Tính cấp thiết của đề tài Mối quan hệ giữa việc phát triển cơ sở hạ tầng và sự nghiệp xóa đói giảm nghèo đã được chứng minh rất rõ ở Việt Nam thông qua một loạt các chương trình, dự án do Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (WB) và Chính phủ tài trợ. Cơ sở hạ tầng nông thôn được coi là điều kiện cần thiết cho sự thành công của sự nghiệp giảm nghèo. Thực trạng cơ sở hạ tầng ở khu vực miền núi phía Bắc lâu nay kém phát triển, những công trình hiện có chất lượng thấp do thực tế sử dụng quá tải so với tiêu chuẩn thiết kế kỹ thuật ban đầu. Tình trạng công tác duy tu bảo dưỡng định kỳ và thường xuyên chưa phù hợp vẫn luôn là thách thức ở khu vực này cộng với tình hình biến đổi khí hậu khắc nghiệt và đầy biến động. Thấy rõ vai trò đặc biệt quan trọng của sự nghiệp phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn các tỉnh miền núi phía Bắc, trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước đã tập trung, ưu tiên đầu tư cho lĩnh vực này. Tuy nhiên, việc đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn cần số vốn đầu tư rất lớn. Vì vậy, Đảng và Nhà nước chủ trương huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước để thực hiện những mục tiêu và nhiệm vụ phát triển nông nghiệp nông thôn. Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) bao gồm viện trợ không hoàn lại và cho vay ưu đãi là một trong những nguồn lực từ bên ngoài có những ưu việt nổi trội, rất phù hợp để hỗ trợ các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước nông nghiệp nghèo như Việt Nam. ODA được đánh giá là một trong những nguồn vốn quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế, phát triển nông nghiệp và đặc biệt là phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn. Trong giai đoạn 2011 - 2015, nguồn vốn ODA đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp Việt Nam nhiều nhất từ Ngân hàng Thế giới (WB), kế đó là Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB). Nguồn vốn ODA từ ADB đã đóng một vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng và phát triển của cơ sở hạ tầng nông thôn Việt Nam. Tuy nhiên, tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn này trong ngành phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn vẫn còn một số bất cập, đòi hỏi phải có một số giải pháp điều chỉnh phù hợp với thực tế của ngành tại Việt Nam.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN VỐN ODA VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG NÔNG THÔN KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC 4
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của nguồn vốn ODA 4
1.1.1 Khái niệm vốn ODA 4
1.1.2 Phân loại vốn ODA 5
1.1.3 Đặc điểm của nguồn vốn ODA 10
1.1.4 Các nguồn cung cấp ODA chủ yếu 11
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thu hút và sử dụng ODA 14
1.1.5.1 Các nhân tố khách quan 14
1.1.5.2 Các nhân tố chủ quan 15
1.2 Cơ sở hạ tầng và sự cần thiết phải xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn ở miền núi phía Bắc 17
1.2.1 Các đặc điểm về cơ sở hạ tầng nông thôn 17
1.2.2 Vai trò của cơ sở hạ tầng nông thôn đối với việc phát triển kinh tế xã hội ở vùng nông thôn 18
1.2.2.1 Đóng góp của cơ sở hạ tầng đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam 18
1.2.2.2 Cơ sở hạ tầng nông thôn với ngành tài nguyên thiên nhiên & nông nghiệp 20
1.2.2.3 Vai trò của cơ sở hạ tầng nông thôn miền núi phía Bắc đối với việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước 22
1.2.2.4 Sự cần thiết phải đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn ở miền núi phía Bắc 23
1.3 Dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn 24
1.3.1 Khái niệm dự án đầu tư phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn 24
1.3.2 Quy trình thu hút và sử dụng ODA trong các dự án đầu tư 25
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 31
Trang 2CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VIỆC THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA TRONG CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG NÔNG THÔN
Ở KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC 32
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc 32
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 32
2.1.1.1 Vị trí địa lý 32
2.1.1.2 Địa hình và khí hậu 32
2.1.1.3 Môi trường văn hóa xã hội 34
2.2 Hiện trạng cơ sở hạ tầng nông thôn và tình trạng đói nghèo ở miền núi phía Bắc .40
2.3 Tổng quan vốn ODA vào Việt Nam 43
2.3.1 Tình hình thu hút và giải ngân ODA tại Việt Nam 43
2.3.1 Thực trạng sử dụng ODA tại Việt Nam 47
2.3.1.1 Cơ cấu sử dụng ODA theo ngành, lĩnh vực tại Việt Nam 47
2.3.1.2 Cơ cấu sử dụng ODA theo vùng của Việt Nam 51
2.4 Thực trạng các dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn do ADB tài trợ ở khu vực miền núi phía Bắc 53
2.5 Đánh giá chung hoạt động thu hút vốn ODA vào các dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn ở miền núi phía Bắc 56
2.5.1 Kết quả đạt được 56
2.5.2 Tồn tại và nguyên nhân 59
2.5.2.1 Chính sách, thể chế và tổ chức bộ máy quản lý vốn ODA còn nhiều bất cập .59
2.5.2.2 Quy hoạch tổng thể phát triển giữa các vùng, các ngành thiếu đồng bộ 60
2.5.2.3 Tốc độ giải ngân chậm 60
2.5.2.4 Hạn chế trong công tác đấu thầu 61
2.5.2.5 Khó khăn trong công tác di dân, giải phóng mặt bằng 62
Trang 32.5.2.6 Hạn chế về trình độ cán bộ quản lý 63
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 64
CHƯƠNG III : MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN ODA TRONG CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG NÔNG THÔN MIỀN NÚI PHÍA BẮC 65
3.1 Quan điểm về sử dụng nguồn vốn ODA trong các dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn nước ta hiện nay 65
3.1.1 Quan điểm về thu hút và sử dụng vốn ODA 65
3.1.2 Nguyên tắc thu hút và sử dụng ODA trong nông nghiệp Việt Nam và trong các dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn 66
3.2 Phân tích cung - cầu về vốn ODA cho hạ tầng cơ sở nông thôn miền núi phía Bắc 66
3.3 Thuận lợi và khó khăn trong công tác thu hút ODA vào các dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn các tỉnh miền núi phía Bắc 72
3.4 Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn ODA vào các dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn ở miền núi phía Bắc 74
3.4.1 Giải pháp 1: Hoàn thiện môi trường pháp lý và chính sách tài chính về thu hút và sử dụng vốn ODA 74
3.4.2 Giải pháp 2: Quy hoạch tổng thể các ngành, lĩnh vực Nông nghiệp và phát triển nông thôn ở các tỉnh miền núi phía Bắc 78
3.4.3 Giải pháp 3: Hoàn thiện công tác đấu thầu 85
3.4.4 Giải pháp 4: Đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án 86
3.4.5 Giải pháp 5: Nâng cao năng lực quản lý dự án 88
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 95
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 4DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 1: 10 nhà tài trợ chính của Việt Nam giai đoạn năm 1993 - 2008 13
Bảng 2: Tình hình giải ngân ODA của nhóm sáu ngân hàng phát triển giai đoạn (1998-2009) 14
Bảng 3: ODA cam kết và giải ngân chung giai đoạn 1993-2009 44
Bảng 4: Cơ cấu ODA theo ngành, lĩnh vực giai đoạn 2000 - 2008 48
Bảng 5: Cơ cấu vốn ODA kí kết theo vùng do địa phương trực tiếp thụ hưởng thời kỳ 2001-2009 51
Bảng 6: Các dự án do ADB tài trợ cho khu vực miền núi phía Bắc 54
Bảng 7: Cơ cấu ODA chung theo lĩnh vực thời kì 2010-2015 81
Bảng 8: Cơ cấu ODA dự kiến cho NN & PTNT theo lĩnh vực thời kì 2010 - 2015 84
Biểu đồ 1: Mức ODA giải ngân giai đoạn 1993 - 2009 46 Biểu đồ 2: Cơ cấu ODA theo ngành và lĩnh vực thời kì 1993-2008 50
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Mối quan hệ giữa việc phát triển cơ sở hạ tầng và sự nghiệp xóa đói giảmnghèo đã được chứng minh rất rõ ở Việt Nam thông qua một loạt các chương trình,
dự án do Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (WB) và Chínhphủ tài trợ Cơ sở hạ tầng nông thôn được coi là điều kiện cần thiết cho sự thànhcông của sự nghiệp giảm nghèo Thực trạng cơ sở hạ tầng ở khu vực miền núi phíaBắc lâu nay kém phát triển, những công trình hiện có chất lượng thấp do thực tế sửdụng quá tải so với tiêu chuẩn thiết kế kỹ thuật ban đầu Tình trạng công tác duy tubảo dưỡng định kỳ và thường xuyên chưa phù hợp vẫn luôn là thách thức ở khu vựcnày cộng với tình hình biến đổi khí hậu khắc nghiệt và đầy biến động
Thấy rõ vai trò đặc biệt quan trọng của sự nghiệp phát triển cơ sở hạ tầngnông thôn các tỉnh miền núi phía Bắc, trong những năm vừa qua, Đảng và Nhànước đã tập trung, ưu tiên đầu tư cho lĩnh vực này Tuy nhiên, việc đầu tư cho pháttriển cơ sở hạ tầng nông thôn cần số vốn đầu tư rất lớn Vì vậy, Đảng và Nhà nướcchủ trương huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước để thực hiện những mụctiêu và nhiệm vụ phát triển nông nghiệp nông thôn
Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) bao gồm viện trợ không hoàn lại và chovay ưu đãi là một trong những nguồn lực từ bên ngoài có những ưu việt nổi trội, rấtphù hợp để hỗ trợ các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước nông nghiệp nghèonhư Việt Nam ODA được đánh giá là một trong những nguồn vốn quan trọng trong
sự nghiệp phát triển kinh tế, phát triển nông nghiệp và đặc biệt là phát triển cơ sở hạtầng nông thôn Trong giai đoạn 2011 - 2015, nguồn vốn ODA đầu tư vào lĩnh vựcnông nghiệp Việt Nam nhiều nhất từ Ngân hàng Thế giới (WB), kế đó là Ngân hàngPhát triển Châu Á (ADB) Nguồn vốn ODA từ ADB đã đóng một vai trò quan trọngtrong sự tăng trưởng và phát triển của cơ sở hạ tầng nông thôn Việt Nam Tuynhiên, tình hình thu hút và sử dụng nguồn vốn này trong ngành phát triển cơ sở hạ
Trang 6tầng nông thôn vẫn còn một số bất cập, đòi hỏi phải có một số giải pháp điều chỉnhphù hợp với thực tế của ngành tại Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp tăng cường thu hút ODA cho các dự án phát triển
cơ sở hạ tầng nông thôn các tỉnh miền núi phía Bắc trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Tình hình thu hút và sử dụng các nguồn vốn ODAtrong các dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn miền núi phía Bắc
Phạm vi nghiên cứu: Tập trung chủ yếu vào các khoản vay khu vực công củaADB trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn các tỉnh miền núi phía Bắc
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, với việc sử dụng các phương pháp cụthể như:
- Phương pháp tổng hợp;
- Phương pháp phân tích (phân tích định tính và phân tích thống kê)
- Ngoài ra, còn sử dụng phương pháp so sánh để làm sáng tỏ hơn các kết luậnrút ra trong từng hoàn cảnh cụ thể
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Hệ thống hoá lý luận về vốn ODA và khẳng định vai tròvốn ODA, đặc biệt ODA của ADB đối với sự phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn cáctỉnh miền núi phía Bắc
Trang 7Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở phân tích thực trạng tình hình thu hút và sửdụng vốn ODA, đánh giá những kết quả đạt được, tồn tại từ đó đề xuất một số giảipháp nhằm tăng cường thu hút vốn ODA cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầngnông thôn các tỉnh miền núi phía Bắc Nó sẽ giúp cho Chính phủ, các Bộ, Ngành,địa phương đề ra phương hướng và kế hoạch để thu hút nhiều hơn nữa nguồn vốnODA cho ngành cơ sở hạ tầng của Việt Nam nói chung và khu vực miền núi phíaBắc nói riêng.
