Vì lẽ đó, bản thân tôi là một giáo viên dạy ngoại ngữ từ khi chưa cóchương trình thay sách đến nay, tôi luôn cố gắng tìm tòi, trau dồi nghiên cứu đểtìm cho mình một hướng đi đúng trong v
Trang 1Vì lí do đó không thể tránh khỏi việc giáo viên hiểu và vận dụng đổi mớiphương pháp dạy học một cách máy móc, thậm chí là sai lệch ở các hoạt độngdạy học trong giờ dạy của giáo viên ở trên lớp trong quá trình giảng dạy từnhững cấp học thấp cho đến những cấp học cao hơn Đó là điều tối kị trong dạyhọc.
Đặc trưng trong trường trung học cơ sở với những nội dung sách xoayquanh những chủ điểm gần gũi sát thực tế với mục đích, nhu cầu, sở thích và đờisống của học sinh
1.1.2 Cơ sở thực tiễn :
Từ những năm trước đây,những đổi mới đồng bộ về giáo dục bậc Trunghọc cơ sở và việc xây dựng lại chương trình, biên soạn sách giáo khoa theohướng tích cực hoá hoạt động của người học từ năm học 2002 – 2003 đã đặt ranhững yêu cầu cấp thiết về đổi mới phương pháp dạy học
Trong thực tế, qua bảy năm dạy học môn Tiếng Anh tại môi trường trườngtrung học cơ sở ở khu vực miền núi này,tôi nhận thấy việc áp dụng phương phápdạy học mới vào quá trình dạy học vẫn còn gặp nhiều khó khăn đối với đội ngũgiáo viên Tiếng Anh của chúng tôi Bởi lẽ, đối với học sinh trung học cơ sở đây
Trang 2là môn học hoàn toàn mới đối với các em Trước tiên là tâm lí lứa tuổi, các em
đã có sự khác biệt rất nhiều, việc học tập một môn học hoàn toàn khác biệt khigiao tiếp và thực hành không thể tránh khỏi tâm lí thiếu tự tin, ngại tiếp nhận từphía học sinh Hơn nữa, môi trường để các em để tiếp thu, để giao tiếp thì thực
sự là chưa có ngoài phạm vi lớp học, thông tin đại chúng thì còn ít, bởi vậy các
em chưa có sự nhận thức đầy đủ, đúng đắn về sự cần thiết, tầm quan trọng củamôn học Đây cũng chính là những nguyên nhân chủ yếu gây khó khăn rất lớncho giáo viên giảng dạy Hơn thế nữa là học sinh ở đây đa dạng về dân tộc thiểu
số như Sán Dìu, Sán Chỉ, Hoa, Tày, Dao Đặc biệt là các em học sinh dân tộcDao ở Cái Mắt ,Cống To chiếm tỉ lệ khá cao nhưng nhiều em còn chưa thạoTiếng Việt, các em rất e dè ngại giao tiếp với người xung quanh
Vì lẽ đó, bản thân tôi là một giáo viên dạy ngoại ngữ từ khi chưa cóchương trình thay sách đến nay, tôi luôn cố gắng tìm tòi, trau dồi nghiên cứu đểtìm cho mình một hướng đi đúng trong việc giảng dạy Tiếng Anh sao cho thậtphù hợp với các đối tượng học sinh từ các cấp học thấp đến các cấp học cao hơn,
từ những kiến thức cơ sở ban đầu, đơn giản như việc dạy và học từ vựng cho đếnnhững kiến thức cao hơn Tôi luôn luôn đặt ra câu hỏi : Làm thế nào để giúp họcsinh học tập môn Tiếng Anh nói chung tốt và để giúp học sinh học tốt từ vựnggiáo viên cần làm gì?
