Đối với một nền kinh tế mới vẫn còn đang trong thời kỳ phát triển và hội nhập như Việt Nam hiện nay thì nhóm những doanh nhiệp vừa và nhỏ được ví như xương sống của nền kinh tế khi nhóm này chiếm tới trên 90% tổng số doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, hàng năm nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng góp 47% GDP và 40% ngân sách Nhà nước. Đó là những con số "biết nói" phản ánh sức mạnh và vai trò của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ nước ta trong giai đoạn hội nhập hiện nay. Tuy nhiên, trong tình hình kinh tế khó khăn hiện nay, không phải doanh nghiệp nào cũng đủ vốn để phát triển kinh doanh hay mở rộng sản xuất kinh doanh. Ngân hàng thương mại được coi là điểm tựa gần như duy nhất để các doanh nghiệp tìm đến, song trên thực tế, việc tiếp cận của doanh nghiệp với vốn ngân hàng không hề dễ dàng. Theo khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy, có 22,5% doanh nghiệp cho biết không thể tiếp cận được vốn vay ngân hàng vì lãi suất quá cao, 20,2% doanh nghiệp cho rằng không đáp ứng được các điều kiện ngân hàng đưa ra, 2,5% doanh nghiệp nói có nợ xấu, 41,6% doanh nghiệp không có nhu cầu vay và 13,1% thuộc về các trạng thái khác. Có nhiều cơ sở để tin rằng, hơn 40% doanh nghiệp có nhu cầu về vốn nhưng không thể tiếp cận được vốn vay đa phần là nhóm DNVVN. Nhận thức được rõ ràng tầm quan trọng và những khó khăn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong giai đoạn phát triển hiện nay của nền kinh tế, là người đứng ra cung cấp vốn giúp đỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động sản xuất kinh doanh, các ngân hàng thương mại nhận thấy rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tập trung chú ý nhiều hơn và phải có một định hướng rõ ràng đối với các đối tượng khách hàng đầy tiềm năng này. Vì thế, không chỉ có ngân hàng TMCP Phương Nam mà ngay cả các ngân hàng có vị thế và cả hệ thống ngân hàng đã tập trung và chú trọng phát triển, nâng cao tín dụng đối với khối doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên, không phải lúc nào khối doanh nghiệp này cũng được đặc biệt quan tâm, nhất là trong khi tình hình kinh tế nói chung và tài chính - ngân hàng nói riêng đang gặp rất nhiều khó khăn. Trong thời gian thực tập tại ngân hàng Phương Nam – Phòng giao dịch Thăng Long em nghiên cứu và đã chọn đề tài “ Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng Phương Nam-phòng giao dịch Thăng Long” để thấy được tình hình hoạt động kinh doanh, thực trạng của các hoạt động kinh doanh và các nghiệp vụ bên trong ngân hàng cũng như các biện pháp nhằm nâng cao và mở rộng tới hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại phòng giao dịch Thăng Long.
Trang 1LỜI CẢM ƠNĐầu tiên em xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể các thầy cô giáo trong ban giám hiệunhà trường và các thầy, cô trong khoa Tài chính – Ngân hàng trường Đại học Quốc
tế Bắc Hà vì trong suốt bốn năm qua, các thầy cô đã truyền đạt cho em rất nhiềukiến thức, giúp em có khả năng phân tích, đánh giá tình hình tài chính của các ngânhàng để áp dụng vào thực hiện phân tích đề này
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Cô giáo TS Vũ Thị Hòa, Cô đã tận tìnhhướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gian nghiên cứu đề tài và đưa ra những góp
ý để đề tài khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới tập thể các anh chị trong ban lãnh đạo ngân hàng,
và các anh chị tại phòng tín dụng ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam –phòng giao dịch Thăng Long đã nhiệt tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành đề tàithực tập của mình
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đối với một nền kinh tế mới vẫn còn đang trong thời kỳ phát triển và hội nhập nhưViệt Nam hiện nay thì nhóm những doanh nhiệp vừa và nhỏ được ví như xươngsống của nền kinh tế khi nhóm này chiếm tới trên 90% tổng số doanh nghiệp hoạtđộng sản xuất kinh doanh, hàng năm nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng góp
47% GDP và 40% ngân sách Nhà nước Đó là những con số "biết nói" phản ánh
sức mạnh và vai trò của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ nước ta trong giai đoạn hộinhập hiện nay Tuy nhiên, trong tình hình kinh tế khó khăn hiện nay, không phảidoanh nghiệp nào cũng đủ vốn để phát triển kinh doanh hay mở rộng sản xuất kinhdoanh Ngân hàng thương mại được coi là điểm tựa gần như duy nhất để các doanhnghiệp tìm đến, song trên thực tế, việc tiếp cận của doanh nghiệp với vốn ngânhàng không hề dễ dàng Theo khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệpViệt Nam cho thấy, có 22,5% doanh nghiệp cho biết không thể tiếp cận được vốnvay ngân hàng vì lãi suất quá cao, 20,2% doanh nghiệp cho rằng không đáp ứngđược các điều kiện ngân hàng đưa ra, 2,5% doanh nghiệp nói có nợ xấu, 41,6%doanh nghiệp không có nhu cầu vay và 13,1% thuộc về các trạng thái khác Cónhiều cơ sở để tin rằng, hơn 40% doanh nghiệp có nhu cầu về vốn nhưng khôngthể tiếp cận được vốn vay đa phần là nhóm DNVVN
Nhận thức được rõ ràng tầm quan trọng và những khó khăn của các doanh nghiệpvừa và nhỏ trong giai đoạn phát triển hiện nay của nền kinh tế, là người đứng racung cấp vốn giúp đỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động sản xuất kinhdoanh, các ngân hàng thương mại nhận thấy rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ cầnđược tập trung chú ý nhiều hơn và phải có một định hướng rõ ràng đối với các đối
Trang 6tượng khách hàng đầy tiềm năng này Vì thế, không chỉ có ngân hàng TMCPPhương Nam mà ngay cả các ngân hàng có vị thế và cả hệ thống ngân hàng đã tậptrung và chú trọng phát triển, nâng cao tín dụng đối với khối doanh nghiệp vừa vànhỏ Tuy nhiên, không phải lúc nào khối doanh nghiệp này cũng được đặc biệtquan tâm, nhất là trong khi tình hình kinh tế nói chung và tài chính - ngân hàng nóiriêng đang gặp rất nhiều khó khăn Trong thời gian thực tập tại ngân hàng Phương
Nam – Phòng giao dịch Thăng Long em nghiên cứu và đã chọn đề tài “ Giải pháp
mở rộng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng Phương Nam-phòng giao dịch Thăng Long” để thấy được tình hình hoạt động kinh
doanh, thực trạng của các hoạt động kinh doanh và các nghiệp vụ bên trong ngânhàng cũng như các biện pháp nhằm nâng cao và mở rộng tới hoạt động cho vaydoanh nghiệp vừa và nhỏ tại phòng giao dịch Thăng Long
2 Mục đích nghiên cứu.
Mục đích của việc nghiên cứu khóa luận là tìm hiểu hoạt động kinh doanh cũngnhư tình hình cho vay của ngân hàng, đặc biệt là thực trạng hoạt động tín dụng đốivới doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng TMCP Phương Nam –phòng giao dịchThăng Long Từ đó, khóa luận sẽ đưa ra các đề xuất và giải pháp để hoàn thiện, mởrộng hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng TMCPPhương Nam trong tương lai
3 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng Phương phòng giao dịch Thăng Long Đối tượng của khóa luận là đi sâu đánh giá các hoạtđộng, nghiệp vụ tại ngân hàng TMCP Phương Nam - Phòng giao dịch Thăng Long
Nam-để từ đó đưa ra các nhận định, giải pháp Nam-để duy trì và nâng cao
4 Phạm vi nghiên cứu và thời gian nghiên cứu
Trang 7Phạm vi nghiên cứu tại phòng tín dụng và kinh doanh của ngân hàng TMCPPhương Nam-phòng giao dịch Thăng Long và đặc biệt công tác cho vay đối vớiđối tượng khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng.
