Dạy làm văn lớp 10 theo quan điểm giao tiếp
Trang 1A MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
Môn Tiếng Việt nói chung và Làm văn nói riêng nhằm mục đích
cuối cùng là rèn cho học sinh sử dụng đúng, hay tiếng Việt vào hoạt động
giao tiếp trong đời sống Môn Tiếng Việt cung cấp cho học sinh những tri
thức về ngôn ngữ như các lớp từ vựng, các qui tắc sử dụng ngôn ngữ vào
trong hoạt động giao tiếp Chính nhờ những tri thức này mà học sinh mới
biết cách sử dụng ngôn ngữ phù hợp với nội dung cần trình bày Có thể
nói dạy tiếng Việt là dạy cho học sinh cách sử dụng phương tiện cần thiết
để thực hiện quá trình giao tiếp Mặt khác, môn học này còn giúp cho học
sinh tiếp nhận và diễn đạt những kiến thức khoa học trong nhà trường
Dạy làm văn ở trường phổ thông hiện nay gặp rất nhiều khó khăn
Có một thời gian dài người giáo viên dạy làm văn cho học sinh quá thiên
về tri thức lý thuyết một cách máy móc mà quên rằng tất cả những tri thức
ấy cần được vận dụng trong đời sống thực tế Mặt khác, chương trình cũng
không chú ý đến nhu cầu, thị hiếu của học sinh cho nên đa số nội dung của
các bài làm văn mà giáo viên đưa ra không gắn với thực tế đời sống mà
chỉ nghiêng về những tác phẩm văn chương Người dạy chưa tìm hiểu
xem học sinh có nhu cầu bộc lộ tình cảm, cảm xúc của mình không?
Chính điều này đã làm cho học sinh trở nên thụ động, hạn chế khả năng
giao tiếp, đồng thời tạo cho học sinh cảm giác nhàm chán, không thích
học làm văn
Từ trước đến nay người ta bàn rất nhiều về phương pháp dạy tiếng
Việt, làm văn ở phổ thông: phương pháp giao tiếp, phương pháp vận động,
phương pháp tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh … Trong đó
người ta đặc biệt nhấn mạnh đến phương pháp giao tiếp Trong dạy học
nói chung và dạy làm văn nói riêng, phương pháp giao tiếp ngày càng
được thể hiện dưới những hình thức đa dạng khác nhau Kết quả của một
giờ làm văn không phải chỉ cho học sinh nắm được nội dung bài học theo
lý thuyết suông mà còn phải biết ứng dụng vào các hoạt động giao tiếp
trong thực tế đời sống Vì vậy, kể từ khi quan điểm giao tiếp được đưa vào
trong phương pháp dạy học thì kết quả dạy làm văn đã đạt được những
bước tiến đáng kể so với trước đó
Chúng tôi nhận thấy rằng phương pháp giao tiếp đóng một vai trò
quan trọng trong việc dạy và học làm văn Phương pháp giao tiếp sẽ phát
huy được khả năng sử dụng ngôn ngữ cho học sinh, phát huy tư duy sáng
tạo, đồng thời tạo sự hứng thú cho học sinh trong các giờ học làm văn
Chúng tôi suy nghĩ rằng đổi mới phương pháp dạy học làm văn đang là
vấn đề cần thiết Hiện nay, chúng ta đã khẳng định tính ưu việt của
phương pháp giao tiếp trong việc dạy làm văn nhưng việc dạy và học làm
văn ở phổ thông vẫn còn hạn chế Phần lớn giáo viên đều nhận thấy được
tầm quan trọng của việc dạy làm văn theo quan điểm giao tiếp nhưng lại
không nắm được lý thuyết về giao tiếp, chưa tổ chức được những hình
Trang 2thức giao tiếp, chưa nhận thức được đầy đủ về tầm quan trọng, hiệu quả
của phương pháp này, đặc biệt là trong dạy làm văn Điều này đã làm hạn
chế rất nhiều đến kết quả dạy và học làm văn Trước thực trạng đó, với tư
cách là một giáo viên Ngữ văn tương lai tôi quyết định chọn đề tài
“Những giải pháp nâng cao hiệu quả dạy làm văn lớp 10 theo quan điểm
giao tiếp” Ở đề tài này, chúng tôi đề ra những phương pháp dạy làm văn
theo quan điểm giao tiếp nhằm mục đích giúp cho việc dạy và học làm
văn ở phổ thông đạt được chất lượng tốt hơn
II Lịch sử vấn đề
Những năm gần đây nhất là từ sau cải cách giáo dục, phương pháp
dạy học chính là vấn đề được quan tâm hàng đầu Trong những phương
pháp đó thì phương pháp giao tiếp được các nhà giáo dục hết sức chú ý
Có nhiều bài viết, bài nghiên cứu về phương pháp này Trong số các tác
giả nghiên cứu về dạy làm văn theo quan điểm giao tiếp thì có tác giả
quan tâm cụ thể về mặt phương tiện (phương pháp dạy của giáo viên)
cũng có tác giả quan tâm về mặt mục đích của việc dạy làm văn theo quan
điểm giao tiếp
Nguyễn Quang Ninh trong sách “Một số vấn đề dạy ngôn bản nói
và viết ở tiểu học theo hướng giao tiếp” khi nói về việc dạy làm văn, tác
giả đã nêu lên những nhược điểm của dạy làm văn nói theo định hướng
giao tiếp Ông cho rằng mục đích của các bài làm văn thường bị giáo viên
coi nhẹ, giáo viên chỉ thiên về đánh giá thành phần nội dung của sự việc
Người giáo viên đã quên rằng một bài làm văn không phải chỉ để tả, kể mà
qua việc tả, kể đó nhằm hướng đến một mục đích khác Bên cạnh đó khi ra
đề làm văn cho học sinh thì dường như các nhân tố giao tiếp bị gạt ra
ngoài sự chú ý của giáo viên Chính điều đó đã dẫn đến bài làm văn của
học sinh trở nên đơn điệu, nhàm chán Tác giả đặc biệt chú ý đến phương
tiện của hoạt động giao tiếp là ngôn bản nói và ngôn bản viết Đây chính
là phương tiện chủ yếu để thực hiện quá trình giao tiếp Ở bài viết này
Nguyễn Quang Ninh cũng đã đưa ra những đặc điểm của ngôn bản nói và
ngôn bản viết Ngôn bản ở đây là một chuỗi ngôn ngữ được sắp xếp theo
các qui tắc ngữ pháp, kèm theo ngữ điệu (ngôn bản nói) nhằm thể hiện nội
dung giao tiếp Từ những đặc điểm trên giúp cho người dạy tìm ra những
phương pháp dạy làm văn phù hợp với quan điểm giao tiếp Chúng ta cần
ý thức cho học sinh biết rằng mục đích cuối cùng của một bài làm văn là
phải giúp cho học sinh tổ chức được những ngôn bản theo mục đích giao
tiếp đã đề ra
Trong sách “ Những thủ thuật trong dạy học – các chiến lược
nghiên cứu và lý thuyết về dạy học dành cho các giảng viên Đại học và
Cao đẳng ” Wilbrt J.Mckeachie đã dựa trên quan điểm thực tiễn của
phương pháp dạy học hiện nay mà cho rằng “Theo chương trình dạy tiếng
Pháp phải dựa trên việc thực hành ngôn ngữ trong và ngoài lớp học tiếng
Pháp học sinh phải luôn luôn được đặt vào tình huống giao tiếp” [Wilbrt,
J.Mckeachie 2003.14] Ở một đoạn khác, tác giả đặc biệt nhấn mạnh “cơ
Trang 3bản là phải đặt học sinh trong một tình huống giao tiếp làm sản sinh hoặc
thông hiểu lời nói” [Wilbrt, J.Mckeachie 2003.14] Điều đó có nghĩa là
việc dạy học theo quan điểm giao tiếp được áp dụng rộng rãi ở tất cả các
môn học Để có thể hướng quá trình dạy học vào hoạt động giao tiếp thì
người giáo viên cần thiết phải tạo ra những tình huống có vấn đề để học
sinh tham gia vào hoạt động giao tiếp Tình huống là một điều kiện quan
trọng để sản sinh ra hoạt động giao tiếp, không có tình huống thì học sinh
không thể giao tiếp Đây là nhận định có ý nghĩa quan trọng để người giáo
viên có thể tổ chức quá trình dạy học tiếng Việt, làm văn đạt hiệu quả cao
Trần Đình Chung khi bàn về quan điểm dạy học làm văn trong sách
“Mấy vấn đề về giảng dạy môn phương pháp dạy học Ngữ văn trong
chương trình Cao đẳng Sư phạm mới” có nói “Với phân môn Tập làm
văn, quan điểm dạy học tích hợp càng thể hiện tính tích cực của nó khi
hiện thực hóa quan điểm thực hành và giao tiếp của phân môn này [Trần
Đình Chung 2007.15] Phương pháp dạy học tích hợp là lấy các dữ liệu từ
các nội dung bài học thuộc các phân môn liên quan Chính các dữ liệu này
sẽ góp phần khơi gợi hứng thú, củng cố các kiến thức đã học Từ đây cho
thấy quan điểm giao tiếp trong dạy học nói chung, dạy làm văn nói riêng
có một vai trò hết sức quan trọng đó là thực hành những văn bản góp phần
tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh
Lê A khi bàn về phương pháp giao tiếp đã nói “ Phương pháp giao
tiếp là phương pháp quan trọng trong dạy học Tiếng việt Phương pháp
giao tiếp là phương pháp hướng dẫn học sinh vận dụng lý thuyết được học
vào thực hiện các nhiệm vụ của quá trình giao tiếp, có chú ý đến đặc điểm
và các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp” [Lê A 2006 69-70]
Đặc biệt các tác giả còn nhấn mạnh “ Phương pháp này có thể được áp
dụng khi dạy học từ ngữ, câu, phong cách và đặc biệt là trong các bài học
thuộc phân môn Tiếng việt “ [Lê A 2006 70] Từ những ý kiến trên, ta
thấy rằng tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của phương pháp giao
tiếp Phương pháp này có thể giúp cho học sinh vận dụng được những lý
thuyết đã học để thực hành các văn bản trong quá trình giao tiếp Phương
pháp giao tiếp là phương pháp có vai trò rất lớn và đang được sử dụng
rộng rãi trong việc dạy tiếng Việt nói chung và phân môn Làm văn nói
riêng Khi vận dụng phương pháp này trong dạy làm văn thì người giáo
viên cần chú ý đến hai mặt chủ yếu là phải giúp học sinh vận dụng được
các lý thuyết giao tiếp và ý thức được các nhân tố giao tiếp
Nguyễn Trí trong sách “Dạy Tập làm văn ở trường tiểu học” khi
