1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng công cụ kế toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam

202 654 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 202
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều kiện để thực hiện các giải pháp sử dụng công cụ kế toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập.... Nhận thức rõ ý nghĩa

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

-]^ -

LA VĂN THỊNH

Sö DôNG C¤NG Cô KÕ TO¸N NH»M N¢NG CAO

HIÖU QU¶ QU¶N Lý, Sö DôNG TμI S¶N C¤NG T¹I C¥ QUAN NHμ N¦íC, §¥N VÞ Sù NGHIÖP C¤NG LËP ë VIÖT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH

HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

-]^ -

LA VĂN THỊNH

Sö DôNG C¤NG Cô KÕ TO¸N NH»M N¢NG CAO

HIÖU QU¶ QU¶N Lý, Sö DôNG TμI S¶N C¤NG T¹I C¥ QUAN NHμ N¦íC, §¥N VÞ Sù NGHIÖP C¤NG LËP ë VIÖT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án

là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

La Văn Thịnh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt vi

Danh mục các bảng, biểu đồ vii

Danh mục các sơ đồ viii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SỬ DỤNG CÔNG CỤ KẾ TOÁN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN CÔNG TẠI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC, ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 10

1.1 QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN CÔNG TẠI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC, ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 10

1.1.1 Khái niệm tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập 10

1.1.2 Phân loại tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập 11

1.1.3 Vai trò của tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập 14

1.1.4 Quản lý tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập 17

1.2 HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN CÔNG TẠI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC, ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 28

1.2.1 Quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính 30

1.2.2 Quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính 31

1.3 SỬ DỤNG CÔNG CỤ KẾ TOÁN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN CÔNG TẠI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC, ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 32

1.3.1 Công cụ kế toán và vai trò trong quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập 32

1.3.2 Sử dụng công cụ kế toán trong quản lý, sử dụng tài sản công 38

1.4 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TSC Ở MỘT SỐ NƯỚC VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM 44

1.4.1 Kinh nghiệm một số nước 44

Trang 5

1.4.2 Chuẩn mực kế toán công quốc tế áp dụng cho khu vực công 51

1.4.3 Những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng áp dụng tại Việt Nam 53

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 56

Chương 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÔNG CỤ KẾ TOÁN TRONG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN CÔNG TẠI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC, ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 57

2.1 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN CÔNG TẠI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC, ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 57

2.1.1 Khái quát về tình hình quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam 57

2.1.2 Phân tích thực trạng quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam thời gian qua 71

2.1.3 Đánh giá chung về thực trạng quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập thời gian qua 93

2.2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÔNG CỤ KẾ TOÁN TRONG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN CÔNG TẠI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC, ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP QUA CÁC GIAI ĐOẠN 98

2.2.1 Hệ thống pháp luật về sử dụng công cụ kế toán trong quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập 98

2.2.2 Thực trạng sử dụng công cụ kế toán trong quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam thời gian qua 102

2.3 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÔNG CỤ KẾ TOÁN TRONG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN CÔNG TẠI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC, ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 114

2.3.1 Những kết quả đã đạt được 114

2.3.2 Những mặt còn hạn chế 116

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 121

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG CÔNG CỤ KẾ TOÁN TRONG QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN CÔNG TẠI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC, ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM THỜI GIAN TỚI 122

3.1 ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN CÔNG TẠI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC, ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP THỜI GIAN TỚI 122

Trang 6

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU 123 3.2.1 Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách về quản lý, sử

dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập 123 3.2.2 Nghiên cứu, xây dựng và áp dụng quy định về phân loại tài sản công

cho phù hợp với chuẩn mực kế toán công quốc tế 132 3.2.3 Nghiên cứu, xây dựng ban hành các bộ chỉ tiêu thông tin phục vụ

quản lý theo hướng chuẩn mực, đồng bộ và hiện đại nhằm tạo điều

kiện đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, sử dụng

tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập 134 3.2.4 Tăng cường vai trò kiểm tra, giám sát quản lý, sử dụng tài sản công

tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập 135 3.2.5 Chú trọng đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội

ngũ cán bộ làm công tác quản lý, sử dung tài sản công 138 3.2.6 Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ

quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập 139 3.3 GIẢI PHÁP SỬ DỤNG CÔNG CỤ KẾ TOÁN NHẰM NÂNG CAO

HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN CÔNG TẠI CƠ QUAN

NHÀ NƯỚC, ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 139 3.3.1 Yêu cầu quản lý gắn với nhu cầu sử dụng công cụ kế toán trong

quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự

nghiệp công lập thời gian tới 139 3.3.2 Một số giải pháp sử dụng công cụ kế toán nhằm nâng cao hiệu quả

quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự

nghiệp công lập thời gian tới 141 3.3.3 Điều kiện để thực hiện các giải pháp sử dụng công cụ kế toán nhằm

nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà

nước, đơn vị sự nghiệp công lập 164 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 166

KẾT LUẬN 167 DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN

ĐẾN LUẬN ÁN 170 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 171 PHỤ LỤC 178

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Giải nghĩa

CQNN Cơ quan Nhà nước

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1: Tổng hợp TSC tại CQNN, ĐVSN công lập (tính đến ngày 31

tháng 12 năm 2011) 58 Bảng 2.2: Cơ cấu phân bố quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công

lập theo nhóm chủ thể sử dụng (tính đến ngày 31/12/2011) 60 Bảng 2.3: Cơ cấu phân bố quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công

lập phân theo cấp quản lý (tính đến ngày 31/12/2011) 62 Bảng 2.4: Cơ cấu phân bố quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công

lập theo lĩnh vực hoạt động (tính đến ngày 31/12/2011) 64 Bảng 2.5: Cơ cấu phân bố quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công

lập theo lĩnh vực hoạt động sự nghiệp chủ yếu (tính đến ngày

31/12/2011) 66 Bảng 2.6: Kết quả thí điểm thực hiện phương thức mua sắm TSC tập trung

từ năm 2008 đến năm 2012 90 Biểu đồ 2.1: Cơ cấu các khoản thu NSNN từ đất năm 2008 93 Biểu đồ 2.2: Quy trình thu thập, xử lý và cung cấp thông tin TSC 104

Trang 9

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1: Kế toán TSCĐ tăng do mua sắm 106

Sơ đồ 2.2: Kế toán TSCĐ tăng do cấp trên cấp 107

Sơ đồ 2.3: Hạch toán TSCĐ mua sắm tập trung ở cấp trên 108

Sơ đồ 2.4: Hạch toán TSCĐ mua sắm tập trung ở cấp dưới 109

Sơ đồ 2.5: Kế toán TSCĐ tăng do được viện trợ 110

Sơ đồ 2.6: Kế toán TSCĐ giảm do thanh lý, nhượng bán 111

Sơ đồ 2.7: Kế toán TSCĐ do NSNN cấp hoặc có nguồn gốc NSNN giảm do phát hiện thiếu 112

Sơ đồ 2.8: Kế toán thanh lý, nhượng bán TSCĐ 113

Sơ đồ 2.9: Kế toán hao mòn TSCĐ 113

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Những năm đầu thế kỷ XXI, nền kinh tế Việt Nam chuyển từ trạng thái phát triển nhanh, nóng sang phát triển bền vững Nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu với khu vực và thế giới, đòi hỏi quản lý kinh tế nhà nước cần nâng lên tầm cao mới, vừa đảm bảo hội nhập với khu vực và thế giới, vừa phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế nước nhà Những chuẩn mực quốc tế về quản lý kinh tế, tài chính, kế toán, TSC, v.v

đã và đang được Việt Nam nhận thức, vận dụng một cách có hiệu quả vào quản lý phát triển kinh tế - xã hội nói chung, cũng như quản lý tài chính, TSC nói riêng

Để hoạch định được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cho mỗi giai đoạn, mọi quốc gia đều phải rà soát, xác định tổng nguồn lực hiện tại mà họ đang sở hữu và việc quản lý, sử dụng chúng thế nào Tổng nguồn lực ở một thời điểm có thể xác định khái quát theo ba nhóm: (i) Nguồn lực từ con người (nhân lực); (ii) Nguồn lực bằng tiền (NSNN và các quỹ tài chính); (iii) Nguồn tài chính tiềm năng từ TSC và tài nguyên quốc gia Thực tiễn quá trình này cho thấy, việc tìm kiếm giải pháp để cung cấp được đầy đủ thông tin về tổng nguồn lực phục vụ cho hoạch định mục tiêu phát triển kinh tế

- xã hội vẫn đang là mục tiêu mà các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý đang tìm kiếm Tầm nhìn từ góc độ kế toán với khả năng cung cấp thông tin từ hệ thống báo cáo

và kế toán thích hợp cho thấy đây là lĩnh vực luôn được nghiên cứu, hoàn thiện để khai thác triệt để hiệu quả có được từ sử dụng công cụ này

Ở Việt Nam, theo quy định tại Điều 53 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 thì TSC gồm: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là TSC thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”

Theo quy định tại Điều 1 Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008 thì TSC tại CQNN, ĐVSN công lập gồm: “Trụ sở làm việc và tài sản khác gắn liền với đất; quyền sử dụng đất đối với đất dùng để xây dựng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, trang thiết bị làm

việc và các tài sản khác do pháp luật quy định”

Trang 11

Xác định giá trị TSC nói chung và TSC tại CQNN, ĐVSN công lập nói riêng ở một thời điểm và ghi nhận nó theo yêu cầu của các nhà quản lý, nhưng phải phù hợp chuẩn mực kế toán quốc tế, hiện đang là vấn đề thời sự nóng bỏng trên các diễn đàn chính thức và không chính thức

Trong bối cảnh nguồn lực phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội rất hạn hẹp; nhiệm vụ cung cấp được đầy đủ thông tin về nguồn lực thực tế mà Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương đang sở hữu, định đoạt là vô cùng quan trọng và bức thiết Trong đó kế toán, xác định giá trị TSC nói chung và giá trị TSC tại CQNN, ĐVSN công lập nói riêng là lĩnh vực được xem là cốt lõi cần phải được nghiên cứu, hoàn thiện

để giúp Chính Phủ và chính quyền địa phương các cấp có được các quyết định quản lý,

sử dụng và khai thác có hiệu quả cao nhất

Đối với TSC tại CQNN, ĐVSN công lập ở Việt Nam, đến nay Việt Nam chưa ghi nhận được đầy đủ toàn bộ TSC hiện hữu trên bình diện quốc gia, cũng như ở từng cấp chính quyền địa phương Cục quản lý Công sản mới chỉ ghi nhận được những TSC

từ 500 triệu đồng trở lên Đối với những TSC dưới 500 triệu đồng thì Cục quản lý công sản chưa tổng hợp được, thông tin về những TSC này hiện đang nằm phân tán, ghi nhận tại sổ kế toán của các đơn vị đang sử dụng tài sản Các báo cáo về TSC tại CQNN, ĐVSN công lập vẫn mang tính phân tán, thiếu tổng quát và chưa phù hợp với

xu thế hiện đại hóa

Tóm lại, cả lý luận và thực tiễn Việt Nam đang đặt ra yêu cầu bức thiết sớm có giải pháp sử dụng công cụ kế toán để cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời phục vụ cho công tác quản lý, sử dụng cũng như việc hoạch định chính sách khai thác, huy động nguồn tài chính tiềm năng từ TSC tại CQNN, ĐVSN công lập phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhận thức rõ ý nghĩa, sự cần thiết của vấn đề này; được sự giúp đỡ của các nhà khoa học trong lĩnh vực kế toán, tài chính,

quản lý TSC, và các nhà quản lý; tác giả mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Sử dụng công

cụ kế toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam”

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về TSC, quản lý TSC và trọng yếu là sử dụng công cụ kế toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập ở Việt Nam

Trang 12

Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý TSC tại CQNN, ĐVSN công lập; công cụ

kế toán về TSC tại CQNN, ĐVSN công lập Việt Nam trong thời gian qua, từ đó chỉ ra mặt mạnh, điểm yếu, ưu điểm, nhược điểm trong công tác quản lý, hạch toán kế toán TSC ở các đơn vị kế toán này