Thời gian nghiên cứu khóa luận được thực hiện trong vòng 4 tháng thực tập tạiphòng tín dụng doanh nghiệp của ngân hàng TMCP Phương Nam- phòng giao dịchThăng Long
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu của đề tài là kết hợp giữa lý thuyết đã học với thực tế từcông việc của phòng kinh doanh tín dụng Trên cơ sở đó thu thập thông tin, số liệucủa Ngân hàng và phân tích, đánh giá kết quả để thấy được những khoản đầu tưcho lĩnh vực nào là có hiệu quả và đồng thời hạn chế không đầu tư vào những hoạtđộng sản xuất kinh doanh thiếu hiệu quả, tiềm ẩn nhiều rủi ro
Dùng phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu để thấy rõ sự tăng, giảm giữa cácnăm và qua đó rút ra kết luận về kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàngtrong toàn quá trình hoạt động
6 Nội dung khóa luận
Bố cục của bài khóa luận bao gồm 3 phần chính như sau:
Chương I: Lý luận chung về doanh nghiệp vừa và nhỏ và tín dụng đối với doanhnghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại
Chương II: Thực trạng hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàngTMCP Phương Nam- phòng giao dịch Thăng Long
Chương III: Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tạingân hàng TMCP Phương Nam- phòng giao dịch Thăng Long
Do thời gian tìm hiểu, nghiên cứu và thu nhập tài liệu có hạn, kinh nghiệm cũng
Trang 8đề doanh nghiệp vừa và nhỏ còn nhiều điểm phải bàn, thông tin lại chưa đầy đủ vàbước đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu nên bài viết này chắc chắn sẽ cònnhiều những khiếm khuyết Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp chỉ bảo củacác thầy cô giáo để giúp em hoàn thiện đề tài này.
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm và chức năng của ngân hàng thương mại
Khái niệm ngân hàng thương mại
Căn cứ vào Luật Các Tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 do Quốc hội thông quavào ngày 12/12/1997, và được sửa đổi bổ sung tại Luật số 47/2010/QH12 Ngânhàng thương mại được định nghĩa là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiệntoàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác liên quan Luật này cũng địnhnghĩa Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo qui định củaluật này và các qui định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làmdịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng
và cung ứng các hoạt động thanh toán
Chức năng của ngân hàng thương mại:
Chức năng trung gian tín dụng:
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngânhàng thương mại Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vaitrò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Với chức năng này,ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người
Trang 9cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suấtcho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền vàngười đi vay
Chức năng trung gian thanh toán:
Ở đây NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiệncác thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của
họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của kháchhàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ
Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi nhưséc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùytheo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp.Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặpchủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng mộtphương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán Do vậy các chủ thể kinh tế
sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn Chứcnăng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanhtoán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế
Chức năng tạo tiền:
Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân NHTM Vớimục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và pháttriển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình
đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế
Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chứcnăng tín dụng và chức năng thanh toán Thông qua chức năng trung gian tín dụng,ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại đượckhách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tàikhoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền
Trang 10này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế,đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội Ngân hàng thương mại tạo tiền phụthuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với nhtm.
do vậy ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh
tế lớn
1.1.2 Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại
Căn cứ vào Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 Quốc hội ban hành vàongày 16 tháng 06 năm 2010 nêu ra các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thươngmại bao gồm:
Hoạt động huy động vốn
Hoạt động cấp tín dụng
Hoạt động dịch vụ thanh toán
Hoạt động ngân quỹ
Các hoạt động khác như góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinhdoanh ngoại hối, kinh doan vàng, kinh doanh bất động sản, kinh doanh dịch vụ
và bảo hiểm, nghiệp vụ ủy thác và đại lý, dịch vụ tư vấn và các dịch vụ khácliên quan đến hoạt động ngân hàng
- Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang ngườikhác
- Sự chuyển giao mang tính chất tạm thời
Trang 11- Khi hoàn lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải kèm theo mộtlượng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức.
Hoạt động tín dụng ngân hàng
Khái niệm hoạt động tín dụng ngân hàng được qui định tại khoản 14, điều 4- Luậtcác tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 của Quốc hội Hoạt động tín dụng là việcthỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sửdụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiếtkhấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấptín dụng khác
Điểm khác biệt của tín dụng ngân hàng so với các loại hình giao dịch khác ở một
số đặc điểm sau:
- Về chủ thể: một bên tham gia giao dịch bao giờ cũng là trung gian tín dụng( ngân hàng) có đủ các điều kiện hoạt động tín dụng theo qui định của pháp luật.Chủ thể này tham gia giao dịch với tư cách là người đầu tư ( người cho vay haychủ nợ ) và có quyền đòi nợ của người vay khi hợp đồng đáo hạn
- Về nguồn vốn: ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng chủ yếu dựa vào nguồnvốn huy động được từ các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế thông qua các hìnhthức nhận tiền gửi, phát hành các giấy tờ có giá hay vay của các tổ chức tín dụngkhác trên thị trường liên ngân hàng
- Cơ chế kinh doanh của của tổ chức tín dụng là đi vay để cho vay nên hoạt độngtín dụng của các tổ chức này thường có độ rủi cao và có ảnh hưởng dây chuyền đốivới nhiều tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế
1.2.2 Phân loại tín dụng ngân hàng.
Phân loại theo hình thức cấp tín dụng :
Chiết khấu thương phiếu : đây là nghiệp vụ đơn giản, khách hàng gửi thương phiếu
tới Ngân hàng xin chiết khấu, Ngân hàng kiểm tra chất lượng của thương phiếu và
Trang 12tiền này căn cứ vào lãi suất, thời hạn và lệ phí chiết khấu Các ngân hàng thươngmại thường tái chiết khấu thương phiếu tại NHNN để đáp ứng nhu cầu thanhkhoản.
Cho vay : bao gồm thấu chi, cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay luân
chuyển, cho vay trả góp Có thể hiểu chung nhất cho vay là việc ngân hàng đưatiền cho khách hàng với cam kết sẽ trả nợ gốc và lãi trong một thời gian xác định
Thấu chi là nghiệp vụ mà ngân hàng cho phép người vay chi vượt số dư trong tài
khoản tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng
thời gian xác định Cho vay trực tiếp từng lần thường áp dụng với khách hàng có
nhu cầu thời vụ, mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình phương án dùngvốn vay Ngân hàng xem xét và đưa ra qui mô cho vay, thời hạn trả nợ, lãi
suất Cho vay theo hạn mức là ngân hàng thoả thuận cấp cho khách hàng hạn mức
tín dụng - số dư tối đa tại thời điểm tính Hạn mức được xác định dựa vào kế hoạch
sản xuất kinh doanh của khách hàng, nhu cầu vốn và nhu cầu vay của họ Cho vay luân chuyển là dựa vào sự luân chuyển của hàng hoá, doanh nghiệp khi không đủ
vốn mua hàng, ngân hàng sẽ cho vay và thu nợ khi doanh nghiệp bán được hàng
Cho vay trả góp thường áp dụng với món vay trung dài hạn, khách hàng được phép
trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng
Cho thuê: là việc ngân hàng mua tài sản để cho khách hàng thuê theo thỏa thuận cụ
thể Tài sản cho thuê thuộc sở hữu của ngân hàng, ngân hàng có thể bán hay chongười khác thuê khi người thuê không trả nợ được Cho thuê có hai hình thức làcho thuê nghiệp vụ và cho thuê tài chính Hoạt động cho thuê của ngân hàng chủyếu là cho thuê tài chính, nó đáp ứng nhu cầu thuê trong thời gian dài và người đithuê có quyền mua lại tài sản khi hết hợp đồng thuê
Phân loại theo tài sản đảm bảo:
Về nguyên tắc mọi khoản tín dụng đều có đảm bảo nhưng với các khách hàng uytín, tài chính mạnh hay các món vay theo chỉ thị của Chính phủ thì không cần tài
sản đảm bảo Có 2 nghiệp vụ đảm bảo là cầm cố và thế chấp Cầm cố là hình thức
mà người vay phải chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng
Trang 13trong thời gian xác định, thường là bằng thời gian nhận tài trợ Thế chấp là hình
thức mà người vay phải chuyển các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu hay quyền sửdụng tài sản đảm bảo sang ngân hàng nắm giữ trong thời gian cam kết
Phân loại theo thời gian:
Do thời gian liên quan đến tính sinh lời và an toàn của tín dụng nên phân chia theo
thời gian là cần thiết Tín dụng ngắn hạn là từ 12 tháng trở xuống và thường tài trợ cho tài sản lưu động Tín dụng trung hạn là từ 1 đến 5 năm, thường tài trợ cho tài sản cố định Tín dụng dài hạn là trên 5 năm, tài trợ cho các công trình xây dựng
như cầu, đường, máy móc thiết bị sử dụng lâu dài
Phân loại theo rủi ro :
Rủi ro nói chung là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến Còn rủi ro tín dụngđược hiểu là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do kháchhàng không trả, trả không đúng hạn hay không trả đủ vốn và lãi Tín dụng gồm cáckhoản có độ an toàn cao, khá, trung bình và thấp Cách phân loại này giúp ngânhàng đánh giá được kịp thời các khoản tín dụng, giúp cho việc đánh giá chất lượngtín dụng
Ngoài ra, còn có thể xem xét nghiệp vụ tín dụng theo ngành kinh tế công nghiệp,nông nghiệp và dịch vụ; theo mục đích sử dụng khoản tài trợ là sản xuất, tiêu dùnghay thương mại Quan hệ tín dụng được thiết lập giữa hai bên là ngân hàng vàkhách hàng, khách hàng là đối tác hết sức quan trọng trong hoạt động tín dụng vớingân hàng Vì vậy, người ta cũng phân chia khách hàng thành doanh nghiệp lớn,doanh nghiệp vừa và nhỏ, cá nhân hộ gia đình
1.2.3 Tầm quan trọng của tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Vốn kinh doanh là yếu tố tiền đề của mọi quá trình đầu tư Trong nền kinh tế baocấp với cơ chế kế hoạch hoá tập trung đã không quan niệm vốn là hàng hoá đặcbiệt vì vốn được rót từ ngân sách và ngân hàng Vốn đã không được sử dụng hiệuquả do không có nơi giao dịch trên thị trường, điều đó đã làm mất đi vai trò kháchquan của nó trong sản xuất và đầu tư
Trang 14Có thể khái quát, vốn kinh doanh ( bao gồm vốn sử dụng cho sản xuất kinh doanh
và vốn đầu tư tài chính của doanh nghiệp ) là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, vốn cũng là yếu tố cơ bản không thể thiếucủa mọi quy trình sản xuất kinh doanh Nó là điều kiện để đổi mới thiết bị côngnghệ, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng việc làm và thu nhậpcho người lao động từ đó tạo điều kiện để doanh nghiệp tăng sức cạnh tranh trênthị trường, mở rộng xuất khẩu, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Tạo vốnđược hiểu theo nghĩa rộng là làm cho đồng tiền từ khâu dự trữ đi vào khâu lưuthông trên cơ sơ đảm bảo nguyên tắc sinh lời Khi thành lập cũng như trong quátrình phát triển, các doanh nghiệp phải xác định được nhu cầu vốn, cần xem xét cóthể tạo vốn từ những nguồn nào, dưới hình thức nào với chi phí vốn thấp nhất, từ
đó để có thể bảo đảm đầy đủ vốn, sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh vòng quayvốn Đây là vấn đề hết sức quan trọng và khó khăn đặc biệt với các doanh nghiệpvừa và nhỏ
Căn cứ vào phạm vi huy động nguồn vốn mà doanh nghiệp vừa và nhỏ có khảnăng huy động thì có thể chia thành nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoàidoanh nghiệp Nguồn vốn bên trong thể hiện khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp.Nguồn vốn bên trong bao gồm vốn chủ sở hữu bỏ ra đầu tư ban đầu và một phầnnguồn vốn từ chính hoạt động của bản thân doanh nghiệp Tuy nhiên doanh nghiệpvừa và nhỏ với đặc điểm vốn đầu tư ban đầu thường ít, quá trình tích tụ tập trung
để tái sản xuất diễn ra chậm chạp nên nguồn vốn bên trong này không đủ đáp ứngnhu cầu vốn cho đầu tư, vượt quá khả năng vốn liếng của chủ doanh nghiệp Điều
đó đòi hỏi các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải huy động tìm kiếm nguồn vốn từ bênngoài doanh nghiệp Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã làm nảy sinh nhiềuhình thức và phương pháp huy động vốn mới cho doanh nghiệp Đó có thể là vayvốn ngân hàng, thuê tài chính, vay của bạn bè người thân hay đối tác, gọi vốn liêndoanh liên kết, phát hành chứng khoán hoặc thu hút vốn thông qua sáp nhập doanhnghiệp, cổ phần hoá doanh nghiệp Thị trường chứng khoán nước ta mới được
Trang 15thành lập còn non trẻ và rất nhiều tồn tại cần khắc phục, nên doanh nghiệp vừa vànhỏ phát hành chứng khoán khó đáp ứng các yêu cầu, thủ tục rườm rà và khả nănghiệu quả là thấp Liên doanh liên kết hay sáp nhập cần xem xét cân nhắc kỹ lưỡng,làm mất tính chủ động của chủ doanh nghiệp cũng như hoạt động kinh doanh bịrằng buộc chặt chẽ Trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ đặc biệt các doanh nghiệp
tư nhân thường tạo nguồn vốn bằng cách đi vay của bạn bè hay người thân, thịtrường vốn “ chìm “ Tuy nhiên hình thức này nhiều khả năng nảy sinh phức tạpmối quan hệ kinh doanh, quan hệ gia đình xã hội, không ổn định cũng như chịu chiphí vốn cao
Đa phần doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta thuộc thành phần kinh tế ngoài quốcdoanh, đất nước ta lại trải qua nhiều năm chiến tranh khốc liệt nên không có đượcquá trình tích tụ và tập trung vốn do đó vốn rất nghèo nàn Điều này đã gây khókhăn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc mở rộng sản xuất kinh doanh,giảm sức cạnh tranh và hiệu quả trong sản xuất kinh doanh Từ thời điểm thành lậpđến trong quá trình đầu tư mở rộng, doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn ở trong tìnhtrạng thiếu vốn Nhưng cũng vì cơ sở vật chất nhỏ bé, công nghệ chắp vá, thiết bịthấp kém nên doanh nghiệp vừa và nhỏ không tạo được sự tin cậy từ các nhà đầu
tư, khó khăn trong huy động vốn Trước khi đổi mới, hoạt động tín dụng của ngânhàng tập trung 90% vào doanh nghiệp Nhà nước mà chủ yếu là các doanh nghiệplớn Ưu thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ bị hạn chế, tốc độ phát triển chậm chạp.Nhưng những đổi mới trong đường lối chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam đãkhơi nguồn cho sự ra đời và phát triển của doanh nghiệp ngoài quốc doanh nóichung và doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng Đại hội lần thứ 6 của Đảng cộng sảnViệt Nam đã khẳng định “ Chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiếnlược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, vàthể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế bảo đảm mọi người được làm ăn theo phápluật “ Nhiều đạo luật mới như luật doanh nghiệp tư nhân, luật công ty có hiệu lựcthi hành đã giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ có hành lang pháp lý đầy đủ hơn, hoạt
Trang 16chặt chẽ hơn Trong khi các doanh nghiệp lớn mà hầu hết là các doanh nghiệp vừa
và nhỏ với bộ máy cồng kềnh đang trì trệ trong nền kinh tế thị trường sôi động thìngược lại, doanh nghiệp vừa và nhỏ mà chủ yếu nằm trong khu vực kinh tế ngoàiquốc doanh đang nổi lên với sự năng động linh hoạt cao, nhanh chóng nắm bắt thời
cơ kinh doanh Bộ máy quản lý điều hành gọn nhẹ, cùng sự nhạy bén và táo bạo đãkịp thời đề ra các phương án, dự án khả thi
Do đó, trong các kênh huy động vốn thì vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại
là dễ dàng tiếp cận đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ hơn cả Trong nền kinh tế thịtrường, ngân hàng đóng vai trò là các trung gian tài chính, mục tiêu hoạt động làtích tụ tập trung vốn để cung cấp cho mọi thành phần kinh tế, cho mọi doanhnghiệp với quy mô lớn và thời gian dài ổn định Tín dụng ngân hàng có đặc trưng
cơ bản là tính hoàn trả và sinh lời Tháng 3/1996 là cột mốc quan trọng trong hoạtđộng của các ngân hàng thương mại với sự chuyển hẳn sang lãi suất dương củangân hàng, xoá bỏ phân biệt lãi suất cho vay theo thành phần kinh tế Những thayđổi đó đã tạo ra sự bình đẳng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trongquan hệ tín dụng ngân hàng Vì vậy, cùng với sự nhìn nhận đúng đắn của ngânhàng thương mại về các doanh nghiệp vừa và nhỏ, những ưu đãi nới lỏng phù hợpvới tình hình các doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cậnvốn của ngân hàng thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng phải nỗ lực đảm bảo cácđiều kiện từ phía ngân hàng Đó cũng chính là “ người đánh giá” quan trọngphương hướng và tình hình kinh doanh của doanh nghiệp Vì thế, càng buộc cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ cố gắng làm ăn có lãi, tiết kiệm chi phí, hoàn trả vốn vàtrả lãi đúng hạn, nâng cao trách nhiệm hơn với đồng vốn từ ngân hàng tài trợ.Thông qua tín dụng ngân hàng, tăng cường sử dụng vốn đúng mục đích, hạn chếkinh doanh bất hợp pháp của các doanh nghiệp và có thể tham gia định hướng cácngành sản xuất, lĩnh vực kinh doanh mà Nhà nước mong muốn
Để đáp ứng những yêu cầu của chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần,cũng như chia sẻ rủi ro trong hoạt động tín dụng các ngân hàng thương mại ViệtNam đã tích cực tăng trưởng khối lượng tín dụng đối với khu vực kinh tế ngoài
Trang 17quốc doanh nói chung và doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng Các ngân hàngthương mại cũng đã và đang thực hiện nhiều chương trình tín dụng dành cho doanhnghiệp vừa và nhỏ Bằng nguồn vốn tín dụng của ngân hàng mà doanh nghiệp vừa