bàn về việc tạo sự hứng thú cho học sinh trong các giờ học, tác giả đã đưa
ra những cách lập đúng chương trình lời nói Ở bài viết này, tác giả cũng
chú ý đến mục đích của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Bên cạnh đó
khi nói về mục đích của môn Làm văn tác giả cũng nhấn mạnh “Tập làm
văn có nhiệm vụ chủ yếu là rèn luyện kĩ năng sản sinh ngôn bản nói và
viết Không học tốt Tập làm văn khả năng nói và viết ngôn bản của học
sinh sẽ bị hạn chế” [Nguyễn Trí 1998 8] Điều đó có nghĩa là mục đích
Trang 4cuối cùng của môn Làm văn là giúp cho học sinh có thể sử dụng thành
thạo ngôn ngữ vào trong hoạt động giao tiếp, học làm văn tốt sẽ giúp cho
học sinh có kĩ năng nói và viết thành thạo hơn
Trong sách “Phương pháp dạy học Tiếng việt” khi bàn về lý thuyết
giao tiếp bằng ngôn ngữ, Lê A đã nói “Làm văn chính là làm các loại văn
bản để giao tiếp Không có nhu cầu giao tiếp thì không ai lại nói và viết
thành văn bản” [Lê A 2006.193] Mỗi người đều có những nhu cầu khác
nhau Chính nhu cầu là động lực giúp cho con người hành động Cho nên
để tạo ra được những văn bản thì người ta cần phải có nhu cầu giao tiếp Ở
một đoạn khác tác giả càng nhấn mạnh vai trò của hoạt động giao tiếp
“Việc làm văn có quan hệ với một lý thuyết khác bên cạnh lý thuyết về văn
bản Đó là lý thuyết giao tiếp bằng ngôn ngữ hay nói gọn hơn là lý thuyết
giao tiếp ngôn ngữ” [Lê A 2006.193] Điều đó có nghĩa là lý thuyết giao
tiếp đóng một vai trò quan trọng trong việc dạy và học làm văn Chính nhu
cầu giao tiếp là nguyên nhân sản sinh ra văn bản Từ đó cho thấy để sản
sinh ra những văn bản có giá trị giao tiếp thì người dạy và học phải tham
gia vào hoạt động giao tiếp bằng các lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ
Năm 2006 trên Tạp chí giáo dục số 138, Phan Thị Thủy trong bài
viết “Dạy làm văn ở Trung học cơ sở theo quan điểm giao tiếp” có nói
“Dạy làm văn theo quan điểm giao tiếp cho học sinh Trung học cơ sở là
phát huy vai trò độc lập, sáng tạo, chủ động suy nghĩ của học sinh trong
việc học làm văn Tính chủ động, sáng tạo này được thể hiện rõ thông qua
dấu ấn chủ quan của các em trong việc tạo lập văn bản” [Phan Thị Thủy
2006 27] Một bài làm văn trở nên sinh động khi nó bộc lộ được tư tưởng,
tình cảm, cảm xúc của học sinh Muốn đạt được điều này cần phải phát
huy tư duy, sáng tạo của mỗi học sinh Cho nên chúng ta cần hướng học
sinh vào hoạt động giao tiếp Chính hoạt động giao tiếp là điều kiện cần
thiết để học sinh bộc lộ tư duy sáng tạo của mình Ở quan điểm này, tác
giả đã đưa ra những đặc điểm cụ thể của một bài làm văn theo quan điểm
giao tiếp Mục đích này cũng là mục đích cần phải có khi tiến hành các
phương pháp dạy học mới
Vì các lẽ trên mà có nhiều ý kiến đã đánh giá rất cao về vai trò của
phương pháp giao tiếp trong quá trình dạy học Ở đây, thêm một lần nữa
chúng tôi khẳng định vai trò của dạy làm văn theo quan điểm giao tiếp Có
thể nói việc dạy làm văn theo quan điểm giao tiếp hiện nay là một phương
pháp đang được sử dụng rộng rãi trong dạy và học ở các trường phổ
thông
Nhìn chung, các bài viết trên chỉ dừng lại ở những ý tưởng có tính
chất định hướng, các tác giả thiên về mặt lí luận, thiếu khâu tổ chức thực
nghiệm việc dạy và học làm văn ở trường phổ thông Dường như chưa có
công trình nào đề cập một cách cụ thể, chi tiết có hệ thống từ khâu lí luận
đến thực tiễn Trên cơ sở vận dụng lý thuyết về hoạt động giao tiếp và
thực tiễn dạy học ở trường phổ thông, kế thừa những vấn đề nghiên cứu
của người đi trước, người viết sẽ đi sâu nghiên cứu vấn đề này hơn
Trang 5III Đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài nghiên cứu này chúng tôi hướng đến những đối tượng
sau:
1 Những yếu tố còn tồn đọng gây khó khăn cho việc dạy và
học làm văn Từ đó đề ra hướng khắc phục và những giải pháp để dạy làm
văn theo quan điểm giao tiếp đạt hiệu quả Ở đây người viết sẽ đi sâu vào
những giải pháp gắn liền với hoạt động giao tiếp
2.Những yêu cầu mà người giáo viên cần phải có để có thể dạy
làm văn theo quan điểm giao tiếp đạt hiệu quả như: tri thức về các kiểu
bài, phong cách ngôn ngữ, ngữ pháp văn bản, nắm vững phương pháp dạy
tiếng Việt, làm văn
3.Những phương pháp thực hiện dạy làm văn theo quan điểm
giao tiếp Người viết sẽ đưa ra những phương pháp dạy làm văn từ lý
thuyết đến thực hành đến cách ra đề và chấm bài
4.Chương trình chuẩn thực hiện năm 2006, tập trung vào phần
Tiếng Việt, Làm văn ở sách giáo khoa ngữ văn lớp 10 hệ đại trà, nghiên
cứu những nội dung mới trong sách gắn với hoạt động giao tiếp
IV Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung vào nghiên cứu những vấn đề cơ bản sau
1 Phương pháp dạy làm văn theo quan điểm giao tiếp, người
viết chỉ tập trung vào những phương pháp nhằm tạo ra hoạt động giao tiếp
trong quá trình dạy học
2 Phương pháp dạy làm văn lớp 10, người viết chỉ tập trung vào
học sinh ở lớp 10 trường Trung học phổ thông Châu Văn Liêm
V Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong đề tài nghiên cứu này thể hiện các nhiệm vụ sau
1.Nghiên cứu lý thuyết giao tiếp: tập trung các nhân tố chi phối
quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ như: nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao
tiếp, nội dung giao tiếp, phương tiện giao tiếp, mục đích giao tiếp Từ đó
giúp giáo viên có cách ra đề làm văn theo quan điểm giao tiếp, hình thức
viết một bài làm văn
2.Nghiên cứu nội dung, kiểu loại văn bản, mục tiêu, phương pháp
dạy làm văn lớp 10
3.Nghiên cứu thực tế dạy và học làm văn ở phổ thông
4.Đề xuất những giải pháp thiết thực để nâng cao hiệu quả dạy
làm văn theo quan điểm giao tiếp
Trang 6VI Phương pháp nghiên cứu
1 Phương pháp phân tích Phương pháp phân tích là tìm hiểu các khía cạnh của vấn đề Phân
tích giúp ta hiểu rõ về nội dung, đặc điểm của vấn đề Khi sử dụng phương
pháp này chúng tôi đã tiến hành tập trung phân tích những tài liệu viết về
hoạt động giao tiếp Từ đó xác lập cơ sở lí luận của hoạt động giao tiếp
2.Phương pháp phỏng vấn Phương pháp phỏng vấn là phương pháp hỏi ý kiến của người khác
bằng nhiều hình thức khác nhau Phương pháp này giúp ta nắm bắt một
cách nhanh nhất tình hình dạy và học làm văn của giáo viên và học sinh
Phương pháp này được thực hiện thông qua việc lập phiếu điều tra để giáo
viên và học sinh trả lời những câu trắc nghiệm, những câu hỏi ngắn Tiếp
đó là thống kê các số liệu để có thể xác định được tình hình thực tiễn của
việc dạy và học làm văn theo quan điểm giao tiếp ở trường phổ thông hiện
nay
3 Phương pháp so sánh Phương pháp so sánh là phương pháp tìm ra những điểm giống
nhau và khác nhau của hai hay nhiều sự vật, sự việc Phương pháp này
giúp ta có thể rút ra được ưu, khuyết điểm của phương pháp dạy làm văn
theo quan điểm truyền thống Khi sử dụng phương pháp này, chúng tôi đã
tiến hành đối chiếu, so sánh phương pháp dạy học làm văn theo cách
truyền thống với phương pháp dạy học làm văn theo quan điểm giao tiếp
Từ đó rút ra được những tác dụng to lớn của phương pháp giao tiếp và đề
ra những phương pháp dạy làm văn theo quan điểm giao tiếp
VII Hướng đóng góp của đề tài
1 Giúp cho người giáo viên ra trường, đặc biệt là bản thân có
phương pháp dạy tiếng Việt nói chung và làm văn nói riêng đạt hiệu quả
2 Từng bước đẩy lùi cách dạy học xa rời thực tế, không gắn với
giao tiếp, phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh trong học tập Khắc
phục những hạn chế của việc dạy làm văn ở trường THPT
3 Đề xuất với trường Đại học An Giang bổ sung những nội dung
cần thiết cho sinh viên Ngữ văn để khi ra trường sinh viên có một kiến
thức vững chắc đáp ứng yêu cầu của đổi mới giáo dục
4 Đề tài này có thể là một tài liệu tham khảo cho giáo viên muốn
tìm hiểu, vận dụng phương pháp này trong dạy học làm văn
VIII Cấu trúc của luận văn
A Mở đầu: 6 trang gồm các phần
I Lí do chọn đề tài
II Lịch sử vấn đề
Trang 7III Đối tượng nghiên cứu
IV Phạm vi nghiên cứu
V Nhiệm vụ nghiên cứu
VI Phương pháp nghiên cứu
VII Hướng đóng góp của luận văn
B Nội dung: 32 trang gồm
Chương I: Những vấn đề lý thuyết của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (15 trang)
Chương II: Thực tế dạy và học làm văn ở trường THPT Châu Văn Liêm
và những giải pháp đề xuất khi dạy làm văn (17 trang)
C Kết luận: 2 trang
Tư liệu tham khảo: 2 trang
Phụ lục: 5 trang
Trang 8B NỘI DUNG
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CỦA HOẠT ĐỘNG GIAO
TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ
I Giao tiếp và hoạt động giao tiếp trong đời sống xã hội