Trên cơ sở lý luận và phân tích thực trạng, luận án đề xuất một số giải pháp sử dụng công cụ kế toán để nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập trong thời gian tới, hướng tới hội nhập và vận dụng các chuẩn mực KTC quốc

tế, cũng như tạo lập tổng nhằm kiểm soát mọi nguồn lực của Chính phủ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung đi sâu tìm hiểu lý luận cơ bản, thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc sử dụng công cụ kế toán để nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là số liệu tài liệu được ghi nhận ở cục quản lý công sản và một số địa phương để thực hiện mục tiêu nghiên cứu của Luận án

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học kinh tế như phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: điều tra, khảo sát, tổng hợp, phân tích, so sánh, đánh giá, phương pháp tính toán với sự trợ giúp của phương tiện, thiết bị và phương pháp chuyên gia Các phân tích của luận án dựa trên cơ sở nghiên cứu các văn bản của Chính phủ quy định về quản lý TSC, chế độ kế toán về TSC, kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố của các tác giả trong và ngoài nước về các vấn đề liên quan đến luận án để làm sâu sắc thêm các luận điểm của đề tài

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận án góp phần hệ thống hóa và luận giải rõ hơn cơ sở lý luận về quản lý, sử dụng TSC, về công cụ kế toán đối với hiệu quả quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập hiện nay

Luận án phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả quản lý và sử dụng công cụ kế toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập

Luận án đưa ra một số giải pháp sử dụng công cụ kế toán góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập ở Việt Nam trong thời gian tới Kết quả nghiên cứu của Luận án sẽ góp phần cung cấp một số luận cứ khoa học

Trang 13

trong sự nghiệp đổi mới quản lý, sử dụng nguồn lực to lớn từ TSC tại CQNN, ĐVSN công lập ở Việt Nam

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình đã công bố của tác giả liên quan đến luận án và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận cơ bản về sử dụng công cụ kế toán nhằm nâng cao hiệu

quả quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam

Chương 2: Thực trạng sử dụng công cụ kế toán trong quản lý, sử dụng tài sản

công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp sử dụng công cụ kế toán trong quản lý, sử dụng tài

sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam thời gian tới

7 Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Hiện nay quản lý, sử dụng TSC ở Việt Nam theo luật số 09/2008/QH12 về Quản lý, sử dụng TSNN, Nghị định số 52/2009/NĐ-CP ngày 03/6/2009 của Chính phủ

và các văn bản hướng dẫn thi hành; các Bộ, ngành cũng ban hành Quy chế quản lý, sử dụng TSC trong các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, ngành Đây là khung pháp luật điều chỉnh toàn bộ quá trình quản lý, sử dụng TSC từ khâu đầu xây dựng, mua sắm, thuê tài sản đến chế độ bảo dưỡng, sửa chữa, thu hồi, điều chuyển, bán, thanh lý tài sản; chế độ báo cáo, công khai, kiểm tra; sắp xếp lại, xử lý TSC tại CQNN, ĐVSN công lập

Để quản lý, từ năm 2009 Bộ Tài chính đã xây dựng và áp dụng Phần mềm đăng

ký TSC nhằm thu thập số liệu vào Cơ sở dữ liệu quốc gia (CSDL) Sau hơn năm năm triển khai theo mô hình cơ quan tài chính các cấp là điểm cuối thực hiện cập nhật thông tin biến động về TSC vào CSDL Đến nay CSDL đã hình thành, hệ thống đang vận hành thông suốt, quản lý tập trung tại Bộ Tài chính Với cơ chế phân quyền khai thác tại CSDL thì thông tin về TSC của cả nước thuộc phạm vi quản lý của Chính phủ, cũng như thông tin về TSC thuộc phạm vi quản lý của mỗi Bộ, ngành, địa phương đã được cập nhật, phản ánh kịp thời Đây là kênh thông tin quan trọng giúp cho các cấp có thẩm quyền thực hiện có hiệu quả hơn chức năng quản lý nhà nước về TSC, đưa công tác quản lý, sử dụng TSC vào nề nếp, thiết thực, tiết kiệm và có hiệu quả Sử dụng CSDL

để quản lý là bước đột phá lớn, thay đổi phương thức quản lý nhà nước theo hướng đơn

Trang 14

giản, kịp thời và có hiệu quả cao CSDL đã khẳng định vai trò là một công cụ quản lý đắc lực, dễ sử dụng, giảm đáng kể thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian thực hiện các giao dịch trong đăng ký, kê khai và báo cáo tình hình quản lý, sử dụng TSC theo quy định của Luật

Với 127 điểm cuối (end user) thực hiện chức năng cập nhật thông tin tại 64 Bộ,

cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương và 63 Sở Tài chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tính đến ngày 01/10/2012 CSDL đã lưu trữ, quản lý thông tin về TSC tại 97.624 CQNN, ĐVSN công lập trên phạm vi cả nước Trong đó, có 79.895/ 97.624 đơn vị đang quản lý, sử dụng những TSC thuộc đối tượng phải đăng ký theo quy định Thông tin của 417.649 TSC với tổng giá trị 814,73 nghìn

tỷ đồng, giá trị còn lại 720,32 nghìn tỷ đồng

Thông qua việc vận hành, thực hiện các tác nghiệp nghiệp vụ của CSDL, đã hình thành được đội ngũ cán bộ quản lý công sản có trình độ, đủ năng lực, tính chuyên nghiệp cao tại các Bộ, ngành và địa phương Bên cạnh đó, ý thức trách nhiệm của các các cơ quan quản lý và các đối tượng trực tiếp quản lý, sử dụng TSC có nhiều chuyển biến tích cực Nguyên tắc công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng TSC từng bước được phát huy

Kết quả đã đạt được nêu trên là đáng kể, song vẫn còn những hạn chế không thể không khắc phục, bao gồm: Giá trị ghi nhận TSCĐ vào sổ tài sản chưa tính đúng, tính

đủ, thậm chí còn nhiều tài sản chưa có đủ hồ sơ, hoặc không có hồ sơ; chất lượng số liệu của một số cơ quan, đơn vị chưa chuẩn xác; kỷ luật chấp hành chế độ báo cáo kê khai ở một số nơi chưa thực hiện nghiêm; một số chức năng của CSDL còn thiếu hoặc chưa đáp ứng yêu cầu quản lý v.v

Làm thế nào để quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập có hiệu quả hơn vẫn đang là một câu hỏi mang tính thời sự, đặt ra nhiệm vụ cần tiếp tục tìm kiếm câu trả lời Đặc biệt là việc sử dụng các công cụ để quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập ở Việt Nam còn hạn chế

Đến nay, đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về việc quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập Với nhiều cách tiếp cận khác nhau, vì vậy có khá nhiều quan điểm, cách đánh giá khác nhau Luận án trình bày một số kết quả nghiên cứu chủ yếu sau:

Trang 15

7.1 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Nghiên cứu của tác giả trong giai đoạn từ năm 1995 đến nay cho thấy, đã có

nhiều nghiên cứu về cơ chế quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập ở Việt

Nam, cụ thể:

- Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Chiến lược đổi mới cơ chế quản lý TSC giai đoạn 2001-2010” năm 2000 [72] PGS.TS Nguyễn Văn Xa đã đánh giá thực trạng tình hình quản lý, sử dụng toàn bộ TSC (trong đó có TSC trong khu vực HCSN ở Việt Nam) từ năm 1995 đến năm 2000, từ đó đề ra những giải pháp nhằm đổi mới cơ chế quản lý TSC trong khu vực HCSN đến năm 2010 Tuy vậy, do yếu tố thời gian, hệ thống số liệu của đề tài đã trở nên lạc hậu, mặt khác trong đề tài này, việc nghiên cứu

cơ chế quản lý TSC giữa CQHC và ĐVSN chưa được tách bạch

- Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Hoàn thiện cơ chế quản lý TSNN tại ĐVSN” năm 2002, [58] TS Phạm Đức Phong đã tập trung chủ yếu nghiên cứu về

cơ chế quản lý TSC đối với các tài sản phục vụ trực tiếp cho hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục- đào tạo, khoa học công nghệ, y tế, văn hoá thể thao, là khâu đột phá của công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Song, trong công trình này, tác giả cũng chưa quan tâm đánh giá hiệu quả, hiệu lực của cơ chế quản lý TSC tại các ĐVSN công lập

- Luận văn thạc sỹ kinh tế:

Hai công trình luận văn thạc sỹ kinh tế của Nguyễn Mạnh Hùng về “TSC và sử dụng TSC ở Việt Nam hiện nay”, năm 2005 [53] và tác giả La Văn Thịnh về “Sử dụng TSC khu vực HCSN ở Việt nam thực trạng và giải pháp”, năm 2006 [62] Với hệ thống

số liệu khá phong phú, các tác giả đã đánh giá tình hình quản lý TSC trong khu vực HCSN ở Việt Nam từ năm 1995 đến năm 2005, từ đó đề ra những giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả, tiết kiệm TSC trong khu vực HCSN đến năm 2010 Cơ chế phân cấp quản lý nhà nước về TSC tại CQNN, ĐVSN công lập theo xu hướng phải đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính, phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của người quản lý, người trực tiếp sử dụng TSC v.v hiện đang đặt ra nhiệm vụ có tính thời

sự, là vấn đề cấp thiết Tuy nhiên, tại các công trình nêu trên chưa nghiên cứu sâu về vấn đề này

- Tại Học viện Tài chính, có PSG,TS Trần Xuân Hải viết về cơ chế quản lý TSNN trong các trường công lập, nghiên cứu chỉ ra các vấn đề còn hạn chế gồm:

Trang 16

Đầu tư xây dựng, mua sắm và quản lý, sử dụng TSC chưa thực sự hiệu quả

Việc xây dựng tiêu chuẩn, định mức sử dụng các loại TSC còn lạc hậu, thính khoa học và thực tiễn chưa cao

Trong đó có nhấn mạnh: Việc thực hiện chế độ thông tin báo cáo còn thiếu chặt

chẽ, chậm hiện đại hoá công nghệ quản lý dẫn đến tình trạng các cơ quan quản lý chưa nắm vững được số lượng, khối lượng tài sản, thực tế tình hình quản lý và sử dụng tài sản; do đó việc quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản của một số đơn vị còn chưa phù hợp, nơi dư thừa, nơi thiếu

- Luận án “Cơ chế quản lý TSC trong khu vực HCSN ở Việt Nam” năm 2009,

[54] của tiến sỹ Nguyễn Mạnh Hùng:

Luận án này nhấn mạnh đến sự cần thiết và cơ chế quản lý TSC tại CQNN, ĐVSN công lập, các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả, hiệu lực của cơ chế quản lý TSC Luận án đã nghiên cứu:

Lý luận chung về TSC tại CQNN, ĐVSN công lập, gồm: Khái niệm TSC nói chung và TSC tại CQNN, ĐVSN công lập, phân loại TSC trong khu vực HCSN Cơ chế quản lý nhà nước đối với TSC trong khu vực HCSN Hiệu quả và hiệu lực của cơ chế quản lý TSC tại CQNN, ĐVSN công lập; Cơ chế quản lý TSC ở một số nước trên thế giới và khả năng vận dụng ở Việt Nam

Về thực trạng cơ chế quản lý, do tác giả thực hiện nghiên cứu ở giai đoạn 1995 -

2008, đây là giai đoạn Quốc Hội chưa ban hành Luật Vì thế, việc phân tích thực trạng chỉ tập trung đánh giá theo cơ chế cũ; phân tích về sử dụng công cụ quản lý còn khá

mờ nhạt, đặc biệt là công cụ kế toán trong quản lý

- Hai công trình luận văn thạc sỹ kinh tế của Nguyễn Thị Lan Phương năm 2006

“Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý, sử dụng trụ sở làm việc của cơ quan hành chính, ĐVSN công lập ở Việt Nam” [59] và của Trần Diệu An năm 2006 “Quản

lý, sử dụng trụ sở làm việc của cơ quan hành chính ở Việt Nam” [1] Hai luận văn đi

sâu phân tích những vấn đề lý luận cơ bản đối với một loại TSC cụ thể là trụ sở làm việc; xuất phát từ thực trạng quản lý để đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường công

tác quản lý trụ sở làm việc tại CQNN, ĐVSN công lập ở Việt Nam

Mặc dù số lượng các công trình nghiên cứu về quản lý TSC tại CQNN, ĐVSN công lập khá lớn Các công trình đã nghiên cứu ở nhiều góc độ, đề cập đến nhiều khía