Xuất phát từ những lí do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Sử dụng các kĩthuật và hoạt động trong việc dạy và học từ vựng môn Tiếng Anh” nhằm có cáchnhìn nhận được những nhược điểm trong cách dạy và học từ vựng trong mônTiếng Anh và đáp ứng kịp thời yêu cầu đổi mới theo phương pháp dạy học mớitrong Tiếng Anh ở trường THCS
I 2 Mục đích nghiên cứu :
Nghiên cứu đề tài nhằm :
Tìm ra cách tổ chức rèn luyện kĩ năng trong việc học từ vựng Tiếng anh mộtcách hiệu quả nhất Bởi vì, dù bất cứ công việc nào khi đã bắt tay vào là ta phảixác định xem làm việc này để làm gì? Sau đó mới đến làm như thế nào? Và cầnphải làm gì? Chính vì vậy, khi làm bất cứ một công việc gì cũng phải có mụcđích nhất định
Đối với đề tài “Sử dụng các kĩ thuật và hoạt động trong việc dạy và học từvựng môn Tiếng Anh” đây là một bước tập dượt tham gia nghiên cứu khoa họccủa bản thân tôi để nhằm góp phần cho công việc nghiên cứu, tìm hiểu và đềxuất các phương pháp trong việc rèn luyện cho học sinh
Trang 3Qua thời gian công tác, tôi thấy hiện nay việc học từ vựng còn mang tínhchung chung, chưa chỉ ra những tồn tại và nguyên nhân để từ đó có giải phápkhắc phục phù hợp, có hiệu quả.Từ thực tế đó tôi đã tìm hiểu và nghiên cứu bằngnhiều phương pháp khác nhau và cũng đã rút ra một số kinh nghiệm Là giáoviên tham gia công tác giảng dạy, tôi cũng mạnh dạn xin góp một phần nhỏ đónggóp vào công việc nghiên cứu thể loại đề tài này.
Hơn thế nữa đề tài này còn giúp học sinh hệ thống hoá kiến thức, hiểu,khắc sâu, nhớ lâu tri thức, phát triển trí tuệ sáng tạo của học sinh,để học sinhtham gia nhiệt tình hơn, khơi dậy tính tò mò, thích tìm hiểu, khám phá kiến thứcmới, từ đó học tập hiệu quả hơn tạo tiềm năng sau này cho học sinh tiếp tục học
ở lớp trên
I.3 Thời gian - địa điểm :
- Lập đề cương nghiên cứu: Từ tháng 9/2007 đến tháng 5/2008
Tiến hành triển khai nghiên cứu từ tháng 9/2008 đến tháng 4/2009
- Hoàn thành đề tài: Tháng 5 năm 2009
I.3.2 Địa điểm :
Ninh là nơi tôi giảng dạy để nghiên cứu
Đề tài này được nghiên cứu đối với giáo viên và học sinh đều được tham giagiảng dạy và học ở khối lớp 7 trường THCS Tiên Lãng và được dạy thể nghiệmtại trường chính và cơ sở Thủy Cơ
Đối tượng nghiên cứu phải thực hiện “Sử dụng các kỹ thuật và hoạt độngtrong việc dạy và học từ vựng môn Tiếng Anh”.Vậy giáo viên phải rèn ở mức độnào đối với từng đối tượng và đối với từng bài học
- Rèn học từ vựng ở trên lớp nhằm cung cấp kiến thức mới
- Hiểu hết nghĩa từ vựng còn khắc sâu được những kiến thức trong phầntìm hiểu nội dung của bài
Xét về góc độ hình thức việc rèn kĩ năng dạy và học từ vựng cho học sinh
là rất cần thiết và không thể thiếu được
Nghiên cứu tại Trường THCS Tiên Lãng – Tiên Yên – Quảng Ninh
Trang 4I.3.3.3 Giới hạn về khách thể khảo sát :
Để tiến hành khảo sát đúng chất lượng thực tế về việc sử dụng các kĩ thuậttrong việc dạy và học từ vựng, tôi đã lấy học sinh lớp 7 trường THCS Tiên Lãng
mà tôi đang giảng dạy để thử nghiệm, cụ thể là 73 học sinh Thực hiện khảo sátđánh giá một cách khách quan về chất lượng và những vấn đề tồn tại, nguyênnhân
I.4.Phương pháp nghiên cứu
1 Phương pháp nghe nói ( Audio- lingual method)
Được đặt trên cơ sở lí thuyết Behaviourism, học sinh tiếp thu bằng cáchlặp đi lặp lại nhiều lần để hình thành thói quen Vì vậy phương pháp nghe nói tậptrung vào việc học ngoại ngữ thông qua lặp lại và ghi nhớ Học sinh phải nghenhiều lần các từ: các từ trong các mẫu câu và các từ trong mẫu đối thoại và lặplại
Kỹ thuật thường dùng trong phương pháp này là các bài luyện tập Thiết bịđược sử dụng nhiều cho phương pháp này là phòng học tiếng
2 Phương pháp ý niệm, chức năng(Functional – National approach)
Phương pháp này tập trung dạy các nhóm từ và các từ trong câu chức năngdùng trong đời sống hàng ngày và trong tình huống xã hội Học sinh học các từchức năng, các từ chức năng trong các câu chức năng như chào hỏi, tự giới thiệu,hỏi đường, hoặc các chức năng trong văn viết như điền vào mẫu đơn, viết thư
và ít chú trọng đến các yếu tố ngữ pháp
Kỹ thuật thường dùng trong phương pháp này là sắm vai để các hoạt độngtrên lớp tương tự với các tình huống ngoài xã hội
3 Phương pháp giao tiếp( Communicative Approach)
Phương pháp này nhấn mạnh việc học ngoại ngữ phải có ý nghĩa và thực
tế Học sinh học ngoại ngữ để giao tiếp nên cần phải được rèn luyện cả 4 kĩnăng: nghe, nói, đọc, viết, ngữ pháp, từ vựng và các chức năng
Các kĩ thuật thường dùng trong phương pháp này là làm việc theo cặp, làmviệc theo nhóm, các hoạt động có khoảng trống thông tin hoặc sắm vai
4.Phương pháp điều tra.