1.Giao tiếp, nhu cầu thiết yếu của con người
Giao tiếp có nghĩa là tiếp xúc, trao đổi thông tin , bộc lộ tư tưởng
tình cảm với nhau
Giao tiếp là một nhu cầu thiết yếu của con người Trẻ mới sinh ra
bắt đầu được giao tiếp tuy nhiên còn mang tính chất thụ động Bà mẹ hiểu
nhu cầu ấy là của mình và cả con Việc giao tiếp biểu hiện qua lời ru, những
lời mắng yêu con Điều đó chứng tỏ bà mẹ đã có ý thức giao tiếp với con
mình dù lúc này trẻ chỉ tiếp nhận hoạt động giao tiếp của người mẹ một
cách thụ động
Quá trình tuổi thơ, việc giao tiếp của trẻ không ngừng phát triển từ
thụ động chuyển sang chủ động Nếu mới sinh ra trẻ chỉ có thể im lặng
trước những hành động, lời nói của người mẹ thì giờ đây trẻ đã muốn nghe
hát, nghe kể chuyện, muốn hiểu biết về thế giới: ông bà, con gà, cái bánh…
Trẻ có nhu cầu được nghe, được tìm hiểu về những vật đã gọi tên dù lúc
này trẻ chưa ý thức được một cách đầy đủ về sự vật đang gọi tên Chẳng
hạn trẻ gọi tên cái bánh thì trẻ chỉ biết đó là thứ có thể ăn được chứ không ý
thức được hết là nó làm từ nguyên liệu gì, cách thức làm ra sao Mặc dù vậy
ta cũng phải công nhận một điều rằng lúc này hoạt động giao tiếp ở thể chủ
động của trẻ đang dần dần được hình thành Dù chưa được hình thành một
cách hoàn chỉnh nhất nhưng đây là tiền đề, là cơ sở quan trọng để tiến hành
những hoạt động giao tiếp sau này Tiếp đó là tư duy của trẻ được tích lũy,
từ tuổi thơ ngôn ngữ của trẻ cũng được hình thành mà ngôn ngữ và tư duy
là hai nhân tố giao tiếp giúp con người ứng xử được với hoàn cảnh, tồn tại
với hoàn cảnh sống Ngôn ngữ là phương tiện dùng để diễn tả những tư
tưởng, tình cảm, cảm xúc của con người Chẳng hạn câu “Tôi rất muốn
cùng bạn đi du lịch khắp nơi” Qua câu nói này thì người nói muốn truyền
đạt đến người nghe hai vấn đề Thứ nhất nói về ước muốn của bản thân là
được đi du lịch, thứ hai là tác động tình cảm đến người nghe muốn người
nghe chấp nhận là cùng đi du lịch với mình Qua đây còn thể hiện tình cảm,
cảm xúc của người nói Như vậy để diễn đạt được nội dung của câu nói trên
thì ta cần phải biết ngôn ngữ tương ứng đồng thời phải có tư duy để có thể
sử dụng vốn ngôn ngữ phù hợp với nội dung diễn đạt để không những
truyền đạt được ước muốn của bản thân mà còn phải tạo được tác dụng
Trang 9thuyết phục người nghe Có thể nói ngôn ngữ và tư duy là hai nhân tố quan
trọng để thực hiện quá trình giao tiếp và hai nhân tố này có quan hệ mật
thiết với nhau cùng hỗ trợ cho nhau để thực hiện giao tiếp Đây cũng là yếu
tố quan trọng để phân biệt con người và loài vật bởi vì giao tiếp của loài vật
là do bản năng chứ không phải là hoạt động có ý thức như con người
Giao tiếp là phương thức tồn tại phát triển của xã hội Xã hội là
một tập thể có quan hệ với nhau về nhiều mặt: quan hệ họ hàng, quan hệ
đồng nghiệp, quan hệ thầy trò… Các mối quan hệ này là lí do để con người
có quan hệ giao tiếp với nhau Giao tiếp trái lại để giữ vững các mối quan
hệ đó Con người không được giao tiếp với nhau thì không thể có xã hội
Xã hội là môi trường để con người có thể thực hiện quá trình giao tiếp Cơ
sở đánh giá một xã hội phát triển là dựa trên cơ sở vật chất, tinh thần ngày
càng thêm đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu đời sống con người Sản
phẩm vật chất, tinh thần chính là thành quả sáng tạo của con người Sự sáng
tạo ấy có được từ tư duy, trình độ sáng tạo Con người có điều đó là nhờ
giao tiếp, học tập Những người trong cùng một xã hội muốn trao đổi thông
tin hay bộc lộ cảm xúc cho nhau thì cần phải có giao tiếp Ngược lại hoàn
cảnh xã hội chính là nguyên nhân, động lực để tạo nên hoạt động giao tiếp
Thông qua hoạt động giao tiếp thì xã hội được tồn tại và ngày càng phát
triển Người đời trước có thể truyền kinh nghiệm, kiến thức cho người đời
sau thông qua giao tiếp Mỗi một người là một thành viên của xã hội, xã hội
muốn tồn tại thì mỗi con người cần phải phát triển và sự phát triển này được
thực hiện thông qua quá trình giao tiếp Trong hoạt động giao tiếp con
người vừa có thể tiếp nhận thông tin từ người khác đồng thời có thể phản
hồi những ý kiến của bản thân Chính sự phản hồi này là điều kiện để người
giao tiếp điều chỉnh nội dung giao tiếp cho phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao
nhất
Phạm vi giao tiếp của con người rất rộng Giao tiếp với tự nhiên
và giao tiếp trong xã hội Giao tiếp với các hiện tượng tự nhiên con người
nhận ra quy luật của nó giúp con người có ứng xử phù hợp để tạo điều kiện
thuận lợi cho cuộc sống của mình Chẳng hạn khi thấy trời kéo mây đen thì
con người biết là trời sắp mưa Từ đó họ sẽ có cách xử lí là lấy quần áo vào
để khỏi bị ướt Ta thấy rằng dù ngày nay khoa học kĩ thuật ngày càng hiện
đại, ngày càng phục vụ đắc lực cho cuộc sống của con người nhưng bên
cạnh đó thì yếu tố tự nhiên cũng đóng vai trò khá quan trọng trong cuộc
sống của chúng ta Tất cả các hiện tượng tự nhiên đều tồn tại trực tiếp,
thường xuyên trong cuộc sống của con người cho nên để có thể tồn tại thì
con người cần phải thực hiện hoạt động giao tiếp với tự nhiên, đồng thời
hoạt động giao tiếp này sẽ giúp cho con người hình thành ý thức và năng
lực nhằm để cải tạo tự nhiên phục vụ cho cuộc sống của mình
Song song với giao tiếp tự nhiên thì con người luôn giao tiếp với
xã hội Giao tiếp trong xã hội mang tính chất đa dạng, phong phú, con
người có thể giao tiếp trong mọi hoàn cảnh: trong một gia đình cha mẹ giao
tiếp với con cái về những sinh hoạt hàng ngày, các đồng nghiệp giao tiếp
Trang 10với nhau về công việc hoặc là độc giả có thể giao tiếp với các vấn đề xã hội
qua báo chí, sách vở Con người còn có khả năng giao tiếp với người xưa
Qua những tác phẩm của người xưa để lại ta biết được tâm tư, tình cảm,
nguyện vọng của họ và hiện thực xã hội thời đó Ví dụ như đọc Truyện
Kiều của Nguyễn Du ta biết được những bất công ngang trái đang đè nặng
lên người phụ nữ đồng thời còn thấy được tấm lòng nhân đạo của tác giả
Không những chỉ giao tiếp với người xưa mà con người còn có thể giao tiếp
với cả thế hệ mai sau như những tác phẩm trong hiện tại bấy giờ có thể
truyền đến cho người đọc ở cả tương lai
Con người giao tiếp ở mọi nơi, học tập được nhiều điều nhưng
quan trọng nhất là giao tiếp trong trường học, ở đó con người được mở rộng
những hiểu biết mang tính lí luận, khoa học Ta thấy rằng ngay từ những
câu ca dao, tục ngữ mà ta được học trong nhà trường đã có tác dụng định
hướng cho con người vào hoạt động giao tiếp
Học ăn học nói, học gói học mở
Chỉ ra việc ta phải học hỏi mọi thứ trong cuộc sống, trong đó có
việc học cách nói năng tức là học cách giao tiếp trong đời sống xã hội Hay
là
Lời nói chẳng mất tiền mua Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau
Ngôn ngữ là tài sản chung của mọi người, con người có quyền tự
do lựa chon vốn ngôn ngữ riêng cho bản thân mình Cho nên khi nói ta phải
biết lựa những lời nói nào cho phù hợp nhất để không những truyền đạt
được thông tin mà còn tác dụng thuyết phục ở người tiếp nhận thông tin Ở
đây đã chỉ ra cách thức giao tiếp là ta phải biết lựa chọn nội dung giao tiếp
cho phù hợp với từng hoàn cảnh, từng đối tượng để đạt được hiệu quả giao
tiếp cao nhất
Chim khôn hót tiếng rảnh rang Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe
Vàng thì thử lửa thử than Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời
Qua lời nói thì người ta có thể đánh giá về phẩm chất của một con
người cho nên khi nói phải biết lựa chọn lời nói cho phù hợp Như vậy vai
trò của hoạt động giao tiếp không chỉ truyền đạt thông tin mà qua đó còn
đánh giá được phẩm chất của một con người
Như vậy, từ lâu con người đã ý thức đúng về vai trò, tác dụng
của hoạt động giao tiếp Người xưa đã đưa ra những lời khuyên hữu ích cho
con người như: nói cũng phải học, nói đúng còn thể hiện tư cách của một
con người, nói sao cho người nghe thấy được cái hay, cái đẹp Trong phẩm
Trang 11chất đạo đức có ngôn ngữ, lời nói Người xưa chưa đưa ra được những
phương pháp để con người luyện tập, rèn giũa lời nói của mình nhưng rõ
ràng giao tiếp từ lâu đã được ý thức là hết sức quan trọng trong đời sống
Trường học còn là nơi cung cấp những tri thức, hiểu biết cho con người
thông qua hoạt động giao tiếp Ở đây diễn ra hoạt động giao tiếp giữa giáo
viên và học sinh, giữa giáo viên với giáo viên và giữa học sinh với nhau
Tất cả những hoạt động giao tiếp này được thể hiện dưới nhiều hình thức
khác nhau nhưng tất cả đều nhằm mục đích là cung cấp, trao đổi thông tin
