TÓM TẮT Nghiên cứu được thực hiện nhằm đo lường hiệu quả kĩ thuật, năng suất nhân tố tổng hợp và ảnh hưởng của một số nhân tố tới hiệu quả kĩ thuật trong hoạt động kinh doanh của các ngâ
Trang 2“PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN (2008-2011)”
Trang 3CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 2
1.1 Tính cấp thiết của đề tài: 2
1.2 Mục đích nghiên cứu: 7
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 7
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 10
2.1 Các nghiên cứu có liên quan: 10
2.1.2 Nghiên cứu ngoài nước 13
2.1.3 Nghiên cứu tại Việt Nam………16
2.2 Lý thuyết mô hình……… 16
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NGÀNH NGÂN HÀNGVIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008-2011 21
3.1- Năng lực tài chính: 21
3.1.1 Tổng tài sản và vốn chủ sở hữu: 21
3.1.2 Chỉ số thanh khoản: 23
3.1.3 Lợi nhuận và khả năng sinh lời: 266
3.1.4 Nợ xấu………. 28
3.2- Nhóm nhân tố phi tài chính: 300
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KỸ THUẬT CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI GIAI ĐOẠN 2008-2011 333
4.1 Hiệu quả kỹ thuật và bảng xếp hạng các ngận hàng 333
4.2 Phân tích xu hướng thay đổi hiệu quả kĩ thuật qua các năm từ 2008-2011 sử dụng chỉ số malmquist trong DEA 478
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 567
5.1 Kết luận 59
5.2 Kiến nghị………
Phụ lục 633
Tài liệu tham khảo 755
Trang 4Bảng 1: Chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh khoản của một số ngân hàng tiêu biểu giai đoạn 2008-2011 24 Bảng 2: Chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh khoản của một số ngân hàng tiêu biểu giai đoạn 2008-2011 25 Bảng 3: Tổng hợp số liệu một số chỉ tiêu phản ánh khả năng hoạt động của các ngân hàng giai đoạn 2008-2011 29 Bảng 4: Kết quả ước lượng hiệu quả kĩ thuật (TE) hiệu quả kĩ thuật thuần (PE) và hiệu quả quy mô (SE) của các ngân hàng thương mại giai đoạn 2008-2011 34 Bảng 5: Bảng xếp hạng hiệu quả kĩ thuật của các NHTM ở Việt Nam giai đoạn 2008-2011 37 Bảng 6 :Kết quả ước lượng chỉ số Malmquist bằng DEA 48 Bảng 7 : Kết quả ước lượng mô hình Tobit năm 2011 51
Trang 5
Hình 1: Đường bao dữ liệu (DEA) 16
Hình 2: Đường biên sản xuất Error! Bookmark not defined Hình 3: Tổng tài sản, vốn chủ sở hữu và tốc độ tăng tổng tài sản, vốn chủ sở hữu của một số ngân hàng thương mại năm 2011 22
Hình 4: Các chỉ số khả năng sinh lời của một số ngân hàng năm 2011 27
Hình 5: Tỷ lệ nợ xấu của một số ngân hàng năm 2011 29
Hình 6: Số chi nhánh và số năm hoạt động của một số ngân hàng 31
Hình 7 : Đồ thị mô tả xác xuất phân phối mật độ các Te của các ngân hàng thương mại năm 2008 Error! Bookmark not defined
Trang 6Phụ lục 1 Xếp hạng các ngân hàng thương mại các năm giai đoạn 2008-2011 Phụ lục 2 Kết quả ước lượng các chỉ số Malmquist bằng DEA
Phụ lục 3 Hiệu quả kĩ thuật (TE) thời kì 2008-2011 ước lượng theo mô hình phi tham số (DEA) dưới điều kiện CRS
Phụ lục 4 Hiệu quả toàn bộ (CRSTE) , hiệu quả kĩ thuật (VRSTE) và hiệu quả quy mô thời kì 2008-2011
Trang 7Viết tắt Viết đầy đủ tiếng Việt Viết đầy đủ tiếng Anh
effch Thay đổi hiệu quả kỹ thuật Technical efficiency change
techch Thay đổi tiến bộ công nghệ Technological change
sech Thay đổi hiệu quả quy mô Scale efficiency change
pech Thay đổi hiệu quả thuần Pure technical efficiency
chage
tfpch Thay đổi năng suất nhân tố tổng
TE Hiệu quả kỹ thuật Technical efficiency
PE Hiệu quả thuần Pure technical efficiency
SE Hiệu quả quy mô Scale efficiency
irs Tăng theo quy mô Increasing returns to scale
drs Giảm theo quy mô Decreasing returns to scale
cons Không đổi theo quy mô Constant returns to scale
ROA Thu nhập ròng /tổng tài sản Return On Assets ratio
ROE Thu nhập ròng /vốn chủ sở hữu Return On Equity ratio
DEA Phân tích bao dữ liệu Data envelopment Analysis
SFA Phân tích biên ngẫu nhiên Stochastic frontier Appoach
GDP Tổng sản phẩm quốc nội Gross Domestic Product
Danh mục các Ngân hàng Thương mại cổ phần:
Mã ngân
hàng Tên đầy đủ tiếng Việt Tên đầy đủ tiếng Anh
ACB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á
ABB Ngân hàng Thương mại Cổ phần An
Trang 8DAB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đại
EIB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất
nhập khẩu Việt Nam
Viet nam Commercial Joint Stock Export Import Bank
HBB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nhà
TCB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ
thương Việt Nam
Viet Nam Technologicar and Commercial Joint Stock Bank
LPB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bưu
điện Liên Việt
LienViet Commercial Joint Stock Bank
MDB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát
triển Mê Kông
Mekong Development Joint Stoct Commercial Bank
MHBB Ngân hàng Phát triển Nhà Đồng bằng
Sông Cửu Long Housing Bank of Mekong Delta
NAB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam
NVB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam
OCB Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Phương Đông Orient Commercial Joint Stock Bank PNB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Southern Commercial Joint Stock
Trang 9Phương Tây Bank
MBB Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Quân đội
Military Commercial Joint Stock Bank
VIB Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Quốc tế Việt Nam
Vietnam International Commercial Joint Stock Bank
SCB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài
Gòn
Sai Gon Joint Stock Commercial Bank
SGB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài
Gòn Công thương Saigon bank for Industry & Trade
SHB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài
VCB Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Ngoại thương Việt Nam Bank for Foreign Trade of Viet Nam
CTG Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Công thương Việt Nam
Industrial and Commercial Bank of Vietnam
VAB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt
VPB Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt
Nam Thịnh Vượng
Vietnam Commercial Joint Stock Bank of Private Enterprise
PGB Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Xăng dầu Petrolimex
Petrolimex Group Commercial Joint Stock Bank
Trang 11TÓM TẮT