Trang 17

cạnh khác nhau về thực trạng quản lý, sử dụng; đã đề xuất nhiều giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý Song nhìn chung các công trình nêu trên đều được nghiên cứu trong bối cảnh Việt Nam chưa có Luật chuyên ngành về quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập

Tại kỳ họp thứ ba quốc hội Khoá XII (tháng 6 năm 2008), Quốc hội đã thông qua Luật quản lý, sử dụng TSNN Đây là khung pháp luật cao nhất, là căn cứ pháp lý quan trọng để thực hiện việc quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập Tuy nhiên, đến nay, chưa có đề tài nào tiếp tục nghiên cứu về TSC tại CQNN, ĐVSN công lập Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện về quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập ở nước ta trong bối cảnh mới là rất cần thiết cả về lý luận và thực tiễn

7.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

- Trong cuốn "Khu vực công tầm vĩ mô ở một số nước trên thế giới như Úc, Pháp, Canada, Thụy sỹ, Mỹ, NewZealan, Trung Quốc” đã đề cập và đánh giá được

những tồn tại trong cơ chế quản lý TSC tại CQNN, ĐVSN công lập ở các nước trước khi cải cách Tổng kết được những kết quả khi tiến hành việc hoàn thiện cơ chế quản lý TSC Đồng thời chỉ ra những thách thức và những vẫn đề cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện đó là: (i) mối quan hệ giữa cải cách kế toán và cải cách cơ chế quản lý, sử dụng TSC (ii) mức độ phân chia thực hiện các quyền như quyền định đoạt, quyền quản

lý, quyền sử dụng TSC (iii) tổ chức hệ thống thông tin phục vụ quản lý TSC

- Trong công trình “Integrating Public Property in the Realm of Fiscal

Transparency and Anti-corruption Efforts” 2008 pp 209-222 Finding the Money:

Public Accountability and Service Efficiency through Fiscal Transparency Budapest: Local Government and Public Service Reform Initiative Open Society Institute [78]; Olga Kaganova đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa cơ chế quản lý TSC với các nỗ lực minh bạch hoá chính sách tài khoá và chống tham nhũng của Chính phủ

Luận án đã kế thừa kết quả các công trình nghiên cứu trên đây để vận dụng phân tích, đánh giá cơ chế quản lý, sử dụng tại CQNN, ĐVSN công lập ở Việt Nam

Tóm lại, hệ thống pháp luật hiện hành về quản lý, sử dụng tại CQNN, ĐVSN

công lập ở Việt Nam và kết quả của các công trình nghiên cứu nói trên nêu trên, đặt

ra nhiệm vụ cần sớm có các nghiên cứu sâu hơn về việc sử dụng các công cụ trong

Trang 18

quản lý Xuất phát từ vai trò đặc biệt quan trọng của công cụ kế toán và mối liên hệ mật thiết của nó với cơ chế quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập ở Việt Nam; với mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực từ TSC, tác giả lựa

chọn đề tài: “Sử dụng công cụ kế toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam” để

nghiên cứu

Đề tài này, tác giả mong muốn giải quyết các vấn đề sau:

Lý luận và cơ chế quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập;

Lý luận và thực trạng công cụ KTC hiện hành trong quản lý, sử dụng TSC;

Cơ chế quản lý, sử dụng TSC, thực trạng và những vấn đề cần đổi mới;

Công cụ kế toán: Cơ sở kế toán hiện hành chủ yếu dựa trên cơ sở tiền mặt, nên chưa có nhiều thông tin phục vụ quản lý và quản trị, vấn đề về xác định giá trị của TSC, ghi sổ và báo cáo TSC…, và cách thức sử dụng công cụ kế toán trong quản lý, sử dụng TSC cũng như xu hướng đổi mới công tác kế toán phục vụ quản lý TSC hiệu quả;

Nghiên cứu kinh nghiệm của quốc tế về sử dụng công cụ kế toán nhằm quản lý

có hiệu quả TSC tại CQNN, ĐVSN công lập;

Các giải pháp sử dụng công cụ kế toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập

Trang 19

Chương 1

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SỬ DỤNG CÔNG CỤ KẾ TOÁN

NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN CÔNG TẠI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC, ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 1.1 QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN CÔNG TẠI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC, ĐƠN

VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP

1.1.1 Khái niệm tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập

TSC là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Ở Việt Nam, theo quy định tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013 thì TSC gồm: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là TSC thuộc

sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” [60]

TSC tại CQNN, ĐVSN công lập, theo quy định tại Điều 1 Luật Quản lý, sử dụng TSNN năm 2008 gồm: “Trụ sở làm việc và tài sản khác gắn liền với đất; quyền

sử dụng đất đối với đất dùng để xây dựng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động của cơ quan,

tổ chức, đơn vị; máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, trang thiết bị làm việc và các tài

TSC tại CQNN, ĐVSN công lập có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

1.1.1.1 Tồn tại ở mọi chế độ xã hội khác nhau, với mức độ và qui mô khác nhau 1.1.1.2 Có thể đo lường được giá trị bằng một lượng tiền tệ nhất định Giá trị

TSC tại CQNN, ĐVSN công lập giảm dần trong quá trình sử dụng; phần giá trị giảm dần đó được coi là yếu tố chi phí để tạo ra các sản phẩm dịch vụ công

1.1.1.3 Có nguồn gốc hình thành từ đầu tư xây dựng, mua sắm bằng quĩ

NSNN; được Nhà nước tiếp quản từ chế độ cũ, được trưng mua, trưng dụng hoặc các hình thức xác lập quyền sở hữu của nhà nước theo quy định của pháp luật

1.1.1.4 Phạm vi rộng lớn, gồm nhiều chủng loại với công năng sử dụng đa dạng

và đặc tính cực kỳ phong phú Phân bố rộng khắp ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống

xã hội và có nhiều đối tượng sử dụng

Trang 20

1.1.1.5 Hình thức sở hữu, thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở

hữu và thống nhất quản lý Nhà nước thực hiện quyền chiếm hữu, định đoạt để sử dụng phục vụ trực tiếp cho hoạt động của các CQNN, ĐVSN công lập, vì lợi ích chung của đất nước và của nhân dân

1.1.1.6 Có sự tách biệt giữa sở hữu và người sử dụng Nghĩa là quyền sở hữu

tài sản thuộc về Nhà nước, còn quyền khai thác sử dụng được thực hiện bởi từng CQNN, ĐVSN công lập, được Nhà nước giao TSC để sử dụng theo chế độ do Nhà nước quy định

1.1.1.7 Quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập được thực hiện

thống nhất, có phân công, phân cấp rõ về thẩm quyền và trách nhiệm theo quy định của pháp luật Mọi quan hệ về mua sắm, đầu tư, sử dụng, thanh lý, nhượng, bán, cho thuê v.v đều phải thực hiện công khai, minh bạch theo quy định của pháp luật

1.1.1.8 Trong quá trình sử dụng tài sản, mọi đối tượng sử dụng phải chịu sự

kiểm tra, thanh tra, giám sát và tuân thủ theo kế hoạch và định hướng của chủ sở hữu tài sản là Nhà nước

1.1.1.9 Được Nhà nước đầu tư phát triển không ngừng cả về quy mô, số lượng,

chất lượng và mức độ hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu phục vụ ngày càng tốt hơn cho hoạt động của bộ máy nhà nước Nói cách khác, chủ thể đầu tư, phát triển TSC tại CQNN, ĐVSN công lập chính là Nhà nước

1.1.2 Phân loại tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập

Để nhận biết và từ đó định ra các biện pháp quản lý, sử dụng có hiệu quả với từng loại tài sản, có thể phân loại TSC tại CQNN, ĐVSN công lập theo các tiêu thức chủ yếu sau:

1.1.2.1 Phân loại theo nguồn gốc hình thành

Theo cách phân loại này, TSC tại CQNN, ĐVSN công lập gồm:

a) Những tài sản do Nhà nước trực tiếp tiếp quản từ các thế hệ trước: Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã cho thấy, một trong những nhiệm vụ đầu tiên của mọi Nhà nước lúc mới ra đời, đó là việc tước đoạt, tiếp nhận để xác lập quyền chiếm hữu của mình đối với toàn bộ cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có của nhà nước tiền nhiệm Dưới hình thái hiện vật, TSC tại CQNN, ĐVSN công lập là toàn bộ nhà, đất thuộc trụ

sở làm việc (công sở), cơ sở hoạt động sự nghiệp, kho tàng, trường học, bệnh viện,

Trang 21

phương tiện đi lại, máy móc, trang thiết bị làm việc, của các cơ quan, tổ chức thuộc

bộ máy chính quyền cũ Nhà nước phải thực hiện bố trí sử dụng ngay cơ sở vật chất mới tiếp quản được, để phục vụ cho hoạt động của bộ máy chính quyền nhà nước Dưới hình thức giao cho từng CQNN, ĐVSN công lập thuộc bộ máy chính quyền của mình sử dụng làm cơ sở hoạt động, để thực thi các nhiệm vụ quản lý kinh tế - xã hội của đất nước Về quy mô, khối lượng tài sản tiếp quản được nhiều hay ít tuỳ thuộc vào tình hình phát triển kinh tế xã hội của những thời kỳ trước đó Ở Việt nam, do phải trải qua thời gian dài bị áp bức, nô dịch, kinh tế xã hội kém phát triển, nên khối lượng tài sản mà Nhà nước ta tiếp quản được của chế độ cũ là không nhiều

b) Những tài sản do Nhà nước trực tiếp đầu tư, mua sắm bằng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước Chúng ta đều biết rằng, củng cố, phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật của đất nước được xem là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, lâu dài và liên tục đối với mọi nhà nước Ở hoàn cảnh của Việt nam thì nhiệm vụ này càng trở lên bức thiết Củng

cố cơ sở vật chất hiện có, tăng cường đầu tư, mua sắm mới TSC tại CQNN, ĐVSN công lập là nhiệm vụ đòi hỏi phải thực hiện thường xuyên, liên tục suốt từ ngày thành lập nước đến nay Nhờ đó, hiệu quả hoạt động quản lý kinh tế - xã hội của các cơ quan,

tổ chức bộ máy nhà nước được cải thiện đáng kể Trên thực tế trong suốt những năm qua, mặc dù NSNN hết sức eo hẹp, nhưng nhà nước vẫn liên tục ưu tiên bố trí một khoản kính phí không nhỏ để đầu tư xây dựng mới, mua sắm mới máy móc trang thiết

bị làm việc cho các CQNN, ĐVSN công lập Đặc biệt trong giai đoạn 2000 - 2010, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, chi NSNN cho đầu tư xây dựng mới trụ sở, mua sắm mới tài sản liên tục được nhà nước ưu tiên Nhờ đó, tỷ trọng khối lượng tài sản này ngày càng lớn, giữ vai trò quyết định và chiếm vị trí chủ đạo trong tổng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập

c) Những tài sản mà Nhà nước trưng mua, trưng dụng được từ các nguồn khác nhau Ở Việt nam gọi là tài sản xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật Bao gồm tài sản vi phạm pháp luật, bị tịch thu sung quỹ nhà nước; tài sản vô chủ, tài sản bị chôn dấu, chìm đắm được tìm thấy, tài sản do cá nhân hoặc tổ chức trong

và ngoài nước hiến, tặng, viện trợ không hoàn lại được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật Loại tài sản này chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập

Trang 22

1.1.2.2 Phân loại theo đặc điểm

Theo cách phân loại này, TSC tại CQNN, ĐVSN công lập gồm:

a) Bất động sản là những tài sản không di dời được như: nhà, đất thuộc trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, công trình xây dựng gắn liền với đất đai thuộc trụ

sở làm việc, cơ sở hoạt động của CQNN, ĐVSN công lập

b) Động sản là những tài sản không phải là bất động sản, gồm phương tiện đi lại, vận tải; máy móc, trang thiết bị làm việc và các tài sản khác phục vụ hoạt động của CQNN, ĐVSN công lập