Cho nên có thể nói trường học là môi trường giao tiếp quan trọng nhất của
con người vì ở đây con người không chỉ học được những kiến thức mà còn
hoàn thiện được nhân cách của bản thân mình thông qua hoạt động giao
tiếp Tóm lại, con người có thể giao tiếp mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh
vượt cả không gian và thời gian
2 Hai phương tiện giao tiếp cơ bản của con người
Phạm vi giao tiếp của con người rất rộng, phương tiện giao tiếp
cũng hết sức đa dạng Theo các nhà kí hiệu học ngôn ngữ thì phương tiện
giao tiếp chia thành hai nhóm đó là ngôn ngữ và các yếu tố không bằng
ngôn ngữ gọi là các yếu tố phi ngôn ngữ
Yếu tố phi ngôn ngữ, một phương tiện giao tiếp không thể thiếu
trong giao tiếp: các yếu tố phi ngôn ngữ rất đa dạng, phong phú gắn liền với
cuộc sống của con người chúng ta Có những ngữ cảnh thuộc giới tự nhiên
mang tính khách quan như mây đen, cơn gió lạnh, sấm chớp… những yếu
tố này không lệ thuộc nhiều vào con người Có những yếu tố do con người
tổ chức thực hiện: động tác vỗ về, ôm ấp con của bà mẹ, các cử chỉ liếc
mắt, khoát tay, gật đầu Những kí hiệu: đèn đường (đèn đỏ báo hiệu xe phải
dừng, đèn xanh báo hiệu cho xe chạy…), kí hiệu toán học, các hình vẽ
trong các thùng hàng hóa Tất cả các phương tiện này đều gắn bó mật thiết,
đều phục vụ cho lợi ích của con người Những phương tiện phi ngôn ngữ
giúp cho hoạt động giao tiếp trở nên sinh động, hấp dẫn hơn Người giao
tiếp không chỉ nắm được nội dung giao tiếp mà còn có thể gợi liên tưởng
tăng tính biểu cảm cho nội dung truyền đạt Mặc dù vị trí của nó là không
nhỏ trong việc hỗ trợ ngôn ngữ để lột tả nội dung, sắc thái Nhưng đôi lúc
các phương tiện phi ngôn ngữ do con người tạo ra đã gây khó khăn cho
người tiếp nhận bởi vì các yếu tố phi ngôn ngữ có những sắc thái biểu cảm
khác nhau, mỗi yếu tố phi ngôn ngữ sẽ mang nhiều nội dung khác nhau chứ
không phải chỉ có một nội dung duy nhất Ví dụ như hành động gật đầu
Trong trường hợp có một người khác hỏi “Bạn có đồng ý với ý kiến của tôi
không?” thì hành động gật đầu chứng tỏ mang tính chất khẳng định, là đồng
tình với ý kiến Trong một trường hợp khác như câu: “Bạn không đồng ý
với ý kiến của tôi, có phải không?” thì lúc này hành động gật đầu mang tính
chất phủ định, không đồng tình với ý kiến đó Từ ví dụ trên ta thấy rằng các
yếu tố phi ngôn ngữ mang những nét nghĩa rất đa dạng, phong phú Có thể
nói tóm lại khi dùng các yếu tố ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ để diễn đạt nội
Trang 12dung lời nói thì ta cần đặt chúng vào trong những ngữ cảnh cụ thể thì mới
có thể hiểu nội dung giao tiếp một cách đúng đắn nhất
Ngôn ngữ - phương tiện giao tiếp quan trọng của con người Như
đã nói ở trên thì chúng ta đều biết rằng trong thực tiễn đời sống con người
muốn trao đổi thông tin hay bộc lộ tư tưởng, tình cảm cho nhau thì có thể
dùng cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, ánh mắt… gọi chung là các yếu tố phi ngôn
ngữ Tuy nhiên những yếu tố này thường đem lại hiệu quả giao tiếp không
cao hoặc có khi bị hiểu ngược lại ý định của người phát Chỉ có giao tiếp
bằng ngôn ngữ mới giúp người ta hiểu được nội dung một cách chính xác
và đầy đủ nhất Vì vậy có thể nói ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan
trọng nhất của con người Ngay từ khi mới sinh ra trẻ đã biết cất tiếng khóc
chào đời, được nghe những vần điệu ca dao, dân ca, những lời ru nồng nàn
yêu thương từ mẹ từ bà Lớn hơn một chút thì trẻ đã tập nói những tiếng nói
đầu tiên đó là những lời gọi ông, bà, cha, mẹ…Có thể nói ngay từ rất sớm
con người đã có ý thức dùng ngôn ngữ để giao tiếp Ngôn ngữ và tư duy là
hai nhân tố giao tiếp giúp con người ứng xử được với hoàn cảnh Cho nên
muốn thực hiện hoạt động giao tiếp còn cần phải có tư duy và ngôn ngữ Có
thể nói không có ngôn ngữ sẽ không có tư duy, ngược lại, nếu không có tư
duy thì ngôn ngữ cũng không thể phát triển Nhờ có ngôn ngữ mà hoạt động
tư duy mới có thể chuyển hóa những thứ thuộc về tinh thần ra vật chất làm
cho người khác dễ tiếp nhận, ngôn ngữ vừa thực hiện chức năng giao tiếp
vừa thực hiện chức năng tư duy Hai chức năng này lại có quan hệ mật thiết
với nhau Điều này giúp cho ngôn ngữ trở thành một phương tiện giao tiếp
có nhiều điểm khác biệt so với các phương tiện giao tiếp khác trong đời
sống xã hội Nói về giao tiếp, người ta cho rằng con người còn có thể giao
tiếp với người xưa và cả thế hệ mai sau Để có thể thực hiện chức năng này
thì hoạt động giao tiếp cần phải có chức năng lưu trữ và ngôn ngữ chính là
phương tiện để thực hiện chức năng này Con người giao tiếp với người xưa
hay cả với thế hệ mai sau chủ yếu thông qua sách, báo… được ghi chép
bằng ngôn ngữ Nếu không có ngôn ngữ thì người đi sau không hiểu những
gì mà người đi trước đã làm cũng như người đi trước không thể truyền lại
những kinh nghiệm, những hiểu biết cho người đời sau Ngôn ngữ chính là
phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người
Bất cứ cuộc giao tiếp nào, con người không những phải truyền đạt
được nội dung giao tiếp mà còn phải đạt được cái hay, cái đẹp trong giao
tiếp Chính sự đa dạng muôn màu muôn vẻ của ngôn ngữ là điều kiện để
hoạt động giao tiếp đạt tính thẩm mĩ Trong hoạt động giao tiếp con người
phải lựa chọn ngôn ngữ cho phù hợp với hiệu quả thẩm mĩ Quá trình tiếp
xúc với môn Tiếng Việt và các môn học khác, con người được trang bị
hoàn chỉnh một hệ thống ngôn ngữ hóa làm phương tiện giao tiếp để giao
tiếp, học tập Môn Tiếng Việt cung cấp cho học sinh những tri thức về ngôn
ngữ, quy tắc sử dụng ngôn ngữ, kĩ năng sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động
giao tiếp… Và khi tiếp xúc với các môn học khác sẽ làm cho hệ thống ngôn
ngữ thêm phong phú, đa dạng và ngày càng hoàn thiện hơn
Trang 13II Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ
1 Khái niệm về hoạt động giao tiếp – giao tiếp bằng ngôn ngữ
Hoạt động giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin, bộc lộ tư
tưởng, tình cảm giữa người và người Khi có ít nhất hai người trò chuyện
với nhau về một điều gì đó thì giữa hai người đó đã diễn ra hoạt động giao
tiếp Ta thấy rằng điều đầu tiên để cho hoạt động giao tiếp có thể diễn ra là
phải có hai đối tượng Trong đó, một đóng vai người nói, một đóng vai
người nghe, hai vai này có thể luân phiên lẫn nhau để đảm nhận những vai
giao tiếp khác nhau Bất cứ một cuộc giao tiếp nào cũng diễn ra trong điều
kiện nhất định, dùng một thứ ngôn ngữ nhất định, hướng đến một đối tượng
nhất định để nhằm đạt được một mục đích nhất định Ta có thể hình dung
quá trình giao tiếp diễn ra như sau: trước hết là người nói chuẩn bị một nội
dung nào đó nhằm truyền đạt nội dung đó đến người nghe Nội dung ở đây
là sự phản ánh thế giới khách quan hoặc có thể là tư tưởng, tình cảm nào đó
của con người Cho nên nội dung giao tiếp ở đây vừa mang tính khách quan
(phản ánh hiện thực) vừa mang tính chủ quan (nhận thức của con người)
Hoạt động giao tiếp này được thực hiện thông qua văn bản Văn bản ở đây
là một chuỗi ngôn ngữ được sắp xếp một cách hoàn chỉnh theo các qui tắc
ngữ pháp để truyền đạt một nội dung nào đó trong quá trình giao tiếp Vì
nội dung giao tiếp là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong ý thức của
người nói cho nên nó thuộc lĩnh vực tinh thần Để người nghe có thể nắm
bắt được nội dung thuộc lĩnh vực tinh thần đó thì người nói phải chuyển nội
dung ấy sang hệ thống vật chất, hệ thống vật chất ấy chính là ngôn ngữ
Quá trình giao tiếp lại được tiếp tục bằng việc lĩnh hội các yếu tố ngôn ngữ
do người nói phát ra, để hiểu được nội dung mà người nói truyền đạt thì
người nghe phải lí giải các yếu tố ngôn ngữ này Kết thúc quá trình này
cũng là kết thúc quá trình giao tiếp Văn bản trong hoạt động giao tiếp được
tồn tại ở hai dạng là nói và viết
Văn bản nói: là các yếu tố ngôn ngữ được sắp xếp thành một chuỗi
tạo nên lời nói trong giao tiếp Tiếp nhận văn bản nói là tiếp nhận âm thanh
bằng thính giác Văn bản nói thường được dùng trong sinh hoạt hằng ngày,
văn bản nói thường có các đặc điểm sau:
Kèm theo ngữ điệu (lên giọng, xuống giọng, nhấn mạnh…) Tùy
theo từng nội dung muốn truyền đạt mà người nói sẽ có sự thay đổi ngữ
điệu cho phù hợp Sự thay đổi ngữ điệu này sẽ có tác động rất lớn đến nội
dung mà người nói muốn truyền đạt đến người nghe Ngữ điệu làm cho lời
nói trở nên sinh động, hấp dẫn, gợi hình ảnh Sự biến đổi của ngữ điệu sẽ
làm thay đổi cảm xúc, ý nghĩa của lời nói Thậm chí có khi sự thay đổi ngữ