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đo lường hiệu quả kĩ thuật, năng suất nhân tố tổng hợp và ảnh hưởng của một số nhân tố tới hiệu quả kĩ thuật trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008-2011 Nghiên cứu sử dụng phương pháp bao dữ liệu (DEA), chỉ số năng suất nhân tố tổng hợp và mô hình Tobit cho bộ số liệu phản ánh tình hình hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam Kết quả thực nghiệm cho thấy: (1) Hiệu quả kĩ thuật của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn này khá thấp, biến động qua từng năm và tồn tại khoảng cách lớn về hiệu quả kĩ thuật của các ngân hàng qua từng năm và giữa các ngân hàng với nhau; (2) Sự thay đổi của hiệu quả kĩ thuật chủ yếu là do thay đổi hiệu quả qui mô; (3) Năng suất nhân tố tổng hợp thay đổi chủ yếu do thay đổi hiệu quả
kĩ thuật, đây cũng chính là nguyên nhân tạo nên sự khác biệt lớn giữa các ngân hàng với nhau; (4) Dư nợ, tổng vốn huy động/lao động, kinh nghiệm hoạt động, mạng lưới chi nhánh là các nhân tố có ảnh hưởng tới hiệu quả kĩ
thuật của các ngân hàng thương mại trong những năm qua
Trang 12CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một trung gian tài chính có vai trò quan trọng trong việc liên kết các thành phần kinh tế với nhau, là điều kiện không thể thiếu trong việc tổ chức hoạt động của mọi bộ phận, lĩnh vực của nền kinh tế Nếu nói tài chính là huyết mạch trong mậu dịch, thương mại và công nghiệp thì lĩnh vực ngân hàng đóng vai trò xương sống của kinh doanh hiện đại Sự phát triển của bất cứ quốc gia nào cũng chủ yếu phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng
Trong những năm vừa qua, hoạt động ngân hàng nước ta đã có những chuyển biến sâu sắc Hệ thống Ngân hàng tăng trưởng nhanh cả về số lượng
và qui mô tài sản trong giai đoạn 2005-2010 Các loại hình kinh doanh đa dạng và phong phú hơn Số lượng các ngân hàng, đặc biệt là số NHTM cổ phần ngày càng nhiều Tính đến cuối năm 2010, thị trường Việt Nam có 101 ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài, bao gồm NHTM trong nước, ngân hàng nước ngoài (NHNNg) và chi nhánh ngân hàng nước ngoài Bên cạnh những hoạt động tín dụng truyền thống thì các ngân hàng không ngừng cho ra đời những sản phẩm, dịch vụ mới, đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng, đồng thời cũng chính là nâng cao năng lực cạnh tranh và đa dạng hóa rủi ro cho ngân hàng khi mà cuộc cạnh tranh trong lĩnh vực Ngân hàng- Tài chính đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ và khốc liệt Cùng với đó là sự cải tiến không ngừng về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, đưa công nghệ tiên tiến vào trong hoạt động hàng ngày của ngân hàng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của từng ngân hàng nói riêng và của cả hệ thống ngân hàng thương mại nói chung Tuy nhiên có một thực tế đặt ra là hệ thống ngân hàng nước ta bộc
Trang 13lộ khá nhiều yếu kém, sự hoạt động kém hiệu quả tỏ ra bất lực trước các biến động của kinh tế thế giới Đặc biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu từ năm 2008 đến nay đã làm cho toàn ngành ngân hàng đứng trước muôn vàn khó khăn và luôn trong tình trạng “gồng mình” chống đỡ Trong giai đoạn 2008-2011, tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng bình quân 26,56% và là mức thấp chưa từng có trong lịch sử phát triển ngành ngân hàng nhưng tốc độ tăng trưởng nợ xấu bình quân 51%, đây quả thực là những con số đáng lo ngại Sức hấp thụ vốn của nền kinh tế vẫn rất yếu Tốc độ tăng trưởng tín dụng hằng năm không đạt mục tiêu đề ra Tỷ lệ nợ xấu tăng cao, qui mô vốn nhỏ, tăng trưởng tín dụng luôn cao hơn tăng huy động và GDP,
cơ cấu thu nhập chủ yếu vẫn phụ thuộc vào hoạt động tín dụng là các đặc điểm hiện nay của ngành Đứng trước những khó khăn đó, các chính sách từ chính ngân hàng hay từ phía ngân hàng nhà nước đều tỏ ra không mấy hiệu quả, sự chậm trễ trong triển khai, áp dụng làm cho khủng hoảng càng trở nên trầm trọng Điều này chứng tỏ cần có một cái nhìn sâu rộng, toàn diện hơn nữa năng lực hoạt động của các ngân hàng từ phía các nhà quản lí và bộ máy điều hành hoạt động của ngân hàng Để tìm ra nguyên nhân của sự yếu kém trong hoạt động của NHTM chúng ta cần đi sâu tìm hiểu, phân tích hoạt động của nó, đặc biệt là hiệu quả kĩ thuật, nhân tố tạo ra sự khác biệt trong hiệu quả hoạt động giữa các ngân hàng khác nhau Yếu tố nào có vai trò quyết định đến sự tồn tại cũng như phát triển của ngân hàng trong bối cảnh mới, làm thế nào để nâng cao hiệu quả kĩ thuật trong hoạt động của ngân hàng là vấn đề cấp thiết cần được giải quyết Với tốc độ toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại nhanh như hiện nay, các ngân hàng không chỉ phải cạnh tranh với các ngân hàng nội địa mà còn phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt và ngày càng tinh
vi của các ngân hàng nước ngoài vốn luôn coi Việt Nam là một thị trường đày
Trang 14tiềm năng Hơn bao giờ hết, vấn đề hiệu quả hoạt động cần được quan tâm nhiều hơn nữa nếu các ngân hàng muốn khẳng định mình trên thị trường Nhận thấy tác động quan trọng của ngân hàng với nền kinh tế, vì thế đã
có không ít các nghiên cứu cả trên thế giới và trong nước nghiên cứu về các vấn đề xung quanh hoạt động của ngân hàng Trong thời gian qua đã có một
số tác giả trong nước quan tâm nghiên cứu về vấn đề này, như nghiên cứu của
Võ Thành Danh (2008) hay nghiên cứu của Lê Dân (2004) hoặc nghiên cứu của TS Phạm Thanh Bình (2005) Tuy nhiên chúng ta có thể thấy một điểm hạn chế chung của các nghiên cứu là qui mô, phạm vi nghiên cứu còn hạn chế, chỉ phân tích dựa trên số ít các ngân hàng, chủ yếu là các ngân hàng quốc doanh Với bối cảnh thay đổi khá nhiều như hiện nay, cùng với không ít bất cập trong quản lí của các ngân hàng có yếu tố nhà nước đã làm cho các nghiên cứu trước đây không còn phù hợp Tốc độ toàn cầu hóa diễn ra nhanh chóng, rất khó để các ngân hàng có thể kiểm soát được hết tất cả các vấn đề, nếu không chuẩn bị cho mình một nội lực mạnh mẽ để thích nghi trước những biến cố bất lợi Các nhân tố mới luôn làm cho các nhà quản lí phải trăn trở Sự thay đổi biến hóa, linh hoạt tác động khác nhau đến hoạt động của các ngân hàng vì thế mà luôn cần sự nghiên cứu, phân tích thường xuyên thì mới