Phương pháp này thu thập thông tin về từng thái độ, tình cảm của họcsinh đến đâu và thực trạng học tập bộ môn của học sinh
Phương pháp nhằm tìm hiểu các phương pháp học của học sinh nhằm sửalỗi cho các em khi các em mắc phải
Cách tiến hành là dùng biện pháp trưng cầu ý kiến như: Phát cho mỗi họcsinh một phiếu điều tra có hẳn hệ thống câu hỏi
5.Phương pháp quan sát
Trang 5Là phương pháp thu nhập thông tin về đối tượng nghiên cứu bằng các trigiác trực tiếp về đối tượng Nó là hoạt động có mục đích,có kế hoạch và có hệthống Phương pháp nghiên cứu quan sát còn cho ta những tài liệu sống động vềthực tiễn giáo dục trong nhà trường để có thể quan sát và rút ra kết luận nhằmgiáo dục học sinh.
Cách tiến hành: tôi tiến hành dự giờ của các đồng nghiệp và theo dõi hoạtđộng của các em để từ đó giúp các em phần nào nắm được mức độ nhận biết từvựng của học sinh và phương pháp dạy học của giáo viên
I.5 Đóng góp mới về mặt lí luận và thực tiễn :
I.5.1.Về mặt lí luận
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật – công nghệ hiện nay đã và đang diễn
ra như vũ bão, tạo ra những biến đổi to lớn, sâu sắc trong mọi lĩnh vực đời sống
xã hội.Thế kỉ XXI được đánh giá sẽ là nền kinh tế - xã hội phát triển dựa vào trithức và chất xám.Trước tình hình đó, Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chínhsách đổi mới nền giáo dục để đáp ứng được những biến đổi to lớn đó Vai trò vàchức năng của người giáo viên ngày càng nặng nề
Giáo dục hiện nay đang thay đổi theo hướng đảm bảo cho mọi người đềuđược học để phát triển về nhiều mặt, nội dung giáo dục phải phù hợp với yêu cầucủa cá nhân và xã hội, phương pháp dạy học phải hướng mạnh vào việc phát huyvai trò chủ động và tích cực của người học đáp ứng yêu cầu hội nhập thế giới củađất nước
Qua nghiên cứu một số tài liệu, tôi rút ra một số đặc điểm đáng lưu ý sau:Trong việc dạy từ vựng phương pháp trực quan và phương pháp luyện làhết sức quan trọng Trực quan không chỉ là tranh ảnh hay vật thực mà còn làgiọng đọc mẫu của giáo viên với một số hình thức sinh động và hiệu quả Giáoviên cần đọc dúng ngữ điệu, cử chỉ điệu bộ Giáo viên cần ghi chép rõ rànghướng dẫn tỉ mỉ Đó chính là các hình thức trực quan rất cần thiết cho việc học
và dạy từ vựng.Các em có viết được đúng thì mới đọc được đúng
Ở phương pháp luyện sẽ có các quá trình luyện tập: đọc đúng âm, đúngngữ điệu, âm gió, âm nối
Trang 6Cụ thể trong tổng số 73 em học sinh do tôi trực tiếp giảng dạy thì rất nhiều
em có hoàn cảnh khó khăn, con mồ côi, con dân tộc Vì thế tôi tiến hành trao đổivới phụ huynh sinh còn có mặt hạn chế để tìm biện pháp phối hợp giữa phụhuynh và nhà trường để giúp đỡ các em Ở trong lớp, đối với những em có họclực còn yếu, thị lực kém, tôi chủ động bố trí các em ngồi ở phía trên để tiện theodõi uốn nắn
Tôi cũng chuẩn bị kĩ và đầy đủ bài giảng, giáo án, phương pháp giảng dạy,tranh ảnh, mô hình cụ thể trước khi lên lớp cũng giúp cho tôi không bị va vấp,lúng túng khi lên lớp mà các em học sinh cũng tiếp thu bài tốt và tăng chất lượngcho tiết giảng.Về phương pháp giảng bài tôi kết hợp nguyên tắc cơ bản của côngnghệ giáo dục là: “Thầy là người thiết kế, trò là người thi công.” Mọi yêu cầucủa giáo viên khi đưa ra phải đúng, phù hợp với nhận thức của học sinh, thái độgiảng bài của giáo viên phải nghiêm túc, có lời nói, phát âm phải chính xác,không được ngọng Trong mọi trường hợp, giáo viên không được bỏ qua nhữnghọc sinh chưa đọc được hoặc đọc sai, đọc ngọng, phải tìm ra nguyên nhân họcsinh đọc chưa đúng, kết hợp với việc động viên các em tự sửa sai bằng tính kiêntrì của cả học sinh và giáo viên