1.1.2.3 Phân loại theo cơ cấu công dụng

Cách phân loại này chia TSC tại CQNN, ĐVSN công lập thành:

a) Đất, nhà và vật kiến trúc gắn liền với đất thuộc trụ sở làm việc, cơ sở hoạt

động sự nghiệp, nhà công vụ, nhà công thự, kho tàng, trường học, bệnh viện, công trình văn hoá, bảo tồn bảo tàng, trạm trại nghiên cứu thí nghiệm v.v

b) Phương tiện đi lại, vận chuyển, gồm: xe ôtô, xe máy, xuồng máy, canô, tàu, thuyền v.v

c) Máy móc thiết bị phục vụ hoạt động, gồm: máy móc thiết bị văn phòng (máy

vi tính, máy phôtôcoppy, điều hoà, ) máy móc thiết bị chuyên dùng phục vụ công tác chuyên môn của từng lĩnh vực; thiết bị truyền thông v.v

d) Các tài sản khác phục vụ cho hoạt động của CQNN, ĐVSN công lập

1.1.2.4 Phân loại theo đối tượng sử dụng

Cách phân loại này chia TSC tại CQNN, ĐVSN công lập thành:

a) Tài sản dùng cho hoạt động của các CQNN

b) Tài sản dùng cho hoạt động của các ĐVSN công lập

c) Tài sản dùng cho hoạt động của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp

d) Tài sản mà Nhà nước chưa giao cho đối tượng nào sử dụng

1.1.2.5 Phân loại tài sản công theo phân cấp quản lý

Cách phân loại này, TSC tại CQNN, ĐVSN công lập được chia thành:

a) TSC do Chính phủ trực tiếp quản lý Xếp vào nhóm này là toàn bộ TSC tại CQNN, ĐVSN công lập thuộc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc chính phủ, cơ quan khác ở trung ương quản lý, sử dụng

Trang 23

b) TSC do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý Xếp vào nhóm này là toàn bộ TSC tại CQNN, ĐVSN công lập thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quản

lý, sử dụng theo Nghị quyết về phân cấp thẩm quyền quản lý của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Trong đó, Ủy ban nhân dân cấp huyện (bao gồm cả thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh) và Ủy ban nhân dân cấp xã (bao gồm cả cấp phường, thị trấn) cũng được phân cấp thẩm quyền quản lý TSC tại CQNN, ĐVSN công lập

c) TSC do Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý theo phân cấp của UBND cấp tỉnh

d) TSC do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý theo phân cấp của UBND cấp tỉnh

1.1.3 Vai trò của tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập

TSC tại CQNN, ĐVSN công lập là một bộ phận của tài sản quốc gia, là tiềm lực phát triển đất nước như Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã khẳng định: “Tài sản công là nền tảng, là vốn liếng để khôi phục và xây dựng kinh tế chung, để làm cho dân giàu, nước mạnh, để nâng cao đời sống nhân dân” [38, tr.79] Vai trò của TSC tại CQNN, ĐVSN công lập có thể được xem xét dưới nhiều khía cạnh: kinh tế, chính trị, văn hoá,

xã hội, giáo dục v.v ở đây, Luận án chỉ đề cập đến vai trò kinh tế của nó Theo đó, TSC tại CQNN, ĐVSN công lập có những vai trò chủ yếu sau:

1.1.3.1 Tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập là nền tảng vật chất quan trọng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Nhà nước

Như đã trình bày ở trên, biểu hiện dưới hình thái hiện vật, TSC tại CQNN, ĐVSN công lập bao gồm: nhà, đất thuộc trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động của CQNN, ĐVSN công lập; Phương tiện đi lại, vận tải; Máy móc, trang thiết bị v.v phục vụ hoạt động của từng CQNN, ĐVSN công lập Đây chính là nền tảng vật chất căn bản để Nhà nước tồn tại, hay nói rộng hơn đây là môi trường và là điều kiện đảm bảo sự tồn vong cho một chế độ xã hội Thực tiễn lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy hầu hết các nhà nước bị sụp đổ khi không còn kiểm soát được quyền lực công, trong đó có quyền lực về TSC Thông qua cuộc cách mạng xã hội, quyền lực công chuyển dịch sang tay nhà nước mới Nhà nước mới ra đời tiếp quản và sử dụng ngay toàn bộ cơ sở vật chất của nhà nước tiền nhiệm làm cơ sở sinh tồn của mình Trên nền tảng vật chất này, Nhà nước triển khai các hoạt động thuộc chức năng của mình để kiểm soát, quản lý kinh tế -

xã hội của đất nước Mọi hoạt động của các CQNN từ trung ương đến cơ sở, gắn liền với việc sử dụng TSC Với phạm vi rộng lớn, phong phú về chủng loại, đa dạng về

Trang 24

công dụng v.v TSC tại CQNN, ĐVSN công lập trực tiếp giúp cho hoạt động của toàn

bộ bộ máy nhà nước thực hiện được trôi chảy liên tục và thông suốt Công năng của từng tài sản liên tục phát huy tác dụng, góp phần làm nên thành quả hoạt động của nhà nước Trụ sở làm việc chính là nơi hiện diện của chính quyền nhà nước, nơi làm việc hàng ngày của các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước - nơi diễn ra các giao dịch của nhà nước với dân chúng, nơi quyền lực của nhà nước được thực thi v.v nếu không có trụ

sở làm việc thì nhà nước không thể triển khai thực hiện được các hoạt động của mình, theo đó quyền lực Nhà nước cũng không thể thực hiện được

Trong quá trình hoạt động, nhiệm vụ không ngừng củng cố, xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật được xem là nhiệm vụ sống còn, có tính qui luật đối với mọi Nhà nước Tiêu chí về mức độ hiện đại, tiện ích, quy mô về TSC được coi là nhân

tố đánh giá như sức mạnh, hiệu quả hoạt động của một nhà nước Có thể nói rằng Nhà nước khó có thể hoàn thành nhiệm vụ quản lý, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng

an ninh v.v của đất nước khi chỉ có trong tay một nguồn lực công là cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu Với ý nghĩa đó, muốn nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà nước thì bên cạnh việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, cải cách tổ chức bộ máy, cải cách thủ tục hành chính, khuôn khổ pháp lý v.v thì Nhà nước còn phải không ngừng đầu tư phát triển TSC tại CQNN, ĐVSN công lập cả về qui mô, số lượng và chất lượng theo hướng ngày càng hiện đại, tiên tiến

1.1.3.2 Tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập là yếu

tố cấu thành của quá trình sản xuất xã hội

Sự phát triển xã hội, chủ yếu do 3 yếu tố: Lao động, tri thức và quản lý, trong đó vai trò quản lý Nhà nước ngày một tăng Bởi lẽ, một mặt quản lý là tổ chức lao động; mặt khác, quản lý là phải tạo ra khả năng phát triển tri thức Điều quan trọng của quản

lý Nhà nước là sự kết hợp tri thức với lao động để hoàn thiện quản lý hơn nữa và thúc đẩy xã hội phát triển Vì vậy, quản lý nhà nước biểu hiện trước hết ở chính những tác động có ý thức vào các quá trình phát triển xã hội, vào ý thức con người, buộc mọi người phải suy nghĩ và hành động theo một hướng và các mục tiêu đã định

Nhà nước thực hiện chức năng kinh tế thông qua các hoạt động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất xã hội được tiến hành bình thường, hướng quá trình sản xuất xã hội tới những mục tiêu đã định trước Cùng với việc phải xây dựng, hoàn thiện cơ chế kinh tế theo hướng thúc đẩy, giải phóng mọi nguồn lực tập trung cho sản xuất ra của

Trang 25

cải vật chất để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế, thì hoạt động của bộ máy nhà nước phải được đổi mới, cải cách theo hướng gọn nhẹ, hiệu lực và hiệu quả, thông suốt từ trung ương đến cơ sở Với vai trò là nền tảng vật chất đảm bảo cho nhà nước hoạt động, TSC tại CQNN, ĐVSN công lập giữ vị trí hết sức quan trọng Một mặt, là phương tiện để truyền tải thông tin, sự lãnh đạo điều hành quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước, đồng thời là công cụ để thực hiện ý chí của Nhà nước trong kiểm tra, kiểm soát duy trì sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo những mục tiêu

đã định trước Mặt khác, chúng ta đều đã biết rằng quá trình sản xuất xã hội chỉ có thể diễn ra được bình thường khi có sự quản lý thường xuyên, liên tục của Nhà nước Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế hiện nay thì tác động của hoạt động quản lý nhà nước đối với quá trình sản xuất xã hội của một quốc gia càng lớn hơn bao giờ hết Thực tiễn cho thấy, khi hoạt động quản lý nhà nước kém hiệu quả, đặc biệt ở những nước xảy ra mất ổn định về chính trị thì ngay lập tức nền kinh tế rơi vào suy thoái, thậm chí khủng hoảng Trong khi mọi hoạt động của nhà nước phải dựa trên cơ sở vật chất kỹ thuật của mình, trong đó TSC tại CQNN, ĐVSN công lập với vai trò là phương tiện để hoạt động Với ý nghĩa đó, có thể khẳng định: TSC tại CQNN, ĐVSN công lập là yếu

tố cấu thành của quá trình sản xuất xã hội

1.1.3.3 Tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập còn là nhân tố quan trọng trong quá trình tổ chức thực hiện các hoạt động sự nghiệp, cung cấp các sản phẩm dịch vụ công với chất lượng cao cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Nước ta là nước nông nghiệp tiến hành công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước với yêu cầu phải rút ngắn thời gian, phải có bước nhảy vọt về công nghệ Vấn đề này, Đảng đã khẳng định, chiến lược phát triển giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là khâu đột phá để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Để phát triển các hoạt động này có nhiều yếu tố, trong đó TSC tại CQNN, ĐVSN công lập là điều kiện vật chất quan trọng để đào tạo con người có tri thức, có năng lực khoa học, công nghệ

và các sản phẩm khoa học công nghệ phục vụ cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá

1.1.3.4 Tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập là điều kiện vật chất để đào tạo con người có tri thức, có năng lực khoa học và công nghệ cao

Để công nghiệp hoá, hiện đại hoá với thời gian ngắn, chúng ta phải “đi tắt”,

“đón đầu” để nắm bắt và vận dụng được những thành tựu mới nhất của cách mạng

Trang 26

khoa học, công nghệ thế giới Trong quá trình này, TSC tại CQNN, ĐVSN công lập giữ vai trò là điều kiện vật chất có tính chất tiền đề để tiếp cận khoa học, công nghệ tiến tiến, tiếp cận thành quả trí thức của nhân loại và lực lượng lao động có trình độ kỹ thuật cao để đào tạo con người có tri thức, có năng lực khoa học và công nghệ cao

1.1.3.5 Tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập là điều kiện vật chất để nâng cao thể chất và tinh thần cho người lao động

Người lao động, trong thời đại mới không chỉ cần có tri thức, có trình độ khoa học kỹ thuật mà còn phải có thể chất cường tráng, có hiểu biết về văn hoá và có tinh thần yêu nước Để có được lực lượng lao động đạt các yêu cầu này, Nhà nước phải không ngừng đầu tư, mua sắm TSC để trang bị cho các cơ sở nhằm phục vụ ngày càng tốt hơn các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, thể thao, văn hoá

1.1.4 Quản lý tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập

Quản lý nói chung được quan niệm như một quy trình công nghệ mà chủ thể quản lý tiến hành thông qua việc sử dụng các công cụ và phương pháp thích hợp nhằm tác động và điều khiển đối tượng quản lý hoạt động, phát triển phù hợp với quy luật khách quan nhằm đạt tới các mục tiêu đã định Trong hoạt động quản lý, các vấn đề về: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, công cụ và phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý

là những yếu tố trung tâm đòi hỏi phải được xác định đúng đắn

Quản lý TSC tại CQNN, ĐVSN công lập là một trong những nhiệm vụ trung tâm của quản lý tài chính, do Nhà nước điều hành Là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến nguồn lực tài chính, vì thế quản lý TSC tại CQNN, ĐVSN công lập được coi là một nội dung quan trọng của quản lý kinh tế - xã hội Với ý nghĩa đó, quản lý TSC tại CQNN, ĐVSN công lập cần được nhận thức đầy đủ, toàn diện