có thể phản ánh được hết các tác động mà nó mang lại Từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp với chiến lược phát triển trong dài hạn Trong tình hình đó, tất nhiên các yếu tố, nhân tố truyền thống vẫn thường được sử dụng trong các nghiên cứu trước đây đã lỗi thời không còn có ý nghĩa nghiên cứu cũng như thực tiễn
Phân tích tác động của các nhân tố nhằm đẩy mạnh khả năng cạnh tranh
và nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM là rất quan trọng Trong đó, phương pháp, kĩ thuật nghiên cứu là cách mà các nhà nghiên cứu có thể lột tả được bản chất vấn đề mà mình muốn đề cập Nhưng đáng tiếc là đa phần các
Trang 15phương pháp được sử dụng trước đây còn nặng về lí thuyết, các kết luận kinh
tế đưa ra còn mang tính định tính, chưa chứng minh được vấn đề một cách rõ ràng, thêm vào đó là phạm vi nghiên cứu bó hẹp, các nhân tố tác động chưa phản ánh được hết mức độ ảnh hưởng Vì thế, nó tạo ra không ít bất cập, hạn chế cho các nghiên cứu này
Về phương pháp định lượng, như nghiên cứu của Bùi Duy Phú (2002) hay nghiên cứu của TS Phạm Lê Thông (2011) thông qua việc sử dụng hàm sản xuất biên ngẫu nhiên Nhìn chung, số lượng các nghiên cứu định lượng còn rất khiêm tốn, nếu có cũng chỉ mới dừng lại ở mức độ sơ khai, đơn giản chưa phản ánh được hết mức độ phức tạp của vấn đề Hạn chế chủ yếu mà các nghiên cứu này gặp phải đó là chưa định dạng đúng dạng hàm và nghiên cứu mới chỉ dừng lại đánh giá cho một số ít các ngân hàng nhà nước
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối hay hiệu quả kinh tế của các ngành sản xuất ở các nước phát triển và đang phát triển Nhiều tác giả đã sử dụng DEA để phân tích sâu
về mức độ hiệu quả cũng như nguyên nhân dẫn đến sự phi hiệu quả của các doanh nghiệp như Pitt and Lee (1981); Changanti and Damanpour (1991); Prada và cộng sự (1997), Deyoung và Nolle (1996)
Mới đây nhất, phương pháp định lượng được sử dụng để nghiên cứu hiệu quả hoạt động ngành ngân hàng ở nước ta có thể kể đến nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng Tuy nhiên số liệu trong nghiên cứu chỉ mới cập nhật đến năm 2008, đây cũng là hạn chế của nghiên cứu Bởi gần đây, đặc biệt giai đoạn sau năm 2008, nhiều bất cập của hệ thống ngân hàng mới được bộc lộ, thanh khoản yếu kém cùng với tình hình nợ xấu cao có nguy cơ gây rủi ro đến
an toàn hệ thống Diễn biến hoạt động của các ngân hàng theo hướng bất lợi,
xu hướng biến động thì không theo một quy luật nhất định nào và nhạy cảm
Trang 16với nhiều yếu tố bên trong lẫn bên ngoài Vì thế, bổ sung nghiên cứu mới về chủ đề này là rất cần thiết với điều kiện hiện tại
Một dấu hỏi lớn đặt ra là: “ Tại sao các ngân hàng lại dễ bị tổn thương trước các diễn biến bất lợi của nền kinh tế ” và chưa bao giờ chúng
ta có thể thấy trên thị trường Tài chính- Ngân hàng một sự khủng hoảng toàn diện về mọi mặt hoạt động được diễn ra dồn dập, ở quy mô sâu, rộng gây tác động đến mọi tầng lớp dân cư và ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế như những năm qua Như vậy, để tìm ra câu trả lời, chúng ta cần làm rõ mấu chốt của vấn đề đó là chất lượng hoạt động của ngành ngân hàng đã thực sự đạt được yêu cầu đặt ra, hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng có như chúng ta nhìn thấy và những yếu tố nào có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng là rất cần thiết và nó có ý nghĩa đặc biệt đối với các nhà hoạch định chính sách nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của không chỉ riêng hệ thống ngân hàng mà của cả nền kinh tế Xuất phát từ những phân tích trên, buộc các nhà quản lí luôn phải đối mặt với tình huống đầy khó khăn và thách thức đó là tìm hiểu, định lượng và phân tích những nhân tố có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Tuy nhiên không phải ngân hàng nào cũng làm được điều này với điều kiện nguồn lực hạn hẹp của mình Nhận thấy sự quan trọng và cấp
thiết của vấn đề, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu “Phân tích hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam trong giai đoạn 2008-2011” nhằm góp phần tháo gỡ khó khăn đó cho các nhà quản trị
doanh nghiệp, đồng thời bổ sung thêm vào các chính sách kinh tế về quản lí
hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam Vấn đề này đòi hỏi cần có sự nghiên cứu, đo lường hiệu quả kĩ thuật của các ngân hàng, tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng trong bối cảnh
Trang 17mới, từ đó đánh giá và đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
1.2 Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu
Căn cứ vào tình hình đó nghiên cứu này hướng đến một số mục tiêu sau đây:
- Đo lường hiệu quả kĩ thuật của từng ngân hàng và của tất cả các ngân hàng qua các năm từ 2008-2011
- Phân tích các thành tố và mức độ tác động của nó đến hiệu quả kĩ thuật của các ngân hàng
- Làm rõ tác động của các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng và xây dựng mô hình phân tích các tác động của nó đến hoạt động của ngân hàng thương mại
Từ đó, bài nghiên cứu sẽ tập trung trả lời những câu hỏi nghiên cứu sau:
- Thực trạng hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Việt Nam và xu hướng thay đổi của nó qua thời gian?
- Nguyên nhân dẫn tới sự phi hiệu quả trong hoạt động?
- Nhân tố nào có ảnh hưởng đến khả năng hoạt động cũng như định lượng mức độ tác động của các nhân tố tới hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Hàm ý chính sách là gì cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách để tận dụng những lợi thế sẵn có và kịp thời khắc phục các yếu kém hiện tại nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng và các quyết định quản
lý đưa ra nhằm giúp thị trường Tài chính- Ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn?
Trang 181.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Ở Việt nam hiện có hơn 100 ngân hàng và các
tổ chức tín dụng hoạt động trong lĩnh vực tài chính tiền tệ Nền kinh tế nước
ta chịu sự chi phối rất lớn từ hệ thống này Trong những năm vừa qua, hoạt động trong hệ thống ngân hàng bộc lộ nhiều yếu kém đe dọa đến sự an toàn của hệ thống, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội Vì thế, cần phải tập trung nghiên cứu, phân tích làm rõ hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam, đây cũng là đối tượng của bài nghiên cứu Hiệu quả hoạt động thể hiện ở việc ngân hàng sử dụng các kết hợp đầu vào để tạo đầu