Chính vì những lí do trên dẫn đến chất lượng việc đọc và nhớ được từvựng của học sinh là chưa cao.Đề tài này đã góp phần bổ sung,mở rộng cụ thểhóa việc sử dụng kĩ thuật và hoạt động trong việc dạy và học từ vựng môn TiếngAnh giúp cho chất lượng của học sinh ngày càng tăng cao
Trang 7II PHẦN NỘI DUNG
II.1 Chương I : Tổng quan
II.1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Việc sử dụng các kĩ thuật và hoạt động trong dạy học Tiếng Anh đã đượcnghiên cứu từ lâu trên từng khía cạnh Tuy vậy trong quá trình dạy học giai đoạnhiện nay vẫn nảy sinh nhiều vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu
II.1.2 Cơ sở lí luận :
Xuất phát từ việc đổi mới phương pháp dạy học của ngành giáo dục giaiđoạn hiện nay Đó là việc dạy – học hướng vào người học, dạy cái người họccần, dạy học lấy người học làm trung tâm nhằm phát huy tối đa tính tích cực chủđộng của học sinh Phần từ vựng là chủ yếu cho học sinh rèn cách đọc,phát âmchuẩn dẫn đến các em có thể đọc lưu loát và hiểu nội dung của bài học
Xuất phát từ việc học tập tài liệu, học tập bồi dưỡng thường xuyên….sovới phương pháp dạy học hiện nay vẫn còn dập khuôn, máy móc.Chính vì thế ,người giáo viên phải có phương pháp dạy, rèn đúng, có các hình thức cũng nhưtinh thần trách nhiệm đối với nghề trên cơ sở giúp học sinh nhận thức được tầmquan trọng của việc học từ vựng.Từ đó các em có ý thức tự rèn luyện để mở rộnghiểu biết giúp các em tiếp thu những kiến thức hiện đại, những thành tựu của xãhội đang phát triển và nâng cao khả năng và năng lực của chính bản thân Đề tài
“ Sử dụng các kĩ thuật và hoạt động trong việc dạy từ vựng môn Tiếng Anh” sẽgiúp rất nhiều cho giáo viên để giải quyết vấn đề này
Kết luận chương I :
Giữa lí luận và thực tiễn còn có bất đồng, cơ sở lí luận là tiền đề làm sáng
tỏ sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu.
II.2.Chương 2: Nội dung vấn đề nghiên cứu
II.2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nhiệm vụ về lý luận:
Chúng ta đã được trải qua 7 năm học chương trình môn Tiếng Anh mớichú trọng cả 4 kĩ năng lời nói ngay từ đầu và được phát triển có hệ thống trongsuốt chương trình từ lớp 6 đến lớp 9 Một đơn vị bài học dù ở dạng hoạt động cánhân hay nhóm ở mọi trình độ từ lớp 6 đến lớp 9 đều có kết hợp tất cả các kĩnăng ở mức có thể tùy theo đặc điểm của nội dung từng bài
Một đơn vị bài học có thể bắt đầu bằng một hoạt động nghe hiểu giới thiệuchủ đề mới mà cũng có thể bắt đầu bằng một bài đọc hiểu hoặc một hoạt độngvào đề trên lớp Các hoạt đọng tiếp theo có thể là luyện nói theo cặp, cá nhân đọc
Trang 8thầm để thu lượm thông tin, nghe băng đĩa lấy thông tin cần thiết hoặc điền vàobảng trống, học sinh phải có vốn từ vựng Tiếng Anh phong phú Việc tíchlũy vốn từ là một việc làm thường xuyên và không thể thiếu được đối với mộtngười học viên Anh ngữ.
