35

Cuộc tông điều chỉnh này đã thất bại Lý do đơn giản và duy nhất là nó chỉ bao gồm một sô"biện pháp thuần kỹ thuật trên

cơ sở của một cơ chế cũ và do vậy làm cho yếu kém của nền kinh tế trầm trọng hơn

Cũng từ cuối 1985 trở đi đã ngàv càng có nhiều cuộc thử nghiệm "phá rào’4 ở nhiều ngành, nhiều địa phương vừa tạo

ra những "áp lực", vừa tạo ra những nhu cầu đôi với cải cách kinh tế hướng theo thị trường, chẳng hạn khoán

"chui", vận dụng "linh hoạt" chế độ trả lương trong các doanh nghiệp nhà nước, thầu và thuê tư nhân, "hợp tác" vói tư nhân trong kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nưóc Về mặt nhận thức và thay đểi chính sách, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Châ"p hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về giá - lương - tiền vào ngày 17 tháng 6 năm 1985 đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng, và là bưốc chuẩn bị quyết định cho đường lối Đổi mới của Đại hội lần thứ VI của Đảng sau đó Hội nghị này phê phán nghiêm khắc tệ bảo thủ, trì trệ; tư tưởng ỷ lại vào viện trợ từ bên ngoài; cải tiến giá và tiền lương một cách nửa vòi, vì vẫn dựa trên cơ sở cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao câ"p; tệ trói buộc, xiềng xích các xí nghiệp, và đưa ra kết luận là cần phải dứt khoát xoá bỏ

cơ chê" tập trung quan liêu, bao cấp, thực hiện đúng chế độ

tập trung dân chủ, hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa; đồng thời, đề rõ chủ trương xoá bỏ cơ chê tập

trung quan liêu, bao cấp trong giá và lương là khâu đột phá có ý nghĩa quyết định để chuyển nển kinh tê" sang

Trang 36

hạch toán, kinh doanh xã hội chủ xác lập quyền tự chủ về tài chính của các ngành kinh kỹ thuật, các địa

Có thê nói đây là thời kỳ chuẩn bị quan trọng vê mọi mặt

cho thòi kỳ tiếp theo

4 T h ờ i k ỳ 1986-1991: c ả i c á c h t h ể c h ế h ư ớ n g th e o

t h ị tr ư ờ n g v à nỗ lự c ổ n đ ịn h h o á n ề n k in h tê - là n s ó n g

c ả i c á c h lầ n th ứ n h ấ t

Những thất bại do cải cách nửa vòi, rõ ràng nhất là tống

điều chỉnh giá - lương - tiền 1985; những áp lực "xé rào"

của các địa phương và các đơn vị kinh tế, trước hết là các

xí nghiệp quốc doanh; những thay đổi đang bắt đầu bùng

lên ở các nước xã hội chủ nghĩa đã tác động mạnh mẽ tới

chính sách cải cách của Việt Nam, mà đỉnh cao của nó là

Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng

12 năm 1986 Đại hội đã nghiêm khắc đánh giá rằng, chưa

thực hiện được mục tiêu tổng quát do Đại hội lần thứ V đề

ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tê - xã hội, ổn định đòi

sống nhân dân Đại hội còn cho rằng, Đảng vừa nórig V Ọ I,

vừa buông lỏng trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, chậm đổi

mới cơ chế quản lý kinh tê không còn phù hợp, có sai lầm

nghiêm trọng về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo

chiến lược và tổ chức thực hiện Lần đầu tiên, một văn

kiện chính thức của Đảng ở tầm Đại hội đã cho rằng

"Trong lĩnh vực tư tưởng dã bộc lộ sự lạc hậu vê nhận thức

lý luận và sự yếu kém về vận dụng các quy luật trong thời

Trang 37

kỳ quá độ"1 Đại hội cũng khẳng định cho sự tồn tạ i và

phát triển của kinh tế tư bản tư nhân, chính thức nêu ra chủ

mạnh quan hệ hàng - tiền;bãi bỏ các biện pháp cấm đoán,

chia cắt thị trường theo địa giới hành chính, quản lý bằng

phương pháp kinh tế là chủ yếu Trong văn kiện này, lần đầu

tiên chính thức tách hai chức năng quản lý hành chính -

kinh tế củ a các cơ quan quản lý nhà nưôc và quản lý sản xuất

- kinh doanh của các đơn vị sản xuất - kinh doanh.

Đáng chú ý là tại thời điểm này, Việt Nam vẫn chưa

khẳng định dứt khoát tư tưởng đổi mối theo hưởng thị

trường, mà nêu lên luận điểm mới, đó là vận dụng "phương

thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa".