và nhỏ có điều kiện mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ tiên tiến Doanhnghiệp vừa và nhỏ đã sản xuất ra sản phẩm có mẫu mã đẹp và chất lượng cao, gópphần cải thiện vị trí của sản phẩm nội địa, làm giảm tâm lý chuộng hàng ngoại.Nhờ công nghệ và thiết bị mới doanh nghiệp có khả năng tăng năng suất lao động,
hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trong nước và quốc tế Đồngthời doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng có điều kiện trau dồi thêm kinh nghiệm vàtrưởng thành hơn trong nền kinh tế thị trường, làm quen với các lĩnh vực luật pháp
có liên quan Ngược lại, bên cạnh nhiều doanh nghiệp Nhà nước quy mô lớn làm
ăn không hiệu quả thì các công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty tư nhân đầylinh hoạt, sáng tạo đang không ngừng vươn lên Đó chính là các khách hàng giàutiềm năng, hiệu quả và quan trọng với các ngân hàng thương mại Bởi ngân hàngthương mại cũng thực hiện chế độ hạch toán kinh doanh độc lập, với phương châm
“đi vay để cho vay” đòi hỏi các ngân hàng phải thực sự năng động trong kinhdoanh, phải quan tâm đến cả đầu vào và đầu ra, bảo đảm tự trang trải mọi chi phíhoạt động và có lãi Mở rộng cho vay với các doanh nghiệp vừa và nhỏ không chỉ
là mở rộng thị trường tín dụng cho ngân hàng mà còn giúp ngân hàng có điều kiện
đa dạng hoá khách hàng, mở rộng địa bàn hoạt động và huy động vốn, mở rộngmạng lưới như thêm phòng giao dịch, chi nhánh Tín dụng ngân hàng có vai tròquan trọng trong việc thu hút mọi nguồn vốn trong nước và quốc tế đầu tư cho cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua các chương trình, dự án, góp phần hỗ trợ vốn,trong đó chủ yếu vốn trung dài hạn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ được thànhlập, tồn tại và phát triển, giải quyết một lượng lớn việc làm cho xã hội
1.3 Khái quát về doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.3.1 Khái niệm và đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Khái niệm:
Trang 18Theo điều 3 nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009, doanh nghiệp vừa vànhỏ được định nghĩa như sau:
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Quy mô
Khu vực
Doanh nghiệp siêu nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động
Tổng nguồn vốn
Số lao động
Tổng nguồn vốn
20 tỷ đồngtrở xuống
Từ trên 10người đến
200 người
Từ trên 20 tỷđồng đến 100
tỷ đồng
Từ trên 200người đến
300 người
II Công nghiệp
và xây dựng
10 người trởxuống
20 tỷ đồngtrở xuống
Từ trên 10người đến
200 người
Từ trên 20 tỷđồng đến 100
tỷ đồng
Từ trên 200người đến
300 ngườiIII Thương mại
và dịch vụ
10 người trởxuống
10 tỷ đồngtrở xuống
Từ trên 10người đến
50 người
Từ trên 10 tỷđồng đến 50
tỷ đồng
Từ trên 50người đến
100 người
Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính Phủ.
Một số đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ tồn tại và phát triển ở mọi thành phần kinh tế: tính đến
năm 2011 cả nước hiện có trên 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa, chiếm tới 98%
số lượng doanh nghiệp với số vốn đăng ký lên gần 2.313.857 tỷ đồng (tương
đương 121 tỷ USD) Và khối doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm hơn 33,6% trong các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; 65,9% trong các hợp tác xã và liên hiệphợp tác xã; 94,6% công ty trách nhiệm hữu hạn; 99,4% doanh nghiệp tư nhân;
Trang 1965,9% doanh nghiệp Nhà nước và gần 100% doanh nghiệp hoạt động ở lĩnh vựcnông thôn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có tính năng động và linh hoạt cao trước những thay đổi
của thị trường, có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàngnhanh vì vốn đầu tư ít và thu hồi vốn nhanh Các doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ pháthuy bản chất hợp tác, có thể duy trì tự do cạnh tranh và phát huy tiềm lực ở trongnước
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có bộ máy tổ chức quản lý gọn nhẹ, có hiệu quả.
Các quyết định quản lý được đưa ra và thực hiện nhanh chóng, không ách tắc vàtránh phiền hà nên có thể tiết kiệm tối đa chi phí quản lý doanh nghiệp
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vốn ban đầu ít, thu hồi vốn nhanh, hiệu quả cao,
tạo ra nhiều khả năng đầu tư của các cá nhân và mọi thành phần kinh tế
Bên cạnh một số đặc điểm thể hiện những ưu diểm trên, doanh nghiệp vừa và nhỏcũng còn những đặc điểm bộc lộ mặt hạn chế như trang thiết bị công nghệ khôngbắt kịp thời đại, trình độ quản lý sản xuất kinh doanh còn thấp, khó khăn thâmnhập vào thị trường thế giới, khu vực và mở rộng thị phần Đặc biệt, một mặt hạnchế rất đáng quan tâm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là khó khăn khi tiếp xúcvới các kênh huy động vốn Với đặc trưng quy mô kinh doanh là vừa và nhỏ, vốnđiều lệ ban đầu thấp ( dưới 10 tỷ VNĐ ) nên không đáp ứng được nhu cầu vốn chođầu tư Nguồn tài chính hạn hẹp, quy mô lợi nhuận nhỏ bé dẫn đến tỷ lệ vốn từ lợinhuận đạt được không cao, tích tụ tập trung để tái sản xuất diễn ra chậm chạp Vớidoanh nghiệp vừa và nhỏ, giá trị tài sản thuần thấp ( tổng giá trị tài sản của doanhnghiệp sau khi trừ đi nợ phải trả ), uy tín trên thương trường không cao, trình độ vềlĩnh vực sản xuất kinh doanh cũng như nhiều lĩnh vực có liên quan khác còn hạnchế, đa số là doanh nghiệp Nhà nước không được hưởng nhiều các ưu đãi, chínhsách hỗ trợ của Chính phủ và Nhà nước nên các nhà đầu tư coi đây là khu vực rủi
ro cao, mang tâm lý e ngại dè dặt Chính vì vậy, doanh nghiệp vừa và nhỏ gặpnhiều trở ngại khi tiếp cận các kênh huy động vốn trong nền kinh tế
Trang 201.3.2 Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với sự phát triển của nền
kinh tế
Đối với Việt Nam, một nước đang phát triển, đang tiến tới một nền kinh tế thịtrường phát triển đa ngành nghề, mục tiêu hội nhập kinh tế, định hướng xã hội chủnghĩa thì doanh nghiệp vừa và nhỏ càng có ý nghĩa quan trọng Thể hiện cụ thểtrên các mặt sau :
- Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng cao về số lượng, thu hút nhiều laođộng và đóng góp phần lớn thu nhập quốc dân cho đất nước Theo số liệu thống kêcủa các nhà kinh tế, hiện nay doanh nghiệp vừa và nhỏ của nước ta chiếm trên 90%tổng số doanh nghiệp, tạo công ăn việc làm cho khoảng 95% lao động xã hội Nhưvậy, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là chủ trương đúng đắn của Đảng, nóđược gắn liền với đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng theo địnhhướng kinh tế thị trường nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập, góp phần vào ổnđịnh tình hình kinh tế xã hội
- Các doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò quan trọng trong lưu thông hàng hoá
và cung cấp dịch vụ, có vai trò bổ sung cho các doanh nghiệp lớn, là xí nghiệp giacông vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn cùng hệ thống và là màng lưới tiêu thụ hànghoá cho các doanh nghiệp lớn Hiện doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng 31%tổng sản lượng công nghiệp hàng năm, 78% doanh số bán lẻ trong thương nghiệp,64% khối lượng vận chuyển hành khách và hàng hoá
- Các doanh nghiệp vừa và nhỏ đáp ứng tích cực, kịp thời nhu cầu tiên dùng ngàycàng phong phú và đa dạng mà các doanh nghiệp lớn không thể làm được, chế biếnhàng hoá xuất khẩu và tăng kim ngạch xuất khẩu Hệ thống siêu thị cũng không thểthay thế được các cửa hàng bán lẻ, những nhà máy quy mô lớn hiện đại không sảnxuất được những sản phẩm đơn chiếc Bằng sự đa dạng ngành nghề, tính nhạy cảmthị trường các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ có nhiều thuận lợi trong sản xuất vàcung cấp dịch vụ, đáp ứng mọi sản phẩm và nhu cầu tiêu dùng của xã hội Với lợithế so sánh về các nguyên liệu nông lâm thuỷ hải sản để sản xuất hàng hoá xuấtkhẩu, lợi thế về ngành nghề thủ công truyền thống đã tạo ra khả năng vô cùng to
Trang 21lớn cho khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia sản xuất, gia công chế biến, đại
lý khai thác cho xuất khẩu Do doanh nghiệp lớn hạn chế về khu vực địa lý,phương pháp tổ chức sản xuất và nếu muốn kinh doanh thường phải sử dụng cácdoanh nghiệp vừa và nhỏ làm vệ tinh thu mua nguyên liệu, chế biến, đóng gói
- Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tếđịa phương, khai thác tiềm năng thế mạnh của từng vùng sản xuất Phát triển doanhnghiệp vừa và nhỏ sẽ giúp các địa phương khai thác thế mạnh về đất đai, tàinguyên, lao động trong mọi lĩnh vực phục vụ phát triển kinh tế địa phương Từngđịa phương cũng bị giới hạn bởi ngân sách, khả năng tích tụ và tập trung vốn củadoanh nghiệp tư nhân không nhiều nên việc phát triển doanh nghiệp lớn là hạn chế.Chính vì vậy, Đảng và Chính phủ ta đưa ra các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tếtrang trại ở vùng núi phía Bắc, vùng cao nguyên Nam trung bộ và phát huy cáclàng nghề truyền thống
Như vậy, có thể khẳng định vị trí và vai trò của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ,đồng thời việc chú trọng phát triển các doanh nghiệp vừa nhỏ là một trong nhữnghướng chiến lược quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đấtnước
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN PHƯƠNG
Trang 222.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam-Phòng giao dịch Thăng Long.