6 Kết cấu luận văn
- Tên Luận văn: " Một số giải pháp tăng cường thu hút vốn ODA cho các dự
án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn các tỉnh miền núi phía Bắc”
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về nguồn vốn ODA và sự cần thiết phải đầu tư phát triển
cơ sở hạ tầng nông thôn ở miền núi phía Bắc
Chương 2: Thực trạng việc thu hút và sự dụng nguồn vốn ODA trong các Dự án
phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn ở khu vực miền núi phía Bắc
Chương 3: Một số giải pháp tăng cường thu hút ODA cho các dự án phát triển cơ sở
hạ tầng nông thôn ở khu vực miền núi phía Bắc
Trang 8CHƯƠNG I:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN VỐN ODA VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG NÔNG THÔN KHU VỰC
MIỀN NÚI PHÍA BẮC
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của nguồn vốn ODA
1.1.1 Khái niệm vốn ODA
Thuật ngữ hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance ODA) xuất hiện từ sau chiến tranh Thế giới II và gắn liền với yếu tố chính trị Sauchiến tranh thế giới thứ hai, nhiều nước bị tàn phá nặng nề về kinh tế, nhất là cácnước châu Âu Trong lúc đó, Mỹ không những không bị ảnh hưởng bởi chiến tranh
-mà còn giàu lên nhờ bán vũ khí Với sức mạnh vượt trội về mọi mặt, đặc biệt là vềkinh tế, Mỹ đã đưa ra kế hoạch Marshall hỗ trợ cho các nước Tây Âu sau chiếntranh Kế hoạch này vừa là để trợ giúp các nước Tây Âu khôi phục kinh tế nhưngcũng nhằm chi phối, kiểm soát các nước này Vì vậy, bản chất của hỗ trợ phát triểnchính thức là nguồn tài trợ của nước này dành cho nước khác nhằm hỗ trợ và thúcđẩy cho quốc gia đó phát triển về kinh tế xã hội Còn nguồn gốc sâu xa của sự rađời ODA chính là do yếu tố chính trị
Đến nay, thuật ngữ ODA được sử dụng khá phổ biến ODA được hiểu lànguồn tài chính do các cơ quan chính thức (các Chính phủ, các tổ chức phi Chínhphủ, các tổ chức quốc tế hoặc các địa phương) cung cấp cho các nước chậm và đang
phát triển, nhằm thúc đẩy kinh tế và phúc lợi ở các nước này [16,tr.282] Mặc dù
gọi là hỗ trợ phát triển, nhưng phần vốn cho không chỉ chiếm 25% vốn cung cấp.Chính vì thế, cần có sự quan niệm đầy đủ và đúng đắn về nguồn vốn này, không sửdụng lãng phí ODA
Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD) định nghĩa: “ODA là mộtgiao dịch chính thức được thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triểnkinh tế - xã hội của các nước đang phát triển hoặc kém phát triển, điều kiện tài
Trang 9chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố hỗ trợ không hoàn lại chiếm
ít nhất 25%” [15, tr.6]
Nghị định 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ Việt Nam (thaythế cho Nghị định 17/2001/NĐ-CP ngày 14/05/2001) định nghĩa: Hỗ trợ phát triểnchính thức (ODA) được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặcChính phủ Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là Chính phủnước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên Quốc gia hoặc liên
Chính phủ [10, tr.5].
Như vậy, có thể hiểu khái niệm về ODA như sau: Hỗ trợ phát triển chínhthức (ODA) là nguồn hỗ trợ (tiền tệ, vật chất, công nghệ) của các nước phát triển,các tổ chức tài chính quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ (gọi chung là các đối tácviện trợ nước ngoài) dành cho các nước đang và chậm phát triển (gọi là bên nhậnviện trợ) nhằm giúp cho các nước ngày tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững
1.1.2 Phân loại vốn ODA
1.1.2.1 Theo tính chất
+ Viện trợ không hoàn lại
Là loại ODA mà bên nước nhận không phải hoàn lại, nguồn vốn nầy nhằm
để thực hiện các dự án ở nước nhận vốn ODA, theo sự thoả thuận trước giữa cácbên Có thể xem viện trợ không hoàn lại như một nguồn thu ngân sách của nhànước, được cấp phát lại theo nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Viện trợ không hoàn lại chiếm 25% tổng số ODA trên thế giới và được ưutiên cho những dự án về các lãnh vực như y tế, dân số, giáo dục, môi trường
+ Viện trợ có hoàn lại ( còn gọi là tín dụng ưu đãi)
Vốn ODA với một lãi suất ưu đãi và một thời gian trả nợ thích hợp, tín dụng
ưu đãi chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng số vốn ODA trên thê giới Nó không được
sử dụng cho mục tiêu xã hội, môi trường mà thường được sử dụng cho các dự án về
cơ sở hạ tầng thuộc các lãnh vực giao thông vân tãi, nông nghiệp, thủy lợi, nănglượng làm nền tảng vững chắc cho ổn định và tăng trưởng kinh tế Các điều kiện
ưu đãi bao gồm:
Trang 10 Lãi suất thấp
Thời gian trả nợ dài
Có khoảng thời gian không trả lãi hoặc trả nợ
+ Viện trợ hỗn hợp: là các khoản vừa cho không, vừa cho vay (có thể cho
vay có ưu đãi, hoặc cho vay thông thường), thậm chí có loại ODA vốn vay kết hợpvới 3 loại hình gồm một phần ODA không hoàn lại, một phần vốn ưu đãi và mộtphần tín dụng thương mại Hiện nay, yếu tố không hoàn lại thường chiếm khoảng20- 25% trong các dự án ODA
Cách phân loại này giúp các quốc gia nắm rõ được tình trạng nợ của quốc giamình trong từng thời kì, qua đó mà xây dựng kế hoạch huy động và sử dụng từngnguồn cho phù hợp
1.1.2.2 Theo mục đích sử dụng
- Hỗ trợ đầu tư phát triển (chiếm 50-60%): Vốn này được chính phủ các
nước tiếp nhận trực tiếp tổ chức đầu tư, quản lý dự án và có trách nhiệm trả nợ phầnvốn vay, bao gồm: (i) đầu tư các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng vật chất; (ii) đầu tưcác dự án phát triển bền vững như tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ tàinguyên môi trường; (iii) đầu tư các dự án thuộc lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệphoặc linh vực mũi nhọn của nền kinh tế Tuy nhiên, trong loại hình thứ ba này,Chính phủ giao cho các doanh nghiệp tổ chức kinh doanh, đầu tư, quản lý dự án và
có trách nhiệm thu hồi vốn trả nợ
- Hỗ trợ cán cân thanh toán (còn gọi là vốn tín dụng điều chỉnh cơ cấu tài chính): Loại vốn này giúp chính phủ các nước thanh toán các khoản nợ đến hạn và
các loại lãi suất được tính lãi từ những năm trước đó (cộng dồn) Trong một sốtrường hợp, đây là vốn tài trợ giúp các nước khắc phục khủng hoảng tài chính (nhưIMF cho Inđônêxia, Hàn Quốc, Thái Lan vay trong cuộc khủng hoảng tài chính -tiền tệ năm 1997-1998) Nguồn này chủ yếu được lấy từ ODA đa phương
Trang 11- Hỗ trợ nhập khẩu (viện trợ hàng hoá): Chính phủ nước nhận ODA tiếp
nhận một lượng hàng hoá có giá trị tương đương với các khoản cam kết, bán cho thịtrường nội địa và thu nội tệ cho ngân sách
- Hỗ trợ theo chương trình: Là hỗ trợ theo khuôn khổ đạt được bằng Hiệp
định với các nhà tài trợ nhằm cung cấp một khối lượng ODA trong một khoảng thờigian mà không phải xác định trước một cách chính xác nó sẽ được sử dụng như thếnào Đây là loại hình ODA trong đó các bên lồng ghép một hay nhiều mục tiêu vớitập hợp nhiều dự án Loại hỗ trợ này hiện nay Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
và Ngân hàng Thế giới (WB) đang nghiên cứu áp dụng trong lĩnh vực Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn để tăng hiệu quả sử dụng nguồn ODA, tránh sự chồng chéo
- Hỗ trợ theo dự án: Tức là trước khi nhận được khoản hỗ trợ, nước nhận hỗ
trợ phải chuẩn bị chi tiết dự án Loại hình hỗ trợ này chiếm tỷ trọng lớn nhất trongnguồn ODA và chủ yếu tập trung vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội nhưgiao thông, thuỷ lợi, nước sạch, giáo dục, y tế và môi trường Đây thường là nhữngkhoản vay ưu đãi
- Hỗ trợ kỹ thuật: là các khoản vốn tài trợ để đào tạo chuyên gia, nâng cao
năng lực tổ chức và quản lý, thực hiện cải cách thể chế và cơ cấu kinh tế Mục đíchcủa viện trợ kỹ thuật là giúp các cơ quan quản lý nhà nước của các nước nhận vốnnâng cao năng lực quản lý của mình, bao gồm cả năng lực sử dụng viện trợ tàichính Về mặt kinh tế, hình thức này không có đầy đủ các yếu tố của hoạt động đầu
tư và do vậy thường là các khoản viện trợ không hoàn lại (thường chiếm từ 20- 30%tổng vốn ODA)
- Viện trợ nhân đạo và cứu trợ: Vốn được sử dụng cho các mục đích cứu trợ
đột xuất, cứu đói, khắc phục thiên tai, chiến tranh Phần này chiếm một tỷ trọng nhỏtrong nguồn vốn ODA
- Viện trợ quân sự: Chủ yếu là viện trợ song phương cho các nước đồng
minh trong thời kỳ chiến tranh lạnh Mỹ và Liên Xô cũ là hai nước trước đây viện
Trang 12trợ quân sự nhiều nhất Từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, viện trợ quân sự giảmmạnh.