Chủ thể quản lý TSC tại CQNN, ĐVSN công lập là Nhà nước hoặc các cơ quan được Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện các hoạt động: xây dựng và ban hành khung pháp luật về quản lý, sử dụng TSC; mua sắm, tạo lập hình thành TSC; phân bổ, bố trí việc sử dụng theo tiêu chuẩn định mức; kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng TSC theo chế độ; xử lý TSC đảm bảo có hiệu quả v.v chủ thể trực tiếp quản lý TSC tại CQNN, ĐVSN công lập là bộ máy cơ quan Quản lý công sản thuộc ngành tài chính từ trung ương đến cơ sở, thuộc Hệ thống các cơ quan nhà nước

Trang 27

Đối tượng của quản lý TSC tại CQNN, ĐVSN công lập là TSC mà Nhà nước

đã giao cho các CQNN, ĐVSN công lập để sử dụng phụ vụ hoạt động theo chức năng nhiệm vụ được giao Nói cụ thể hơn, đó là tập hợp toàn bộ các hoạt động có liên quan đến quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập

Trong quá trình quản lý TSC tại CQNN, ĐVSN công lập, chủ thể quản lý có thể

sử dụng nhiều phương pháp quản lý, nhiều công cụ quản lý khác nhau như:

- Phương pháp tổ chức, được sử dụng để thực hiện ý đồ của chủ thể quản lý TSC trong việc bố trí, sắp xếp các mặt hoạt động của quản lý TSC theo những khuôn mẫu đã định trước và thiết lập bộ máy quản lý phù hợp

- Phương pháp hành chính, được sử dụng khi chủ thể quản lý TSC muốn các yêu cầu của mình phải được các khách thể quản lý tuân thủ một cách vô điều kiện Khi

đó chủ thể quản lý ban hành ra các mệnh lệnh hành chính

- Phương pháp kinh tế, được sử dụng thông qua việc dùng các đòn bẩy kinh tế kích thích, phát huy sự tích cực của các khách thể quản lý thực hiện các biện pháp nhằm quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập một cách có hiệu quả cao

- Hệ thống pháp luật về quản lý, sử dụng TSC tại tại CQNN, ĐVSN công lập được sử dụng để quản lý điều hành các hoạt động có liên quan đến quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập Đây được xem như một loại công cụ quản lý có vai trò đặc biệt quan trọng

- Công cụ pháp luật được sử dụng trong quản lý thể hiện dưới các dạng cụ thể là các cơ chế, chính sách cụ thể về quản lý TSC tại CQNN, ĐVSN công lập, chế độ tiêu chuẩn định mức về sử dụng tài sản, chế độ kế toán; chế độ đăng ký, báo cáo v.v

- Song song với công cụ pháp luật, chủ thể quản lý còn sử dụng hàng loạt các công cụ phổ biến khác trong quản lý quản lý TSC tại CQNN, ĐVSN công lập như: công cụ kiểm tra, thanh tra, kiểm toán; công cụ công khai minh bạch và các công cụ tài chính khác

Mỗi công cụ kể trên mặc dù mang những đặc điểm khác nhau và việc sử dụng cũng khác nhau Song đều có một điểm chung, là được sử dụng để hướng đến mục tiêu thúc đẩy nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập

Từ những phân tích kể trên có thể có khái niệm tổng quát về quản lý TSC tại CQNN, ĐVSN công lập như sau:

Trang 28

1.1.4.1 Khái niệm quản lý tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập

Quản lý TSC tại CQNN, ĐVSN công lập là tập hợp các hoạt động của các chủ thể quản lý TSC thông qua việc sử dụng có chủ đích các phương pháp quản lý và các công cụ quản lý để tác động và điều khiển hoạt động quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập nhằm đạt được các mục tiêu đã định trước, theo những nguyên tắc đã được xác lập

1.1.4.2 Mục tiêu quản lý tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập

Mỗi chế độ xã hội có sự lựa chọn mô hình kinh tế khác nhau, nhưng mục tiêu chung đều hướng đến sự phát triển, ổn định và hiệu quả của một nhà nước Với vai trò

là đại diện chủ sở hữu, Nhà nước thực hiện quyền chiếm hữu, quyền định đoạt và quyền sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập Là chủ sở hữu, nhưng Nhà nước không trực tiếp sử dụng TSC mà thực hiện giao TSC cho từng CQNN, ĐVSN công lập

sử dụng phục vụ hoạt động theo chức năng nhiệm vụ được Nhà nước giao Có thể khái quát một số mục tiêu cơ bản của quản lý TSC tại CQNN, ĐVSN công lập như sau:

a) Bảo đảm phân bổ sử dụng TSC hợp lý, phù hợp với khả năng thực tế và chức năng nhiệm vụ của từng CQNN, ĐVSN công lập; bảo đảm duy trì việc sử dụng TSC đúng mục đích, phát huy tối đa công năng sử dụng của từng TSC nhằm giúp cho hoạt động của các CQNN, ĐVSN công lập được thực hiện trôi chảy, liên tục và thông suốt

b) Bảo đảm sự công bằng, minh bạch về quyền và trách nhiệm của nhà nước, quyền và nghĩa vụ của các CQNN, ĐVSN công lập được giao trực tiếp sử dụng TSC Phân cấp rõ thẩm quyền và trách nhiệm trong quản lý, sử dụng TSC giữa các cơ quan quản lý và các đối tượng trực tiếp sử dụng

c) Bảo đảm việc quản lý, sử dụng TSC thực hiện đúng chế độ đã định trước, sử dụng tiết kiệm, không lãng phí, thất thoát nhằm phát huy tối đa hiệu quả nguồn lực TSC để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội của đất nước

d) Nắm chắc và kiểm soát chặt chẽ nguồn lực TSC hiện có để kịp thời đưa ra các giải pháp quản lý, sử dụng TSC phù hợp ở tất cả các khâu thuộc vòng đời của TSC: đầu tư, mua sắm, bảo dưỡng, sửa chữa nâng cấp, thu hồi, điều chuyển, bán, thanh lý, tiêu hủy TSC tại CQNN, ĐVSN công lập

Trang 29

e) Đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu về điều kiện vật chất phục vụ hoạt động của các CQNN, ĐVSN công lập, gắn với yêu cầu thực hiện cải cách hành chính, đi liền với công cuộc hiện đại hoá đất nước Vận hành đúng các nguyên tắc thị trường có sự điều tiết của Nhà nước

1.1.4.3 Nguyên tắc quản lý tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập

Do có đặc điểm là phong phú về chủng loại, phân bố trên phạm vi rộng lớn, có mặt ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và có rất nhiều đối tượng sử dụng; để bảo đảm cho quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập đạt được hiệu lực và hiệu quả cao, Nhà nước đặt ra những nguyên tắc quản lý cơ bản sau:

a) TSC được Nhà nước giao cho từng CQNN, ĐVSN công lập quản lý, sử dụng và chịu trách nhiệm trước pháp luật Đây là nguyên tắc phổ biến được các quốc gia quy định

CQNN, ĐVSN công lập được Nhà nước giao quản lý, sử dụng TSC có quyền

sử dụng, khai thác theo đúng mục đích được giao, đảm bảo sử dụng tiết kiệm có hiệu quả và phải chịu trách nhiệm nếu có sai phạm trong quản lý, sử dụng TSC được giao

b) Quản lý nhà nước về TSC được thực hiện thống nhất, có phân công, phân cấp

rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan và trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài sản

c) TSC phải được đầu tư, trang bị, sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm, đúng mục đích, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức

Đây vừa là nguyên tắc, đồng thời cũng là yêu cầu trong quản lý, sử dụng TSC Theo nguyên tắc này, trước hết TSC phải được sử dụng đúng mục đích Ví dụ, trụ sở làm việc thì không được sử dụng vào mục đích để ở; hoặc xe ô tô phục vụ công tác thì không được sử dụng vào mục đích cá nhân v.v việc sử dụng phải tuân thủ quy định về tiêu chuẩn, định mức, chế độ sử dụng do Nhà nước quy định Đây là căn cứ quan trọng để bố trí dự toán đầu tư, mua sắm, cũng như để quản lý, sử dụng và kiểm soát chi tiêu, đồng thời cũng là chuẩn mực để xác định mức độ vi phạm và xử lý vi phạm theo đúng người, đúng việc Đồng thời duy trì việc sử dụng TSC phải tiết kiệm,

có hiệu quả, đem lại lợi ích cao nhất cho Nhà nước, cho nhân dân xét về trước mắt cũng như lâu dài

Trang 30

d) TSC phải được quản lý, hạch toán đầy đủ về hiện vật và giá trị theo quy định của pháp luật Việc xác định giá trị tài sản trong các quan hệ mua, bán, thuê, cho thuê, liên doanh liên kết, thanh lý phải thực hiện theo nguyên tắc thị trường

Nguyên tắc này giúp xác định đúng giá trị của TSC, bảo đảm cho TSC thực sự

là hàng hoá, tạo cơ sở để thực hiện quyền định đoạt phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường Đặc biệt là trong các quan hệ về tài sản như bán, chuyển nhượng quyền sử

dụng, thanh lý, cho thuê tài, liên doanh liên kết

e) TSC phải được bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa theo chế độ quy định Nguyên tắc này đảm bảo duy trì, bảo tồn TSC cũng như việc sử dụng được tiết kiệm, tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật, tránh sử dụng theo kiểu "vắt kiệt" tài sản Tạo cơ sở để bố trí hợp lý, khoa học giữa chi thường xuyên và chi đầu tư trong dự toán NSNN nói chung

cũng như trong kế hoạch tài chính của từng CQNN, ĐVSN công lập vị nói riêng

f) Thực hiện công khai việc quản lý, sử dụng TSNN theo quy định của pháp luật

Nguyên tắc này làm rõ và bao quát hơn phần đã đề cập ở nguyên tắc thứ hai Theo nguyên tắc này, toàn bộ quá trình đầu tư, mua sắm, sử dụng, hiệu quả sử dụng TSC phải công khai Đây là nội dung rất quan trọng để tăng cường, phát huy giám sát của các CQNN, ĐVSN công lập cũng như của toàn xã hội đối với việc quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập

1.1.4.4 Nội dung quản lý tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập

Để đạt được mục tiêu quản lý, sử dụng TSC như đã trình bày ở trên, mọi quốc gia đều có quy định về nội dung quản lý TSC Nội dung quản lý TSC được quy định theo những tiêu chí nhất định, nhằm bảo đảm quản lý chặt chẽ, có hiệu quả theo đúng chính sách chế độ, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch và đảm bảo tiết kiệm Quy trình nghiệp vụ quản lý TSC của mỗi nước có thể có sự khác nhau về mức độ chi tiết tùy thuộc vào trình độ, năng lực quản lý của mỗi nước và ở từng giai đoạn phát triển; nhưng cơ bản đều bao hàm đủ 3 nội dung cơ bản gồm các quá trình (i) Quá trình hình thành TSC; (ii) Quá trình sử dụng TSC; và (iii) Quá trình xử lý, kết thúc sự tồn tại (tiêu hủy, thanh lý, nhượng, bán) của TSC

a) Quản lý quá trình hình thành TSC tại CQNN, ĐVSN công lập

Đây là công việc đầu tiên của cả quy trình quản lý mà mọi nhà nước đều phải thực hiện Có thể khái quát quá trình này gồm các nội dung sau:

Trang 31

(1) Đối với những TSC tiếp nhận được từ chế độ cũ thì Nhà nước phải thực hiện kiểm kê, thống kê, ghi sổ, tổng hợp để có thông tin tin cậy, xác thực về nguồn lực đã tiếp nhận được Từ đó tiến hành việc bố trí cho từng CQNN, ĐVSN công lập sử dụng

Để quyết định chủ trương đầu tư xây dựng, mua sắm TSC, trước hết phải căn

cứ vào chế độ tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC và tình hình TSC thực tế hiện có của từng CQNN, ĐVSN công lập, cũng như khả năng thực tế có thể đáp ứng của NSNN Thẩm quyền quyết định và quy trình ban hành quyết định về chủ trương đầu

tư xây dựng, mua sắm TSC phải thực hiện công khai, đúng quy trình đã được pháp luật quy định