ra hiệu quả, tìm ra các nhân tố và phân tích định lượng ảnh hưởng của nó đến hiệu quả hoạt động này của các ngân hàng thương mại Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu: không chỉ tập trung nghiên cứu vào nhóm ngân hàng thương mại nhà nước hay nhóm riêng các ngân hàng lớn mà nghiên cứu này cho thấy một bức tranh toàn cảnh nền tài chính với 35 ngân hàng thương mại cổ phần đang hoạt động ở nước ta Sự mở rộng phạm vi nghiên cứu so với các nghiên cứu trước đây là hết sức cần thiết, bởi sự gia tăng nhanh chóng
về số lượng của các ngân hàng trong những năm gần đây cho thấy nhiều nhân
tố mới đã và đang có khả năng chi phối mạnh mẽ hoạt động của hệ thống, đồng thời trong bối cảnh mới, các ngân hàng thương mại nhà nước không còn mang nhiều ý nghĩa đại diện Vì thế cần phải mở rộng phạm vi nghiên cứu để thấy hết được bản chất hoạt động của hệ thống ngân hàng hiện nay
Từ năm 2008-2011, nhìn chung hoạt động của các ngân hàng thương mại trong một môi trường vĩ mô không mấy thuận lợi, lạm phát gia tăng ( năm 2008 là 19,89%, năm 2011 là 18,58%), cán cân thương mại thâm hụt lớn, thị trường tài chính trong nước và quốc tế diễn biến phức tạp, lãi suất, tỉ giá, giá vàng biến động mạnh Nền kinh tế chịu tác động tiêu cực của cuộc
Trang 19khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, sau đó là vấn đề lạm phát cao và hiện nay là suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nước Do đó môi trường kinh doanh và hoạt động ngân hàng gặp nhiều khó khăn làm cho chất lượng tín dụng suy giảm và nợ xấu tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng Trong giai đoạn 2008-2011, tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng bình quân 26,56% nhưng tốc độ tăng trưởng nợ xấu bình quân 51%, do tình hình kinh doanh và tài chính của các doanh nghiệp suy giảm mạnh Có thể nói đây không còn là thời kì hoạt động của các ngân hàng được “thuận buồm xuôi gió”, mà giai đoạn 2008-2011 thực sự là giai đoạn đầy khó khăn và thách thức, đòi hỏi các ngân hàng phải có một nội lực mạnh mẽ, phản ứng nhanh nhạy trước diễn biến phức tạp của tình hình kinh tế, đồng thời không ngừng nâng cao năng lực kinh doanh, năng lực cạnh tranh để có thể tồn tại và phát triển trong sự sàng lọc ngày càng khắt khe của thị trường tài chính trong thời
kì nền kinh tế mở cửa, hội nhập Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng nước ta đã không có sự thể hiện đáng mong đợi trong thời kì đầy biến động vừa qua Thẳng thắn nhìn vào vấn đề, tốc độ tăng trưởng hệ thống ngân hàng là tương đối nhanh Tuy nhiên, sự tăng trưởng về số lượng không gắn liền với một cấu trúc hợp lí và chất lượng tăng trưởng Bên cạnh đó, tín dụng ngân hàng tăng trưởng nhanh, quy mô tín dụng so với GDP tăng nhanh làm cho hệ thống ngân hàng dễ bị tổn thương từ những sự thay đổi bất lợi của nền kinh tế Nhiều vấn đề về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại được đặt
ra, yêu cầu phải có cái nhìn toàn diện hơn nữa về tổ chức này Hơn nữa, nguồn số liệu của thời kỳ nghiên cứu này bảo đảm tính đồng bộ hơn, đầy đủ hơn, có độ tin cậy cao hơn, cập nhật và phản ánh tốt việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Trang 20CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
DEA là phương pháp được sử dụng khá phổ biến trong các nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, nhằm đo lường hiệu quả kỹ thuật cũng như đánh giá xu hướng biến động năng suất của các hoạt động Vì vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi sẽ tập trung sử dụng phương pháp bao dữ liệu (DEA) làm công cụ tính toán chủ yếu Phương pháp bao dữ liệu (DEA) sẽ được áp dụng cho mẫu gồm 34 ngân hàng thương mại trong bốn quan sát từ năm 2008 đến năm 2011 Nghiên cứu này sử dụng mô hình DEA để xây dựng một một đường bao biên tiêu chuẩn cho các ngân hàng có hoạt động tốt nhất Kết quả của việc áp dụng mô hình này sẽ chỉ ra các điểm hiệu quả kỹ thuật (TE) cùng với các bộ phận cấu thành là hiệu quả thuần (PE)
và hiệu quả về qui mô (SE) trong hoạt động của các ngân hàng thương mại
2.1 Các nghiên cứu có liên quan
2.1.1 Nghiên cứu ngoài nước:
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu áp dụng thành công phương pháp bao dữ liệu (DEA) để ứng dụng vào phân tích hoạt động của các ngành sản xuất ở các nước phát triển và đang phát triển Các tác giả sử dụng mô hình DEA để phân tích sâu về mức độ hiệu quả cũng như nguyên nhân dẫn đến sự phi hiệu quả của các doanh nghiệp như Pitt and Lee(1981); Changanti and Damanpour (1991); Prada và cộng sự (1997); Deyoung và Nolle (1996) Hầu hết, những sản phẩm khoa học của họ đều khai thác triệt để công cụ DEA, trả lời thấu đáo 3 câu hỏi lớn: Tại sao dùng DEA- Dùng như thế nào- Kết quả có
ý nghĩa ra sao?
Nhìn chung, những nghiên cứu của D.Yudistira (2004) Drake, Hall và cộng sự (2003), Esho N(2001) v.v đều có những phương pháp mang tính
Trang 21nhất quán trong việc sử dụng mô hình bao dữ liệu Họ thiết lập lại cơ sở lý thuyết DEA, chọn lọc những biến có ảnh hưởng lớn, điều tra số liệu và chạy
mô hình Đặc điểm chung trong những nghiên cứu này là cách hệ thống hóa qui trình xử lý số liệu DEA là phương pháp mang tính chất định lượng vì vậy việc đảm bảo độ chính xác của số liệu là rất cần thiết Nhiều công trình khoa học tiếp cận nguồn số liệu đáng tin cậy như Ngân hàng quốc tế London, World Bank, Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) v.v… Kết quả của các nghiên cứu cũng chỉ ra mức độ tương quan giữa hiệu quả qui mô và hiệu quả thuần túy trong kĩ thuật Dựa vào đường bao dữ liệu, mô hình DEA đánh giá tính phi hiệu quả của một doanh nghiệp dựa trên việc so sánh với các doanh nghiệp tốt nhất trong mẫu nghiên cứu Trong lĩnh vực Ngân hàng- Tài chính, phương pháp DEA đã được sử dụng rộng rãi, đặc biệt có khá nhiều các phân tích áp dụng cho khu vực Bắc Mỹ chẳng hạn như Miller và Noulas (1996), Berger và Mester (2001) Kết quả nghiên cứu thu được từ khu vực này có nhiều nét tương đồng dù các nghiên cứu có cách tiếp cận thời gian và số liệu khác nhau Điều này có thể lí giải bởi cơ chế hoạt động của các ngân hàng Bắc Mỹ có sự tương đồng; lợi nhuận ngân hàng không có nhiều biến động và