1.1.2.3 Theo điều kiện
- ODA không ràng buộc: Bên nhận ODA sẽ được sử dụng mà không bị ràng
buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng
- ODA có ràng buộc: Trong quá trình sử dụng, bên nhận ODA bị ràng buộc
bởi những yếu tố như: (i) ràng buộc vào nguồn sử dụng: có nghĩa là dùng ODA đểmua sắm hàng hoá hay thiết bị, dịch vụ, thì việc mua sắm đó chỉ giới hạn trong một
số công ty trợ (đối với viện trợ song phương) hoặc công ty của các nước thành viên(đối với viện trợ đa phương); (ii) ràng buộc vào mục đích sử dụng: chỉ được sửdụng ODA vào một số lĩnh vực nhất định, hoặc một số dự án cụ thể
- ODA có ràng buộc một phần: Một phần chỉ ở các nước viện trợ, phần còn
lại ở bất cứ nơi nào
1.1.2.4 Theo hình thức
- Hỗ trợ dự án: sử dụng ODA vào các dự án cụ thể Loại hình này có thể hỗ
trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, có thể cho không hoặc cho vay ưu đãi Đây là hìnhthức chủ yếu của ODA
- Hỗ trợ phi dự án, gồm có: (i) hỗ trợ cán cân thanh toán: có thể là hỗ trợ tài
chính trực tiếp (chuyển giao tiền tệ) hoặc hỗ trợ hàng hoá, hỗ trợ nhập khẩu Ngoại
tệ, hàng hoá được chuyển vào các nước có thể được dùng để hỗ trợ ngân sách; (ii)
hỗ trợ trả nợ: các nước đang phát triển thường có số nợ lớn, mà khả năng trả nợkém Khoản này sẽ giúp các nước trả bớt một phần nợ để có thể tiếp tục được vaythêm hoặc giảm bớt gánh nặng nợ nần, giảm sức ép đối với nền kinh tế; (iii) viện trợchương trình: là khoản ODA dành cho một mục đích rộng lớn; trong một thời giannhất định mà không phải xác định một cách chính xác nó sẽ được sử dụng như thếnào
1.1.2.5 Theo cơ chế quản lý
Trang 13- ODA do quốc gia điều hành: Đây là dạng ODA mà nước tiếp nhận vốn
được trực tiếp điều hành việc thực hiện dự án trên cơ sở văn kiện dự án đã được kýkết, hay được thoả thuận bằng những Hiệp định, văn bản thoả thuận riêng Nhà tàitrợ không can thiệp sâu vào công việc điều hành cũng như cơ chế quản lý tài chính
kế toán của bên nhận tài trợ liên quan đến dự án được tài trợ Tuy nhiên, nhà tài trợthực hiện việc kiểm tra giám sát thông qua các đoàn làm việc theo định kỳ hoặcthông qua một tổ chức tư vấn quốc tế Loại này thường là ODA vay (cả songphương và đa phương), ODA không hoàn lại của các tổ chức quốc tế dành cho đầu
tư xây dựng cơ bản
- ODA do nhà tài trợ quản lý toàn bộ: Loại này nhà tài trợ quản lý toàn bộ
nguồn kinh phí dự án mà họ tài trợ Tất cả các khoản chi tiêu cho dự án đều do nhàtài trợ quyết định Trách nhiệm cụ thể của các bên trong việc thực hiện và quản lýtài chính dự án được qui định trong văn kiện dự án Thông thường nhà tài trợ trựctiếp thanh toán các khoản phát sinh liên quan đến dự án tài trợ tại nước họ mở tàikhoản tại Ngân hàng thương mại của nước nhận tài trợ tại nước họ (lương chuyêngia, trang thiết bị, chi phí đi lại), trường hợp đặc biệt thì họ mở tài khoản tại Ngânhàng thương mại của nước nhận tài trợ nhưng Chủ tài khoản là người đại diện củabên tài trợ Dạng này chủ yếu là ODA không hoàn lại song phương, tài trợ các dự
án hỗ trợ kỹ thuật, tăng cường năng lực thể chế sử dụng chuyên gia nước ngoài
- ODA theo cơ chế đồng quản lý: Đây là dạng ODA đồng giám đốc, một đại
diện cho bên tài trợ, một đại diện cho bên nhận tài trợ Với dạng dự án này thôngthường mọi hoạt động của dự án được quản lý và xử lý theo một cơ chế thống nhất
và được đồng thuận của đại diện cả hai bên Thuộc loại này gồm các dự án hỗ trợtổng hợp (vừa có chuyên gia, vừa trang bị kỹ thuật, vừa đào tạo tập huấn, chuyểngiao công nghệ) do một số nước tài trợ như Đan Mạch, EU, và các tổ chức quốc tếcủa Liên hợp quốc
Dựa trên những tiêu thức khác nhau để phân phối vốn ODA thành các loạinhư trên là nhằm giúp cho quá trình vận động, thu hút nguồn vốn, xây dựng dự án,
Trang 14quản lý điều hành và xây dựng cơ chế chính sách vĩ mô của Nhà nước liên quan đếnODA.
1.1.3 Đặc điểm của nguồn vốn ODA
- ODA là nguồn vốn hợp tác phát triển: ODA là hình thức hợp tác phát triển,
của các nước phát triển, các tổ chức quốc tế với các nước đang phát triển hoặc chậmphát triển Như vậy, ODA sẽ bao gồm viện trợ không hoàn lại và các khoản vay vớiđiều kiện ưu đãi của Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế
- ODA là nguồn vốn có nhiều ưu đãi: Với mục tiêu hỗ trợ cho các quốc gia
đang phát triển hoặc kém phát triển, ODA mang tính ưu đãi hơn bất kỳ hình thức tàitrợ nào khác Tính chất ưu đãi của nguồn vốn này được thể hiện qua những ưu điểmsau:
Thứ nhất, lãi suất thấp: Các khoản vay ODA thường có mức lãi suất rất thấp,
ví dụ như lãi suất các khoản vay ODA của Nhật Bản dao động từ 0,75 – 2,3%/ năm;mức lãi suất của Ngân hàng Thế giới (WB) là 0%/năm nhưng phải trả phí dịch vụ là0,75%/năm; mức lãi suất của Ngân hàng Phát triển Châu Á thường từ 1-1,5%/năm
Thứ hai, thời hạn vay dài: Các khoản vay của Nhật Bản thường có thời hạn dài là
30 năm; Ngân hàng Thế giới là 40 năm; Ngân hàng Phát triển Châu Á là 32 năm
Thông thường ODA bao gồm một phần là viện trợ không hoàn lại hay còngọi là “thành tố hỗ trợ” đạt ít nhất 25% của khoản vay “Thành tố hỗ trợ” được tínhtoán trên công thức dựa vào các yếu tố như lãi suất viện trợ, thời gian vay và thờigian ân hạn
Thứ ba, thời gian ân hạn dài: Đối với các khoản vay ODA thời gian từ khi
vay đến khi trả vốn gốc đầu tiên tương đối dài như đối với Nhật Bản và Ngân hàngThế giới là 10 năm, Ngân hàng Phát triển Châu Á là 8 năm
- Nguồn vốn ODA thường đi kèm theo các điều kiện ràng buộc: Nhìn chung, các
chủ thể cung cấp ODA đều có chính sách riêng và những qui định ràng buộc khác nhauđối với các nước tiếp nhận Họ muốn vừa đạt được ảnh hưởng về chính trị, vừa đem lại
Trang 15lợi nhuận cho hàng hoá và dịch vụ nước họ Do vậy, ODA luôn bị ràng buộc trực tiếphoặc gián tiếp Đi kèm theo với ODA bao giờ cũng có những ràng buộc nhất định vềchính trị, kinh tế hoặc khu vực địa lý.