Quyết định chủ trương đầu tư xây dựng, mua sắm TSC mang nhiều tính định tính, còn tính định lượng về hiệu quả chưa thật sự rõ rệt Ví dụ theo lý thuyết chung về cung ứng hàng hoá công cộng và dịch vụ công: Khi nào lượng hoá lợi ích của các khoản chi tiêu công sẽ cho ta lợi ích xã hội biên (MSB) đem lại và chúng ta sẽ so sánh với chi phí xã hội biên (MSC) mà xã hội phải chi ra Đây chính là cơ sở về định lượng cho cung ứng hàng hoá dịch vụ công, trong đó bao gồm cả TSC Thực tế cho thấy, chỉ những nước nào giàu, phát triển có hệ thống quản lý và thống kê hiệu quả, sử dụng các mô hình toán học trong quản lý công việc thì mới có thể sử dụng lý thuyết này; còn đối với các quốc gia đang phát triển chủ yếu vẫn dựa trên định tính, quy phạm pháp luật để quyết định cho quá trình hình thành tài sản Tuy nhiên với lý thuyết sự lựa chọn tối ưu trong kinh tế và sự cạnh tranh sử dụng nguồn lực của xã hội, buộc các cơ quan chức năng quản lý TSC phải hướng tới mô hình tối ưu trong quản lý TSC là khái niệm doanh thu - chi phí và hiệu quả, theo hướng chi phí khấu hao TSCĐ dùng cho hoạt động dịch vụ công là khoản chi phí phát sinh trong kỳ phải được tính đầy đủ để xác định kết quả hoạt động trong từng đơn vị thuộc khu vực công, của Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp Muốn vậy phải hình thành trung tâm mua sắm, thanh toán tập trung và phải thực hiện theo lộ trình phù hợp theo nguyên tắc kế toán dồn tích Từ đó, có căn cứ để so sánh và quyết định lựa chọn thực

Trang 32

hiện thuê TSC, hay mua sắm mới từ bên ngoài để bảo đảm tính hiệu quả về lợi ích khi xem xét trên phương diện chi phí này

Ví dụ khi đi thuê trụ sở làm việc, phải xem xét các yếu tố về giá thuê, vị trí trụ

sở, diện tích và các ràng buộc về ngân sách v.v đối chiếu tính hiệu quả so với việc thực hiện đầu tư xây trụ sở mới v.v đây là một sự lựa chọn định lượng có tính tối ưu Với đặc điểm hầu hết các CQNN, ĐVSN công lập đều phải tập trung vào thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn riêng của mình, thì việc để cho họ lựa chọn áp dụng

mô hình nào (đi thuê hay tự đầu tư xây dựng) để có hiệu quả cao nhất là công việc không dễ ràng Trong điều kiện chi NSNN hàng năm cho nội dung này là rất lớn; đặt ra yêu cầu Nhà nước cần sớm đổi mới, hình thành những tổ chức chuyên nghiệp như Trung tâm mua sắm công tập trung để đảm đương nhiệm vụ này; nhằm tiết kiệm thời gian, tiền bạc cho các CQNN, ĐVSN công lập đối với hoạt động mua sắm, đi thuê hoặc đầu tư xây dựng trụ sở làm việc

Việc tổ chức thực hiện đầu tư xây dựng, mua sắm TSC thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu, về đầu tư xây dựng, mua sắm TSC và pháp luật về NSNN

Như vậy quản lý quá trình hình thành TSC là khâu mở đầu, quan trọng nhất quyết định cho các khâu tiếp theo TSC nếu được hình thành có cơ sở khoa học và thiết thực sẽ được quản lý và khai thác sau này hiệu quả Đồng thời thông qua quá trình hình thành tài sản sẽ đánh giá được tính cấp thiết, thực trạng quản lý và ngân sách của mỗi CQNN, ĐVSN công lập quản lý, sử dụng TSC sau này

b) Quản lý quá trình sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập

Đây là quá trình quyết định tính hiệu quả của TSC, chứng minh cho những luận chứng kỹ thuật được đưa ra ở giai đoạn hình thành TSC Quá trình này hết sức phức tạp, diễn ra chủ yếu ở các CQNN, ĐVSN công lập Chịu tác động trực tiếp bởi các yếu

tố như: thời gian sử dụng tuỳ thuộc đặc điểm tính chất, độ bền của từng TSC; ý thức quản lý, bảo vệ và việc sử dụng của mỗi CQNN, ĐVSN công lập, thậm chí còn phụ thuộc vào trình độ vận hành, sử dụng của từng con người cụ thể Thời gian của quá trình sử dụng TSC được tính từ ngày được bàn giao, tiếp nhận về CQNN, ĐVSN công lập đến khi TSC không còn sử dụng được phải thanh lý, nhượng bán Có thể khái quát những nội dung chủ yếu của quá trình này như sau:

(1) Xác định rõ trách nhiệm của các CQNN, ĐVSN công lập được giao quản lý,

sử dụng TSC phải thực hiện việc lập hồ sơ TSC, tổ chức quản lý lưu trữ hồ sơ theo quy

Trang 33

định của pháp luật Đây là công việc khởi đầu cho việc tạo lập và tổ chức hệ thống thông tin phục vụ công tác thống kê, tổng hợp và phân tích đánh giá về nguồn lực của TSC tại CQNN, ĐVSN công lập

(2) Xác định rõ trách nhiệm cho các CQNN, ĐVSN công lập phải thực hiện hạch toán kế toán kịp thời, đầy đủ về hiện vật và giá trị của toàn bộ TSC mà đơn vị được sử dụng, theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê

(3) Quy định chế độ và mục đích sử dụng từng loại TSC; cũng như nghĩa vụ của các CQNN, ĐVSN công lập phải thực hiện trong quá trình sử dụng như: bảo vệ, bảo dưỡng, sửa chữa nâng cấp; nghĩa vụ kê khai đăng ký, báo cáo thông tin về tình hình quản lý, sử dụng TSC v.v

(4) Thực hiện điều hòa sử dụng TSC để đảm bảo cho việc sử dụng được hợp lý, tiết kiệm TSC tại CQNN, ĐVSN công lập Giữ vai trò chủ sở hữu về TSC, Nhà nước cần phải nắm bắt được kịp thời thông tin về tình hình nhu cầu và thực tế sử dụng TSC tại mỗi CQNN, ĐVSN công lập Thực tế trong qua trình sử dụng phát sinh nhiều trường CQNN, ĐVSN công lập thừa TSC và không còn nhu cầu sử dụng; trong khi đó

có rất nhiều CQNN, ĐVSN công lập khác đang rất cần được trang bị, mua sắm để sử dụng Để giải quyết nhu cầu TSC cho các CQNN, ĐVSN công lập còn thiếu, nâng cao hiệu quả sử dụng và giảm áp lực phải chi ngân sách để mua sắm; Nhà nước phải thực hiện việc điều hòa thông qua biện pháp điều chuyển TSC từ nơi thừa đến nơi thiếu

(5) Kiểm tra, kiểm soát, xử lý các sai phạm trong quá trình sử dụng nhằm duy trì thực hiện chế độ sử dụng TSC đúng mục, công năng sử dụng của TSC

Những phân tích trên đây cũng chính là nội dung cơ bản của quá trình sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập

c) Quản lý quá trình kết thúc sử dụng (tiêu hủy, thanh lý, nhượng bán) TSC tại CQNN, ĐVSN công lập

Về cơ bản tuyệt đại đa số TSC tại CQNN, ĐVSN công lập đều phải xác định thời hạn sử dụng; trừ các di sản hữu hình và vô hình là di tích lịch sử, di sản văn hóa phi vật thể Sau một thời gian sử dụng, TSC sẽ bị hư hỏng, hoặc bị lạc hậu không còn tiếp tục sử dụng được, cần phải được xử lý kịp thời Nội dung quản lý quá trình kết thúc sử dụng (tiêu hủy, thanh lý, nhượng bán) TSC tại CQNN, ĐVSN công lập chủ yếu, gồm:

Trang 34

(1) Quy định cụ thể về chế độ xử lý phù hợp với đặc điểm của từng loại TSC và phân cấp rõ thẩm quyền quyết định xử lý tiêu hủy, thanh lý, nhượng bán TSC để thực hiện, bảo đảm sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước về TSC

(2) Quy định công khai các hình thức xử lý TSC và phạm vi áp dụng từng hình thức cụ thể: Bán đấu giá hoặc bán chỉ định; thực hiện thanh lý phá rỡ; hoặc tiêu hủy theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường

d) Phân cấp quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập

Phân cấp quản lý TSC tại CQNN, ĐVSN công lập là quá trình phân chia quyền hạn và trách nhiệm cho mỗi cấp quản lý, đồng thời giải quyết mối quan hệ giữa các cấp trong hệ thống các cơ quan quản lý, sử dụng TSC

Phân cấp quản lý TSC tại CQNN, ĐVSN công lập gắn chặt với mô hình tổ chức

bộ máy nhà nước các cấp Để bảo đảm tính hiệu lực và hiệu quả của quản lý, sử dụng TSC mà nhà nước đã giao cho các CQNN, ĐVSN công lập trực tiếp sử dụng; Nhà nước thực hiện phân cấp thẩm quyền và trách nhiệm quản lý, sử dụng TSC cho các cấp, các ngành, các đơn vị Điều này, có nghĩa là Nhà nước trao quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ quản lý, sử dụng TSC cho họ Theo đó, phân định rõ phạm vi, nội dung, quyền hạn, trách nhiệm quản lý, sử dụng TSC giữa Chính phủ Trung ương với các cấp chính quyền địa phương và đơn vị trực tiếp sử dụng TSC, giữa Chính phủ với các Bộ, ngành và đơn vị trực tiếp sử dụng TSC

Việc phân cấp quản lý TSC tại CQNN, ĐVSN công lập phải thực hiện những yêu cầu bắt buộc đặt ra như sau:

(1) Phân cấp quản lý phải phù hợp với phân cấp về quản lý kinh tế - xã hội, về

tổ chức bộ máy nhà nước Vì nếu phân cấp quản lý không phù hợp với phân cấp về quản lý kinh tế - xã hội, phân cấp về tổ chức bộ máy nhà nước sẽ dẫn đến sự thiếu đồng

bộ trong quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội Cản trở việc phát huy nguồn lực của TSC phục vụ cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Sự thiếu đồng bộ này dẫn đến hiệu quả quản lý thấp và phức tạp

(2) Phân cấp quản lý TSC phải phù hợp với phân cấp về quản lý NSNN Vì quản lý ngân sách là quản lý nguồn lực tài chính bằng tiền của Nhà nước; còn quản lý TSC là thực hiện quản lý nguồn lực bằng hiện vật, thực chất cũng là nguồn tài chính tiềm năng của Nhà nước; do đó, hai mặt này phải được quản lý phù hợp với nhau mới tạo ra sức mạnh chung của đất nước

Trang 35

(3) Phân cấp quản lý TSC phải phù hợp với trình độ và năng lực quản lý của mỗi cấp chính quyền và đơn vị được giao trực tiếp sử dụng TSC Vì nếu việc phân cấp không phù hợp sẽ dẫn đến hậu quả là hiệu quả quản lý thấp, cá biệt có trường hợp không đủ năng lực quản lý dẫn đến vi phạm cơ chế, chính sách, chế độ quản lý TSC, sử dụng tài sản lãng phí, làm thất thoát TSC

Phân cấp quản lý TSC là phân định rõ phạm vi, nội dung, quyền hạn, trách nhiệm quản lý TSC; theo đó, phân cấp quản lý TSC bao gồm hai nội dung cơ bản:

(i) Phân cấp về việc xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách, chế độ quản lý TSC được thực hiện như sau:

- Quốc hội ban hành Luật về quản lý, sử dụng TSC;

- Chính phủ ban hành các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật về quản lý, sử dụng TSC; quy định về cơ chế, chính sách, chế độ quản lý TSC nói chung và đối với từng tài sản cụ thể có giá trị lớn và được sử dụng phổ biến tại CQNN, ĐVSN công lập;