Từ vựng cũng được xuất hiện tự nhiên theo các chủ đề nhằm đạt đượcmức độ ngữ cảnh hóa cao, giúp học sinh dễ tiếp thu và nhớ lâu Các bài tập sửdụng từ vựng thường được phối hợp với các bài tập ngữ pháp và các bài tậpnghe, nói, đọc, viết vậy đòi hỏi các em cần đạt được những yêu cầu sau:
+/Học thuộc nghĩa của từng thành phần và nghĩa của các từ phái sinh +/Phát âm rõ không nhầm lẫn các âm, các từ , các câu
+/Viết những từ vựng theo chủ điểm, chủ đề đã và đang học
+/Diễn tả lưu loát những chủ điểm đã học bằng Tiếng Anh
- Nhiệm vụ thực tiễn:
Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng các kĩ thuật và hoạt động trong việc dạy
và học từ vựng môn Tiếng Anh
Đề xuất giải pháp việc sử dụng hiệu quả các kĩ thuật và hoạt động trongviệc dạy và học từ vựng môn Tiếng Anh ở trường THCS Tiên Lãng
Kết luận chương 2
Như chúng ta đã biết, lứa tuổi học sinh đầu những năm cấp II với đặcđiểm tâm sinh lí hiếu động bắt chước và giáo viên sẽ là một khuôn mẫu để họcsinh làm theo, học theo Vì vậy, giáo viên cần phải hiểu rõ được mục tiêu chung của môn học và hiểu được mục tiêu cụ thể của từng bài trong chương trình sáchgiáo khoa để từ đó có kĩ năng dạy từ vựng cho học sinh
Trang 9II.3 Chương 3: Một số biện pháp sử dụng kĩ thuật và hoạt động trong dạy học từ vựng
II.3.1.Kết quả nghiên cứu thực tiễn
II.3.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
- Thuận lợi:
Trường nằm ở trung tâm xã, nên đi lại thuận tiện Trường có đội ngũ cán
bộ giáo viên đông, phẩm chất đạo đức tốt, được đào tạo cơ bản, có bề dày kinhnghiệm.Được sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền và chuyên môn ngành dọcnói chung, của phụ huynh học sinh nói riêng đến sự nghiệp giáo dục trong nhữngnăm qua đã được cải thiện nhiều Một số dự án lĩnh vực giáo dục đã được triểnkhai thực hiện trên địa bàn mang lại hiệu quả thiết thực
- Khó khăn:
Tiên lãng là xã mà đa số dân cư là người kinh tế mới, người dân tộc thiểusố cuộc sống kinh tế sinh hoạt của người dân còn gặp nhiều khó khăn, thu nhậpthấp, chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp
Bên cạnh những thuận lợi thì trường còn gặp nhiều khó khăn, bấtcập.Trường đang trong thời gian thi công, phải đi học nhờ trường tiểu học, nhàtrường còn có cơ sở Thủy Cơ xa với trường chính nên gây nhiều khó khăn choviệc đi lại, giảng dạy của giáo viên
II.3.1.2 Thực trạng.
Vấn đề nổi cộm trong việc học ngoại ngữ hiện nay là khả năng sử dụngTiếng anh của học sinh còn thấp Qua khảo sát cho thấy 90% học sinh học theochương trình thay sách giáo khoa qua nhiều năm không có vốn từ vựng nhiều.Trong khi đó sách giáo khoa rất phong phú, được thiết kế rất khoa học, nhiều chủ
đề nhưng nhiều chủ đề khó phù hợp với các em bởi vì môi trường sống của các
em là miền núi, các phương tiện thông tin đại chúng chưa có nhiều nên các em ít
có cơ hội học và nâng cao kiến thức, kỹ năng sử dụng Tiếng anh Nhận thức củahọc sinh chưa đồng đều, thiếu mạnh dạn khi tham gia các hoạt động trong họctập.Học sinh chưa biết cách học sao cho phù hợp Nhiều em còn lười học, nhiều
em có điều kiện được tiếp cận với những trang thiết bị hiện đại rất hữu ích choviệc học song các em rất ngại tiếp thu hoặc sử dụng nó.Đặc biệt là không có môi trường giao tiếp để cho học sinh giao lưu học hỏi.Hơn thế nữa, giáo viên TiếngAnh tự học tập và rèn luyện nên không tránh khỏi những vướng mắc trong khigiảng dạy
II.3.1.3 Đánh giá thực trạng.