- Nguồn vốn ODA có tính nhạy cảm: Vì ODA là một phần GDP của nước tài
trợ nên ODA rất nhạy cảm với dư luận xã hội ở nước tài trợ Những nước tài trợ lớntrên Thế giới có luật về ODA, Quốc hội kiểm soát chặt chẽ Chính phủ trong việccung cấp tài trợ ODA mang tính nhân đạo
- Về điều kiện của giải ngân ODA: Một đặc điểm nổi bật của nguồn vốn
ODA đó là vấn đề giải ngân ODA Nó được coi là thước đo năng lực tiếp nhận và
sử dụng hỗ trợ phát triển chính thức, do vậy thường xuyên được Chính phủ cácnước nhận tài trợ và các nhà tài trợ quan tâm Đối với loại dự án Quốc gia điều hành(chủ yếu là ODA vay ưu đãi) thì điều kiện giải ngân thường là điều kiện khung và
có nhiều hình thức giải ngân để bên tiếp nhận lựa chọn sao cho việc giải ngân thuậntiện và nhanh nhất Loại ODA do nhà tài trợ trực tiếp quản lý thì điều kiện giảingân do bên tài trợ qui định một cách chi tiết và hình thức giải ngân chủ yếu làthanh toán trực tiếp từ người (tổ chức) đại diện bên tài trợ cho đối tác liên quan đến
dự án được tài trợ, cơ quan đại diện bên nhận tài trợ (cơ quan dự án) không được
mở tài khoản để tiếp nhận tiền tài trợ, không trực tiếp thanh toán các khoản chi tiêuliên quan đến dự án
1.1.4 Các nguồn cung cấp ODA chủ yếu
Hội nghị các nhà tài trợ dành cho Việt Nam họp tại Pa-ri diễn ra vào tháng
11 năm 1993 đã đánh dấu quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và Cộng đồngtài trợ quốc tế được khôi phục hoàn toàn
Trong thời gian qua, công tác vận động ODA luôn được chú trọng theo chủtrương đối ngoại của Đảng và Nhà nước: “Việt Nam sẵn sàng là đối tác tin cậy củacác nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”
Cho đến nay, 14 Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ dành choViệt Nam (Hội nghị CG) đã được tổ chức Đây là diễn đàn quan trọng được tổ chứcthường niên để trao đổi ý kiến giữa Chính phủ và Cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế
Trang 16tại Việt Nam về quá trình phát triển của Việt Nam và hoạt động điều phối ODA để
hỗ trợ quá trình này Ngoài Hội nghị CG thường niên còn tổ chức Hội nghị CG giữa
kỳ không chính thức tại các địa phương, tạo điều kiện cho các nhà tài trợ nắm bắtnhu cầu phát triển ưu tiên, cũng như tiếp xúc với những người thụ hưởng viện trợ.Công tác vận động ODA còn được thực hiện thông qua các hoạt động đối ngoại củacác vị lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ, các Bộ,ngành và địa phương, các đoàn thể chính trị, xã hội, các cơ quan đại diện ngoại giaonước ta ở nước ngoài
Hiện nay ở Việt Nam có 51 nhà tài trợ song phương và 23 nhà tài trợ đaphương hoạt động ở hầu hết các lĩnh vực ưu tiên của Việt Nam Trong đó Nhật Bản
là đối tác lớn nhất, riêng vốn ODA của Nhật Bản chiếm tới 42.31% tổng ODA củaViệt Nam, tiếp đến là ngân hàng thế giới (WB) với 26.61% và ngân hàng phát triểnChâu Á (ADB) với 14.49% Xét theo nhà tài trợ song phương thì đứng đầu là NhậtBản đứng đầu với 77.18%, tiếp theo là Pháp (6.17%), Đức (3.6%) Xét theo tài trợ
đa phương thì WB và ADB là hai đối tác lớn nhất
Trang 17Bảng 1: 10 nhà tài trợ chính của Việt Nam giai đoạn năm 1993 - 2008
Đơn vị: Triệu USD, %
Nhà tài trợ Tổng giá trị ODA (triệu USD) Tỷ trọng (%)
Nguồn: Tổng cục thống kê
Nhật Bản là đối tác lớn nhất của Việt Nam, trong đó ngân hàng quốc tế NhậtBản (JBIC) chiếm 36% tổng dự án, tương đương 83% tổng vốn giải ngân (10455.66triệu USD) Trong số các dự án của Nhật Bản 47% là dành cho phát triển cơ sở hạtầng với 6688.11 triệu USD, tương đương 78.96 tổng ODA của Nhật Bản cho ViệtNam
WB là nhà tài trợ lớn thứ hai với 7026.39 triệu USD với các dự án sử dụngvốn ODA tập trung chủ yếu cho hỗ trợ chính sách (chiếm 58% tổng số vón giảingân và 60% tổng vốn vay) Tiếp theo là phát triển cơ sở hạ tầng chiếm 30% tổngvốn giải ngân và 24% tổng vốn vay
ADB là nhà tài trợ lớn thứ ba, chiếm 14.49% tổng vốn ODA Các dự án củaADB tập trung nhiều nhất vào đầu tư cơ sở hạ tầng 3593.49 triệu USD chiếm 44%tổng vốn giải ngân và 22% tổng số dự án; tiếp theo là phát triển nông thôn chiếm26% tổng vốn giải ngân, 20% tổng dự án; thứ ba là hỗ trợ chính sách chiếm 24%tổng vốn giải ngân
Bảng 2: Tình hình giải ngân ODA của nhóm sáu ngân hàng phát triển
giai đoạn (1998-2009)
Đơn vị: Triệu USD
Trang 18giải ngân
Nguồn: Phòng kế toán BQL dự án
Các số liệu về tình hình giải ngân của nhóm sáu ngân hàng phát triển trong
11 năm qua cho thấy năm 1998 mức giải ngân đạt được là lớn nhất Điều này có ýnghĩa quan trọng vì nhóm sáu ngân hàng phát triển cung cấp khoảng 80% vốn ODAcho Việt Nam với nhiều chương trình, dự án quy mô lớn giúp Việt Nam phát triển
cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thu hút và sử dụng ODA
1.1.5.1 Các nhân tố khách quan
- Tình hình kinh tế chính trị ở quốc gia tài trợ
Các yếu tố như tăng trưởng kinh tế, tổng thu nhập quốc dân, lạm phát thấtnghiệp hay những thay đổi chính trị có tác động đến các hoạt động hỗ trợ phát triểncho các quốc gia khác Chẳng hạn, đối với các quốc gia cung cấp ODA do nền kinh
tế gặp khủng hoảng, tỷ lệ thất nghiệp tăng hay thay đổi về thể chế,v.v có thể làmcho mức cam kết ODA hàng năm của quốc gia này giảm
- Các chính sách, quy chế của nhà tài trợ
Nhìn chung, mỗi nhà tài trợ đều có chính sách và thủ tục riêng đòi hỏi cácquốc gia tiếp nhận viện trợ phải tuân thủ khi thực hiện các chương trình, dự án sử
Trang 19dụng vốn ODA của họ Các thủ tục này khác nhau cơ bản ở một số lĩnh vực nhưxây dựng báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, các thủ tục về đấu thầu, các thủ tục vềgiải ngân hay chế độ báo cáo định kỳ,v.v Các thủ tục này khiến cho các quốc giatiếp nhận viện trợ lúng túng trong quá trình thực hiện dự án Tiến độ các chươngtrình dự án thường bị đình trệ, kéo dài hơn so với dự kiến, giảm hiệu quả đầu tư.
Vì vậy, việc hiểu biết và thực hiện đúng các chủ trương hướng dẫn và quy địnhcủa từng nhà tài trợ là một điều vô cùng cần thiết đối với các quốc gia tiếp nhậnviện trợ
- Môi trường cạnh tranh
Thời gian gần đây, có thể thấy tổng lượng ODA trên Thế giới đang có chiềuhướng suy giảm trong khi đó nhu cầu ODA của các nước đang phát triển tăng liêntục, nhất là sau các cuộc khủng hoảng kinh tế và các cuộc sung đột vũ trang khuvực Hiện đang diễn ra cuộc cạnh tranh quyết liệt giữa các nước đang phát triển đểtranh thủ nguồn vốn ODA Vì vậy, để thu hút được những nguồn vốn ODA trongthời gian tới đòi hỏi các quốc gia tiếp nhận viện trợ phải không ngừng nâng cao hơnnữa trình độ kinh nghiệm và năng lực của họ trong công tác quản lý, điều phối vàthực hiện các chương trình, dự án sử dụng nguồn vốn này
1.1.5.2 Các nhân tố chủ quan
Thông thường các nhà tài trợ đầu tư vốn ODA vào các nước có mối quan hệchính trị tốt và sử dụng vốn ODA có hiệu quả Vì vậy, các nhân tố kinh tế chính trịcủa nước nhận tài trợ có ảnh hưởng lớn đến thu hút nguồn vốn ODA Do đó, cácnhân tố chủ quan ảnh hưởng đến thu hút nguồn vốn ODA phải kể đến là:
- Tình hình kinh tế, chính trị ở quốc gia tiếp nhận viện trợ
Trong môi trường này, các yếu tố như tăng trưởng kinh tế, tổng thu nhậpquốc dân, lạm phát, thất nghiệp, cơ chế quản lý kinh tế, sự ổn định chính trị,v.v sẽ
có những tác động trực tiếp đến quá trình thu hút và sử dụng vốn ODA Ví dụ, ở cácquốc gia có cơ chế quản lý kinh tế tốt, 1% GDP viện trợ dẫn đến mức tăng trưởng
Trang 20bền vững tương đương với 0,5 % GDP Vì vậy, ổn định về mặt chính trị, tăngtrưởng về kinh tế là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng để vận động và thuhút ODA cho đất nước.
- Qui trình và thủ tục của nước tiếp nhận viện trợ
Đây là nhân tố quan trọng nhất tác động trực tiếp tới hoạt động thu hút và sửdụng vốn ODA Ở những quốc gia có qui trình và thủ tục thông thoáng, thuận lợicho công tác thực hiện các chương trình, dự án ODA thì ở nơi đó các chương trình,
dự án ODA sẽ triển khai thuận lợi, đúng tiến độ và phát huy hiệu quả tốt qua đó sẽlàm tăng khả năng thu hút thêm nguồn vốn này
- Năng lực của cán bộ hoạt động trong lĩnh vực thu hút và sử dụng vốn ODA
Năng lực của các cán bộ thực hiện chương trình, dự án ODA cũng là mộtnhân tố ảnh hưởng không nhỏ tới công tác thu hút và sử dụng vốn ODA Các cán bộhoạt động trong lĩnh vực thu hút và sử dụng vốn ODA cần phải có năng lực về đàmphán, ký kết dự án, triển khai thực hiện quản lý vốn.v.v đòi hỏi các cán bộ cần cókiến thức chuyên môn sâu về pháp luật, kinh tế, kỹ thuật, ngoại ngữ Bởi vì trênthực tế, các hoạt động thực hiện dự án vừa phải tuân thủ các qui định, luật pháp củaChính phủ Việt Nam vừa phải tuân thủ các qui định, hướng dẫn của nhà tài trợ.Ngoài những năng lực kể trên về năng lực công tác chuyên môn đòi hỏi các cán bộquản lý dự án nhất thiết phải có những phẩm chất đạo đức tốt
- Năng lực tài chính của các nước tiếp nhận viện trợ ODA
Đối với các chương trình dự án ODA để tiếp nhận 1 USD vốn ODA thì cácquốc gia tiếp nhận phải có ít nhất 15% vốn đối ứng (khoảng 0,15 USD) Ngoài ra,cần một lượng vốn đầu tư từ ngân sách cho công tác chuẩn bị các chương trình dự
án cũng không nhỏ Vì vậy, để thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA cácquốc gia tiếp nhận vốn phải biết tăng cường và phát huy năng lực tài chính củamình là chính
Trang 211.2 Cơ sở hạ tầng và sự cần thiết phải xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn ở miền núi phía Bắc
1.2.1 Các đặc điểm về cơ sở hạ tầng nông thôn
- Tính định hướng
Cơ sở hạ tẩng nông thôn có tính định hướng vì:
Vốn đầu tư cao, thời gian sử dụng lâu dài, khả năng thu hồi vốn thấp lànguyên nhân khiến việc đầu tư phát triển CSHT nông thôn chủ yếu thuộc về Nhànước Ngoài ra, hệ thống CSHT nông thôn phát triển còn tạo điều kiện thuận lợi chocác hoạt động KT-XH, nâng cao đời sống vật chất của người dân, mở rộng giao lưukinh tế - văn hóa giữa các vùng miền trong cả nước, nhất là khoảng cách giữa thànhthị và nông thôn
Vì vậy, CSHT nông thôn phải được hình thành và phát triển trước một bước
để tạo tiền đề cho các hoạt động KT_XH khác Sự phát triển của CSHT nông thôn
về quy mô, chất lượng còn thể hiện rất rõ tính định hướng phát triển KT-XH củatừng vùng, từng miền, từng địa phương Điều cơ bản khi tiến hành đầu tư phát triểnCSHT nông thôn phải thực hiện tốt chiến lược ưu tiên, tập trung xây dựng các côngtrình, hạng mục cần thiết trước nhằm nâng cao tính tiên phong định hướng và giảmnhẹ nhu cầu huy động vốn đầu tư
- Tính địa phương, tính vùng và tính khu vực
Xây dựng và phát triển CSHT nông thôn mang tính vùng và địa phương rõnét Điều này thể hiện trong quá trình tạo lập, xây dựng cũng như tổ chức, quả lý và
Trang 22sử dụng chúng Do địa bàn nông thôn rộng, dân cư phân bố không đều và điều kiệnsản xuất nông nghiệp đa dạng, phức tạp lại có sự khác biệt giữa các địa phương, cáckhu vực khác nhau Xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn phụ thuộc vào nhiều yếu tốnhư địa lý, địa hình, trình độ phát triển…
Vì thế, trong việc phân bố hệ thống CSHT nông thôn, thiết bị, đầu tư và sửdụng nguyên vật liệu phải đặt trong hệ thống chung của quốc gia đồng thời phù hợpvới đặc điểm, điều kiện từng địa phương, từng vùng, từng lãnh thổ
- Tính xã hội và tính cộng đồng cao
Trong sử dụng, hầu hết hệ thống CSHT nông thôn đều được sử dụng nhằmphục vụ việc đi lại, buôn bán, sản xuất, nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của người dân,giao lưu của người dân với các cơ sở kinh tế, dịch vụ Do vậy các công trình nàythường là những công trình công cộng, phục vụ cho đa số người dân, không loại trừbất kỳ ai
Nguồn vốn xây dựng các công trình này được huy động từ rất nhiều thànhphần trong nền kinh tế trong đó sự đóng góp của người dân có vai trò vô cùng quantrọng Bởi vậy người dân có quyền tham gia giám sát từ khâu xây dựng, quản lý,vận hành, bảo dưỡng các hệ thống CSHT nông thôn
1.2.2 Vai trò của cơ sở hạ tầng nông thôn đối với việc phát triển kinh tế xã hội
ở vùng nông thôn
1.2.2.1 Đóng góp của cơ sở hạ tầng đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
Củng cố mức tăng trưởng kinh tế ấn tượng của Việt Nam là một chươngtrình đầu tư quan trọng cấp quốc gia, đặc biệt trong lĩnh vực CSHT Trong mỗi năm
từ năm 1997, tổng đầu tư cho CSHT đã vượt mức tăng trưởng GDP (trung bìnhdưới 10% GDP mỗi năm – cao hơn bất kỳ nước nào ở Đông Á, kể cả Trung Quốc,chiếm 45% tổng đầu tư của Nhà Nước trong giai đoạn này)1
Xây dựng CSHT đã đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam dướirất nhiều hình thức Ví dụ, (i) từ năm 1990 mạng lưới đường bộ đã tăng hơn gấp đôi
về chiều dài, và chất lượng cũng tăng lên đáng kể, (ii) tất cả khu đô thị và gần 90%1
Trang 23khu vực nông thôn đã có điện, (iii) trên 50% dân số có nước sạch để sử dụng (tănggấp đôi so với năm 1993), (iv) 25% dân số có cầu tiêu hợp vệ sinh (so với chỉ 10%năm 1993).