- Thủ tướng Chính phủ quy định cơ chế chính sách, chế độ quản lý đối với một loại tài sản, một tài sản cụ thể theo phân cấp của Chính phủ;

- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành quy định cụ thể hóa chính sách, chế độ quản lý đối với TSC sử dụng cho hoạt động đặc thù của ngành, địa phương

(ii) Phân cấp về quản lý nhà nước đối với TSC (quyền hạn, trách nhiệm quản lý TSC) được thực hiện như sau:

- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước đối với toàn bộ TSC tại CQNN, ĐVSN công lập trên phạm vi cả nước Bộ Tài chính là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ này;

- Các Bộ, Cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về TSC tại CQNN, ĐVSN công lập thuộc phạm vi quản lý của mình;

- Phân cấp thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập giữa Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan Trung ương và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng những TSC có giá trị lớn và

sử dụng phổ biến ở tất cả các CQNN, ĐVSN công lập; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban

Trang 36

hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC chuyên dùng hoặc sử dụng có tính chất đặc thù Bộ, ngành, địa phương;

- Phân cấp về thẩm quyền và trách nhiệm quản lý, sử dụng TSC giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về các nội dung: thẩm quyền quản lý; quyết định quy hoạch, kế hoạch quản lý, sử dụng, khai thác, bảo tồn và phát triển TSC; quyết định đầu

tư xây dựng mới, mua sắm, thu hồi, điều chuyển, thanh lý, nhượng bán v.v về TSC; quyết định xác lập quyền sở hữu của Nhà nước đối với tài sản theo quy định của pháp luật; về quản lý, đăng ký, báo cáo tình hình quản lý, sử dụng TSC; về duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa TSC; về xử lý TSC không cần dùng, không còn sử dụng được; về trách nhiệm lập phương án xử lý, quyết định phương án xử lý TSC; về kiểm kê, thống

kê, thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng TSC

e) Công cụ quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập

Để đạt được các mục tiêu hiệu lực và hiệu quả về quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập, Nhà nước phải sử dụng tổng hợp hệ thống các công cụ quản lý: công cụ pháp luật; công cụ tổ chức; công cụ hành chính; công cụ tư pháp, tài phán; công cụ tuyên truyền, giáo dục; công cụ kinh tế; công cụ tài chính, tài khóa; công cụ CNTT; công cụ kế toán v.v mỗi công cụ đều rất quan trọng, có vị trí, tác dụng riêng;

có nguyên tắc, phương pháp và thời điểm sử dụng riêng Song đều có điểm chung là được Nhà nước sử dụng để đạt được mục tiêu quản lý, sử dụng TSC thực sự có hiệu lực và đem lại hiệu quả cao

Trong toàn bộ hệ thống các công cụ này, công cụ kế toán giữ vị trí là trung tâm cung cấp thông tin phục vụ quản lý TSC Công cụ kế toán được sử dụng ở tất cả các CQNN, ĐVSN công lập; sử dụng ở mọi thời điểm trong suốt quá trình quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập Với đặc điểm là công cụ để ghi chép, phản ánh chính xác, kịp thời thông tin về số lượng, giá trị TSC ở mọi thời điểm trong suốt vòng đời của từng TSC và ở từng CQNN, ĐVSN công lập; kế toán thực hiện việc ghi nhận, phân loại, xử lý và tổ chức hệ thống thông tin về TSC để cung cấp thông tin hữu hiệu phục vụ cho hoạt động quản lý, sử dụng TSC tại mỗi CQNN, ĐVSN công lập Qua đó

đã giám đốc chặt chẽ tình hình mua sắm, đầu tư, quản lý, sử dụng và kết thúc sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập

Trang 37

1.2 HIỆU QUẢ QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN CÔNG TẠI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC, ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP

Khái niệm hiệu quả, theo các nhà ngôn ngữ học được hiểu là: Kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại Từ điển Lepetit Lasousse định nghĩa: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong việc thực hiện một nhiệm vụ nhất định” [71]

Các nhà quản lý hành chính lại cho rằng: Hiệu quả là mục tiêu chủ yếu của khoa học hành chính, là sự so sánh giữa các chi phí đầu tư với các giá trị của đầu ra, sự tăng tối đa lợi nhuận và tối thiểu chi phí, là mối tương quan giữa sử dụng nguồn lực và tỷ lệ đầu ra - đầu vào

Vilfredo Pareto, một nhà kinh tế học người Ý đã chỉ rõ: Với một nhóm cá nhân

và nhiều cách phân bổ nguồn lực khác nhau cho mỗi cá nhân trong nhóm đó; việc chuyển từ một phân bổ này sang một phân bổ khác mà làm ít nhất một cá nhân có điều kiện tốt hơn nhưng không làm cho bất cứ một cá nhân nào khác có điều kiện xấu đi, được gọi là một sự cải thiện, hay một sự tối ưu hóa Như vậy, khi đạt một phân bổ mà không còn cách nào khác để đạt thêm sự cải thiện, cách phân bổ đó được coi là hiệu quả Lý thuyết này còn được gọi là hiệu quả Pareto hay tối ưu Pareto Đây là một trong những lý thuyết trung tâm của kinh tế học với nhiều ứng dụng rộng rãi trong lý thuyết trò chơi, các ngành kỹ thuật, cũng như khoa học xã hội Vì thế hiệu quả Pareto là một tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá các hệ thống kinh tế và các chính sách chính trị

Theo P.Samerelson và Wnordhaus thì “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loạt hàng hóa mà không cắt giảm một loạt sản lượng hàng hóa khác Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó” Thực chất, quan điểm này đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội Việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả cao

Có quan điểm cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ tỷ lệ giữa của hai đại lượng kết quả và chi phí “tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh” [76] Đây là quan điểm được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng vào tính hiệu quả kinh tế của các quá trình kinh tế

Có khái niệm được nhiều nhà kinh tế và quản trị sử dụng khá phổ biến đó là: Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (một quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế

Trang 38

phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã xác định Đây là khái niệm tương đối đầy đủ phản ánh được tính hiệu quả của quá trình quản lý

Trong tác phẩm “Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân giàu có của nhân loại”, Adam Smith (1723 - 1790), nhà kinh tế học người Anh đã đưa ra các nguyên tắc

cơ bản để xây dựng một hệ thống tối ưu là đánh thuế phải phù hợp với khả năng và sức lực của dân cư, mức thuế và thời hạn thanh toán thuế phải được xác định một cách hợp

lý, các chi phí thu nộp thuế phải thấp nhất v.v Kế thừa, bổ sung và phát triển các nguyên tắc cơ bản xây dựng một hệ thống thuế tối ưu của Adam Smith, các nhà kinh tế học hiện đại đã đưa ra các chuẩn mực có ý nghĩa là kim chỉ nam cho các quốc gia trong việc thiết lập hệ thống thuế gắn với yêu cầu phát triển chung của nền kinh tế hiện đại

Có thể nhận định, việc xác định hiệu quả một hoạt động kinh tế thường cho chúng ta những con số tuyệt đối, cụ thể Song ở các hoạt động quản lý nói chung và hoạt động quản lý, sử dụng TSC nói riêng, việc xác định, lượng hóa cụ thể bằng số tuyệt đối là rất khó khăn phức tạp Trong nhiều trường hợp, việc nhìn nhận kết quả còn

bị phụ thuộc vào quan điểm và mục tiêu quản lý; do các hoạt động này có tính chất định tính là chủ yếu Do đó, khi xem xét về hiệu quả quản lý cần có quan điểm toàn diện, xem xét tính hiệu quả có tính chất tương đối

Xem xét, đánh giá hiệu quả của quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập phải quán triệt đầy đủ các quan điểm toàn diện, lịch sử và quan điểm phát triển Khi xem xét hiệu quả của quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập phải tính đến các tác động của quản lý đến các mối quan hệ chính trị, hành chính, kinh tế - xã hội và thời gian phát huy tác dụng của nó Vì vậy, khi nói đến hiệu quả của quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập được hiểu đó là những lợi ích về kinh tế - xã hội mà toàn xã hội thụ hưởng

Xuất phát từ đặc điểm là đối tượng sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập rất

đa dạng, phong phú Mỗi CQNN, ĐVSN công lập là một chủ thể sử dụng TSC độc lập, với chức năng nhiệm vụ và tổ chức bộ máy khác nhau; có mục đích sử dụng TSC để cũng rất khác nhau Vì thế, xem xét hiệu quả quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập cần quán triệt những đặc điểm này để có nhận định và đánh giá tính hiệu quả cho phù hợp

Theo quan điểm này, quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập được phân loại thành hai nhóm chủ yếu, gồm:

Trang 39

- Nhóm CQNN và ĐVSN công lập, mà NSNN phải bảo đảm kinh phí hoạt động, gọi là ĐVSN công lập chưa tự chủ tài chính;

- Nhóm các ĐVSN công lập tự đảm bảo cân đối được ngân sách chi tiêu, từ qua kết quả hoạt động SXKD, gọi là ĐVSN công lập tự chủ tài chính

1.2.1 Quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính

Đối với các CQNN và ĐVSN công lập chưa tự chủ tài chính, nhà nước phải cấp NSNN để bảo đảm duy trì động thường xuyên và toàn bộ TSC để họ sử dụng phục vụ hoạt động theo chức năng nhiệm vụ Nhà nước giao Vì thế, để bảo đảm hiệu quả quản

lý, sử dụng TSC tại CQNN và ĐVSN công lập chưa tự chủ tài chính, việc quản lý cần phải chặt chẽ ở tất cả các quá trình Cụ thể:

a) Cần quy định hệ thống tiêu chuẩn, định mức sử dụng TSC bảo đảm bao quát điều chỉnh toàn diện các loại TSC tại CQNN, ĐVSN công lập, phù hợp với hoạt động của từng cơ quan đơn vị Tiêu chuẩn, định mức phải bảo đảm tính khả thi, tính khoa học và ổn định trong thời gian dài, thực sự là căn cứ để kiểm soát và đánh giá hiệu quả

Thực hiện phân cấp rõ thẩm quyền quyết định lựa chọn hình thức đầu tư xây dựng trước khi quyết định thực hiện việc đầu tư xây dựng Việc đầu tư xây dựng trụ sở làm việc phải bảo đảm các yêu cầu:

(i) Phù hợp với quy hoạch đã được CQNN có thẩm quyền phê duyệt;

(ii) Phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của cơ quan, được cấp có thẩm quyền phê duyệt và tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc;

(iii) Tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về đầu tư, xây dựng

(2) Đối với việc mua sắm TSC phải phù hợp với tiêu chuẩn, định mức, chế độ quản lý, sử dụng TSC Kinh phí mua sắm TSC do NSNN bảo đảm theo quy định của pháp luật về NSNN Việc mua sắm TSC phải được thực hiện công khai, theo trình tự, thủ tục do pháp luật về đấu thầu và pháp luật có liên quan quy định

Trang 40

c) Quy định phân cấp rõ thẩm quyền định đoạt về TSC của từng chủ thể và trách nhiệm giải trình trong quản lý, sử dụng TSC tại CQNN và ĐVSN công lập chưa

tự chủ tài chính Nội dung phân cấp phải bảo đảm bao quát điều chỉnh đầy đủ ở tất cả các khâu: Đầu tư xây dựng, mua sắm hoặc đi thuê TSC để sử dụng; bảo vệ, bảo dưỡng, sửa chữa TSC; tuân thủ mục đích và chế độ sử dụng; lập, quản lý hồ sơ; hạch toán kế toán; Kiểm kê, báo cáo tình hình quản lý, sử dụng; thu hồi, điều chuyển; bán; thanh lý; tiêu hủy và việc công khai tình hình quản lý, sử dụng TSC

1.2.2 Quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính

Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, kéo theo

sự phân định ngày càng rõ rệt hai lĩnh vực hoạt động của Nhà nước: Hoạt động quản

lý nhà nước (pháp luật, hành chính); và hoạt động cung cấp dịch vụ công cho xã hội (thị trường)