Trang 10- Giáo viên chưa thực hiện tốt vai trò là người chỉ đạo, tổ chức hoạt độngtrong dạy học
- Học sinh được học chương trình sách giáo khoa mới các em rất say mê,hứng thú trong việc học song chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sángtạo trong quá trình học tập và khi ra khỏi môi trường nhà trường thì hoàn toàncác em không có môi trường giao tiếp.Hơn thế nữa cơ sở vật chất chưa đầy đủ,thiết bị dạy và học còn hạn chế nên chưa lôi cuốn được học sinh Đầu năm học,tôi điều tra bằng hình thức kiểm tra về chất lượng của học sinh đã phân ra nhưsau :
II.3.2 :Đề xuất biện pháp
Để khắc phục tình trạng trên chúng tôi đã áp dụng một số giải pháp sau :
*Biện pháp 1 : Hướng dẫn các quy tắc cơ bản
- Đầu tiên là việc học từ mới Một câu hỏi đặt ra là các em học sinh cầnphải học những từ mới nào ? Như chúng ta đã biết từ vựng là một phần quantrọng trong việc dạy và học Tiếng anh, vậy để cho các em giỏi hơn ở tất cả 4 kĩnăng tôi đã giúp các em định hướng được theo ba nhóm : từ mà không cần đến,
từ chỉ cần để hiểu trong khi đọc hay nghe, từ mà cần phải sử dụng được Hiểuđược sự phân chia này sẽ giúp các em nhận biết được từ nào cần phải học cho có
hệ thống
Câu hỏi tiếp theo là : các em cần biết những gì về từ mới ? Tôi đã giúp các
em hiểu được biết một từ không có nghĩa là các em chỉ biết nghĩa của nó mà các
em phải biết được cách viết chính tả và phát âm của từ đó, những đặc điểm ngữpháp, những từ thường đi chung với từ đó
Vậy học sinh nên ghi chép từ mới như thế nào ?
Tôi yêu cầu các em cần có một quyển vở để ghi các từ mới và ghi lại các thôngtin các em đã học :
- Cách viết chính tả và cách phát âm đúng của từ
- Từ loại và các nghĩa tương ứng
- Tồi thiểu là một ví dụ trích trong từ điển cho mỗi nghĩa hoặc tự đặt ra
- Những từ dùng chung với từ đang học
- Những đặc điểm ngữ pháp của từ
Có phương pháp nào giúp các em nhớ từ không ?
Trang 11Tôi cũng đưa một vài phương pháp giúp học sinh nhớ từ nhưng bản thâncác em có thể chọn bất cứ phương pháp nào thích hợp nhất :
A/ Nghĩ ra một hình ảnh của từ : trong khi học một từ mới, các em cần phải nghĩ
ra một hình ảnh gì đó về từ đang học một cách nhanh chóng Để giúp ích hìnhảnh mà các em tưởng tượng nên liên quan về nghĩa của từ, cách phát âm và cáchviết của nó
B/ Tập viết từ mới đều đặn : viết từ sẽ giúp các em nhớ từ lâu hơn và cố gắngviết từ trong câu có liên quan đến chủ đề xung quanh
C/ Viết từ nên một tấm bìa :ngoài việc ghi chép trên vở ghi, học sinh có thể viết
từ đó trên phiếu để có thể ôn lại dễ dàng Viết từ trên một mặt phiếu, viết phầnnghĩa trên mặt còn lại, khi rỗi các em có thể rút ra một phiếu bất kì ra để kiểmtra
Thêm vào đó, tôi hướng dẫn các em sử dụng từ điển.Một quyển từ điển
tốt luôn là công cụ hữu ích trong việc học từ vựng Để biết được tất cả những