2.1.1 Giới thiệu tổng quát về Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam
Tên ngân hàng: Ngân hàng TMCP Phương Nam
Tên giao dịch: Ngân hàng TMCP Phương Nam
Tên tiếng anh: SOUTHERN COMMERCIAL JOINT STOCK BANK
Tên viết tắt: SOUTHERN BANK
Hình thức pháp lý: Ngân hàng TMCP
Hội sở chính: 279 Lý Thường Kiệt, Phường 15, Quận 11, TP.HCM
Được thành lập vào năm 1993 với vốn điều lệ ban đầu là 10 tỷ đồng Đến nay,Ngân hàng Phương Nam trở thành một ngân hàng thương mại cổ phần phát triểnmạnh, bền vững và tạo được niềm tin của khách hàng: vốn điều lệ Ngân hàngPhương Nam là 4.000 tỷ đồng, mạng lưới hoạt động 137 chi nhánh, phòng giaodịch và các đơn vị trực thuộc trên toàn quốc; tổng tài sản đạt hơn 72.000 tỷ đồng
2.1.2 Lịch sử hình thành
Ngân hàng TMCP Phương Nam (Ngân hàng Phương Nam) được thành lập19/05/1993 với số vốn ban đầu 10 tỷ đồng Năm đầu, ngân hàng Phương Nam đạttổng vốn huy động 31,2 tỷ đồng; dư nợ 21,6 tỷ đồng; lợi nhuận 258 triệu đồng Vớimạng lưới tổ chức hoạt động là 01 Hội sở và 01 chi nhánh
Trước những khó khăn của nền kinh tế thị trường còn non trẻ và sự tác động mạnhcủa cuộc khủng hoảng tài chính khu vực (1997), ngân hàng Nhà nước đã chủtrương tập trung xây dựng hệ thống ngân hàng thương mại vững mạnh Theo chủ
Trang 23trương đó, Hội đồng Quản trị ngân hàng đã đề ra những chiến lược tạo tiền đềvững chắc cho sự phát triển sau này của ngân hàng Phương Nam:
Phát triển năng lực tài chính lành mạnh, vững vàng đáp ứng mọi nhu cầuhoạt động kinh doanh và phát triển kinh tế
Xây dựng bộ máy quản lý điều hành có năng lực chuyên môn giỏi, đạo đứctốt và trách nhiệm cao Bảo đảm cho mỗi bước đi của Ngân hàng PhươngNam luôn đúng hướng, an toàn và phát triển bền vững
Trải rộng mạng lưới hoạt động tại các vùng kinh tế trọng điểm của cả nước,góp phần tạo động lực tích cực cho phát triển kinh tế - chính trị - xã hội củatừng khu vực, đưa Ngân hàng Phương Nam trở thành ngân hàng đa phần sởhữu lớn mạnh theo mô hình Ngân hàng thương mại cổ phần của Nhà nước vànhân dân
Theo chiến lược đó, Ngân hàng Phương Nam đã tiến hành sáp nhập các ngân hàng
và các tổ chức tín dụng trong giai đoạn 1997 – 2003:
1 Sáp nhập Ngân hàng TMCP Đồng Tháp năm 1997
2 Sáp nhập Ngân hàng TMCP Đại Nam năm 1999
3 Năm 2000 mua Qũy Tín Dụng Nhân Dân Định Công Thanh Trì Hà Nội
4 Năm 2001 sáp nhập Ngân hàng TMCP Nông Thôn Châu Phú
5 Năm 2003 Sáp nhập Ngân hàng TMCP Nông Thôn Cái Sắn, Cần Thơ
Bằng niềm tin vững chắc và lòng nhiệt huyết của Ban lãnh đạo cùng với đội ngũnhân viên năng động và có tinh thần trách nhiệm Ngân Hàng TMCP Phương Nam(Ngân hàng Phương Nam) đã có những bước đi vững chắc và đầy ấn tượng Trảiqua nhiều thăng trầm, đến 2012 ngân Hàng TMCP Phương Nam có 137 ChiNhánh, Phòng Giao Dịch và đơn vị trực thuộc tọa lạc trên khắp phạm vi cả nước;Vốn điều lệ đạt hơn 4.000 tỷ đồng, và tổng tài sản hiện tại đạt hơn 72.000 tỷ đồng
Trang 242.1.3 Sứ mệnh và tầm nhìn
SỨ MỆNH
Ngân hàng Phương Nam luôn cam kết mang đến giá trị Tín trong chất lượng từng
dịch vụ, thủ tục nhanh chóng, lãi suất hấp dẫn với nhiều giá trị cộng thêm,… Cùng
với tiêu chí hoạt động của mình “Tất cả vì sự thịnh vượng của khách hàng”,
ngân hàng Phương Nam mang sứ mệnh đem sự thịnh vượng đến với cộng đồng, xã
hội và đến từng khách hàng
TẦM NHÌN
Trở thành tập đoàn tài chính đa năng và là một trong những ngân hàng bán lẻ hàngđầu của Việt Nam được công nhận trên thị trường tài chính các nước trong khu vựcthông qua nỗ lực nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, đưa ra nhiều giải pháp
và phương hướng kinh doanh mới và sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên của ngânhàng Phương Nam (nhân lực, cơ sở hạ tầng, tài nguyên bất động sản)
CHIẾN LƯỢC HOẠT ĐỘNG
Phát triển thành tập đoàn tài chính đa năng và mạnh mẽ của khu vực bằng chiếnlược phát triển phạm vi hoạt động sang nhiều lĩnh vực tài chính như: chứng khoán,bảo hiểm, bất động sản,…
Tích cực tìm kiếm các đối tác chiến lược trong và ngoài nước để trao đổi kinhnghiệm và công nghệ, hoàn thiện các qui trình nội bộ (bao gồm quản trị doanhnghiệp và quản trị rủi ro), liên kết cùng phát triển vì mục tiêu phát triển bền vữngcủa ngân hàng nói riêng và của cộng đồng nói chung
Tối đa hoá giá trị đầu tư của các cổ đông; giữ vững tốc độ tăng trưởng lợi nhuận vànăng lực tài chính lành mạnh
Trải rộng hệ thống chi nhánh trên toàn quốc để mở rộng thị phần về các dịch vụ tàichính, làm cầu nối đưa hình ảnh ngân hàng đến gần hơn với khách hàng
Trang 252.1.4 Những đánh giá chung về ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam – phòng Giao dịch Thăng Long dựa vào mô hình SWOT
Trang 26 Điểm mạnh:
Với mục tiêu phát triển thành một ngân hàng bán lẻ hàng đầu với phương châmhoạt động là : Tất cả vì sự thịnh vượng của khách hàng” Ngân hàng Phương Namđược tạo dựng vững vàng và chiếm vị trí cao trong nhận thức của khách hàng.Trong những năm qua, ngân hàng Phương Nam luôn đa dạng hóa và nâng cao chất
Trang 27lượng sản phẩm, dịch vụ Nhiều dịch vụ mới xuất hiện đem lại tiện ích tối đa đếnkhách hàng như:
- Bộ sản phẩm Ebanking gồm Internetbanking, Phonebanking,Mobilebanking, SMSbanking Các tiện ích khác như: chuyển tiền trong nước vàngoài hệ thống ngân hàng Phương Namđảm bảo tính bảo mật và độ an toàn cao, tracứu số dư, tỷ giá một cách nhanh chóng và tiện lợi mà khách hàng không cầnphải tới giao dịch tại ngân hàng
- Sản phẩm dành cho khách hàng doanh nghiệp cũng rất đa dạng và phongphú với nhiều tiện ích khác nhau:
Cho vay ngắn hạn từng lần
Cho vay ngắn hạn theo hạn mức
Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng
Cho vay tài trợ xuất nhập khẩu
Cho vay theo dự án đầu tư
Cho vay các nhu cầu về tài chính mà pháp luật không cấm
Cho vay cầm cố, chiết khấu chứng từ có giá
Ngân hàng TMCP Phương Nam rất chú trọng vào việc nâng cao trình độ nghiệp vụ