Trong rất nhiều nghiên cứu về sự đóng góp của giao thông và CSHT đếntăng trưởng và giảm nghèo ở Việt Nam nói chung, ‘Diễn đàn phát triển Grips’(2003) cho thấy CSHT giao thông quy mô lớn đang phát triển ở Việt Nam đã gópphần mở ra những cơ hội làm ăn mới, thúc đẩy đa dạng hóa nguồn thu nhập và tạo
ra nhiều việc làm phi nông nghiệp Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng những CSHTnày đã mở rộng các quan hệ kinh tế giữa các trung tâm phát triển và vùng nông thônphụ cận, chứng minh tầm quan trọng sống còn của việc liên kết các vùng xa xôi hẻolánh với những khu vực đông đúc
Mặc dù hiện đang có những nghi ngờ về khả năng Việt Nam có thể tiếp tụcduy trì hiệu quả của đồng vốn đầu tư vào CSHT (vì khi nguồn vốn đầu tư vàoCSHT tăng lên thì hiệu suất biên tế của vốn đầu tư hàng năm vào CSHT có xuhướng giảm – gọi là Tỉ Suất Sản Phẩm Trên Vốn – ICOR), nhiều nghiên cứu đãchứng minh hiệu quả của các hoạt động đầu tư vào tất cả các loại hình CSHT (cả sựgia tăng quy mô tuyệt đối trong nguồn vốn lẫn hiệu quả đều rất đáng kể)2 Chỉ sốICOR của Việt Nam hiện nay là xấp xỉ 6, tăng đáng kể so với con số 3 cách đây mộtthập kỷ Mặc dù vậy, việc giảm lợi nhuận có xu hướng xảy ra khi mạng lưới CSHTđược mở rộng thêm mở một con đường cấp phối mới tới một làng nông thôn có thểmang lại lợi ích biên tế cao, nhờ tạo điều kiện đến chợ dễ dàng; sau đó tráng nhựacon đường này có thể tăng thêm đôi chút lợi ích nhưng chắc chắn không mang lạinhiều lợi ích biên tế như lúc mới mở đường3
Ở Việt Nam (cũng như đối với bất cứ nước nào khác), sau khi hoàn thiệnmạng lưới CSHT quốc gia (đặc biệt đối với đường nông thôn) và/hoặc đảm bảo khảnăng tiếp cận các dịch vụ dễ dàng, bước tiếp theo sẽ là chuyển trọng tâm chú ý sangmục tiêu vận hành và bảo dưỡng sao cho có hiệu quả Nói một cách cụ thể hơn, việc
2
3
Trang 24phân bổ các nguồn tài chính cần dịch chuyển từ đầu tư mới sang các hoạt động bảodưỡng sau đầu tư.
1.2.2.2 Cơ sở hạ tầng nông thôn với ngành tài nguyên thiên nhiên & nông nghiệp
Một nghiên cứu về lịch sử và hiện trạng ngành tài nguyên thiên nhiên vànông nghiệp trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội của cả nước cho thấy triểnvọng của ngành trong tương lai sẽ có mối liên quan trực tiếp đến chất lượng của hệthống CSHT NT theo hai cách, và cả 2 đều quan trọng hơn ở bất cứ quốc gia nào cócùng giai đoạn phát triển Mối liên quan đầu tiên là vai trò của CSHT NT trong việcliên kết nhà nông với người tiêu dùng và thị trường, và (thứ hai) là vai trò củaCSHT NT trong quá trình chuyển đổi ngành nghề từ nông dân trở thành công nhânlàm việc trong các khu công nghiệp và khu đô thị
Ngày nay, nhu cầu thị trường (cả trong và ngoài nước) giữ vai trò địnhhướng cho sản xuất và buôn bán trong lĩnh vực nông nghiệp Thị trường trong nướcchi phối ngày càng mạnh, do thu nhập ngày càng tăng và quá trình đô thị hóa khiếncho nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng, cả về tính đa dạng và chất lượng sản phẩmcủa cây trồng, vật nuôi và thủy sản Bên cạnh đó, xu hướng phát triển ra thị trườngthế giới – dự kiến rõ nét hơn khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới(WTO) – cũng giúp cho việc lựa chọn trồng cây gì, nuôi con gì của nông dân tiếngần hơn đến nhu cầu và giá cả của thị trường thế giới Các ví dụ được nêu trên đây
về sự tăng trưởng của các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong nhữngnăm gần đây cho thấy nông dân Việt Nam đã hòa nhập hơn vào thị trường trongnước và quốc tế so với các nước khác trong khu vực Đông Nam Á – hiện nay 70%tổng sản phẩm nông nghiệp trở thành hàng hóa, so với con số 48% của 9 năm trướcđây Điều này có nghĩa là điều kiện và chi phí vận chuyển là các yếu tố mang tínhquyết định nhu cầu, nguồn cung và giá cả, lợi nhuận sản xuất và thu nhập từ nôngnghiệp – ngược lại, tất cả các yếu tố này phụ thuộc vào CSHT NT và các dịch vụ cóthể cung cấp
Trang 25Tầm quan trọng của triển vọng này đã được khẳng định qua những phân tíchgần đây về các yếu tố quyết định tăng trưởng nông nghiệp4, xác định sự đóng góptương đối của những thay đổi trong đầu vào của các yếu tố sản xuất – lao động, đấtđai, máy móc và phân bón – và của ‘tổng năng suất các yếu tố” - cách giải thíchkhác cho sự tăng trưởng của ngành tài nguyên thiên nhiên và nông nghiệp (tổngnăng suất của các yếu tố bao gồm sự phát triển thể chế, CSHT NT, và phát triển xãhội cũng như công nghệ và khoa học nông nghiệp) Số liệu từ các nghiên cứu nàychỉ ra một cách rõ ràng rằng việc sử dụng phân bón ngày càng tăng đóng vai tròchính trong việc đạt được tỉ lệ tăng trưởng cao – vào thập kỷ 90, hơn một nửa sựtăng trưởng trong sản xuất nông nghiệp (một tỉ lệ lớn hơn nhiều so với tất cả cácquốc gia trong khu vực) là do sự gia tăng của việc sử dụng phân bón – nhưng việcnày cũng chỉ ra rằng sự tăng trưởng trong tương lai sẽ phải đến từ các nguồn tổngnăng suất các yếu tố (bao gồm cả những lợi ích về mặt hiệu quả của CSHT NT).
Thứ hai, do CSHT giao thông nông thôn hiện tại đang đóng vai trò quyếtđịnh đối với sản lượng ngành tài nguyên thiên nhiên và nông nghiệp, nó cũng đượcxem là chất xúc tác quan trọng của quy trình phát triển chung của quá trình chuyểnđổi cơ cấu kinh tế Mặc dù tầm quan trọng tương quan của ngành trong toàn bộ nềnkinh tế bị giảm đáng kể, nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong trong sinh
kế của đại bộ phận dân Việt Nam: 4/5 dân số Việt Nam vẫn đang sống ở khu vựcnông thôn và ngành này vẫn thu hút khoảng 2/3 lực lượng lao động cả nước toànthời gian hoặc bán thời gian)
Tuy nhiên, tỉ lệ lao động nông nghiệp bán thời gian ngày càng tăng (và lựclượng lao động nữ cũng ngày càng tăng so với nam giới) – chỉ khoảng ¼ hộ giađình nông thôn tham gia sản xuất nông nghiệp trong khi số còn lại kết hợp sản xuấtnông nghiệp với các công việc phi nông nghiệp và được trả lương Bức tranh ngàycàng rõ nét qua các nghiên cứu5 về nghèo đói và thu nhập gần đây trên khắp cảnước là trong khi rất nhiều hộ gia đình ở nông thôn đang đa dạng hóa các hoạt độngcủa họ, phần lớn đều mong muốn giữ việc sản xuất nông nghiệp như là một nguồn4
Trang 26thu nhập ổn định (ít nhất là cho một vài thành viên của gia đình)6 Điều này cónghĩa là đối với lao động nói chung và đối với từng thành viên của gia đình đều cóthể làm công việc này, chi phí vận chuyển rẻ và đáng tin cậy ở nông thôn cũng quantrọng như sự sẵn có các cơ hội kiếm thu nhập ngoài nông nghiệp
1.2.2.3 Vai trò của cơ sở hạ tầng nông thôn miền núi phía Bắc đối với việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Thực tế cho thấy rằng sự thịnh vượng của một quốc gia thì cần phải có sựphát triển của tất cả các vùng hợp lại Sự phát triển của vùng sẽ cải thiện được đờisống của nhân dân trong vùng, nâng cao được trình độ hiểu biết của họ, tăng khảnăng đóng góp GDP cho đất nước
Ở nhiều nước trong đó có Việt Nam, thực tế đã khẳng định rằng khi cơ sở hạtầng nông thôn được cải thiện sẽ thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và mang lại lợi íchkinh tế cho nông dân, việc cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản như y tế,giáo dục, tăng cường trao đổi mua bán, mang lại thêm nhiều cơ hội tạo thêm thunhập phi nông nghiệp và giảm áp lực lên những vùng nhạy cảm và sinh thái Ngoài
ra, mối liên hệ giữa nghèo đói và cơ sờ hạ tầng nông thôn yếu kém cũng được minhchứng rõ ràng qua thực tế
Ở Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển khác có cùng tình trạng cơ
sở hạ tầng nông thôn yếu kém, tỉ lệ nghèo rõ ràng cao hơn hẳn những nước có cơ sở
hạ tầng hoàn chỉnh gồm mạng lưới đường giao thông, hệ thống thủy lợi, hay trạmcấp nước sạch và các chợ…được xây dựng để thúc đẩy giao lưu buôn bán Sự đónggóp của cơ sở hạ tầng nông thôn trong xóa đói giảm nghèo đã được minh chứng quanhững thành quả của dự án ngành cơ sở hạ tầng nông thôn (RISP) do ADB tài trợtrong những năm 1998-2004 Các báo cáo đánh giá và kết thúc dự án cho thấy tỉ lệnghèo trong vùng có tiểu dự án giảm đáng kể và một trong số những lợi ích khác đóchính là thu nhập hộ gia đình tăng bình quân trên 40%
Khi các cơ sở hạ tầng nông thôn được cải thiện thì nó sẽ mang lại những lợiích tổng thể cho dân cư đó là:
- Tăng khả năng đưa hàng hóa ra chợ và mở rộng sản xuất nông nghiệp
Trang 27- Tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội và các công trình công ích nhưtrạm y tế và trường học.
- Tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp, đa dạng hóa sinh kế và các nguồnthu nhập
- Tăng cường sự tham gia của người nghèo vào các hoạt động kinh tế, giảm tỉ
lệ nhiễm bệnh do sử dụng nguồn nước không an toàn và một số bệnh tật khác
- Thúc đẩy giao lưu buôn bán và trao đổi thông tin
- Góp phần trong công tác xóa đói giảm nghèo
1.2.2.4 Sự cần thiết phải đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn ở miền núi phía Bắc
Ở nhiều nước trong đó có Việt Nam, thực tế đã khẳng định rằng khi cơ sở hạtầng nông thôn được cải thiện sẽ thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và mang lại lợi íchkinh tế cho nông dân, cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản như y tế vàgiáo dục, tăng cường trao đổi mua bán, mang lại thêm nhiều cơ hội tạo thu nhập phinông nghiệp và giảm áp lực lên những vùng nhạy cảm về sinh thái Ngoài ra, mốiliên quan giữa nghèo đói và cơ sở hạ tầng nông thôn yếu kém cũng đã được minhchứng rõ ràng Ở Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển khác có cùng tìnhtrạng CSHT nông thôn yếu kém, tỉ lệ nghèo rõ ràng cao hơn hẳn những nước cóCSHT hoàn chỉnh gồm mạng lưới đường giao thông, hệ thống thủy lợi, trạm cấpnước sạch và các chợ, v.v được xây dựng để thúc đẩy giao lưu buôn bán Sự đónggóp của CSHT nông thôn trong xóa đói giảm nghèo đã được minh chứng qua nhữngthành quả của dự án ngành CSHT nông thôn (RISP) do ADB tài trợ trong nhữngnăm 1998 – 2004 Các báo cáo đánh giá và kết thúc dự án cho thấy tỉ lệ nghèo trongvùng có tiểu dự án giảm đáng kể, và một trong số nhiều lợi ích khác chính là thunhập hộ gia đình tăng bình quân trên 40%
Kết quả khảo sát hệ thống CSHT nông thôn ở các tỉnh miền núi phía Bắctham gia dự án khẳng định rằng – (i) đầu tư thêm cho CSHT nông thôn là một yêucầu bắt buộc; và (ii) nhiều CSHT hiện nay cần cải tạo nâng cấp Ở tất cả các tỉnhtham gia dự án, tỉ lệ đường giao thông cấp huyện đã được trải nhựa hoặc thảm bê
Trang 28tông là tương đối thấp, và hơn một phần ba dân số nông thôn chưa có nước sạch để
sử dụng
Nhiệm vụ cải tạo nâng cấp các loại hình CSHT nông thôn quy mô vừa vànhỏ mà các tỉnh ở miền núi phía Bắc phải thực hiện còn rất nặng nề, và lý lẽ vữngchắc để biện minh cho là cần thu hút vốn ODA cho các dự án mới nhằm phát triển
cơ sở hạ tầng nông thôn ở miền núi phía Bắc ngày càng được nâng cấp và cải thiện
1.3 Dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn
1.3.1 Khái niệm dự án đầu tư phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Các hoạt động đầu tư có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xãhội, do tính phức tạp của quá trình thực hiện (về mặt kinh tế, kỹ thuật, tổ chức, xãhội ) cần phải được chuẩn bị nghiêm túc và có cơ sở khoa học, phải được thựchiện theo một kế hoach chặt chẽ, chi tiết và hợp lý Những yêu cầu trên chỉ có thểđược đáp ứng khi hoạt động đầu tư được chuẩn bị và thực hiện trên cơ sở soạn thảo
và thực thi dự án đầu tư
Về hình thức, dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chitiết và hệ thống các hoạt động cụ thể sẽ được thực hiện với các nguồn lực và chi phícần thiết, được bố trí theo một trình tự chặt chẽ nhắm đạt được những kết quả cụ thể
để thực hiện những mục tiêu kinh tế- xã hội nhất định
Thông thường một dự án đầu tư bao gồm các yếu tố cơ bản sau:
- Các mục tiêu của dự án: đó là những kết quả và lợi ích mà dự án đem lại cho nhàđầu tư và cho xã hội
- Các hoạt động cụ thể để thực hiện mục tiêu của dự án
- Các nguồn lực cần thiết: ( nhân lực, tài lực, vật lực) để thực hiện các hoạt độngcủa dự án và các chi phí về các nguồn lực đó
- Các nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu về vốn đầu tư của dựa án
- Thời gian và địa điểm thực hiện các hoạt đông của dự án
- Các sản phẩm và dịch vụ được tạo ra bởi dự án
1.3.2 Quy trình thu hút và sử dụng ODA trong các dự án đầu tư
Trang 29Công tác thu hút và sử dụng vốn ODA là một lĩnh vực rất rộng lớn, phức tạp
và nhạy cảm, được thực hiện qua các bước công việc cụ thể sau:
a) Đề xuất chương trình, dự án
Trước quý IV hàng năm cơ quan chủ quản (Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh vàthành phố trực thuộc Trung ương) gửi danh mục chương trình, dự án đề xuất ưu tiênvận động ODA cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư bằng văn bản, kèm theo đề cương chotừng chương trình, dự án Trong đề cương nêu rõ sự cần thiết khách quan, tính phùhợp với chiến lược phát triển của nhà tài trợ, phù hợp với qui hoạch tổng thể củangành và của đất nước, mục tiêu, kết quả dự kiến đạt được, dự kiến mức vốn ODA,vốn đối ứng, dự báo tác động của dự án về các mặt kinh tế, xã hội, môi trường
Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính và các Bộ, Ngànhliên quan xem xét tổng hợp chương trình dự án ưu tiên vận động ODA của các cơquan chủ quản lập thành danh mục, chương trình dự án ưu tiên vận động ODA đưavào báo cáo của Chính phủ Danh mục này được Bộ Kế hoạch và Đầu tư rà soát, bổsung và điều chỉnh hàng năm căn cứ vào tình hình thực hiện và nhu cầu ODA mới
phát sinh trên thực tế [4, tr.8]
b) Đàm phán, ký kết điều ước quốc tế khung về ODA
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với các Bộ ngành liên quan và các
cơ quan chủ quản có nhu cầu về ODA chuẩn bị nội dung và tiến hành đàm phán, kýkết với nhà tài trợ các điều ước quốc tế khung về ODA
- Những Điều ước quốc tế khung về ODA được ký kết phải phù hợp với chủtrương, chính sách, những lĩnh vực ưu tiên sủ dụng nguồn vốn ODA tại Nghị định131/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ
- Trong một số trường hợp, có những sự khác biệt về một số quy định củaViệt Nam và nhà tài trợ, trước khi ký kết, Bộ Kế hoạch và Đầu tư báo cáo xin ý kiếnThủ tướng Chính phủ
Trang 30- Sau khi Điều ước quốc tế khung về ODA được ký kết, được Thủ tướngChính phủ cho phép, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo cho các cơ quan chủ quản
về các chương trình, dự án được các nhà tài trợ đồng ý xem xét tài trợ trong từngthời kỳ để tiến hành các công việc tiếp theo như: Lập kế hoạch bố trí vốn, thành lậpBan chuẩn bị dự án, thực hiện dự án hỗ trợ kỹ thuật để chuẩn bị dự án, lập Báo cáonghiên cứu tiền khả thi, Báo cáo khả thi
c) Chuẩn bị hồ sơ dự án sử dụng vốn ODA
Ngay sau khi nhận được thông báo chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
về danh mục chương trình, dự án ODA được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vàđược nhà tài trợ đồng ý xem xét tài trợ, Thủ trưởng cơ quan chủ quản ra quyếtđịnh thành lập Ban chuẩn bị chương trình, dự án Ban chuẩn bị dự án xây dựng
kế hoạch, chuẩn bị chương trình dự án ODA trình Cơ quan chủ quản phê duyệt
Ban chuẩn bị dự án làm đầu mối phối hợp với các tổ chức trong nước và nhàtài trợ chuẩn bị:
- Báo cáo Nghiên cứu tiền khả thi, Báo cáo Nghiên cứu khả thi của chươngtrình, dự án đầu tư
- Văn kiện dự án hỗ trợ kỹ thuật đối với các dự án hỗ trợ kỹ thuật Nội dungcủa các tài liệu này theo đúng các qui định hiện hành của Việt Nam và phù hợp vớicác yêu cầu của nhà tài trợ
d) Thẩm định, phê duyệt nội dung chương trình, dự án ODA
- Đối với chương trình, dự án ODA thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủtướng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan chủ trì tổ chức thẩm định Chươngtrình, dự án ODA thuộc thẩm quyền phê duyệt của cơ quan chủ quản thì cơ quan chủquản giao cho Vụ chức năng trực thuộc chủ chì tổ chức thẩm định
- Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các chương trình, dự án ODA có tổngmức đầu tư thuộc nhóm A và các dự án thuộc lĩnh vực đặc biệt Thủ trưởng cơ quanchủ quản phê duyệt các chương trình, dự án ODA không thuộc thẩm quyền phêduyệt của Thủ tướng Chính phủ
Trang 31- Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo quyết định phê duyệt chương trình, dự
án ODA của cấp có thẩm quyền cho nhà tài trợ Sau khi được nhà nước tài trợ chấpthuận, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo cho cơ quan chủ quản để phối hợp nội dungchuẩn bị đàm phán Điều ước quốc tế cụ thể về ODA (Hiệp định vay vốn, Hiệp địnhhoặc thư thoả thuận cung cấp hỗ trợ kỹ thuật)
e) Đàm phán, ký kết các chương trình, dự án cụ thể về ODA
* Cơ sở đàm phán, ký kết:
- Đối với chương trình, dự án đầu tư là quyết định đầu tư hoặc dự án khả thi
đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
- Trường hợp sử dụng Nghiên cứu tiền khả thi để đàm phán phải được Thủtướng Chính phủ cho phép;
- Đối với dự án Hỗ trợ kỹ thuật là văn kiện dự án Hỗ trợ kỹ thuật đã đượccấp có thẩm quyền phê duyệt;
- Trường hợp cần thiết hoặc theo yêu cầu của nhà tài trợ, Thủ tướng Chínhphủ giao cho một cơ quan thích hợp thay mặt Chính phủ hoặc trình Chủ tịch nước