thông tin gì, rõ ràng các em phải có một quyển từ điển Do vậy học từ vựng màkhông cần từ điển là bất hợp lí Quyển từ điển rất hữu ích nhưng để tận dụng từđiển các em cần phải biết nó được sắp xếp như thế nào cà cung cấp thông tingì.Tôi đã hướng dẫn cụ thể cho các em :
A/Spelling- Cách viết chính tả :thông tin đầu tiên được in đậm đó là cáchviết chính tả của từ đang được tra cứu
B/ Syllabication- Cách ngắt từ : cũng trong phần từ đầu mục các em sẽthấy các dấu ngắt từ ở các âm tiết Thông tin này giúp cho các em dùng dấu gạchnối ngắt từ ở cuối dòng khi không còn đủ chỗ trống cho cả từ và viết tiếp các âmtiết ở đằng sau
C/ Pronunciatoin- Cách phát âm : Thông tin thứ ba là kí hiệu phiên âm Nógiúp chúng ta phát âm chính xác từ đang được tra cứu
D/ Part of speech- Từ loại : trong phần giải thích các em sẽ thấy những từviết tắt như :n, v,adj, adv điều này có nghĩa là các em đang xem nghĩa của từkhi nó đang dùng với một tư cách là một danh từ, động từ,tính từ hay trạng
từ (phó từ) được viết bằng chữ in nghiêng Bất cứ quyển từ điển nào luôn luôn
có thành phần cấu từ bằng chữ in nghiêng sau tất cả các đầu mục từ và từ pháisinh Cơ bản, có tám thành phần cấu từ :
Parts of speech Abbreviation(viết tắt)Adjective(tính từ) Adj
Trang 12Preposition(giới từ) PrepConjuntion(từ nối) Conj
Bước tiếp theo, để học từ vựng dễ dàng tôi hướng dẫn các em cần phải sắpxếp quyển tập ghi từ vựng một cách có hệ thống(vocabulary network) Điều này
có nghĩa cần phải được sắp xếp thành các nhóm theo một chủ đề nào đó Có
nhiều cách sắp xếp và tất nhiên tôi là tôi sẽ chọn cách tiện dụng để học sinh dễtiếp thu :
A,A tree diagram(Biểu đồ hình cây)
Ví dụ : STATIONERY
PEN PENCIL STAPLE
Ball fountain sharpener stapler
Highlighter mechanical removerChỗ trống( _) dùng để điền thêm từ vào
b, A word association table ( Bảng từ kết hợp với nhau)
Trang 13Football fishing swimming chess badminton hiking
To go
To play
C, A word- form table( bảng từ theo từ loại)
D, A word fork( Bảng từ phân chia theo nhánh)
Highlighter pen
Pencil case
Tôi cũng hướng dẫn cho các em cần phân biệt được tiền tố và hậu tố( prefixesand suffixes) các em cần nắm được :
A, What is a prefixes ? ( Tiền tố là gì ?)
Tiền tố là một chữ cái hoặc một nhóm các chữ cái thêm vào trước một từ đểthêm nghĩa hoặc thay đổi nghĩa của từ đó
Ví dụ : happy(vui) – unhappy(không vui)
Pilot(phi công) – co-pilot(phi công phụ)
Tiền tố được viết tắt thay cho từ tiền tố trong hầu hết các từ điển là prefix
B, What is a suffix ? (Hậu tố là gì ?)
Hậu tố là một chữ cái hoặc một nhóm chữ cái thêm vào cuối một từ để thay đổi
từ loại hoặc nghĩa của từ đó
Ví dụ : teach(v) dạy học – teacher(n) giáo viên
Drink(v) uống – drinkable(adj) có thể uống được
Trong hầu hết các từ điển sẽ có từ viết tắt là ‘ Suff’ thay cho từ hậu tố
Vậy tiền tố và hậu tố rất quan trọng trong việc học từ vựng bởi vì :
Học sinh sẽ tăng vốn từ một cách có hệ thống nhờ biết được tiền tố và hậu tố.
Trang 14Rồi học sinh cũng có thể nhớ chúng như những từ độc lập không liên quan đếnnhau.