ít cơ hội gia tăng lợi nhuận từ việc cạnh tranh với các đối thủ khác Tương tự như vậy, DEA cũng được sử dụng để rà soát hiệu quả trong lĩnh lực ngân hàng của cá quốc gia thuộc của Cộng đồng kinh tế châu Âu Nhiều người cho rằng, việc đánh giá các ngân hàng ở châu Âu sẽ thu được mức chênh lệch hiệu quả rất lớn, lí do ở khác biệt cấu trúc và qui mô ngân hàng Phân tích của Casu và Molyneux (2000) cho thấy rằng: qua các năm, có một cải thiện nhỏ trong hiệu quả ngân hàng nhưng sự khác biệt xuất phát từ tiềm lực kinh tế của quốc gia khác nhau vẫn dẫn đến chênh lệch hiệu quả rất lớn Vì thế, phương pháp bao dữ liệu (DEA) là phương pháp mà nhóm nghiên cứu lựa chọn để
Trang 22phân tích cấu trúc và mức độ chênh lệch trình độ, năng lực hoạt động của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam trong giai đoạn 2008-2011
Một vài nghiên cứu khác về phương pháp DEA như Lewelyn và William (1996), nhận xét phương pháp DEA có thể sẽ ước lượng được mức phi hiệu quả thực tế của các doanh nghiệp lớn hơn con số mà chúng ta nhìn thấy Phương pháp ước lượng phi tham số có ưu điểm là không cần phải biết trước dạng hàm sản xuất, các thành phần bóc tách từ phần dư của ước lượng không nhất thiết phải tuân theo một phân phối thống kê nào (Seiford và Thrall, 1990) Thêm vào đó, DEA có khả năng áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp có nhiều đầu ra và nhiều đầu vào Và nó cũng có khả năng tách hiệu quả kỹ thuật thành hiệu quả thuần, hiệu quả qui mô và hiệu quả phân bổ Để khắc phục tính bất định của ước lượng phần dư, gần đây các nghiên cứu về DEA đã hướng sự quan tâm tới ước lượng DEA động và ngẫu nhiên (Sengupta 1990 và 2002)
Tuy có tính nhất quán, nhưng cũng có nhiều nghiên cứu đi sâu vào việc chứng thực, đánh giá kết quả của DEA thông qua việc so sánh với phương pháp tiếp cận tham số (SFA) như Cummins.J.D và cộng sự (1996) Kết quả của họ đã đưa ra một nhận xét về việc lựa chọn phương pháp có thể ảnh hưởng tới kết quả nghiên cứu Vì ước lượng bằng phương pháp khác nhau sẽ cho ra kết quả khác nhau Cũng sử dụng cách tiếp cận này, Wadud (2003) đo lường hiệu quả kĩ thuật và hiệu quả phân phối cho những người nông dân trồng lúa ở Bangladesh Kết quả từ cách tiếp cận cho thấy có cả phi hiệu quả
về kĩ thuật và cả phi hiệu quả về kinh tế Họ cũng đưa phương pháp biên ngẫu nhiên trong nghiên cứu để chứng thực rằng: trung bình của tất cả các độ đo hiệu quả dựa trên phương pháp DEA (cả CRS lẫn VRS) đều cao hơn kết quả
từ tiếp cận biên ngẫu nhiên SFA
Trang 23Tiếp thu những đánh giá về hiệu quả của việc sử dụng phương pháp DEA để đo mức độ hiệu quả, nghiên cứu của chúng tôi cũng sẽ tiếp cận nó dưới góc độ loại bỏ những chỉ định tham số của công nghệ trong ngành ngân hàng và giả thuyết phân phối đối với số liệu là ngẫu nhiên
2.1.2 Nghiên cứu tại Việt Nam:
Mặc dù DEA đã khá phổ biến trong các bài báo, công trình nghiên cứu khoa học quốc tế về kinh tế, nhưng ở việt nam hiện nay chỉ dừng lại ở góc độ phân tích và đánh giá số liệu Một vài công trình nghiên cứu đã mở đường cho việc tiếp cận DEA và áp dụng tương đối thành công trong nghiên cứu thực tiễn phải kể đến Nguyễn Việt Hùng (2006) về đề tài ngành ngân hàng, Nguyễn Thị Việt Anh (2004), Nguyễn Thị Thủy (2008) và một số tác giả khác Kết quả của các nghiên cứu trong nước đã đạt được: Nguyễn Thị Thủy (2008) đã sử dụng phương pháp bao dữ liệu (DEA) phân tích năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành chế biến Thực phẩm Việt Nam Trên cơ sở
hệ thống hoá và vận dụng những lí thuyết cơ bản về cạnh tranh, đưa ra thực trạng ngành chế biến thực phẩm và thông qua việc phân tích đánh giá hiệu quả kĩ thuật đề xuất một số khuyến nghị có tính đồng bộ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành chế biến thực phẩm Việt Nam trong hội nhập kinh
tế quốc tế hiện nay Đặc biệt là luận văn tiến hành ước lượng hiệu quả kỹ thuật và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới nó để xây dựng phương pháp hoạt động có hiệu quả Nguyễn Văn Ngọc và Nguyễn Thành Cường (2010\
áp dụng DEA để nghiên cứu hiệu quả trong ngành chế biến thủy sản với 39 doanh ngiệp trong năm 2009 Nghiên cứu đã đưa ra một cái nhìn tổng quan
về sự phi hiệu quả trong khâu quản lý việc chế biến thủy hải sản của 39 doanh nghiệp Mà nguyên nhân chính là sử dụng các nguồn lực, gồm vốn chủ sở hữu và vay không hiệu quả Tuy nhiên, việc bó hẹp ở một thời điểm phân tích năm 2009, chỉ có yếu tố đầu vào là vốn chủ sở hữu và tổng tài sản dẫn tới
Trang 24việc đánh giá mất đi tính khách quan, tính dự báo, mà chỉ mang ý nghĩa thống
kê và thông báo Nghiên cứu này cũng cho thấy để kết quả DEA sát với thực tiễn cần phải có quá trình cân nhắc lựa chọn biến khoa học, thu thập một không gian mẫu đủ lớn và phải đảm bảo tính chính xác của số liệu
Một số nghiên cứu khác đã sử dụng thành công phương pháp DEA như Luận văn thạc sĩ kinh tế của Nguyễn Thị Việt Anh (2004) về tính hiệu quả cho ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam hay trong nghiên cứu của tiến sĩ Nguyễn Việt Hùng cũng về chủ đề này (2006) Nghiên cứu của Nguyễn Khắc Minh (2004) đã sử dụng công cụ DEA khá mạnh mẽ trong việc ước lượng hiệu quả kỹ thuật của 32 ngành sản xuất ở Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM) thông qua sử dụng số liệu hỗn hợp Bài viết sử dụng phương pháp tiếp cận tham số, thường là hàm sản xuất biên ngẫu nhiên (SFPF), và phương pháp tiếp cận phi tham số, thường là phân tích bao
dữ liệu (DEA) với số liệu ở Hà nội và Tp.HCM trong giai đoạn 2000-2002 Kết quả nghiên cứu đưa ra hiệu quả kỹ thuật của 2 thành phố lớn nhất nước
ta chêch lệch nhau không đáng kể Việc nâng cao tính hiệu quả của các ngành không kể tới qui mô lên tới 40% Cách sử dụng phương pháp bao dữ liệu của tác giả đã chủ động trong việc tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng, tạo ra một cái nhìn đa chiều và kết quả phân tích trở nên thuyết phục hơn Tuy nhiên, nghiên cứu này có bộ số liệu chỉ trong ba năm, nên việc dự đoán điều gì xảy
ra với các ngành sản xuất của hai thành phố còn mang tính chủ quan, chưa bao quát hết xu hướng biến động của ngành trong dài hạn