và các kỹ năng cho đội ngũ cán bộ nhân viên Do vậy mà Phòng giao dịch ThăngLong cũng đang sở hữu đội ngũ nhân viên rất chất lượng: tinh thông nghiệp vụ,nhiệt tình năng động, nhã nhặn và khả năng giao tiếp và tiếp xúc khách hàng rấttốt Đó là điều mà các ngân hàng trong hệ thống ngân hàng thương mại đang cùngnhau hướng tới để nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như là sự phát triển bền vữngcho ngân hàng
Điểm yếu
Trang 28- Điểm yếu duy nhất mà cũng có ảnh hưởng rất lớn đến vai trò cũng như chấtlượng hoạt động của phòng giao dịch Nếu như qui mô đủ lớn thì ngân hàng sẽ
có nhiều cơ hội tiếp đón cũng như phục vụ hấu hết các nhu cầu của các kháchhàng khác nhau Và điều đó cũng tạo được ấn tượng đối với khách hàng, làmcho khách hàng cảm thấy yên tâm hơn và hãnh diện hơn khi mình được tiếp đón
và được phục vụ tại một ngân hàng có cơ sở vật chất tốt, tiện nghi và hiện đại
- Do chức năng là một phòng giao dịch nên phòng giao dịch Thăng Longkhông thể tự quyết trong một số trường hợp khách hàng doanh nghiệp có qui
mô lớn, hay những món vay lớn hay khi trình hồ sơ lên chi nhánh sẽ gặp rấtnhiều khó khăn, và đây cũng chính là nguyên nhân khiến khách hàng băn khoănnhiều nhất, mất thời gian và thậm chí là không thể giải ngân Phòng giao dịchcũng chưa được thực sự quan tâm nhiều từ ban lãnh đạo của ngân Phương Nam
để đổi mới công nghệ, đầu tư trang thiết bị để phục vụ cho việc nâng cao chấtlượng hoạt động và giảm thiểu rủi ro
Cơ hội
- Phòng giao dịch Thăng Long nằm tại Quận Thanh Xuân với số lượng dân cưđông đúc, nhiều trung tâm thương mại và các dự án đầu tư xây dựng lớn đang triểnkhai sẽ tạo cơ hội rất lớn cho ngân hàng mở rộng khách hàng vay vốn, và các hoạtđộng tín dụng khác Một số dự án như dự án chung cư & văn phòng cho thuê H10 -Thanh Xuân Nam, chung cư City View Hà Đông , khu nhà chung cư cao tầng 44Triều Khúc , tổ hợp Royal City , chung cư star city II đó chính là khách hàngtiềm năng mà ngân hàng cần quan tâm và có kế hoạch phát triển trong tương lai
- Các kênh đầu khác rủi ro cao: Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế,
bất động sản đóng băng Năm 2011, thị trường bất động sản khép lại một năm đầy
khó khăn và sóng gió, thị trường gày một trầm lắng về giao dịch và bị đóng băng,nguy cơ về “quả bong bóng” nổ trên thị trường ngày một hiện hữu khi thị trường
cứ tiếp tục lao dốc Không chỉ doanh nghiệp bất động sản lao đao vì thiếu vốn mànhiều nhà đầu tư bất động sản cũng điêu đứng trước những khó khăn về tài chínhkhiến cho thị trường bất động sản xuất hiện hiện tượng bán tháo, giảm giá và thậm
Trang 29chí vỡ nợ một số doanh nghiệp và nhà đầu tư bắt đầu rút lui khỏi thị trường Thịtrường chứng khoán sụt giảm không minh bạch, tính đến cuối năm 2011thị trườngchứng khoán chứng kiến mức đáy sâu nhất trong lịch sử của HNX-Index tại mức
56 điểm (27/12/2011) và giảm 50% so với mức đỉnh trong năm và VN-Index cũngchính thức ghi nhận mức đáy 347 điểm (27/122011) và giảm 34% so với mức đỉnhtrong năm, giá vàng tăng giảm bất thường, khó kiểm soát làm cho người dân mấttin tưởng đầu tư vào các kênh đầu tư này Vì vậy đem tiền đến gửi tại ngân hàngđược xem là phương án đầu tư ít rủi ro nhất, tạo sự tín tưởng cho người dân vì tạithời điểm này rất ít người lại mạo hiểm mang tiền đi đầu tư chứng khoán hay bấtđộng sản đó sẽ tạo đà cơ hội cho ngân hàng thu hút được nguồn vốn nhàn rỗitrong dân cư và tạo được niềm tin vững chắc nơi khách hàng
Thách thức
Nhưng ngân hàng Phương Nam –phòng giao dịch Thăng Long nói riêng và cácngân hàng thương mại nói chung đang đứng trước những thách thức không hề nhỏ:ngoài ảnh hưởng tiêu cực từ khủng hoảng kinh tế, NHNN liên tục ban hành nhữngchính lãi suất mới liên giảm lãi suất huy động theo đó các ngân hàng thương mại sẽkhông canh tranh nhau bằng lãi suất Điều đó cũng là nguyên nhân khiến việc tiếpcận vốn tiền gửi gặp rất nhiều khó khăn và tiềm ẩn nhiều rủi ro trong hoạt động.Ngoài ra, phòng giao dịch cũng chịu rất nhiều áp lực từ đối thủ cạnh tranh, rấtnhiều chi nhánh ngân hàng, phòng giao dịch hoạt động trên địa bàn, điều đó sẽ làmcho lượng khách hàng của ngân hàng loãng đi rất nhiều Đòi hỏi ngân hàng luônluôn có kế hoạch chăm sóc khách hàng và nâng cao chất lượng dịch vụ, triển khaicác sản phẩm, dịch vụ mới để kịp thời đáp ứng những nhu cầu của khách hàng.Tạo niềm tin, sự an tâm đến với khách hàng khi khách hàng sử dụng sản phẩm,dịch vụ của ngân hàng
Hàng loạt doanh nghiệp giải thể, phá sản: Theo Bộ kế hoạch và Đầu tư, đến tháng
9 năm 2011, có gần 49.000 doanh nghiệp đã giải thể, phá sản, ngừng hoạt động,
Trang 30ngừng nộp thuế Trong đó, phá sản, giải thể là 5.800 DN, khoảng 11.500 DNngừng hoạt động và 31.500 doanh nghiệp ngừng nộp thuế Như vậy bình quân mộtquý có trên 12.000 doanh nghiệp giải thể, phá sản,ngừng hoạt động, ngừng nộpthuế Với tốc độ này, dự báo cả năm 2011 số doanh nghiệp lâm vào tình trạng nhưtrên có thể chiếm tới 10% trong tổng số trên 600.000 doanh nghiệp cả nước hiệnnay Những khoản vay của những doanh nghiệp này trở thành nợ quá hạn, nợ xấu.Gánh nặng nợ xấu tăng sẽ liên quan đến sự an toàn của ngân hàng và là " kẻ thù"của nền kinh tế.
2.2 Tổng quan về Ngân hàng Phương Nam – phòng giao dịch Thăng Long
Tên phòng giao dịch: phòng giao dịch Thăng Long
Địa chỉ: 129K Đường Nguyễn Trãi, Quận Thanh Xuân, Hà Nội.Phòng giao dịch Thăng Long trực thuộc chi nhánh Thanh Xuân – chi nhánh cấp IIcủa ngân hàng Phương Nam Ngày 31/12/2004, theo quyết định Số382/09/HĐQT.2004, Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Phương Nam quyết địnhthành lập chi nhánh cấp II Thanh Xuân trực thuộc chi nhánh cấp I Hà Nội ngânhàng TMCP Phương Nam với tên gọi: Chi nhánh cấp II Thanh Xuân – Chi nhánh
Hà Nội, ngân hàng TMCP Phương Nam Địa chỉ : 129K Đường Nguyễn Trãi,Quận Thanh Xuân, Hà Nội Đến ngày 15/2/2007, Theo quyết định số85C/QĐ/HĐQT.2007, Hội đồng quản trị ngân hàng TMCP Phương Nam quyếtđịnh nâp cấp Chi nhánh cấp II Thanh Xuân trực thuộc Chi Nhánh Hà Nội
Trang 312.2.1 Sơ đồ tổ chức tại Phòng giao dịch Thăng Long
Phó giám đốc (Kiểm soát viên)
Trang 32 Ban giám đốc: Điều hành, điều tiết, giám sát các hoạt động hàng ngày củaphòng giao dịch Ký và tham gia hoàn chỉnh hồ sơ hợp đồng tín dụng tại phònggiao dịch.