ĐVSN công lập là chủ thể trung tâm và chủ yếu thực hiện nhiệm vụ cung cấp các sản phẩm, dịch vụ công cho xã hội Trước khi đổi mới, chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường; Nhà nước bao cấp, cấp toàn bộ NSNN và TSC cho các ĐVSN công lập để thực hiện nhiệm vụ Quá trình chuyển đổi nền kinh tế đã xuất hiện nhiều ĐVSN công lập hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau cung cấp được các sản phẩm, dịch vụ công cho xã hội theo nhu cầu của thị trường, theo cơ chế thị trường Doanh thu từ hoạt động SXKD dịch vụ đã bảo đảm đủ bù đắp chi phí và có tích lũy, Nhà nước không phải cấp thêm NSNN cũng như TSC cho họ để thực hiện nhiệm vụ như ở thời kỳ trước Vì thế, tính hiệu quả của quản lý, sử dụng TSC tại ĐVSN công lập tự chủ tài chính được xem xét dưới góc độ cởi mở, thông thoáng hơn nhằm thúc đẩy sự phát triển, lớn mạnh của các đơn vị này Cụ thể:

a) Thực thi chính sách khuyến khích, phát huy tính tự chủ sáng tạo của những đơn vị này nhằm thúc đẩy phát triển các hoạt động sự nghiệp phục vụ phát triển kinh tế

- xã hội Giảm bớt gánh nặng của NSNN; khuyến khích tính đúng tính đủ giá thành dịch vụ công, bao gồm cả khấu hao TSC

Theo hướng này, Nhà nước thực hiện xác định giá trị TSC để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp Các ĐVSN công lập được nhà nước giao TSC theo cơ chế này có các quyền, nghĩa vụ [61]

Ngày đăng: 18/05/2015, 09:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Bộ Tài chính (2007), Thông tư số 128/2007/TT-BTC ngày 01/11/2007 Hướng dẫn việc sử dụng nguồn vốn để cải tạo, xây dựng mới và bảo trì công sở; xác định giá trị TSC sở của các cơ quan hành chính nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 128/2007/TT-BTC ngày 01/11/2007 Hướng dẫn việc sử dụng nguồn vốn để cải tạo, xây dựng mới và bảo trì công sở; xác định giá trị TSC sở của các cơ quan hành chính nhà nước
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
12. Bộ Tài chính (2007), Thông tư số 131/2007/TT-BTC ngày 05/11/2007 Sửa đổi, bổ sung Thông tư số 63/2007/TT-BTC ngày 15/06/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện đấu thầu mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của CQNN bằng vốn nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 131/2007/TT-BTC ngày 05/11/2007 Sửa đổi, bổ sung Thông tư số 63/2007/TT-BTC ngày 15/06/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện đấu thầu mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của CQNN bằng vốn nhà nước
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
13. Bộ Tài chính (2008), Thông tư số 22/2008/TT-BTC ngày 10/03/2008 Hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Quy chế tổ chức mua sắm tài sản, hàng hoá từ NSNN theo phương thức tập trung ban hành kèm theo Quyết định số 179/2007/QĐ-TTg ngày 26/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 22/2008/TT-BTC ngày 10/03/2008 Hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Quy chế tổ chức mua sắm tài sản, hàng hoá từ NSNN theo phương thức tập trung ban hành kèm theo Quyết định số 179/2007/QĐ-TTg ngày 26/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2008
14. Bộ Tài chính (2009), Thông tư số 07/2009/TT- BTC ngày 15/01/2009 Hướng dẫn mẫu biểu thực hiện công khai quản lý, sử dụng TSNN và báo cáo số liệu tình hình quản lý, sử dụng TSNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 07/2009/TT- BTC ngày 15/01/2009 Hướng dẫn mẫu biểu thực hiện công khai quản lý, sử dụng TSNN và báo cáo số liệu tình hình quản lý, sử dụng TSNN
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
15. Bộ Tài chính (2009), Thông tư số 245/2009/TT-BTC ngày 31/12/2009 Quy định thực hiện một số nội dung của Nghị định số 52/2009/NĐ-CP ngày 03/6/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý, sử dụng TSNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 245/2009/TT-BTC
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
16. Bộ Tài chính (2010), Thông tư số 87/2010/TT-BTC ngày 15/6/2010 Quy định việc quản lý và xử lý tài sản của các dự án sử dụng vốn nhà nước khi dự án kết thúc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 87/2010/TT-BTC ngày 15/6/2010 Quy định việc quản lý và xử lý tài sản của các dự án sử dụng vốn nhà nước khi dự án kết thúc
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2010
17. Bộ Tài chính (2010), Thông tư số 89/2010/TT-BTC ngày 16/6/2010 Hướng dẫn chế độ báo cáo công khai quản lý, sử dụng TSNN tại CQNN, ĐVSN công lập, tổ chức được giao quản lý, sử dụng TSNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 89/2010/TT-BTC ngày 16/6/2010 Hướng dẫn chế độ báo cáo công khai quản lý, sử dụng TSNN tại CQNN, ĐVSN công lập, tổ chức được giao quản lý, sử dụng TSNN
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010
18. Bộ Tài chính (2010), Thông tư số 106/2010/TT-BTC ngày 26/07/2010 Hướng dẫn lệ phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 106/2010/TT-BTC ngày 26/07/2010 Hướng dẫn lệ phí cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2010
19. Bộ Tài chính (2010), Thông tư 185/2010/TT - BTC ngày 15/11/2010 Hướng dẫn sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán Hành chính sự nghiệp ban hành theo Quyết định 19/2006/QĐ - BTC ngày 30/3/2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 185/2010/TT - BTC ngày 15/11/2010 Hướng dẫn sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán Hành chính sự nghiệp ban hành theo Quyết định 19/2006/QĐ - BTC ngày 30/3/2006
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010
21. Bộ Tài chính (2011), Thông tư số 123/2011/TT-BTC ngày 31/8/2011 Hướng dẫn việc quản lý, khai thác Phần mềm Quản lý đăng ký TSNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 123/2011/TT-BTC ngày 31/8/2011 Hướng dẫn việc quản lý, khai thác Phần mềm Quản lý đăng ký TSNN
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2011
23. Bộ Tài chính (2012), Thông tư số 12/2012/TT-BTC ngày 06/02/2012 Hướng dẫn tiêu chí xác định ĐVSN công lập đủ điều kiện được Nhà nước xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 12/2012/TT-BTC ngày 06/02/2012 Hướng dẫn tiêu chí xác định ĐVSN công lập đủ điều kiện được Nhà nước xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn cho doanh nghiệp
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2012
24. Bộ Tài chính (2013), Thông tư số 162/2014/TT-BTC ngày 6/11/2014 quy định chế độ quản lý và tính hao mòn TSCĐ trong các cơ quan, đơn vị và tổ chức có sử dụng vốn nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 162/2014/TT-BTC ngày 6/11/2014 quy định chế độ quản lý và tính hao mòn TSCĐ trong các cơ quan, đơn vị và tổ chức có sử dụng vốn nhà nước
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
25. Bộ Tài chính (2013), Thông tư 45/2013/TT-BTC ngày 25/4/2013 quy định chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ tại doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 45/2013/TT-BTC ngày 25/4/2013 quy định chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ tại doanh nghiệp
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
26. Bộ Tài chính, Các văn b ản hướng dẫn thi hành Luật kế toán số 03/2003/QH11, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật kế toán số 03/2003/QH11
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Hà Nội
27. Bộ Tài chính (2011), Hội thảo quốc tế về hệ thống chuẩn mực KTC, Dự án MTDF2, Vụ Chế độ kế toán & Kiểm toán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo quốc tế về hệ thống chuẩn mực KTC
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Dự án MTDF2
Năm: 2011
28. Bộ trưởng Bộ Tài chính (1999), Quy chế quản lý và sử dụng phương tiện đi lại của các cơ quan HCSN và DNNN, Quyết định số 101/1999/QĐ-BTC ngày 28/8/1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế quản lý và sử dụng phương tiện đi lại của các cơ quan HCSN và DNNN
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Tài chính
Năm: 1999
29. Bộ trưởng Bộ Tài chính (2000), Quy chế quản lý việc xử lý TSNN của các cơ quan HCSN, Quyết định số 55/2000/QĐ-BTC ngày 19/4/2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế quản lý việc xử lý TSNN của các cơ quan HCSN
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Tài chính
Năm: 2000
30. Bộ trưởng Bộ Tài chính (2004), Quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc cấp xã, phường, thị trấn, Quyết định số 32/2004/QĐ-BTC ngày 6/4/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc cấp xã, phường, thị trấn
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Tài chính
Năm: 2004
31. Ngô Thế Chi (2003), Kế toán HCSN áp dụng cho các ĐVSN có thu, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế toán HCSN áp dụng cho các ĐVSN có thu
Tác giả: Ngô Thế Chi
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2003
32. Dương Đăng Chinh, Phạm Văn Khoan (2007), Giáo trình quản lý tài chính công, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý tài chính công
Tác giả: Dương Đăng Chinh, Phạm Văn Khoan
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tổng hợp TSC tại CQNN, ĐVSN công lập - Sử dụng công cụ kế toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam
Bảng 2.1 Tổng hợp TSC tại CQNN, ĐVSN công lập (Trang 67)
Bảng 2.2: Cơ cấu phân bố quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập - Sử dụng công cụ kế toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam
Bảng 2.2 Cơ cấu phân bố quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập (Trang 69)
Bảng 2.3: Cơ cấu phân bố quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập - Sử dụng công cụ kế toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam
Bảng 2.3 Cơ cấu phân bố quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập (Trang 71)
Bảng 2.4: Cơ cấu phân bố quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập - Sử dụng công cụ kế toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam
Bảng 2.4 Cơ cấu phân bố quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập (Trang 73)
Bảng 2.5: Cơ cấu phân bố quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập - Sử dụng công cụ kế toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam
Bảng 2.5 Cơ cấu phân bố quản lý, sử dụng TSC tại CQNN, ĐVSN công lập (Trang 75)
Bảng 2.6: Kết quả thí điểm thực hiện phương thức mua sắm TSC tập trung - Sử dụng công cụ kế toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam
Bảng 2.6 Kết quả thí điểm thực hiện phương thức mua sắm TSC tập trung (Trang 99)
Sơ đồ 2.1: Kế toán TSCĐ tăng do mua sắm - Sử dụng công cụ kế toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam
Sơ đồ 2.1 Kế toán TSCĐ tăng do mua sắm (Trang 115)
Sơ đồ 2.3: Hạch toán TSCĐ mua sắm tập trung ở cấp trên - Sử dụng công cụ kế toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam
Sơ đồ 2.3 Hạch toán TSCĐ mua sắm tập trung ở cấp trên (Trang 117)
Sơ đồ 2.4: Hạch toán TSCĐ mua sắm tập trung ở cấp dưới - Sử dụng công cụ kế toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam
Sơ đồ 2.4 Hạch toán TSCĐ mua sắm tập trung ở cấp dưới (Trang 118)
Sơ đồ 2.5: Kế toán TSCĐ tăng do được viện trợ - Sử dụng công cụ kế toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam
Sơ đồ 2.5 Kế toán TSCĐ tăng do được viện trợ (Trang 119)
Sơ đồ 2.6: Kế toán TSCĐ giảm do thanh lý, nhượng bán - Sử dụng công cụ kế toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam
Sơ đồ 2.6 Kế toán TSCĐ giảm do thanh lý, nhượng bán (Trang 120)
Sơ đồ 2.7: Kế toán TSCĐ do NSNN cấp  hoặc có nguồn gốc NSNN giảm do phát hiện thiếu - Sử dụng công cụ kế toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam
Sơ đồ 2.7 Kế toán TSCĐ do NSNN cấp hoặc có nguồn gốc NSNN giảm do phát hiện thiếu (Trang 121)
Sơ đồ 2.8: Kế toán thanh lý, nhượng bán TSCĐ - Sử dụng công cụ kế toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam
Sơ đồ 2.8 Kế toán thanh lý, nhượng bán TSCĐ (Trang 122)
Sơ đồ 2.9: Kế toán hao mòn TSCĐ - Sử dụng công cụ kế toán nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam
Sơ đồ 2.9 Kế toán hao mòn TSCĐ (Trang 122)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w