điệu sẽ làm cho nội dung giao tiếp mang ý nghĩa trái ngược lại Cho nên,
khi sử dụng ngữ điệu phải đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng
Sử dụng yếu tố phi ngôn ngữ: cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, … hỗ trợ để
truyền đạt nội dung Trong một số trường hợp nhất định chính nhờ những
Trang 14yếu tố này mà người nghe sẽ hiểu được nội dung mà người nói muốn truyền
đạt một cách chính xác và đầy đủ nhất
Từ ngữ được sử dụng đa dạng, phong phú, có cả khẩu ngữ, tiếng
lóng, tiếng địa phương, thán từ…chêm xen Về câu thường sử dụng những
câu ngắn ngọn, câu đặc biệt, câu tỉnh lược Điều này làm cho văn bản nói
được tạo ra một cách liền mạch sẽ giúp người nghe dễ hiểu, dễ tiếp nhận
Nhìn chung văn bản nói là văn bản nảy sinh tức thời, không có điều
kiện gọt giũa nên đôi khi có những yếu tố dư thừa cho nên người nói phải
biết lựa chọn những nội dung thông tin cho phù hợp với quá trình giao tiếp
Văn bản viết: chữ viết được sắp xếp một chuỗi thành một bài viết
Đó là các văn bản hành chính, các bài văn chính luận, các bài báo…Tiếp
nhận văn bản viết là tiếp nhận chữ viết bằng thị giác Văn bản viết có những
đặc điểm sau
Do không có ngữ điệu nên văn bản viết đòi hỏi phải dùng chính xác
các dấu câu, các quy tắc chữ viết, các quy tắc ngữ pháp, ít dùng những từ
ngữ dung tục, khẩu ngữ Câu phải có kết cấu chặt chẽ, được liên kết bằng
các phép liên kết câu theo đúng quy tắc ngữ pháp, phong cách nghệ thuật
Nhìn chung văn bản viết thường có thời gian xem xét, kiểm tra, gọt giũa
cho nên ít có sai sót hơn văn bản nói Ngoài ra còn có dạng đặc biệt là văn
bản viết được thể hiện dưới dạng nói (đọc một bài phát biểu, một lời kêu
gọi trong một hội nghị Ở đây là văn bản được xây dựng theo các đặc điểm
của văn bản viết nhưng được thể hiện bằng dạng nói nên sẽ kèm theo ngữ
điệu) hoặc ngược lại văn bản nói được thể hiện bằng dạng viết (lời đối thoại
của các nhân vật là văn bản nói nhưng khi được đưa vào trong tác phẩm in
trên sách thì trở thành văn bản viết) Từ đó cho thấy văn bản trong giao tiếp
được tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Mỗi hình thức sẽ mang những
đặc điểm khác nhau cho nên khi dùng văn bản ở hình thức nào thì phải nắm
rõ đặc điểm của hình thức ấy để có sự lựa chọn phương tiện giao tiếp cho
phù hợp
2 Giao tiếp, một hiện tượng xã hội
Giao tiếp là hoạt động có tính vĩnh viễn vì ở thời đại nào con người
cũng cần phải có giao tiếp Giao tiếp là phương thức giúp con người tồn tại
và phát triển Trong tất cả mọi hoạt động của đời sống xã hội thì con người
cần phải giao tiếp với nhau Còn phương tiện, nội dung thì mang tính lịch
sử, đây là vấn đề có tính triết học Xã hội càng phát triển thì phương tiện
giao tiếp của con người càng hiện đại Nếu trước đây người ta chỉ có thể
giao tiếp bằng miệng, bằng sách báo thì ngày nay người ta đã có thể giao
tiếp với nhau qua điện thoại, thư từ, chat… Nội dung giao tiếp vì thế cũng
ngày càng đa dạng Nếu trước đây người ta chỉ giao tiếp với nhau về những
vấn đề trong sinh hoạt hàng ngày thì ngày nay người ta đã biết giao tiếp
những vấn đề về thiên nhiên, vũ trụ, những vấn đề mang tầm thế giới…Ta
phải nhận thấy rằng xã hội càng ngày càng phát triển đã cung cấp cho con
người những phương tiện, nội dung giao tiếp ngày càng đa dạng, phong phú
Trang 15hơn bởi vì mỗi thời đại lịch sử khác nhau thì quan niệm về cái đẹp, cái hay
của con người cũng khác nhau
Người hiện tại giao tiếp với quá khứ và có tham vọng giao tiếp với
cả hậu thế Lời nói thông thường có tính chất tức thời “lời nói gió thoảng”
bởi vì lời nói ra không thể lưu giữ lại được, người nghe chỉ có thể tiếp nhận
được ngay lúc đó còn việc có nhớ hay không thì không thể biết trước được
Nhưng lời văn, lời thơ thì sao? Lời văn, lời thơ có tham vọng là lời của
muôn đời Khi viết ra một tác phẩm thì người viết không những muốn cho
người đương thời tiếp nhận mà còn muốn truyền đạt đến cả người hậu thế
Bất kì một sáng tác nào thì bao giờ cũng phản ánh hiện thực và bộc lộ tâm
tư, tình cảm của tác giả Cho nên mỗi sáng tác đều có tham vọng lưu truyền
ở đời Chẳng hạn dù cách ngày nay đã mấy trăm năm thì Truyện Kiều của
Nguyễn Du vẫn thấm đẫm trong lòng người đọc Nhắc đến văn học là người
ta nhắc ngay đến Truyện Kiều của Nguyễn Du Và giá trị nhân đạo, hiện
thực mà tác phẩm để lại cho chúng ta không thể phủ nhận được Mỗi một
tác phẩm khi được viết ra thì tác giả đều muốn truyền đạt đến người tiếp
nhận một ý nghĩa nào đó Và ý nghĩa này được người tiếp nhận thông qua
ngôn ngữ
Giao tiếp được coi là một hiện tượng xã hội, giao tiếp là cách
thức, hoạt động để tiếp nhận các thông tin của đời sống, để trao đổi mọi tư
tưởng, tình cảm giữa người và người trong mọi mặt của đời sống
III Các nhân tố cơ bản của hoạt động giao tiếp
Trong hoạt động giao tiếp có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc tạo
lập văn bản và các nhân tố này có mối quan hệ mật thiết với nhau Mỗi
nhân tố có một vai trò khác nhau trong việc tạo lập văn bản Khi dạy làm
văn theo quan điểm giao tiếp ta cần chú ý đến các nhân tố Có rất nhiều
nhân tố giao tiếp khác nhau nhưng ở đây chúng tôi chỉ tập trung vào các
nhân tố cơ bản sau
1.Nhân vật giao tiếp
Là những người tham gia trực tiếp vào quá trình giao tiếp Quá trình
giao tiếp có thể thực hiện bởi hai người hoặc nhiều người nhưng chúng ta
có thể chia làm hai loại nhân vật giao tiếp đó là người phát và người nhận
Hiệu quả của quá trình giao tiếp được quyết định bởi cả người phát và
người nhận Khi người phát nói, viết những gì mà người nhận không hiểu
hay không phù hợp với suy nghĩ, thói quen của người nhận thì cuộc giao
tiếp sẽ không đạt được hiệu quả Như vậy để quá trình giao tiếp đạt được
hiệu quả như mong muốn thì người phát phải có sự lựa chọn nội dung giao
tiếp cho phù hợp với lứa tuổi, trình độ, đặc điểm tâm lí của người nhận,
đồng thời người phát phải biết lựa chọn ngôn ngữ cho phù hợp để khơi gợi
hứng thú giao tiếp Ngược lại khi tiếp nhận nội dung truyền đạt thì người
nhận phải có vốn hiểu biết nhất định về các lĩnh vực liên quan đến nội dung
lĩnh hội, về đối tượng đã truyền đạt (người phát) Sự hiểu biết này cũng
không kém phần quan trọng nó giúp cho người nhận có thể hiểu được nội
Trang 16dung truyền đạt một cách đúng đắn và đầy đủ nhất để có sự hồi đáp phù
hợp với cuộc giao tiếp Những người tham gia trong cuộc giao tiếp phải có
một trình độ nhất định, nếu trình độ ngang hàng nhau thì càng hiểu được
nội dung giao tiếp của nhau Từ đó cho chúng ta thấy rằng sự hiểu biết về
đối tượng giao tiếp càng đầy đủ, sâu sắc bao nhiêu thì hiệu quả giao tiếp
càng cao bấy nhiêu Vai vế, địa vị của nhân vật giao tiếp sẽ ảnh hưởng rất
nhiều đến hoạt động giao tiếp Những người có vai vế, địa vị xã hội càng
cao thì lời nói càng có giá trị, càng có sức thuyết phục Cùng một nội dung,
nhưng người này nói lại không có sức thuyết phục hơn người khác Từ
những đặc điểm trên ta thấy rằng nhân vật giao tiếp đóng vai trò quan trọng,
đó là nhân tố để lại dấu ấn đậm nét nhất trong việc lựa chọn nội dung và
cách thức trình bày một văn bản Là một người giáo viên phải nắm rõ đặc
điểm học sinh lớp mình để tổ chức ngôn ngữ giảng dạy theo quan điểm giao
tiếp cho phù hợp với từng đối tượng Đồng thời phải tạo được vị thế cho
bản thân để tăng sức thuyết phục cho lời nói khi truyền đạt đến học sinh
2 Nội dung giao tiếp
Nội dung giao tiếp ở đây là hiện thực được nói đến trong cuộc giao
tiếp Nội dung là tình cảm, sự hiểu biết của con người được đưa vào nội
dung lời nói của người tham gia giao tiếp Người ta không thể nói những gì
mà người ta không biết Hiện thực được nói đến sẽ tạo nên chủ đề, đề tài
của cuộc giao tiếp Nội dung giao tiếp ở đây có thể thuộc về quá khứ, hiện
tại và cả tương lai Nội dung giao tiếp được tồn tại trong suốt quá trình giao
tiếp, không ai lại nói những điều mà không chứa đựng được nội dung nào
Điều quan trọng để cuộc giao tiếp có thể diễn ra là cả người phát và người
nhận phải cùng hướng về một nội dung giao tiếp Không thể người này nói
một nơi người khác lại hiểu một nẻo Chẳng hạn khi A hỏi B “Sao hôm qua
không đi học ?” B trả lời “Hôm nay trời đẹp quá” Đó là vi phạm về nguyên
tắc của hoạt động giao tiếp Vì thế, cuộc giao tiếp xem như thất bại Tóm
lại, để có thể thực hiện hoạt động giao tiếp thì những người tham gia giao
tiếp phải nắm rõ về nội dung giao tiếp, cùng hướng về một nội dung giao
tiếp nhất định
3 Mục đích giao tiếp
B Tômasepxki đã nói “ Mục đích của giao tiếp thông thường là