uỷ quyền cho một cơ quan thích hợp thay mặt Nhà nước chủ trì đàm phán, ký kếtHiệp định vay vốn
f) Thực hiện chương trình, dự án ODA
Trang 32- Trong quyết định phê duyệt chương trình, dự án của cấp có thẩm quyềncủa Việt Nam phải xác định chủ dự án Cơ quan cấp Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
và các cơ quan hành chính sự nghiệp trực thuộc được phép làm chủ dự án đối vớicác chương trình, dự án ODA thuộc diện Nhà nước cấp phát, nhưng không đượclàm chủ dự án đối với các chương trình dự án ODA thuộc diện Nhà nước cho vaylại trừ trường hợp đặc biệt có chương trình, dự án thuộc diện vừa được cấp phát vừaphải vay lại thì Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính trình Thủtướng Chính phủ xem xét, quyết định
- Ngay sau khi văn kiện chương trình, dự án ODA được cấp có thẩm quyềnphê duyệt cơ quan chủ quản ban hành quyết định thành lập Ban quản lý dự án trungương (CPMU) Đây là cơ quan đại diện cho chủ dự án, được toàn quyền thay mặt chủ
dự án thực hiện các quyền hạn và nhiệm vụ được giao từ khi bắt đầu thực hiện cho đếnkhi kết thúc chương trình, dự án kể cả việc quyết toán, nghiệm thu, bàn giao đưachương trình, dự án vào khai thác, sử dụng
- Trong quá trình thực hiện các chương trình, dự án ODA, tuỳ theo quy định
và thoả thuận với Bên nước ngoài, chủ dự án chịu trách nhiệm tổ chức các cuộckiểm điểm định kỳ hoặc đột xuất Đại diện của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tàichính, Bộ Ngoại giao, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Văn phòng Chính phủ là đạidiện của Chính Phủ tại các cuộc kiểm điểm này
- Việc thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán, cấp phépxây dựng, quản lý chất lượng công trình, nghiệm thu, bàn giao, bảo hành, bảohiểm công trình xây dựng được thực hiện theo quy định của Nhà nước về quản lýđầu tư và xây dựng Đối với các chương trình, dự án hỗ trợ kỹ thuật sau khi kếtthúc thực hiện, chủ dự án tổ chức nghiệm thu và tiến hành các biện pháp cầnthiết để tiếp tục khai thác và phát huy kết quả đã đạt được
- Công tác nghiệm thu, bàn giao công trình được thực hiện theo Nghị định16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 về Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình vàNghị định 112/2006/NĐ-CP ngày 29/09/2006 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều
Trang 33của Nghị định 16 Đối với một số dự án quan trọng, Thủ tướng Chính phủ thành lậpHội đồng nghiệm thu nhà nước để nghiệm thu, Chủ tịch Hội đồng là Bộ trưởng BộXây dựng Các công trình khác do chủ đầu tư tổ chức nghiệm thu với sự tham giacủa đơn vị tư vấn, thiết kế, xây dựng, cung ứng thiết bị và cơ quan giám định chấtlượng.
g) Theo dõi và đánh giá chương trình, dự án ODA
- Theo dõi đánh giá chương trình, dự án ODA là hoạt động thường xuyên vàđịnh kỳ, cập nhật tình hình thực hiện chương trình, dự án
- Đánh giá dự án là hoạt động nhằm phân tích làm rõ tương quan giữa kết quảđạt được trên thực tế so với mục tiêu cần đạt được như quy định trong văn kiện chươngtrình, dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, đồng thời phát hiện những khókhăn, vướng mắc (đã xảy ra hoặc tiềm ẩn) để tìm ra biện pháp khắc phục hoặc phòngngừa có hiệu quả
- Công tác đánh giá được thực hiện ở bốn giai đoạn của quá trình thực thi dựán: đánh giá ban đầu; đánh giá giữa kỳ; đánh giá kết thúc; đánh giá vận hành
- Ban Quản lý dự án có trách nhiệm thường xuyên theo dõi và đánh giáchương trình, dự án ODA và phải: xác định rõ các nguồn lực sử dụng, tiến độ thựchiện, thời hạn hoàn thành, mục tiêu chất lượng và tiêu chí chấp nhận kết qủa đối vớitừng hoạt động của chương trình, dự án ODA để làm cơ sở theo dõi đánh giá; thiếtlập hệ thống thông tin nội bộ, thu thập và lưu trữ đầy đủ thông tin, dữ liệu, hồ sơ, tàiliệu, sổ sách, chứng từ của chương trình, dự án ODA, báo cáo của các nhà thầu
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với các cơ quan quản lý Nhà nước
về ODA, trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của từng đơn vị, thực hiện việc theo dõi,đánh giá chương trình, dự án ODA Trong trường hợp cần thiết, Bộ Kế hoạch vàĐầu tư chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ quản lý ngành và địa phương thànhlập đoàn công tác liên ngành làm việc trực tiếp với Ban quản lý chương trình, dự ánODA để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền những kiến nghị có liên quan đếnchương trình, dự án ODA đó Đối với những vấn đề vượt quá thẩm quyền, Bộ Kế
Trang 34hoạch và Đầu tư có trách nhiệm tổng hợp ý kiến của các cơ quan liên quan trìnhThủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.
h) Báo cáo thực hiện chương trình, dự án ODA
- Trong quá trình thực hiện chương trình, dự án ODA, Ban quản lý dự ánphải xây dựng và gửi các báo cáo tháng (đối với chương trình, dự án đầu tư do Thủtướng Chính phủ phê duyệt thuộc diện trọng điểm quốc gia theo yêu cầu bằng vănbản của Bộ Kế hoạch và Đầu tư), báo cáo quý, báo cáo năm, báo cáo kết thúc dự áncho chủ dự án, Cơ quan chủ quản, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và cơ quancấp tỉnh liên quan Hàng quý, cơ quan chủ quản lập báo cáo tổng hợp về kết quả vậnđộng ODA, báo cáo đánh giá tình hình thực hiện chương trình, dự án ODA thuộcthẩm quyền quản lý và gửi cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư lập báo cáo tổng hợp 6 tháng và báo cáo năm vềtình hình thu hút và sử dụng ODA trong cả nước trình Chính phủ và chủ trì phốihợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn chế độ báo cáo và mẫu báo cáo thống nhất
về ODA
Trang 35KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Chương I đã khái quát được các vấn đề về:
- Khái niệm, đặc điểm và vai trò của nguồn vốn ODA;
- Cơ sở hạ tầng và sự cần thiết phải xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn ở miềnnúi phía Bắc;
- Các khái niệm và quy trình thực hiện các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạtầng
Để xây dựng được các giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn ODAtrong các dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn miền núi phía Bắc trong thời kỳmới cần tìm hiểu thực trạng việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA trong các dự
án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn ở khu vực này
Trang 36CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG VIỆC THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA TRONG CÁC DỰ ÁN PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG NÔNG THÔN
Ở KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Vùng miền núi phía Bắc bao gồm 15 tỉnh được chia làm 2 tiểu vùng: TâyBắc gồm 6 tỉnh (Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Lào Cai và Yên Bái) vàĐông Bắc gồm 9 tỉnh (Hà Giang Tuyên Quang, Cao Bằng, Băc Kạn, Thái Nguyên,
Phú Thọ, Lạng Sơn, Bắc Giang và Quảng Ninh).
Diện tích tự nhiên của vùng là 100 nghìn km2, chiếm trên 30% diện tích ViệtNam Vùng có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng với 1400 km đường biên giới vớiTrung Quốc phía Bắc; trêm 600 km đường biên giới với Lào phía Tây; phía Namgiáp các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và phía Đông giáp biển Đông
Việc có chung đường biên giới với các quốc gia láng giềng một mặt tạo điềukiện cho vùng miền núi phía Bắc phát triển kinh tế, tăng cường giao lưu trao đổihàng hóa; Mặt khác, với vị trí là vùng đất phên dậu của đất nước cũng đặt ra nhữngthách thức liên quan đến việc bảo vệ chủ quyền biên giới, giữ gìn sự ổn định về anninh quốc phòng
2.1.1.2 Địa hình và khí hậu
Địa hình vùng miền núi phía Bắc bị chia cắt khá mạnh do ảnh hưởng của cácdãy núi lớn, đặc biệt là dãy Hoàng Liên Đây chính là dãy núi chia cắt miền núi phíaBắc thành 2 tiểu vùng khí hậu Đông Bắc và Tây Bắc Vùng Đông Bắc nằm trongvùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Đông Bắc,vùng Tây Bắc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, với số giờ nắng cao và ítchịu ảnh hưởng trực tiếp của các cơn bão mùa hè cũng như các đợt gió mùa ĐôngBắc vào mùa Đông Sự chia cắt về địa hình đã tạo cho vùng miền núi phía Bắc
Trang 37nhiều tiểu vùng sinh thái khác nhau với tài nguyên sinh vật phong phú trong đó cónhiều loại động thực vật qúy hiếm Chỉ tính riêng khu vực Tây bắc đã có 51 loàiđộng vật qúy hiếm và đặc hữu Tuy nhiên, cũng do sự chia cắt phức tạp về địa hình,nhiều vùng có độ dốc lớn nên việc phát triển hệ thống giao thông, mở mang xâydựng cơ sở hạ tầng gặp nhiều khó khăn Đây chính là trở ngại lớn cho phát triểnkinh tế - xã hội của vùng miền núi phía Bắc.