Nhờ những đặc tính khoa học ưu việt, DEA cũng là phương pháp mà nhóm nghiên cứu sử dụng để phân tích, đánh giá hoạt động của Ngân hàng thương mại nước ta trong giai đoạn 2008-2011 Từ đó tìm ra nguyên nhân và biện pháp nâng cao tính hiệu quả trong hoạt động kinh tế của các NHTM.Đồng thời gợi ý cho các ngân hàng còn có mức hiệu quả bên dưới đường bao
Trang 25biên tham khảo phương thức hoạt động của các ngân hàng trên đường bao biên để đạt hiệu quả kĩ thuật tối đa trong hoạt động của mình
Tình hình hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại trong những năm qua đang là chủ đề được quan tâm hàng đầu Là một khu vực then chốt đảm bảo cho nền kinh tế quốc dân hoạt động một cách nhịp nhàng, ngân hàng luôn là khu vực được chính phủ cũng như doanh nghiệp đặc biệt quan tâm Đi sâu vào lĩnh vực ngân hàng đặc biệt là Ngân hàng thương mại ở Việt Nam là cần thiết để xây dựng một mô hình nhằm nghiên cứu một cách tổng quan về tình hình hoạt động cũng như tính hiệu quả trong công tác điều hành
và kinh doanh của các ngân hàng thương mại Cùng chủ đề này, trước đó cũng đã có nhiều công trình khoa học đã đưa ra những cái nhìn đa chiều về hệ thống ngân hàng ở Việt Nam Nhìn chung, các nghiên cứu này cũng phân tích đánh giá được thực trạng hiệu quả hoạt động của các ngân hàng nhưng chủ yếu mới dừng lại ở phân tích định tính như: Bài viết của Võ Thành Danh “ Phân tích hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” năm 2008 sử dụng phương pháp phân tích hiệu quả truyền thống dựa trên phân tích các tỷ số tài chính, hay nghiên cứu của Lê Dân (2004)
"Vận dụng phương pháp thống kê để phân tích hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam" Tuy đã có phần nào tiếp cận theo cách thức phân tích định lượng nhưng vẫn chỉ dừng lại ở các chỉ tiêu mang tính chất thống kê, mô tả truyền thống
2.1.3 Vài nét về nghiên cứu này:
Nghiên cứu của chúng tôi cũng mang tính kế thừa những nghiên cứu trước đó trong việc tập trung sử dụng DEA là công cụ chủ yếu để đánh giá năng lực hoạt động của các ngân hàng Ngoài ra, kết quả của mô hình DEA sẽ được sử dụng để đánh giá ngược lại khi xem xét tác động của các biến nội sinh tới tổng hiệu quả kỹ thuật Áp dụng vào một không gian mẫu lớn gồm 34
Trang 26NHTM trong bốn quan sát từ năm 2008 đến năm 2011, nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn bởi đây là giai đoạn ngành ngân hàng nước ta trải qua nhiều biến động Hơn nữa, nhóm nghiên cứu sẽ đưa ra những chỉ tiêu để xếp hạng NHTM trên cơ sở năng lực, hiệu quả hoạt động, để có cái nhìn tổng quan hơn nữa về ngành Ngân hàng ở nước ta hiện nay
2.2 Mô hình lí thuyết
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phương pháp bao dữ liệu để
mà phân tích cho bộ số liệu phản ánh tình hình hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008-2011 Nội dung phương pháp này có thể hiểu như sau:
Phương pháp bao dữ liệu DEA:
DEA ( data evelopment analyss) là một phương pháp cơ bản trong ước lượng hàm sản xuất và hiệu quả kỹ thuật DEA sử dụng mô hình toán tuyến tính và hàm khoảng cách Phương pháp này được nhiều nhóm ý tưởng từ Farell (1957) khi ông đưa ra ý tưởng áp dụng đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) làm tiêu chí đánh giá hiệu quả tương đối giữa các công ty trong cùng một ngành Tuy nhiên thời điểm sau đó phương pháp này chưa nhận được sự ủng hộ rộng rãi, ngoài sự quan tâm của một số ít các nhà khoa học như Coelietal, Boles (1966), Sheparl (1970) và Afriat((1972) Cho đến khi, Charmes, Cooper và Rhodes đưa ra khái niệm và phương pháp “phân tích bao
dữ liệu” thì nó thực sự ngày càng được mở rộng và cho đến nay đã trở thành một ứng dụng lớn trong phân tích kinh tế
DEA được gọi là phương pháp bao dữ liệu bởi nó sử dụng những biến tốt nhất ứng với mức đầu vào xác định để tạo thành một đường bao biên
Hình 1: Đường bao dữ liệu (DEA)
Trang 27
Hiệu quả kỹ thuật:
Bằng cách tạo ra đường bao dữ liệu này, phương pháp sẽ giới hạn được hiệu quả kỹ thuật của toàn ngành và coi đó là hiệu quả sản xuất tối đa đầu ra trong điều kiện đầu vào cho trước Hình 1 minh hoạ định nghĩa này Trong hình này, chúng ta có các điểm A, B, C và E tương ứng với mỗi mức đầu vào
và đầu ra nhất định Đường ABC mô tả đường biên của quá trình sản xuất Các quan sát A, B, và C nằm trên đường biên, trong xu hướng hoạt động luôn
là tối đa hóa lợi nhuận, cũng như sử dụng khi các quan sát D và E nằm dưới đường biên
Sau khi qui hoạch tuyến tính các biến tốt nhất trong bộ số liệu thành đường bao giới hạn (trên hình minh họa là đường nối các điểm A B C), ta sẽ
có hình dung về tính hiệu quả trong việc sử dụng cá yếu tố đầu vào của các số liệu mô tả bằng các điểm nằm dưới đường bao biên (E, F) Mỗi yếu tố đầu ra (q) được đặt trong mối quan hệ phụ thuộc với các yếu tố đầu vào (x1, x2 ,x3 ,x4 …) Vì vậy các điểm giá trị nằm dưới đường bao biên cho thấy mức độ hiệu quả cũng như phi hiệu quả của 1 số liệu đại diện Ở đây, ta xét đến thang
đo cho mức độ hiệu quả là TE ( Tổng hiệu quả kỹ thuật):
Trang 28TE= SE× PE
Trong đó:
TE: Tổng hiểu quả kỹ thuật
SE: Hiệu quả kỹ thuật thuần túy
PE: Hiệu quả quy mô
Dựa trên việc thiết lập đường bao biên (PP), trạng thái hiệu suất không đổi và hàm khoảng cách, ta có thể tính được PE, SE và TE Kỹ thuật này tạo
ra một biên giới được thiết lập bởi các ngân hàng hiệu quả và so sánh nó với các ngân hàng không hiệu quả để sản xuất điểm hiệu quả Trong DEA, ngân hàng hiệu quả nhất (với TE=1) không nhất thiết phải tạo ra mức tối đa của sản lượng từ các yếu tố đầu vào nhất định Thay vào đó, ngân hàng này tạo ra mức độ thực hành tốt nhất của đầu ra giữa các ngân hàng khác trong mẫu Trong các bài toán DEA định hướng đầu ra, TE được đo bằng 1/θ Trong
đó θ là tỷ lệ khoảng cách từ gốc tọa độ đến điểm tối ưu trên đường biên sản xuất (OB) và khoảng cách từ gốc tọa độ đến vị trí sản xuất thực tế (OA) Do
đó, TE sẽ nhận giá trị trong khoảng từ 0 đến 1 Qua đó cho ta 1 độ đo về mức
độ không hiệu quả kĩ thuật của ngân hàng Khi TE có giá trị bằng 1 tức là ngân hàng đó có hiệu quả là tối đa, gồm các điểm nằm trên đường bao biên (điểm B)
Trong trường hợp hiệu quả không đổi theo qui mô DEA sẽ xác định tổng hiệu quả kĩ thuật của doanh nghiệp thông qua bài toán sau :
Với các ràng buộc:
Trang 29Với: m=1,…,M: số đầu ra