biểu đạt Chỉ cần thỏa mãn sự biểu đạt, con người có thể sử dụng bất cứ
phương tiện, cách thức nào: từ ngữ, ánh mắt, nụ cười, cử chỉ, bàn tay, cái
nhún vai… [Trần Đình Sử 2005 135] Như vậy, có thể nói mục đích cơ
bản của cuộc giao tiếp là nhằm truyền đạt thông tin, bộc lộ tư tưởng, tình
cảm, cảm xúc của mình Qua đó còn phải tác động đến người tiếp nhận một
tình cảm nào đó Mục đích giao tiếp là kết quả cuối cùng mà cuộc giao tiếp
mong muốn đạt được Có thể nói một cuộc giao tiếp được gọi là thành công
khi cuộc giao tiếp đạt được mục đích đã đề ra Mục đích giao tiếp là động
lực giúp con người hướng đến và thực hiện hoạt động giao tiếp
Trang 17
4 Phương tiện giao tiếp
Phương tiện giao tiếp ở đây là ngôn ngữ Điều đầu tiên để cả người
phát và người nhận có thể hiểu thông điệp của nhau là ngôn ngữ dùng trong
giao tiếp phải có tính chất chung đối với cả hai và ngôn ngữ trong văn bản
viết phải khác với ngôn ngữ trong văn bản nói Để đạt được điều này thì
người giao tiếp phải biết cách sử dụng phương tiện ngôn ngữ sao cho phù
hợp với đối tượng giao tiếp, nội dung giao tiếp, sử dụng vốn ngôn ngữ
mang tính chất cộng đồng … để người nhận có thể tiếp thu, có thể hiểu
được nội dung mà người nói muốn truyền đạt Đối với người Việt trong
những hoạt động giao tiếp thông thường thì ngôn ngữ được sử dụng là tiếng
Việt Khi giao tiếp bằng ngôn ngữ thì trình độ ngôn ngữ cũng như vốn hiểu
biết về tiếng Việt sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả giao tiếp Cũng như
các loại hình ngôn ngữ khác, tiếng Việt cũng được thể hiện ở cả hai dạng
nói và viết Khi sử dụng tiếng Việt chúng ta còn cần phải chú ý đến các
phong cách sử dụng vì mỗi phong cách sẽ quyết định việc lựa chọn những
phương tiện giao tiếp cho phù hợp
5 Hoàn cảnh giao tiếp
Hoàn cảnh giao tiếp là không gian, thời gian và những đặc điểm
của nơi diễn ra cuộc giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp có thể chia làm hai loại:
hoàn cảnh giao tiếp rộng và hoàn cảnh giao tiếp hẹp Hoàn cảnh giao tiếp
rộng là những hiểu biết chung về chính trị , văn hóa, xã hội … tại thời điểm
diễn ra cuộc giao tiếp Tất cả những hiểu biết này tạo ra tiền giả định để các
nhân vật giao tiếp huy động theo những cách khác nhau vào cuộc giao tiếp
Khi tiến hành cuộc giao tiếp thì các nhân vật giao tiếp phải có chung một
tiền giả định Hoàn cảnh giao tiếp hẹp là không gian, thời gian cụ thể đang
diễn ra cuộc giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp hẹp đòi hỏi nhân vật tham gia
giao tiếp phải có những ứng xử cho phù hợp Hoàn cảnh giao tiếp cũng ảnh
hưởng rất nhiều đến cuộc giao tiếp, mỗi hoàn cảnh ta phải có sự lựa chọn
những cách thức giao tiếp cho phù hợp
Trên đây là những nhân tố cơ bản của hoạt động giao tiếp bằng ngôn
ngữ Các nhân tố này có mối quan hệ mật thiết với nhau trong khi tiến hành
hoạt động giao tiếp Nhân vật giao tiếp có vai trò quyết định nội dung,
phương tiện giao tiếp Chẳng hạn như ngôn ngữ dùng để giao tiếp với người
lớn tuổi hơn mình sẽ khác với ngôn ngữ dùng giao tiếp với người ngang
hàng Khi gọi em mình ăn cơm, ta có thể nói “vô ăn cơm” nhưng khi gọi
ông nội thì ta không thể dùng ngôn ngữ đó mà phải nói là “cháu mời ông
nội vào dùng cơm” Nội dung giao tiếp lại quyết định việc lựa chọn phương
tiện giao tiếp Vì mỗi đối tượng mỗi nội dung giao tiếp khác nhau sẽ có
những phương tiện giao tiếp phù hợp Đồng thời khi có sự hiểu biết, sự nắm
vững đầy đủ về nhân vật giao tiếp, nội dung giao tiếp, phương tiện giao
tiếp, hoàn cảnh giao tiếp thì mới có thể đạt được mục đích giao tiếp như kết
quả mong muốn
Trang 18
IV Giao tiếp và việc dạy- học làm văn để giao tiếp
1.Dạy tiếng Việt và làm văn là dạy học sinh rèn luyện và nâng cao kĩ
năng sử dụng tiếng Việt làm phương tiện giao tiếp - sản sinh văn bản làm
phương tiện giao tiếp Tiếng Việt có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những
tri thức ngôn ngữ, quy tắc sử dụng ngôn ngữ tạo ra các sản phẩm trong hoạt
động giao tiếp Tiếng Việt là công cụ để giao tiếp và tư duy Dạy tiếng Việt
là dạy về ngôn ngữ mà ngôn ngữ là phương tiện để tạo nên văn bản trong
hoạt động giao tiếp Văn bản này được xây dựng dựa trên những nguyên tắc
chung của tiếng Việt Văn bản là một chuỗi lời nói được sắp xếp một cách
mạch lạc nhằm truyền đạt nội dung giao tiếp nào đó Văn bản bao gồm hai
phần: hình thức và nội dung Hai thành phần này được xây dựng dựa trên
những nguyên tắc của tiếng Việt Thành phần nội dung nhằm phản ánh hiện
thực, thái độ, tình cảm của con người và để truyền tải được nội dung đó đến
người tiếp nhận thì người nói cần phải sử dụng một hình thức cho phù hợp
Giữa nội dung và hình thức có mối quan hệ mật thiết với nhau: nội dung
quyết định hình thức, hình thức phản ánh nội dung Dạy tiếng Việt là dạy
các kiến thức cơ bản để có thể tạo nên mối quan hệ hài hòa giữa hình thức
và nội dung trong cùng một văn bản Làm văn là phương tiện để học sinh
có thể thực hành những văn bản trong hoạt động giao tiếp Bất cứ một vấn
đề nào cũng vậy nếu ta chỉ dạy lý thuyết suông thì không thể đạt được hiệu
quả mà ta cần phải gắn lý thuyết với thực hành Cho nên có thể nói rằng dạy
tiếng Việt và làm văn là dạy cho học sinh có cách sử dụng tiếng Việt để làm
phương tiện giao tiếp
2.Dạy làm văn không phải chỉ dạy hình thức bài văn đúng phong
cách mà quan trọng là nội dung có ý hay, đẹp
2.1 Về hình thức:
Hình thức bài văn bao gồm nhiều đoạn, nhiều câu liên kết chặt chẽ
với nhau, các câu này phải cùng thể hiện được một chủ đề, cùng hướng đến
một mục đích nhất định Môn Làm văn có các thao tác lập luận cơ bản Ta
có thể lập luận theo cách diễn dịch hay quy nạp Tùy theo nội dung và yêu
cầu của bài văn mà ta sẽ có sự lựa chọn phương pháp lập luận cho phù hợp
vì mỗi phương pháp lập luận đều có những ưu, khuyết điểm riêng Các thao
tác lập luận này cần phải được tổ chức mạch lạc, chặt chẽ để giúp cho đoạn
văn có một hình thức thống nhất Bố cục bài làm văn gồm có 3 phần lớn:
mở bài, thân bài, kết bài
Mở bài là nêu một cách khái quát về vấn đề trọng tâm mà mình sẽ
khai thác ở phần thân bài Phần mở bài này sẽ giúp cho học sinh nhận diện
được vấn đề mà mình sẽ tìm hiểu Mở bài trong bài văn tự sự thuyết minh
thường giới thiệu khái quát về đối tượng, sự vật, sự việc sẽ kể sẽ thuyết
minh trong phần thân bài Mở bài trong bài văn nghị luận thường nêu lên
luận điểm trọng tâm sẽ được trình bày trong phần thân bài Phần mở bài
đóng một vai trò rất quan trọng, nó là điều kiện là tiền đề để học sinh có thể
làm phần tiếp theo Vì có nhiều trường hợp học sinh mất quá nhiều thời
Trang 19gian để có thể viết được phần mở bài Có những học sinh khi không viết
được phần mở bài thì sẽ không thể làm được những phần tiếp theo
Thân bài có nhiệm vụ là triển khai và làm sáng tỏ vấn đề nêu ở phần
mở bài Ở phần thân bài này sẽ gồm các luận điểm, luận cứ góp phần làm
sáng tỏ luận đề ở phần mở bài Các luận điểm, luận cứ này cần phải được
liên kết chặt chẽ với nhau bằng các thao tác lập luận Các luận điểm phải
nhỏ hơn và tập trung làm sáng rõ luận đề Giữa các đoạn văn trong cùng
một bài làm văn được liên kết với nhau bằng các câu chuyển đoạn
Kết bài là tổng kết, kết luận lại nội dung đã trình bày Qua đó nêu
lên nhận định của bản thân về vấn đề đó, khẳng định hoặc phủ dịnh vấn đề
đó Phần kết luận thường ngắn gọn, súc tích giúp học sinh nắm lại được nội
dung chính của vấn đề
Làm văn lớp 10 có 3 kiểu bài cơ bản: Tự sự, thuyết minh, nghị luận
Gắn liền với các kiểu bài này là các thao tác chứng minh, giải thích, bác bỏ
Mỗi kiểu bài sẽ có hình thức riêng cho nên ta phải biết cách lựa chọn hình
thức cho phù hợp với từng kiểu bài
Tự sự: cách làm bài văn tự sự là phải chuyển đổi cốt truyện thành
một bài văn mang nội dung truyện Những đặc điểm chủ yếu của bài văn tự
sự bao gồm: cốt truyện, tình huống truyện phải hợp logic nhằm tác dụng
bộc lộ đầy đủ được vấn đề Ta phải biết sắp xếp sao để cho mỗi tình tiết đều
có vai trò riêng không có chi tiết thừa Bên cạnh đó còn phải chú ý đến cách
kể Có thể kể theo trình tự thời gian, đảo trình tự thời gian hoặc kết hợp cả
hai Cái hay của bài làm văn tự sự thường được bộc lộ qua lời kể cho nên
lời văn trong bài văn tự sự cần phải có cảm xúc để gây hứng thú cho người
đọc Ta có thể kết hợp lời kể, lời dẫn hoặc lời “nửa trực tiếp” (Trong nền
văn học hiện thực giai đoạn 1930 – 1945, Nam Cao là nhà văn sử dụng lời
nửa trực tiếp đạt hiệu quả nhất) Về ngôi kể thì có thể kể theo điểm nhìn của
nhân vật, kể theo điểm nhìn của người kể Dù khi ta lựa chọn cách kể nào