Tổ tín dụng: Xử lý các hồ sơ tín dụng của khách hàng, hoàn thiện hồ sơ tíndụng theo qui trình của ngân hàng và thẩm định hồ sơ tín dụng của khách hàngtrước khi trình lên lãnh đạo chi nhánh
Giao dịch viên: Tiếp nhận nhận trực tiếp các nhu cầu hàng ngày của khách hàngnhư: mở thẻ, mở tài khoản thanh toán, rút tiền, mở sổ tiết kiệm, tất toán sổ tiếtkiện,… Ngoài ra, các giao dịch viên còn tư vấn cho khách hàng các sản phẩmdịch vụ của ngân hàng, để khách hàng có thể lựa chọn được sản phẩm phù hợpnhất cho mình
Phòng phục vụ khách hàng: Các nhân viên tín dụng tiếp nhận nhu cầu củakhách hàng, tư vấn cho khách hàng những sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng đểkhách hàng lựa chọn cũng như tìm được sản phẩm phù hợp với nhu cầu củamình Các nhân viên tín dụng còn hỗ trợ, giúp đỡ khách hàng trong việc làmthủ tục, hồ sơ cần thiết để khách hàng có thể nhanh chóng hoàn thiện bộ hồ sơcủa mình
2.3 Tình hình kết quả hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Phương phòng giao dịch Thăng Long giai đoạn 2009-2011.
Nam-2.3.1 Tình hình huy động vốn tại Phòng giao dịch Thăng Long ( 2009-2011 ).
Không giống với các chủ thể kinh tế khác, ngân hàng Thương mại hoạt độngkhông phải bằng nguồn vốn tự có mà chủ yếu là từ nguồn vốn huy động, vì thếhoạt động huy động vốn luôn được coi là nhiệm vụ quan trọng và được ưu tiênhàng đầu Hoạt động này có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động khác như cho vay vàcác hoạt động tín dụng khác và quyết định đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.Trong giai đoạn vừa qua, phòng giao dịch Thăng Long đã đạt được những thànhtựu đáng kể trong công tác huy động vốn Điều này được thể hiện rõ nét qua sự
Trang 33tăng trưởng của tổng nguồn vốn và mức tăng vốn huy động, cũng như qua sự biếnđộng nguồn vốn giai đoạn 2009 – 2011
Nguồn vốn huy động được tại phòng giao dịch chủ yếu dưới các hình thức sau:Tiền gửi của dân cư, tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tiền vay của các tổ chức tíndụng và giấy tờ có giá
-Tiền gửi của dân cư: Đây vẫn là nguồn huy động có ưu thế và chiếm tỷ trọngkhông nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động được của phòng giao dịch Thăng Long.Lượng tiền gửi của các tầng lớp dân cư có mức tăng đáng kể trong giai đoạn 2009– 2011 Năm 2009, nguồn vốn huy động từ tiền gửi của dân cư là 226,8 tỷ chiếm40,5% tổng nguồn vốn huy động của phòng giao dịch, thì đến 2011 đã tăng lên470,63 chiếm 42% tổng nguồn vốn huy động Sự tăng trưởng của nguồn huy độngnày là do ban lãnh đạo ngân hàng đã nhận thấy rõ xu hướng chung – mỗi gia đình
và cá nhân trong xã hội đều có những khoản tiết kiệm để dự phòng cho nhu cầu chitiêu cho tương lai, dự phòng cho những biến cố có thể xảy ra Đặc biệt là khi xãhội càng phát triển, tình hình kinh tế có nhiều biến động khó lường trước, các kênhđầu tư khác như vàng, ngoại tệ và thậm chí là chứng khoán đã không còn hấp dẫn
và rất nhiều rủi ro thì việc gửi tiền vào ngân hàng được xem là phương án đầu tư
an toàn nhất mặc dù lãi suất còn chưa thực sự ổn định Nắm được xu hướng này,Chi nhánh Thanh Xuân cũng như phòng giao dịch Thăng Long đã có được nhữngchính sách, biện pháp thích hợp nhằm huy động tối đa nguồn tiền nhàn rỗi này, từ
đó tạo ra một nguồn vốn không nhỏ phục vụ cho nhu cầu cung ứng vốn và manglại lợi nhuận cho ngân hàng
- Tiền gửi từ các tổ chức kinh tế: Nguồn huy động này chủ yếu được phòng giaodịch Thăng Long thực hiện thông qua việc mở tài khoản tiền gửi thanh toán chocác khách hàng là các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế Thông qua hình thức này,một khối lượng tiền lớn được chuyển qua phòng giao dịch để thức hiện chức năngthanh toán theo yêu cầu của các chủ tài khoản Khi hình thành nguồn huy động
Trang 34này, do có sự đan xen giữa các khoản phải thu và các khoản phải trả, nên hệ thốngtài khoản của phòng giao dịch luôn hình thành một số dư tiền gửi nhất định và đây
là nguồn huy động có chi phí thấp Phòng giao dịch Thăng Long đã biết khai thác
và sử dụng nguồn vốn này một cách có hiệu quả cao, điều này được thể hiện quamức tăng của nguồn tiền gửi từ các tổ chức kinh tế: Năm 2009 là 218,4 tỷ đồngchiếm 39% trong tổng nguồn vốn huy động, đến năm 2010 là 417,44 tỷ chiếm tỷtrọng 43% trong tổng nguồn huy động, đặc biệt là đến hết năm 2011 thì nguồn huyđộng này lại giảm xuống còn 224,11 tỷ chiếm tỷ trọng 20% tổng nguồn vốn huyđộng Nguyên nhân sụt giảm đáng kể của loại tiền gửi này là biến động của nềnkinh tế đang lâm vào tình trạng khủng hoảng, các doanh nghiệp đang đứng trướcnguy mất thanh khoản Và cũng trong thời điểm nhạy cảm này có tới hơn 4900doanh nghiệp đã giải thể, phá sản và ngừng hoạt động
- Tiền vay từ các tổ chức tín dụng: Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng không lớn trongtổng nguồn huy động của phòng giao dịch Năm 2009 là 98 tỷ đồng chiếm 17,5%nguồn vốn huy động, đến năm 2010 tăng gần 39% từ 98 tỷ lên 135,91 tỷ đồng vàchiếm 14% trong tổng số nguồn vốn huy động Năm 2011, nguồn huy động chiếmtới 37,5% tổng nguồn vốn huy động Trong 2 năm gần đây, do nguồn vốn huyđộng tại phòng giao dịch từ dân cư và từ các tổ chức kinh tế có nhiều biến độngnên để đảm bảo khả năng thanh khoản cho chi nhánh trong tương lai thì nguồn huyđộng này có tăng lên Đây là nguồn vốn mà phòng có được nhờ sự hỗ trợ từ hội sởcũng như từ chi nhánh các cấp và một số tổ chức tín dụng khác Thông thường thìnguồn huy động này có chi phí cao hơn vì vậy chỉ khi ngân hàng thiếu vốn khảdụng trong một khoảng thời gian ngắn thì ngân hàng mới đi vay
- Huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá: Phòng giao dịch Thăng Long mớichỉ được thực hiện phát hành chứng chỉ tiền gửi Đây là việc phát hành những giấy
tờ xác nhận tiền gửi định kỳ ở ngân hàng TMCP Phương Nam –phòng giao dịchThăng Long, người sở hữu giấy này sẽ được thanh toán tiền lãi theo kỳ và nhận đủ
Trang 35vốn khi đến hạn Do đó, nguồn vốn từ hình thức huy động này ở phòng giao dịch làrất khiêm tốn trong cơ cấu tổng nguồn huy động (dưới 5%).