- Ngoài ra các em còn biết được thêm cách đoán nghĩa của các từ mới hơn
từ những từ gốc
- Có những dạng thêm tiền tố và hậu tố sau :
+ Noun prefixes(tiền tố danh từ) Vd :aftercare
+ Noun suffixes (hậu tố danh từ) Vd : marriage, actress
+ Adjective suffixes (hậu tố tính từ) Vd : musical, useful
+ Adverb suffixes (hậu tố trạng từ) Vd :happily, clockwise
+ Verb suffixes (hậu tố động từ) Vd : blacken, beautiful
+ Roots (từ gốc) Vd : agriculture, agronomy
*Biện pháp 2 : Các kĩ thuật trong giảng dạy
Trong quá trình giảng dạy Tiếng Anh cho học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 Dạyphần từ vựng cho học sinh tôi đã sử dụng một số kĩ thuật mới trong trong việcgiảng dạy Vậy để áp dụng được một cách triệt để cho học sinh hiểu được cóđược hiệu quả cao tôi cần phải nắm vững được từng kĩ thuật :
1 Visuals ( Mẫu vật)
- Giáo viên sẽ chuẩn bị những bình phong, những bức tranh minh họa đơngiản không cần đẹp, phức tạp Sau đó lựa chọn từ có nghĩa phù hợp
Đưa mẫu vật lên và yêu cầu học sinh nói tên hoặc nội dung của mẫu vật
- Giáo viên đưa ra nghĩa Tiếng Anh
2 Mime( ra dấu hiệu)
- Giáo viên sẽ diễn tả những từ đó bằng hành động của bản thân hoặc vớihọc sinh
- Sau đó đặt câu hỏi để học sinh cho biết là hành động gì, nghĩa là gì
- Cuối cùng giáo viên đưa ra nghĩa Tiếng Anh
3 Realia
- Giáo viên đưa ra những mẫu vật thật phù hợp với những từ sẽ dạy Sau
đó giới thiệu hoặc đặt câu hỏi để học sinh trả lời
- Giáo viên đưa ra nghĩa Tiếng Anh
Trang 156 Synonym/ antonym
- Ở kĩ thuật này thì dễ với giáo viên, giáo viên chỉ việc đưa ra nghĩa của từnày trái nghĩa với nghĩa của từ kia, học sinh đoán từ.Giáo viên đưa ra nghĩaTiếng Anh
7 Translation
- Kĩ thuật này rất đơn giản – Giáo viên đưa trực tiếp nghĩa Tiếng Việt của
từ Tiếng Anh
*Biện pháp 3 : Các bước dạy từ mới
Ngoài việc nắm vững những kỹ thuật dạy từ vựng trên, tôi còn cần phảinắm vững những bước dạy từ mới sao cho phù hợp để học sinh nhớ từ :
Bước 1.Elicit (gợi mở)
Đây là bước đầu tiên để giáo viên giới thiệu từ mới cho học sinh Ở bước nàygiáo viên sẽ sử dụng các kĩ thuật trên để gợi mở từ cho học sinh đoán
2,Bước 2 : Teacher models ( giáo viên đọc mẫu)
3, Bước 3 : Choral repetition ( nhắc lại đồng thanh)
4, Bước 4 : Individual repetition ( nhắc lại cá nhân)
Ở bước này, giáo viên gọi 2 đến 3 học sinh lên đọc
5, Bước 5 : Check pronunciation (kiểm tra phát âm)
Ở bước này, giáo viên đọc lại từ, sau đó học sinh nghe và phát hiện ratrọng âm của từ
6, Bước 6 : Write on board (viết lên bảng)
Giáo viên viết từ nên bảng cùng nghĩa Tiếng Việt
7, Bước 7 : Copy down ( chép lại)
*Biện pháp 4 : Dùng các kĩ thuật để kiểm tra từ vựng
Để học sinh nhớ được sơ qua các từ vựng mà giáo viên vừa giới thiệu đểvận dụng vào nội dung bài học, tôi đã áp dụng một số các kĩ thuật để kiểm tranhững từ vừa học xong :
1.Rub out and remember ( xóa và nhớ từ)
- Giáo viên xóa từng từ một, những từ Tiếng Anh, giáo viên chỉ vào tiếngViệt, học sinh đọc nghĩa Tiếng Anh.Tiếp tục cho đến khi tất cả các từ trên bảng
đã xóa hết và học sinh đã ghi nhớ từ mới
- Giáo viên yêu cầu học sinh lên bảng viết lại những từ đó
2 Slap the board (đập lên bảng)
- Giáo viên đặt những từ mới vào các vòng tròn trên bảng có thể là TiếngAnh hoặc Tiếng Việt
- Giáo viên gọi học sinh thành hai nhóm, mỗi nhóm từ 4 đến 5 em.Yêu cầucác em đứng một khoảng cách bằng nhau