thì cũng phải đảm bảo được rằng cách kể đó phải phù hợp với nội dung vấn
đề và đạt được hiệu quả nghệ thuật
Thuyết minh là văn bản giới thiệu về những đặc điểm, tính chất cơ
bản của một sự vật, sự việc nào đó Tất cả các đặc điểm này phải mang tính
khách quan phù hợp với thực tế Đặc điểm của văn bản thuyết minh là phải
phản ánh được bản chất của sự việc cho nên khi làm một bài văn thuyết
minh tránh viết những ý dài dòng mà cần tập trung làm nổi bật đối tượng
định thuyết minh, các chi tiết cần phải được sắp xếp theo trình tự, hợp
logic Văn bản thuyết minh được sử dụng rộng rãi trong đời sống hàng ngày
cho nên ngôn ngữ trong văn bản thuyết minh đòi hỏi phải giản dị, gần gũi
với đời sống hàng ngày Khi làm một bài văn thuyết minh đòi hỏi người
viết phải tôn trọng sự việc, tránh những hư cấu thái hóa, phương pháp so
sánh được sử dụng rộng rãi trong bài văn thuyết minh sẽ đem lại hiệu quả
cao
Trang 20Nghị luận là thể văn ra đời từ rất lâu Văn nghị luận phản ánh tư
tưởng, tình cảm, ý chí, nguyện vọng của con người Trong bài văn nghị
luận thường phải có luận điểm, luận cứ, luận chứng để làm sáng tỏ luận đề
Lời văn trong bài văn nghị luận phải sáng sủa, mạch lạc Người viết cần
phải dùng lí lẽ để làm rõ vấn đề Trong bài văn nghị luận cần phải có các
thao tác: chứng minh, dẫn chứng, giải thích, phân tích, tổng hợp Các thao
tác này có quan hệ mật thiết với nhau cùng thực hiện một nhiệm vụ là làm
sáng tỏ vấn đề Muốn chứng minh một vấn đề thì cần phải có dẫn chứng (số
liệu, một nhận định của ai đó….) thuyết phục người đọc Và để người khác
có thể hiểu được thì phải giải thích, phân tích Cuối cùng là tổng hợp để
khẳng định lại vấn đề, đưa ra một nhận định chung về sự vật, sự việc
Khi nói đến một bài làm văn thì một trong những vấn đề quan trọng
là việc sử dụng từ ngữ vì làm văn chính là thực hành những kiến thức về
tiếng Việt đã học Từ ngữ trong một bài làm văn góp phần thể hiện được
những kĩ năng của người viết, phải biết lựa chọn từ ngữ trong sáng, mạch
lạc, súc tích phù hợp với từng kiểu bài và phù hợp với phong cách của một
bài làm văn Ngôn ngữ trong một bài làm văn thuộc về ngôn ngữ nghệ thuật
cho nên từ ngữ đòi hỏi phải đạt được giá trị thẫm mĩ Mỗi từ ngữ không
phải chỉ hàm chứa nội dung mà còn phải đạt được cái hay cái đẹp Tiếng
Việt của ta về từ ngữ thì rất phong phú, đa dạng Sự phong phú đa dạng này
đem lại kết quả 2 mặt: một là nếu ta sử dụng đúng thì sẽ giúp cho lời văn
trở nên sinh động đạt được hiệu quả cao Ngược lại thì nó sẽ làm sai ý nghĩa
hoặc đôi khi làm đảo lộn cả nội dung muốn nói đến Bên cạnh đó thì câu
cũng đóng vai trò quan trọng trong một bài Làm văn Nội dung giữa các câu
cần phải được sắp xếp một cách hợp logic, đúng đặc điểm ngữ pháp để tạo
nên được hiệu quả diễn đạt Người ta thường nói “phong ba bão táp không
bằng ngữ pháp Việt Nam”, ta thấy rằng chỉ với một dấu câu cũng có thể
làm thay đổi nội dung của cả câu
Ví dụ
Ngày tôi về nhà, cô ấy rất vui Ngày tôi về, nhà cô ấy rất vui
Ta thấy chỉ cần thay vị trí dấu phẩy thì ý nghĩa của hai câu đã
khác xa nhau Ở câu thứ nhất thì người có được niềm vui là “cô ấy”, còn ở
câu thứ 2 thì cả nhà cô ấy có được niềm vui Từ sự phân tích trên ta thấy
rằng khi viết thành câu thì ta còn cần phải chú ý đến cả dấu câu Các câu
được liên kết chặt chẽ với nhau bằng các phép liên kết, các phương thức
ngữ pháp khác nhau cho phù hợp Từ là phương tiện để tạo nên câu, câu là
đơn vị để tạo nên một đoạn văn và mỗi đoạn văn lại là phương tiện để tạo
nên một bài làm văn Cho nên để có thể tạo nên một bài làm văn đạt được
yêu cầu thì trước tiên cần phải sử dụng từ ngữ, câu đúng phong cách, đặc
điểm ngữ pháp để cho bài làm văn chẳng những mang giá trị nội dung mà
còn đạt được giá trị thẩm mĩ
Trang 21Tóm lại, để có thể viết được một bài làm văn hay, đạt hiệu quả thì
trước tiên bài làm văn đó phải đạt được yêu cầu về mặt hình thức Hình
thức đóng vai trò quan trọng trong một bài làm văn vì hình thức là điều đập
vào mắt người đọc trước khi tiếp xúc với nội dung của một bài làm văn
Cho nên khi hình thức tạo được sức thuyết phục nơi người tiếp nhận thì
người ta mới có thể tiếp nhận tiếp phần nội dung Bên cạnh, bài làm văn
cần chú ý đến phần nội dung
2.2 Về nội dung:
Nội dung giao tiếp vô cùng phong phú, đa dạng về vấn đề tự nhiên
rồi các vấn đề xã hội như đạo đức, văn học, tình cảm Trong bất cứ hoàn
cảnh nào thì con người cũng cần phải có giao tiếp Trong nhà trường
thường giao tiếp về các lĩnh vực khác nhau Ở đó, không chỉ cung cấp
thông tin mà còn bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cho học sinh Cho nên nội
dung giao tiếp cần phải hướng đến nhiều đối tượng khác nhau để đạt được
những hiệu quả giao tiếp Lượng kiến thức mà nhà trường cung cấp cho học
sinh với số lượng rất lớn Người giáo viên cần truyền tải tất cả nội dung này
gắn liền với giao tiếp để vừa giúp học sinh rèn luyện được kĩ năng của mình
vừa phát huy được tính tích cực, tự giác, sự hứng thú của học sinh trong các
giờ học nói chung và giờ làm văn nói riêng Giờ làm văn là những giờ giúp
cho học sinh có thể diễn đạt được những kiến thức đã học
Cùng một vấn đề để làm sáng tỏ (nội dung) đâu phải lúc nào cũng
chứng minh hay phân tích với 1 thao tác duy nhất Có thể tùy người nghe
(đọc), ý muốn chủ quan của người nói (viết) mà sử dụng những thao tác lập
luận, kiểu bài phù hợp Đây là vấn đề có liên quan đến việc ra đề làm văn
sao cho phù hợp nhu cầu, lựa chọn cách thức thể hiện của người viết Và
chỉ khi phù hợp nhu cầu thì người viết mới có khả năng bộc lộ sự thích thú,
sáng tạo được Từ đó bài viết sẽ hay, hấp dẫn hơn Ví dụ ta thử so sánh hai
đề làm văn sau:
Đề 1:Hãy chứng minh đôi vai là kì diệu nhất
Đề 2:Lấy đôi vai làm đề tài, hãy viết bài luận về đề tài ấy
Ta thấy đề 2 sẽ tạo sự linh hoạt, hứng thú, sáng tạo nơi người viết
Ở đề 1 tạo sự thụ động cho người viết vì ở đây khẳng định tác dụng của đôi
vai là “kì diệu nhất” và yêu cầu người viết chứng minh điều đó Nghĩa là
người viết phải chấp nhận nhận định đó là đúng và chỉ tìm những ý nào
chứng tỏ đôi vai là kì diệu nhất làm cho phạm vi viết trở nên rất hạn hẹp
Còn ở đề 2 người viết có thể tự do suy nghĩ và chọn ra chủ đề mà mình yêu
thích Mỗi người sẽ có suy nghĩ, có sáng tạo khác nhau Chẳng hạn như có
thể viết “đôi vai là nơi sẻ chia những tình cảm” hoặc “đôi vai là nơi để ta
cùng nhau chia sớt những gánh nặng trong đời” Mỗi người sẽ có sự thể
hiện những tình cảm riêng của mình, do không bị gò bó về mặt nội dung
cho nên sẽ tạo được sự hứng thú cho người viết Người viết sẽ thả những
suy nghĩ của mình trong bài làm văn Qua cách ra đề như vậy người giáo
viên sẽ nắm được kiến thức của học sinh Như vậy, nội dung làm văn phải
Trang 22phong phú, gắn với cuộc sống xung quanh chứ không chỉ vấn đề sách vở,
vấn đề lời người xưa Vì học sinh thích những điều gì thực tế, nắm bắt được
chứ không phải những gì mang tính chất lý thuyết khô khan Học sinh có
nhu cầu tìm hiểu về thế giới, về những gì diễn ra xung quanh cuộc sống của
các em Mỗi thời đại khác nhau thì nhu cầu của con người cũng khác nhau
Chẳng hạn như quan niệm về cái đẹp của con người hiện đại sẽ khác quan
niệm về cái đẹp của con người thời trung đại Cho nên những vấn đề mang
tính chất sách vở của người xưa không còn phù hợp với nhu cầu, thị hiếu
thẩm mĩ của học sinh lúc bấy giờ Nó không còn gần gũi và tạo được sự
hứng thú cho các em vì những vấn đề mang tính chất sách vở thường phải
theo khuôn mẫu Điều này làm cho học sinh không bộc lộ được tư tưởng,
tình cảm của mình Mỗi học sinh sẽ có cách nhìn nhận vấn đề khác nhau
Cùng một vấn đề có em cho là đúng, có em lại cho là sai Trong khi đó thì
khi ra đề làm văn cho học sinh người giáo viên thường cho học sinh làm về
những vấn đề gắn với sách vở, tác phẩm văn chương Khi làm các đề làm
văn này, học sinh phải làm theo nội dung mà giáo viên cung cấp Từ đó làm
cho học sinh trở nên thụ động trong tư duy, suy nghĩ của mình
Tóm lại, nội dung đề văn, hình thức câu chữ của đề văn góp phần
tạo hứng thú, sáng tạo trong việc lựa chọn cách thức trình bày, thể hiện cho
phù hợp Chỉ khi tạo được sự hứng thú, sáng tạo thì học sinh mới có thể
hoàn thành một bài làm văn đạt hiệu quả
3 Giáo viên phải cho học sinh chú ý đến mục đích viết bài làm văn
Điều này liên quan đến việc ra đề Trong đề văn có thể có yêu cầu người
viết trình bày rõ vấn đề để làm gì hoặc không yêu cầu cụ thể nhưng cần cho
học sinh ý thức được mục đích của bài làm văn của mình Viết để làm gì?