Để thấy rõ hơn tình hình công tác huy động vốn của phòng giao dịch Thăng Long,dưới đây là biểu đồ cho thấy sự thay đổi quy mô của vốn huy động so với tổngnguồn vốn, sự biến động trong cơ cấu nguồn vốn huy động
Biểu đồ 1: Tỷ trọng vốn huy động và tổng nguồn vốn
ĐV: tỷ đồng
Nguồn: Báo cáo tài chính của Phòng giao dịch Thăng Long
Trang 36Từ biểu đồ trên ta có thể thấy tỷ trọng tổng tăng nguồn vốn của phòng giao dịchThăng Long tăng qua các năm từ năm 2009 đến năm 2011 với tỷ lệ tăng trưởngbình quân là 186,85 tỷ một năm, một con số cũng thật ấn tượng khi mà đây chỉ làmột phòng giao dịch thuộc chi nhánh của ngân hàng Từ biểu đồ trên, cũng chothấy được tầm quan trọng của nguồn vốn huy động của ngân hàng nói chung vàcủa các phòng giao dịch nói riêng, nó không chỉ gia tăng qua các năm mà cònchiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn Năm 2009 tỷ lệ này là gần 66%, đến
2010 vốn huy động tăng 73,4% từ 560 tỷ đồng lên 970,8 tỷ đồng và chiếm tới 94%trong tổng số nguồn vốn của phòng giao dịch, điều đó cho thấy tỷ lệ gia tăng quánhanh của nguồn vốn huy động so với nguồn vốn tự có cũng như vốn khác củangân hàng Nhưng đến năm 2011, tỷ lệ này giảm còn 61% nhưng vẫn chiếm tỷtrọng tương đối so với tổng nguồn vốn, nguyên nhân của việc giảm này là do sựbiến động của kinh tế trong nửa cuối năm 2011, nền kinh tế gặp rất nhiều khó khăn
từ việc thị trường bất động sản đóng băng, thị trường chứng khoán bất thường, lãisuất huy động liên tục áp trần, chính sách tiền tệ thắt chặt làm cho các ngân hàngtiếp cận với các nguồn vốn gặp nhiều khó khăn và hạn chế đáng kể
Và để tìm hiểu kỹ hơn về tình hình huy động vốn của phòng giao dịch Thăng Longtrong giai đoạn từ năm 2009- 2011, công tác huy động vốn của phòng giao dịch đãchú trọng vào loại hình tiền gửi nào: ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn Từ đó, đểthấy rõ được kế hoạch chiến lược của nhà quản trị đến việc sử dụng vốn cũng nhưhạn chế rủi ro trong quá trình sử dụng vốn của phòng giao dịch
Bảng 1: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo thời gian
Chỉ tiêu
Tỷ trọng (Tỷ đồng)
Trang 37Nguồn: Báo cáo tài chính của Phòng giao dịch Thăng Long
Qua bảng số liệu trên ta thấy, trong cơ cấu nguồn vốn huy động của phòng giaodịch Thăng Long thì nguồn vốn huy động trung hạn và ngắn hạn chiếm tỷ trọngtương đối cao so với tổng nguồn huy động ( trên 45%) Cơ cấu nguồn vốn này chothấy đây là một điểm đáng mừng trong công tác huy động vốn của phòng giaodịch Vì với cơ cấu nguồn vốn chủ yếu là nguồn trung hạn và dài hạn sẽ đảm bảocho sự phát triển ổn định và vững chắc hơn của phòng giao dịch Xét về mức tăngtuyệt đối, năm 2009 nguồn vốn trung hạn chiếm 275,7 tỷ đồng tương đương vớimức tỷ trọng là 32,4%, đến năm 2010 lượng vốn huy động ngắn hạn tăng lên tớimức là 370,2 tỷ đồng và trong cơ cấu nguồn vốn thì tỷ trọng cũng lên tới 36%.Năm 2011 là năm có nhiều thay đổi, trong cơ cấu tổng vốn huy động, nguồn trung
và dài hạn không còn chiếm ưu thế và có xu hướng giảm xuống về tỷ trọng lần lượt
là 23% và 22% nguyên nhân là nguồn vốn huy động trong năm này có tỷ trọng chỉchiếm 60,5% trong tổng nguồn vốn thấp hơn năm 2009 và 2010 lần lượt là 65,8%
và 94,4% Tuy nhiên về mức tăng tuyệt đối thì hai nguồn này vẫn cho thấy đượcthế mạnh của mình khi mà cao hơn hẳn so với năm 2010 là 435,99 tỷ đồng và407,5 tỷ đồng, phòng cần có những biện pháp duy trì giữ vững cơ cấu vốn này để
Trang 38đảm bảo cho sự phát triển bền vững của phòng giao dịch, cũng như của chi nhánh
và ngân hàng Phương Nam
2.3.2 Tình hình cho vay của phòng giao dịch Thăng Long giai đoạn 2009-2011 Bảng 2: Tình hình cho vay tại Phòng giao dịch giai đoạn 2009-2011
Nguồn: Báo cáo tài chính của Phòng giao dịch Thăng Long
Dựa vào bảng số liệu ta thấy, doanh số cho vay của phòng giao dịch Thăng Longchiếm tỷ trọng khá cao Nếu như năm 2009 tỷ trọng cho vay chiếm 75,76% trongtổng nguồn vốn là 650,6 tỷ đồng, cùng với sự gia tăng tổng nguồn vốn của phònggiao dịch vào năm 2010 thì tỷ trọng này đã tăng lên 86,34% Điều này cho thấy,trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng thì hoạt động cho vay là hoạtđộng chiếm tỷ trọng cao nhất và luôn luôn giữ vai trò chủ đạo Nguồn vốn ngânhàng huy động được chủ yếu dùng để cho vay Hoạt động này cũng đem lại chongân hàng nhiều doanh thu nhất, đồng nghĩa với nó là hoạt động cho vay lại là hoạtđộng có độ rủi ro cao nhất trong hoạt động của ngân hàng Doanh số cho vay củangân hàng vào năm 2011 vẫn có có chiều hướng tăng nhưng với tốc độ có phầnchậm lại, thế nhưng với doanh số đạt 1009,8 tỷ đồng thì tỷ trọng này chỉ chiếm
Trang 3954,56% trong tổng nguồn vốn của ngân hàng Nền kinh tế bước sang năm 2011không được ổn định và tiềm tàng rất nhiều rủi ro, do đó các nhà đầu tư khôngmuốn mạo hiểm đầu tư quá nhiều mà thận trọng hơn Lạm phát tăng cao gần 19%tính chung cho cả năm 2011 làm thị trường tiêu dùng cũng trở lên ảm đạm Khókhăn chồng chất khó khăn khi mà vẫn đang loay hoay về nhu cầu vốn thì ngânhàng cũng gặp khó khăn về vấn đề giải ngân Tuy nhiên, đây cũng chưa phải là một
cơ cấu cho vay thích hợp của Ngân hàng, Ngân hàng cần phải chú trọng đến côngtác mở rộng cho vay trong tương lai, tranh thủ kịp thời các cơ hội đầu tư nhằm mởrộng qui mô hoạt động của Ngân hàng Xét về góc độ tăng trưởng của doanh sốtừng giai đoạn , thì năm 2010 tăng 36,43% so với năm 2009, nếu như năm 2009doanh số cho vay là 650,6 tỷ đồng thì năm 2010 là 887,6 tỷ đồng Giai đoạn 2010-
2011 tỷ lệ này tăng trưởng chậm lại chỉ còn 13,77%
Doanh số thu nợ của ngân hàng trong giai đoạn này cũng có nhiều biến động tương
tự Nếu như doanh số thư nợ của phòng giao dịch năm 2009 là 532,8 tỷ đồng, thìnăm 2010 là 760,3 tỷ đồng, tăng 42,7% Năm 2011, doanh số thu nợ giảm 11,56%chỉ đạt 672,4 tỷ đồng thấp hơn nhiều so với 760,3 tỷ đồng của năm 2010 Dư nợ,đáng chú ý nhất là năm 2011, khi mà chỉ là 127,3 tỷ đồng vào năm 2010 thì nó đãtăng lên 337,4 tỷ đồng vào năm này Nợ quá hạn cũng vẫn là điểm đáng quan tâmnhất khi mà xuất hiện hai chiều trái ngược nhau hoàn toàn, nếu như giai doạn 2009-
2010 tỷ lệ nợ quá hạn giảm 0,69% thì giai đoạn 2010-2011 tỷ lệ này tăng rất caolên tới 145,91% Nguyên nhân nợ quá hạn tăng cao năm 2011là do việc nhà đầu tưthua lỗ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, không có nguồn thu để trả nợ chongân hàng Do vậy ngân hàng cần phải tích cực hơn nữa trong việc thu hồi nợ quáhạn, thực hiện tốt các khâu thẩm định dự án, thu nợ và theo dõi nợ vay để giảmthiểu đến mức thấp nhất số dư nợ quá hạn
Nhìn chung qua bảng tổng hợp hoạt động cho vay của ngân hàng đã giúp ta hiểu
Trang 40được phần nào cơ chế hoạt động cho vay thu nợ của ngân hàng Tuy nhiên để cụthể hơn ta cần phải đi sâu vào phân tích trong từng lĩnh vực, từng ngành nghề để từ
đó rút ra được những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinhdoanh của ngân hàng
2.3.3 Tình hình kết quả hoạt động kinh doanh Phòng giao dịch Thăng Long