n=1,…,N: số đầu vào k=1,…,K: số doanh nghiệp
Từ bài toán này ta có thể xác định được TE của doanh nghiệp thứ i tại thời kì s Thông qua đó sẽ có cái nhìn khách quan về hiệu quả trong hoạt động sản xuất của danh nghiệp i, cũng như đưa ra định hướng về việc thay đổi qui mô hay tiến bộ về mặt công nghệ đê đạt mức hiệu quả cao hơn
Chỉ số năng suất nhân tố tổng hợp (TPF):
Kỹ thuật qui hoạch các biến số trong phương pháp tiếp cận phi tham số được sử dụng để đo lường chỉ số Malmquist (chỉ số năng suất nhân tố tổng hợp) TFP phản sánh sự thay đổi độ đo hiệu quả kỹ thuật, tiến bộ công nghệ, hiệu quả thuần, hiệu quả qui mô và năng suất nhân tố tổng hợp
Xác định chỉ số Malmquist tức là ta giả thiết công nghệ sản xuất sẽ thay đổi ứng với từng thời kì Qua đó sẽ kiểm nghiệm việc thay đổi đó là do yếu tố nào gây ra Thông qua nghiên cứu Malmquist TFP có thể phân ra thành 2 thành phần là TEC và TC
Malmquist TFP index = TEC X TC
Công thức này hàm ý rằng tăng trưởng của TFP có thể được giải thích bằng cải tiến trong hiệu quả kỹ thuật và tiến bộ công nghệ
Đánh giá:
Trang 30DEA áp dụng được cả với các biến định tính, do đó nó được ứng dụng
để phân tích hiệu quả của các doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực DEA được xây dựng dựa trên các điểm thực tế, nên nó có thể được áp dụng với các mẫu nghiên cứu nhỏ, khác với phương pháp phân tích hồi quy thường yêu cầu cỡ mẫu lớn Do vậy DEA thường được sử dụng để phân tích chuyên sâu theo khu vực, địa phương, chẳng hạn như phân tích hiệu quả của các nền kinh tế trong ASEAN, các phòng ban trong một doanh nghiệp, các ngân hàng lớn trên địa bàn Hà Nội… phương pháp này cũng có hạn chế (so với phương pháp hồi quy) đó là là nó không tính toán đến yếu tố sai số hay nhiễu, do đó trong DEA không tồn tại yếu tố mức ý nghĩa hay độ tin cậy Tuy vậy, đối với
đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sẽ sử dụng DEA để phân tích, thông qua việc
so sánh tương quan giữa hiệu quả trong hoạt động giữa các Ngân hàng thương mại của nước ta trong giai đoạn (2008-2011)
Trang 31CHƯƠNG 3:
THỰC TRẠNG NGÀNH NGÂN HÀNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008-2011
Trước khi đi vào phân tích và phân loại các ngân hàng dựa vào kết quả định lượng cụ thể, nhóm nghiên cứu sử dụng một số tiêu chí hoạt động cơ bản nhằm đưa ra cái nhìn tổng quan về hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Qua đó, ta có thể chia các ngân hàng hiện nay thành 3 nhóm:
Nhóm 1: Nhóm các ngân hàng có quy mô lớn: ACB, BIDV, ngân hàng
công thương- Viettinbank, MB, ngân hàng hàng hải, Techcombank, VCB, EXIM, SACOMBANK (9 ngân hàng)
Nhóm 2 : Nhóm các ngân hàng có quy mô trung bình: SEABANK,
SHB, VIB, OCEAN, LIÊN VIỆT, VP, ĐÔNG Á ( 7 ngân hàng)
Nhóm 3: Nhóm các ngân hàng có quy mô nhỏ: ABB, BẢN VIỆT( Gia
định bank), KIÊN LONG, HBB, HDB, NAM Á, NAVI, PHƯƠNG ĐÔNG, PHƯƠNG TÂY, ĐẠI Á, ĐẠI TÍN, MDB, MHB, PNAM, VIỆT Á, XĂNG DẦU PG, SÀI GÒN CÔNG THƯƠNG, TIÊN PHONG ( 18 ngân hàng)
Trang 32Về tổng tài sản: CTG dẫn đầu về qui mô tài sản, BIDV và VCB lần lượt
giữ vị trí thứ 2, 3 trong nhóm 1 Hai ngân hàng có mức gia tăng ấn tượng về
tỷ trọng tổng tài sản so với toàn ngành trong 2011 là ACB (từ 4,8% lên 5,9%); CTG (tăng từ 8,8% lên 9,8%) Tỷ trọng tổng tài sản của VCB cũng có
sự cải thiện so với năm 2010 (tăng từ 7,3% lên 7,8%) ACB là ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tổng tài sản cao nhất (tăng 37,01% so với năm 2010)
Về vốn chủ sở hữu: VCB đứng thứ nhất đạt 29.189tỷ đồng Theo sát
VCB là BIDV và CTG với 26.975 tỷ đồng và 25.268 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng so với cuối năm 2010 xếp theo thứ tự là: CTG (56,5%); MSB (50,5%); TCB (38,6%); VCB (38,1%); MBB (27,4%); EXIM (20,79%); ACB (5,1%); SACOMBANK (4,34%); BIDV (0,7%)
Hình 3: Tổng tài sản, vốn chủ sở hữu và tốc độ tăng tổng tài sản, vốn chủ
sở hữu của một số ngân hàng thương mại năm 2011
Nguồn số liệu: Báo cáo thường niên các NHTM năm 2011
Nhóm 2 : Tổng tài sản 45.000-100.000 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu
4.500-9.000 tỷ đồng
Trang 33VIB, SHB và SEAB dẫn đầu NHTM nhóm 2 về tổng tài sản và vốn chủ
sở hữu LVB có tốc độ tăng trưởng 2 chỉ tiêu này ấn tượng nhất
Về tổng tài sản: VIB dẫn đầu nhóm này với tổng tài sản 96.950 tỷ đồng, theo sau là VP, SHB, ĐÔNG Á, SEAB và DCB Tuy nhiên, tổng tài sản của VIB cũng chỉ chiếm 2,04% toàn ngành, nhỏ hơn nhiều so với các ngân hàng thuộc Nhóm 1 Tổng tài sản của các NH khác trong nhóm chỉ chiếm hơn 1% tổng tài sản toàn ngành
Về vốn chủ sở hữu: VIB tiếp tục dẫn đầu, tiếp theo là LVB và SHB Tỷ trọng vốn chủ của các NH này so với toàn ngành nằm trong khoảng 1% - 1,7%
LVB có tốc độ tăng trưởng tổng tài sản và vốn chủ sở hữu ấn tượng nhất, tăng hơn 60% so với 2010 Tiếp theo là SHB tăng hơn 39%
Nhóm 3 : Tổng tài sản từ 45.000 tỷ đồng trở xuống, vốn chủ sở hữu thấp hơn 4.500 tỷ đồng
NHTM nhóm 3 có tỷ trọng tổng tài sản và vốn chủ sở hữu thấp so với toàn ngành Bản Việt đạt tốc độ tăng trưởng đột biến
Tỷ trọng tổng tài sản và chủ sở hữu của các ngân hàng nhóm này so với toàn ngành đều dưới 1% và không có nhiều thay đổi Đáng chú ý, Bản Việt đạt tốc độ tăng trưởng đột biến về tổng tài sản và vốn chủ sở hữu, đạt lần lượt 106% và 59% so với năm 2010
3.1.2 Chỉ số thanh khoản:
Đo lường khả năng ngân hàng thanh toán các khoản nợ khi đến hạn Một ngân hàng hoạt động tốt là ngân hàng luôn đảm bảo được khả năng thanh khoản trong bất kì điều kiện nào Đây cũng là một tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng hoạt động của ngân hàng
Nhóm 1:
Trang 34Không nằm ngoài dự đoán, các ngân hàng nhóm thứ nhất có các chỉ số
về khả năng thanh khoản cao, chất lượng các dịch vụ được đảm bảo, tạo được niềm tin cho khách hàng, vì thế mà hoạt động kinh doanh luôn được duy trì
an toàn và bền vững Đây cũng là lợi thế mà các ngân hàng có truyền thống hoạt động, quy mô vốn lớn chiếm được phần lớn thị phần trên thị trường, đồng thời cũng là thách thức cho các ngân hàng mới ra đời, kinh nghiệm hoạt động còn hạn chế, quy mô cũng như khả năng huy động vốn hạn hẹp, khó khăn và tất yếu chỉ số thanh khoản ở nhóm ngân hàng này sẽ không giành được sự yên tâm, tin tưởng cho khánh hàng