Cho ai đọc? Khi ý thức được mục đích của bài làm văn thì học sinh mới có
sự lựa chọn phương tiện ngôn ngữ phù hợp, đúng phong cách Các nhân tố
giao tiếp ảnh hưởng rất nhiều trong việc dạy và học làm văn Mỗi nhân tố
sẽ mang những đặc điểm khác nhau cho nên dạy làm văn là phải giúp cho
học sinh ý thức đến các nhân tố giao tiếp để học sinh sử dụng đúng ngôn
ngữ trong từng trường hợp cụ thể
Trang 23
CHƯƠNG II THỰC TẾ DẠY – HỌC LÀM VĂN Ở TRƯỜNG THPT
VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT KHI DẠY LÀM
VĂN THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP
I.Thực tế dạy và học làm văn ở THPT
1.Cấu trúc chương trình làm văn ở THPT
Về chương trình làm văn ở trường THPT, chúng tôi chọn sách đại trà
để nhận xét và đề ra những cách thức tiếp nhận
Trong phần làm văn ở lớp 10 học sinh sẽ được học 33 tiết trong một
năm
Xét về thể loại phần làm văn ở THPT học sinh được học 3 kiểu bài
tiêu biểu: tự sự, thuyết minh, nghị luận và một số văn bản ứng dụng nhiều
trong đời sống Trong đó kiểu bài nghị luận chiếm số lượng ít hơn so với
kiểu bài tự sự, thuyết minh và một số văn bản ứng dụng khác
Nội dung chương trình làm văn trong sách giáo khoa được biên soạn
theo quan điểm tích hợp thể hiện trong sự gắn bó với tiếng Việt và Văn học
Các ngữ liệu trong phần làm văn được lấy chủ yếu từ Văn học Phần làm
văn lớp 10 nhằm giúp học sinh hệ thống hóa các tri thức đã học và nâng cao
các kĩ năng thực hành để có thể hoàn thiện tất cả các kĩ năng trong chương
trình làm văn ở lớp 11, 12
Bố cục bài học được sắp xếp thành một chuỗi liên tục, thống nhất
Đầu tiên là cho học sinh phân tích những ví dụ rồi từ các ví dụ giúp học
sinh khái quát được nội dung bài học Cách sắp xếp này giúp học sinh
chiếm lĩnh được các tri thức cơ bản ở sách giáo khoa
Sau mỗi bài học thường có mục ghi nhớ Mục này trình bày nội dung
bài học một cách cô đọng, giúp học sinh nắm được những nội dung chính
Ngoài ra trong chương trình làm văn còn có 7 bài viết: 1 bài văn cảm
nghĩ về 1 hiện tượng đời sống hoặc 1 tác phẩm văn học, 2 bài tự sự, 3 bài
thuyết minh và 1 bài nghị luận Từ đó cho ta thấy rằng học phần Làm văn ở
lớp 10 THPT nhằm giúp học sinh thực hành luyện tập và hoàn thiện kĩ năng
diễn đạt các loại văn bản đã học Bên cạnh đó thì sau mỗi tiết làm bài viết
còn có tiết trả bài viết Ở tiết này người giáo viên và học sinh sẽ trao đổi,
thảo luận (nghĩa là đã thực hiện quá trình giao tiếp) để rút ra những kiến
thức về bài viết của mình Đồng thời chỉ ra những ưu, khuyết điểm mà học
sinh thường mắc phải trong các bài làm văn Điều này sẽ giúp cho học sinh
nhận thức và hoàn thiện kĩ năng của mình trong các bài viết sau để đạt kết
quả tốt hơn
Nhìn chung, phần Làm văn ở lớp 10 được sắp xếp theo 1 chuỗi liên
tục, các thể loại văn bản đều tiêu biểu cho các thể loại của làm văn Sự sắp
Trang 24xếp này giúp cho học sinh có cái nhìn bao quát về môn học đồng thời còn
giúp cho các em dễ nắm bắt được những đặc điểm cơ bản của các loại văn
bản Qua đó hình thành được các kĩ năng cơ bản khi làm văn
2 Những nhận xét về thực tế dạy và học làm văn ở trường THPT
Qua việc lập phiếu thăm dò giáo viên, học sinh và tìm hiểu về
chương trình làm văn ở trường phổ thông, dự giờ một số tiết làm văn cũng
như xem qua một số bài làm văn của học sinh chúng tôi rút ra được những
đặc điểm cơ bản của tình hình dạy và học làm văn
2.1 Những ưu điểm
Về sách giáo khoa Phần làm văn ở phổ thông đáp ứng được yêu cầu
sử dụng phương pháp dạy học mới Nội dung chương trình vừa giúp người
giáo viên tổ chức được hoạt động giảng dạy theo phương pháp phát huy
được tính tích cực của học sinh vừa giúp học sinh tìm tòi, phát hiện và
chiếm lĩnh được những tri thức mới Ở mỗi bài làm văn có hệ thống câu
hỏi, bài tập đa dạng, phong phú Phần làm văn được biên soạn theo hướng
cập nhật thông tin hiện đại Có thể nói phần làm văn ở sách giáo khoa được
biên soạn vừa để giáo viên dạy vừa để cho học sinh có thể tự học được Sự
đổi mới ngày càng cao của quan điểm giáo dục đòi hỏi sách giáo khoa cũng
phải có những cải cách cho phù hợp Tóm lại sách giáo khoa Ngữ văn lớp
10 bộ mới nói chung và phần làm văn nói riêng đáp ứng tương đối đầy đủ
cho việc dạy và học của giáo viên và học sinh theo quan điểm dạy học mới
2.2 Hạn chế và những nguyên nhân
Về phía học sinh Khi được hỏi về việc học môn làm văn đa số học
sinh đều cho rằng chỉ đôi lúc thích viết làm văn vì nội dung làm văn không
phù hợp với các em cho nên học sinh không có hứng thú để diễn đạt
(85/115 chiếm 72%) Ta đều biết rằng sở thích là một trong những điều
kiện quan trọng giúp con người làm tốt mọi việc, làm văn lại đòi hỏi điều
này hơn nữa Một bài làm văn được xem là kết quả của quá trình tư duy,
sáng tạo của học sinh Mà sự tư duy, sáng tạo cần phải gắn liền với hứng
thú Đa số học sinh đều cho rằng chỉ thích viết làm văn khi hợp với nhu cầu
bản thân vì đó là điều kiện giúp các em bộc lộ được những tình cảm, cảm
xúc của mình Còn khi đề làm văn quá xa rời thực tế, học sinh không hiểu
được thì không có cảm hứng cũng như không thể viết được Từ những điều
trên ta có thể kết luận được rằng học sinh không thích học làm văn vì nội
dung làm văn còn quá xa rời thực tế, không gây được hứng thú cho học
sinh Bởi vì khi hiểu được vấn đề càng nhiều bao nhiêu thì học sinh mới có
thể viết chính xác, đầy đủ thậm chí là viết hay bấy nhiêu
Còn một vấn đề phải bàn đến đó là kĩ năng làm văn của học sinh Đa
số học sinh đều có kĩ năng diễn đạt quá yếu Học sinh cho rằng học làm văn
tốn quá nhiều thời gian để diễn đạt nhưng cho dù cố gắng thế nào thì vẫn
không thể diễn đạt được điều muốn nói Từ đây, cho thấy khả năng sử dụng
tiếng Việt của học sinh vào trong hoạt động giao tiếp còn quá hạn chế Điều
đó có nguyên nhân từ việc học sinh không được giao tiếp thường xuyên cho