Tư tưởng vận dụng "phương thức hạch toán kinh doanh xã

hội chủ nghĩa" là một bưóc phát triển mới trong tư duy lý

luận và tư duy chính sách của Việt Nam Ý nghĩa của tư

tưỏng này là xoá bỏ bao cấp đối với các doanh nghiệp nhà

nước; đồng thòi, tạo quyển tự chủ cho chúng để chúng phải tự

chịu lấy trách nhiệm đối với hoạt động của mình Bên cạnh

đó, đã xuất hiện ý kiến cho rằng, cần cởi mỏ cho khu vực

kinh tế tư nhân phát triển

Bây giờ nhìn nhận lại, chúng ta thấy điều đó có vẻ như

xa xưa, nhưng vào hoàn cảnh lúc đó, sau 30 năm cơ chê kê

hoạch hoá tập trung thì đấy là một bước tiến khổng lồ Bên

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.27.

Trang 38

?cạnh tư tưởng "hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa" Đại hội VI của Đảng đã khẳng định, nền kinh tế Việt Nam còn đang trong thời kỳ quá độ lâu dài lên chủ nghĩa xã hội,

vì vậy nó có đặc trưng cơ câu nhiều thành phần, bao gồm

khu vực quốc doanh, khu vực tập thể, kinh tế gia đình, và thành phần kinh tế khác (phi quốc doanh) như kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiêu hình thức, kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc Đây là một bước đột phá đặc biệt quan trọng về tư duy chính sách và nói rộng ra cả về quan điểm lý luận nữa Tuy nhiên, trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần đó, kinh

tế xã hội chủ nghĩa (kinh tế quốc doanh) vẫn giữ "vai trò chủ đạo, chi phối được các thành phần kinh tế khác" Bên cạnh đó, lần đầu tiên văn kiện của Đảng đã nhấn mạnh

"đê cao kỷ luật và pháp luật" - một nhu cầu mối của quá trình phát triển: xây dựng hệ thông luật pháp và kiện toàn luật pháp phù hợp cho nền kinh tế, cũng như xây dựng Nhà nưóc pháp quyển Việt Nam sau này Nhiều nhân tố chính sách mới đã được đề ra, chẳng hạn:

- Chế độ hợp đồng kinh tế giữa các đơn vị sản xuất - kinh doanh và chế độ trọng tài kinh tế nhà nưốc

- Khẳng định thi hành chính sách một giá

- Bảo đảm quyển tự chủ tài chính của các cơ sở kinh tế

- Chủ trương xây dựng hệ thống ngân hàng chuyên nghiệp kinh doanh tín dụng và dịch vụ ngân hàng là cái trưốc đây chưa hề có, đồng thời đề ra chủ trương cho phép mua bán vàng và ngoại tệ qua ngân hàng thương mại

Trang 39

- Chủ trương điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư (từ ngán sách nhà nước), tập trung vào ba chương trình trọng điểm là lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuât khẩu Đây là bước điều chỉnh cơ bản chính sách kinh tế, khác cơ bản so với

ưu tiên công nghiệp nặng trước đây

Tuy nhiên, cho đếrr thời điểm này Việt Nam vẫn chưa công nhận chính thức cơ chế kinh tế thị trường, mà chỉ chấp nhận

"nền kinh tế đa thành phẩn"; đồng thời, Việt Nam cần phải

có thời gian đủ dài mới có thể triển khai cụ thể các chủ trương, đường lối lớn đã được đề ra Lịch sử quá trình cải cách và phát triển kinh tế ở Việt Nam đến nay cho thấy, sau khi đã hình thành chính sách (thường là rất chung và ít rõ ràng) phải có một quá trình cụ thể hoá hoặc thí điểm, nhân rộng, tổng kết Do vậy, không ngạc nhiên là sau Đại hội VI của Đảng, từ 1986 đến 1989, Đảng và Nhà nước vẫn chưa có những biện pháp cải cách quyết định, cơ bản về kinh tế vĩ

mô, mặc dù có cụ thể hoá, đề ra một sô> chính sách, đáng kể nhất là:

- Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị, tháng 12 năm 1988 vể phát triển khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (tức khu vực

kinh tế tư nhân).

- Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, ngày 5 tháng 4 năm

1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp với nội dung chủ yếu trao quvền tự chủ cho các đơn vị sản xuất trong nông nghiệp, chế độ tự do tiêu thụ sản phẩm trên thị trường sau khi nộp thuế, cho phép liên kết liên doanh với các đơn vị và thành phần kinh tế khác

Trang 40

- Một loạt các nghị quyêt và quan điểm vê những vấn dể kinh tê cấp bách, đặc biệt là tình hình lạm phát ngày càng trầm trọng, như Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI) về giải quyết những vấn đổ cấp bách vê phân phối lưu thông, ngày 9 tháng 4 năm 1987; Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI) về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế,

xã hội trong 3 năm 1988-1990 và năm 1988, ngày 17 tháng 12 năm 1987; Nghị quyết của Bộ Chính trị về những biện pháp cấp bách chông lạm phát, ngày 22 tháng 4 năm 1988

Cho đến năm 1989, 1990, tình hình kinh tê tiếp tục diễn biến phức tạp Tốc độ tăng trưởng kinh tế rất không ổn định

và có chiều hướng suy giảm (so sánh Bảng 9)

Bảng 9: Tốc độ tăng trưởng kinh tê (theo giá so sánh 1989) %

Thương nghiệp ăn uống công cộng 4,1 5,1 5,8 5,3

Tài chính, tín dụng, bảo hiểm, bất

Ngày đăng: 18/05/2015, 14:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 10:  Tốc độ tàng trưởng xuất   -  nhập khẩu - Việt Nam trên chặng đường đổi mới và phát triển kinh tế
Bảng 10 Tốc độ tàng trưởng xuất - nhập khẩu (Trang 42)
Hình 3. Co Cấu kinh tế ngành theo GI)P (giá hiện hành) - Việt Nam trên chặng đường đổi mới và phát triển kinh tế
Hình 3. Co Cấu kinh tế ngành theo GI)P (giá hiện hành) (Trang 75)
Hình  5 .Tỷ lệ xuất và nhập khẩu trên GDP (%) - Việt Nam trên chặng đường đổi mới và phát triển kinh tế
nh 5 .Tỷ lệ xuất và nhập khẩu trên GDP (%) (Trang 78)
Hình 6: Von đầu tư trực tiếp (FDI) à Việt Nam - Việt Nam trên chặng đường đổi mới và phát triển kinh tế
Hình 6 Von đầu tư trực tiếp (FDI) à Việt Nam (Trang 79)
Hình  7: Cơ càu  thu  nhập của các  hộ gia dinh - Việt Nam trên chặng đường đổi mới và phát triển kinh tế
nh 7: Cơ càu thu nhập của các hộ gia dinh (Trang 83)
Hình 9: Tỷ lệ đầu tư của doanh nghiệp nhà nước - Việt Nam trên chặng đường đổi mới và phát triển kinh tế
Hình 9 Tỷ lệ đầu tư của doanh nghiệp nhà nước (Trang 87)
Bảng 21: Mười quốc gia  và lãnh thổ đầu tư trực tiếp - Việt Nam trên chặng đường đổi mới và phát triển kinh tế
Bảng 21 Mười quốc gia và lãnh thổ đầu tư trực tiếp (Trang 90)
Hình  14:  Ty lệ tiết kiệm nội địa tren GDP (%, giá hiện hành) - Việt Nam trên chặng đường đổi mới và phát triển kinh tế
nh 14: Ty lệ tiết kiệm nội địa tren GDP (%, giá hiện hành) (Trang 92)
Hình  16: Ngoại thương Việt Nam  1975-1995 - Việt Nam trên chặng đường đổi mới và phát triển kinh tế
nh 16: Ngoại thương Việt Nam 1975-1995 (Trang 134)
Bảng  2 7 :Thu nhập của-người lao động trong - Việt Nam trên chặng đường đổi mới và phát triển kinh tế
ng 2 7 :Thu nhập của-người lao động trong (Trang 145)
Hình  18: Giá trị tổng sản lượng công nghiệp theo - Việt Nam trên chặng đường đổi mới và phát triển kinh tế
nh 18: Giá trị tổng sản lượng công nghiệp theo (Trang 158)
Hình 28: Diễn biến tỷ lệ lao động khu  vực nhà nước  trên tổng sô lao dộng xã hội (%) - Việt Nam trên chặng đường đổi mới và phát triển kinh tế
Hình 28 Diễn biến tỷ lệ lao động khu vực nhà nước trên tổng sô lao dộng xã hội (%) (Trang 190)
Hình 29. Đấu tư nước ngoài trực tiếp ở Việt Nam - Việt Nam trên chặng đường đổi mới và phát triển kinh tế
Hình 29. Đấu tư nước ngoài trực tiếp ở Việt Nam (Trang 197)
Hình 30: Xuat kháu của khu  vực có  von đầu tư nước ngoài * - Việt Nam trên chặng đường đổi mới và phát triển kinh tế
Hình 30 Xuat kháu của khu vực có von đầu tư nước ngoài * (Trang 199)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w