Bảng 1: Chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh khoản của một số ngân hàng
tiêu biểu giai đoạn 2008-2011
Các ngân hàng nhóm 2 vẫn duy trì được tỉ lệ này khá cao, tuy nhiên lại
có sự thay đổi lớn qua các năm, nhìn chung chiều hướng là tăng dần qua từng năm Tuy nhiên, con số này không thực sự lạc quan cho các ngân hàng nhóm
3, tỉ lệ nguồn vốn huy động/ Vốn chủ sở hữu là thấp và không ổn định, tăng giảm tùy từng năm Điều này cho thấy sự nhạy cảm về khả năng thanh khoản
Trang 35của các ngân hàng nhóm 3 trong giai đoạn vừa qua Thực tế, cũng đã cho thấy
có tốc độ tăng trưởng huy động tốt
Về vốn huy động: CTG năm qua đã bứt phá mạnh mẽ và vượt qua BIDV vươn lên đứng vị trí thứ 1 về thị phần huy động vốn (tăng từ 8,4% lên 10,6%), đồng thời CTG cũng là ngân hàng có mức tăng trưởng huy động vốn cao nhất (tăng 39,7% so với 2010) Thị phần huy động vốn của VCB tăng từ 8,0% lên 8,5% và vẫn giữ vị trí thứ 4 trong hệ thống Tăng trưởng huy động vốn mạnh thuộc về nhóm các ngân hàng cổ phần: TCB (35,8%), MBB (33,3%) và ACB (32,9%), EXIM (27,56%)
Nhóm 2 và nhóm 3:
Trang 36Về vốn huy động: VIB dẫn đầu về huy động của 2 nhóm này, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng đạt thấp 4,8% LVB và SHB có tốc độ tăng trưởng huy động ấn tượng trong nhóm 2 (69,7% và 38,6%) trong khi Bản Việt dẫn đầu nhóm 4 với 126%
3.1.3 Lợi nhuận và khả năng sinh lời:
Nhóm 1: Hầu hết các ngân hàng thuộc nhóm 1 là các ngân hàng có lợi nhuận lớn nhất hệ thống Vị trí theo ROA, ROE không có nhiều thay đổi so với năm trước
CTG dẫn đầu hệ thống về chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế với khoảng 8.000 tỷ đồng VCB đứng vị trí thứ 2 trong hệ thống về lợi nhuận, đạt 5.700 tỷ đồng ACB
có lợi nhuận trước thuế cao trong khối NHTMCP, đạt 3.900 tỷ đồng CTG có mức tăng trưởng lợi nhuận cao nhất (80,9%), tiếp theo là Exim(70,6%), ACB (35,5%), MBB (14,74%), Sacombank(8,21%), trong khi MSB giảm lợi nhuận 31,7% CTG và MBB có tỷ trọng thu nhập lãi thuần trong tổng thu nhập hoạt động cao nhất (90%), cho thấy cơ cấu thu nhập chưa thực sự đa dạng Tỷ trọng này của ACB cũng tăng mạnh lên 86,4% mặc dù những năm trước ngân hàng có
sự phân bổ thu nhập đa dạng hơn từ các nguồn
ROA, ROE : ở các khối ngành này thường cao Nhìn chung tỉ số này ở hầu hết các ngân hàng đều không âm, phản ánh các ngân hàng luôn làm ăn có lãi Đây có thể xem như là một tín hiệu vui trong khi nền kinh tế đang chìm trong ảm đảm ROA, ROE đều dương ở tất cả các nhóm ngân hàng, tuy nhiên về độ lớn cũng như mức độ và chiều hướng biến động thì có sự tốt hơn
rõ nét ở nhóm ngân hàng thứ nhất
TCB, ACB và CTG là 3 ngân hàng dẫn đầu về khả năng sinh lời ROA của 3 ngân hàng lần lượt là 1,92%; 1,32% và 1,51% ROE lần lượt đạt 28,14%; 27,49% và 26,74% Sự biến động tỷ số này qua các năm là không nhiều, và xu hướng biến động chung có thể thấy là đang xấu đi, điều này là
Trang 37phù hợp với chiều hướng suy giảm trầm trọng của nền kinh tế nước ta trong những năm gần đây
Nhóm 2 và nhóm 3:
SHB dẫn đầu về lợi nhuận và khả năng sinh lời LVB và HDB tăng trưởng lợi nhuận tốt VIB, BVB và HBB có LNTT giảm so với năm trước Đứng đầu về lợi nhuận trước thuế của 2 nhóm này là LVB và SHB, đạt lần lượt 1.086 tỷ đồng và 1.001 tỷ đồng Tiếp theo đó là VIB, PGB và MDB GDB và PGB có mức tăng trưởng lợi nhuận đột biến (379% và 103%), ngoài
ra HDB, SHB và LVB cũng có mức tăng trưởng lợi nhuận khả quan (61,4%; 52,4% và 43,1%) Trong khi đó, lợi nhuận của HBB giảm tới 48,5% VIB và BVB cũng là 2 ngân hàng có lợi nhuận trước thuế giảm so với 2010
Về khả năng sinh lời: Đặc điểm chung của nhóm này là ROA, ROE không quá cao, duy trì đa số ở mức trung bình, tuy nhiên lại có sự dao động mạnh qua các năm, có năm tăng mạnh nhưng có năm giảm rất sâu Chứng tỏ thiếu bền vững trong hiệu quả hoạt động của ngân hàng, điều này là rất rủi ro cho các ngân hàng trong bối cảnh mới
Hình 4: Các chỉ số khả năng sinh lời của một số ngân hàng năm 2011
Trang 38Nguồn số liệu: Báo cáo thường niên các NHTM năm 2011
3.1.4 Nợ xấu:
Nhóm 1: Trong năm 2011, nợ xấu của hầu hết các ngân hàng đều tăng cao so với 2010 do hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bị đình trệ BIDV có tỉ lệ nợ xấu cao nhất trong nhóm(2,96%)
BIDV có tỷ lệ nợ xấu cao nhất nhóm này (2,96%) VCB là một trong số
ít các ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu giảm đi so với 2010 Tỷ lệ nợ xấu của BIDV
và VCB là 2,96% và 2,03%, thấp hơn trung bình toàn ngành, tuy nhiên cao hơn so với các NHTMCP khác như ACB, STB, EIB Tỷ lệ nợ xấu của các
NH này khá thấp - duy trì từ 0,5% đến 1,9%
Nhóm 2 và 3 : Tỷ lệ nợ xấu của NHTM nhóm 2 và 3 đều trên 2%
Tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng nhóm này tương đối cao, đều ở mức trên 2% BVB và HBB có tỷ lệ nợ xấu lên tới 4,54% và 4,69%; dẫn đầu nhóm Đáng chú ý, nợ xấu của HBB nếu tính thêm các khoản cho vay Vinashin sẽ
Trang 39lên tới hơn 16% Điều này cho thấy các ngân hàng nhóm 2 và nhóm 3 phải đối mặt với rủi ro rất lớn so với nhóm ngân hàng thứ nhất
Trong nhóm này, HBB đang có tỉ lệ nợ xấu ở mức báo động 4,42% bỏ khá xa mức bình quân nợ xấu của toàn ngành là 3,39% Đây là thách thức lớn cho ngân hàng này trong giai đoạn sắp tới
Hình 5: Tỷ lệ nợ xấu của một số ngân hàng năm 2011
TECC
H Bank
Nguồn số liệu: Báo cáo thường niên các NHTM năm 2011
Bảng 3: Tổng hợp số liệu 1 một số chỉ tiêu phản ánh khả năng hoạt động của các ngân hàng giai đoạn 2008-2011
Biến phụ thuộc: Tổng hiệu quả kỹ thuật của các NHTM
Biến độc lập Trung
bình Sai số
Giá trị nhỏ nhất
Giá trị lớn nhất
1
Số liệu được lấy từ báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2008-2011
Dn: Tổng dư nợ cho vay; Ts: Tổng tài sản; Csh: Vốn chủ sở hữu
Đơn vị (Dn, Ts, Csh): nghìn tỷ đồng
Trang 40Nguồn: Kết quả tính toán của nhóm nghiên cứu
3.2 Nhóm nhân tố phi tài chính:
Số năm kinh nghiệm và số chi nhánh:
Các ngân hàng nhóm 1 là nhóm các ngân hàng có truyền thống hoạt động lâu năm, mạng lưới chi nhánh rộng khắp cả nước, đặc biệt là nhóm ngân hàng thương mại cổ phần có nguồn gốc nhà nước như: BIDV, TECHCOMBANK, VIETCOMBANK, VIETTIN Đây là một lợi thế dễ thấy
ở các ngân hàng nhóm này, trong điều kiện nền kinh tế bất ổn thì khách hàng luôn tìm đến các ngân hàng uy tín, giành được niềm tin của đa số mọi người