Địa hình các tỉnh miền núi phía Bắc rất đa dạng, trải dài từ những vùng núicao đến những ngọn đồi thoải bị phong hóa, hay từ những ngọn núi đá vôi đượchình thành với đỉnh nhọn cho đến những ngọn núi với độ cao lên đến 2.450 m sovới mặt nước biển Đá kiến tạo nên núi thường là trầm tích, khác biệt từ độ bềnvững cho đến độ phong hóa Thông thường, do đá vôi có khả năng kháng phong hóatốt hơn nên phổ biến hơn, tồn tại dưói dạng những triền dốc đứng hùng vĩ Nhữngloại đá khác dễ bị phong hóa hơn lại hình thành những triền đồi thoải Những dạngđồi thoải này thường có cấu tạo là một lõi đá phong hóa (đá regolith) được bao phủtrong một lớp đất dày được hình thành thông qua một quá trình phong hóa liên tiếp.Nằm giữa núi và đồi là những đồng bằng bị rửa trôi và chịu lũ nằm trên nền thunglũng, bao gồm các loại đất được phù sa bồi tích rất màu mỡ Các thung lũng với haibên sườn núi dốc đứng và nền thung lũng hẹp thường hạn chế cơ hội phát triểnthành đất canh tác nông nghiệp Kết quả là, nhiều người dân có nguồn sinh kế đadạng phụ thuộc vào sản xuất lúa không đủ sống bằng cách thu hoạch thêm các sảnphẩm từ rừng, nhưng nguồn thu này không ổn định
Càng lên cao về phía Tây và phía Bắc với mô hình thoát nước thường chảyxuôi về phía Tây Nam vào vịnh Bắc Bộ qua lưu vực sông Hồng Các dòng sôngthường dốc đứng và dòng chảy xiết vào các mùa mưa nhưng giảm cường độ tại cáclưu vực cao dẫn tới việc giảm lưu lượng dòng chảy vào mùa khô Địa hình núi dốcđứng tạo cơ hội tốt cho việc xây dựng trạm phát điện, hướng mà Chính phủ hiệnnay đang tích cực theo đuổi Gần về phía bờ biển, các dòng sông ngày càng mởrộng hình thành các con sông thực thụ và quanh co uốn khúc hơn qua các bãi sôngthuộc vùng đông bằng khá rộng lớn nơi việc tiêu thụ thoát nước trở thành vấn đề
Trang 38vào mùa mưa vì rất nhiều công trình được xây dựng đã phá vỡ các dòng thoát nước
tự nhiên đồng thời lượng mưa với tần số và cường độ lớn thường gây ra lũ lụt ởdiện rộng tại khu vực liền kề các dòng sông bao trọn các khu vực đồng bằng khálớn, đó cũng chính là diện tích đất canh tác đạt năng suất cao nhất Việt Nam
Khí hậu rất đa dạng, từ nóng ẩm tại những vùng thấp trải dài về phía đôngcho đến khi hậu ôn hòa hơn tại các vùng núi Lượng mưa chủ yếu chịu ảnh hưởng
từ gió mùa phía nam, khi gió đông thổi về nam mang theo không khí ẩm tạo nênmưa lớn, đạt đỉnh điểm từ tháng 7 đến tháng 8 Một loại gió mùa phía bắc cũng cóthể xuất hiện vào khoảng thời gian từ tháng 10 đến tháng 4, mang theo mây, mưanhẹ và không khí mát hơn Lượng mưa đặc biệt phụ thuộc vào địa điểm khu vực và
bị ảnh hưởng bởi địa hình Tại một số nơi, những triền dốc khiến gió nổi lên và hơi
ẩm ngưng tụ rồi rơi xuống tạo mưa, hình thành các vùng mưa theo chiều gió thổi.Lượng mưa tại mỗi vùng có sự chênh lệch đáng kể, từ khoảng 1.500 mm/năm chođến gần 4.000 mm tại một số nơi
Những đặc điểm trên có ý nghĩa quan trọng trong việc quy hoạch và thiết kế
cơ sở hạ tầng nông thôn Đáng quan tâm là nguy co xói mòn trong quá trình cải tạođường giao thông nông thôn, với các điều kiện các sườn dốc yếu do vật liệu kém vàlượng mưa lớn có thể khiến các mái taluy dễ bị sạt, đôi khi chỉ vài năm sau khi xâydựng Việc tìm hiểu những vấn đề trên là rất quan trọng trong khâu thiết kế hệ thốngthoát nước và các biện pháp chống sạt dốc Nguy cơ xói mòn và bị tác động ở nhiềucấp độ cũng ảnh hưởng đến tính khả thi và những lợi ích tiềm năng của các côngtrình thủy lợi
Trong khu vực có 15 tỉnh, tổng cộng có 126 huyện và 2.391 xã nông thôn vớikhoảng 28.000 thôn và hơn 2.1 triệu hộ dân nông thôn Quy mô trung bình ước tínhcuả một hộ dân là khoảng 4.6 người
2.1.1.3 Môi trường văn hóa xã hội
Tổng số dân của các tỉnh miền núi phía Bắc là 12,2 triệu trong đó 84% dân
cư “nông thôn” bởi họ chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp Khác với các trung tâm
đô thị, mật độ dân số ở đây thưa thớt, và các thôn bản ở những địa điểm rải rác phù
Trang 39hợp với sản xuất nông nghiệp Cộng đồng người thiểu số (chiếm tới 50% tổng dân
số) thường sống tại các khu vực hẻo lánh hơn, với mật độ dân cư thưa thớt (bảng).
Mật độ dân cư của từng tỉnh cũng khác nhau và năm trong khoảng từ 37 người/kmtại Lai Châu cho đến hơn 800 người/km ở Vĩnh Phúc Mật độ dân số thay đổi lớn tạitừng tỉnh và gắn liền mật thiết với cơ hội phát triển kinh tế (gần trung tâm tỉnh vàhuyện mật độ dân cư thường cao hơn) cũng như sắc tộc với nơi chủ yếu có đồngbào dân tộc sinh sống thì mật độ dân cư thấp hơn
a Điều kiện kinh tế xã hội
Tỷ lệ nghèo chung của Việt Nam đang có xu hướng giảm xuống liên tụctrong vòng hai thập niên qua (bảng) Tỷ lệ này giảm từ 58% năm 1993 xuống còn29% năm 2002, và 16% năm 2006 Hàng năm vẫn còn khoảng 12 triệu người sốngtrong cảnh nghèo đói và gần 5 triệu người phải chịu cảnh thiếu lương thực Vì sựkhác biệt lớn giữa tỷ lệ nghèo có thu nhập 1 USD một ngày và 2 USD một ngày(lần lượt là 4% và 33% năm 2007) cho thấy nhiều người Việt có thể coi là ở mứccận nghèo, và do vậy đặc biệt rất dễ bị tái nghèo khi phải đối mặt với những đợtthiên tai Sự chênh lệch về tỷ lệ nghèo giữa các vùng, khu vực và đồng bào dân tộccòn tồn tại rất lớn Năm 2006, ba vùng nghèo nhất có tỷ lệ nghèo là 28-31%, caohơn nhiều mức 5-11% tại ba vùng ít nghèo nhất Tỷ lệ nghèo nông thôn ở mức 20%cao hơn đáng kể, trong khi tỷ lệ nghèo thành thị chỉ ở mức 3.9% Đồng bào dân tộcthiểu số với tỷ lệ nghèo trung bình là 52.2% thấp hơn rất nhiều so với đại đa sốngười Kinh với tỷ lệ nghèo là 10.3 % Việc tăng trưởng kinh tế ấn tượng của ViệtNam không đem lại lợi ích nganh bằng cho toàn bộ các nhóm dân cư Đồng bào dântộc chiếm khoảng 44% người nghèo năm 2006 và sẽ hình thành hơn một nửa dân sốnghèo của Việt Nam năm 2010
Nhìn chung về mặt kinh tế xã hội, vùng này khác biệt hẳn so với các vùngcòn lại của đất nước ở những khía cạnh như:
- Mật độ dân cư thấp 111 người/km2 so với mật độ dân cư trên toàn quốc là
231 người/km2
Trang 40- Chiếm đa số là người dân tộc thiểu số với 49.6% số chủ hộ nông thôn sống
ở đây đều thuộc một tộc người dân tộc người thiểu số nào đó so với tỷ lệ này trêntoàn quốc chỉ là 12%
- Cơ sở hạ tầng kém phát triển – chỉ có khoảng 8% tổng diện tích đất nôngnghiệp thuộc khu vực Đông Bắc và 23% thuộc khu vực Tây Bắc được tưới tiêu.Điều kiện sử dụng nước sạch và các hệ thống vệ sinh cho đồng bào dân tộc thiểu sốrất hạn chế, với 19% số dân được sử dụng nước sạch trong khi đó đối với ngườiKinh và người Hoa thì tỷ lệ này là 36% Hệ thống đường nông thôn đã hình thành,song hiện trạng những tuyến đường này vẫn là trở ngại lớn với sự phát triển kinh tế
- xã hội của vùng
- Mức độ đô thị hóa thấp chỉ có 16% số dân các tỉnh miền núi phía Bắc sống
ở các khu vực thành thị, trong khi tỷ lệ này trên toàn quốc là 23%
- Tỷ lệ phụ thuộc vào nông nghiệp chiếm khoảng 42% tổng GDP khu vựcmiền núi so với cả nước là 24%
- Tình trạng nghèo đói cao ước tính đạt mức 49% (các tỉnh Tây Bắc), mức độđói nghèo là cao hơn bất cứ vùng nào khác tại Việt Nam, trong khi đó các tỉnhĐông Bắc khá hơn đáng kể với tỷ lệ đói nghèo là 25%, song vẫn lớn hơn rất nhiều
so với tỷ lệ 16% trên toàn quốc (bảng 3)
- Mối liên hệ hữu cơ giữa đói nghèo và người dân tộc thiểu số
Có hai nhóm các tỉnh khác biệt trong vùng dự án Bốn tỉnh gồm Vĩnh Phúc,Phú Thọ, Thái Nguyên và Bắc Giang thuộc vùng Châu thổ sông Hồng, và nhìnchung cao hơn mực nước biển không quá 200 m, có nhiều diện tích đất trũng và ítđồi núi hơn, có tỷ lệ đất canh tác nông nghiệp cao hơn (2.8 - 4.4%) Dân số thuộccác tỉnh này cũng hơn cao hơn (vượt mốc 1 triệu người) và mật độ dân cư cũngđông đúc hơn (324-824 người/km2) và dân tộc Kinh chiếm chủ yếu (70 - 96%).Đồng bào dân tộc sống tại đây đều thuộc nhóm dân tộc phát triển hơn về kinh tế vàđồng hóa về văn hóa như dân tộc Tày, Nùng và Mường Các tỉnh này gần với trungtâm kinh tế chính trị của Hà Nội nên có phương tiện truyền thông tốt hơn, GDP caohơn (12.000 – 22.000 tỷ đồng) và cũng có ngân sách tỉnh lớn hơn Tỷ lệ nghèo khá