Nuôi trồng thủy sản là một ngành kinh tế truyền thống mũi nhọn, có thế mạnh của các tỉnh có vùng ven biển và đầm phá ở nước ta. Sự phát triển mạnh ngành NTTS đã góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho nhân dân. Song song với những lợi ích của các hoạt động NTTS mang đến, nó còn để lại những ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên và môi trường vùng ven biển, vùng biển. Việt Nam là nước có tiềm năng về thủy sản. Với điều kiện thiên nhiên thuận lợi, nước ta có chiều dài đường bờ biển khá lớn 3200 km, cùng với các yếu tố nhiệt độ, môi trường, nguồn thức ăn... là điều kiện lý tưởng để đầu tư phát triển kinh tế thủy sản. Đặc biệt, tỉnh Thừa Thiên Huế là tỉnh có đường bờ biển dài 126 km và hệ đầm phá Tam GiangCầu Hai lớn nhất Đông Nam Á với diện tích là 21.594 ha, là nơi có điều kiện khá lý tưởng cho sự sinh trưởng các loài thủy sản có giá trị cao, đặc biệt là tôm.
Trang 1PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài.
Nuôi trồng thủy sản là một ngành kinh tế truyền thống mũi nhọn, có thếmạnh của các tỉnh có vùng ven biển và đầm phá ở nước ta Sự phát triển mạnhngành NTTS đã góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho nhân dân.Song song với những lợi ích của các hoạt động NTTS mang đến, nó còn để lạinhững ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên và môi trường vùng ven biển, vùngbiển
Việt Nam là nước có tiềm năng về thủy sản Với điều kiện thiên nhiênthuận lợi, nước ta có chiều dài đường bờ biển khá lớn 3200 km, cùng với cácyếu tố nhiệt độ, môi trường, nguồn thức ăn là điều kiện lý tưởng để đầu tưphát triển kinh tế thủy sản Đặc biệt, tỉnh Thừa Thiên Huế là tỉnh có đường bờbiển dài 126 km và hệ đầm phá Tam Giang-Cầu Hai lớn nhất Đông Nam Ávới diện tích là 21.594 ha, là nơi có điều kiện khá lý tưởng cho sự sinh trưởngcác loài thủy sản có giá trị cao, đặc biệt là tôm
Huyện Quảng Điền là huyện trọng điểm của vùng ven biển đầm phá TTH,
có tiềm năng lớn về NTTS, chủ yếu là nuôi tôm Trong đó, xã Quảng Công làmột trong những xã có nghề nuôi tôm phát triển sớm nhất ở huyện Quảng
Trang 2Điền với nhiều hình thức nuôi tôm nhất ở huyện: QCCT, BTC, TC Sự pháttriển ngành nuôi tôm ở xã Quảng Công góp phần xóa đói giảm nghèo, tạocông ăn việc làm và nâng cao mức sống cho người dân địa phương
Các mô hình nuôi trồng thuỷ sản nói chung, nuôi tôm nói riêng đã pháttriển rất nhanh cùng với quá trình phát triển của ngành Phương thức nuôitrồng đã chuyển từ nuôi tự nhiên, quảng canh, nuôi phân tán với mật độthấp sang nuôi bán thâm canh, thâm canh, nuôi công nghiệp với mật độ cao,nhằm tạo ra sản phẩm hàng hóa lớn phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuấtkhẩu Tuy nhiên, việc nuôi trồng thủy sản với mật độ cao, năng suất lớn, đãgây nên những tác động môi trường ngày càng nghiêm trọng, nếu không được
xử lý triệt để có thể gây ra sự mất cân bằng hệ sinh thái tự nhiên và ảnhhưởng đến việc nuôi trồng thủy sản
Để thực hiện Quyết định 1690/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược pháttriển thủy sản Việt Nam đến năm 2020 và Nghị định số 109/2003/NĐ-CPngày 23/9/2003 của Chính Phủ về Bảo tồn và Phát triển bền vững của cácvùng đất ngập nước, chúng ta cần nghiên cứu đánh giá tính bền vững các hìnhthức NTTS nói chung và nuôi tôm nói riêng phù hợp với đặc tính sinh tháicủa từng địa phương
Đối với ngành Thủy sản, việc xây dựng Bộ chỉ thị đã được FAO thực hiện
từ lâu với mục đích là hướng đến các vùng nuôi bền vững Nhưng việc xây
Trang 3dựng Bộ chỉ thị để đánh giá các hình thức nuôi ở từng địa phương vẫn chưanhận được sự quan tâm cần thiết.
Dựa vào tính cấp thiết đó, chúng tôi thực hiện đề tài: “Bước đầu nghiên cứu xây dựng Bộ chỉ thị đánh giá các hình thức nuôi tôm ở xã Quảng Công, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế”
1.2 Mục tiêu.
1.2.1 Mục tiêu chung
Nhằm nâng cao nhận thức cho ngư dân và cộng đồng trong việc sử dụngcác hình thức nuôi tôm hợp lý nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao và bảo vệtốt hơn về vấn đề môi trường trong hiện tại cũng như trong tương lai
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Bước đầu xây dựng bộ chỉ thị đánh giá các hình thức nuôi tôm
- Đánh giá các ảnh hưởng của các hình thức nuôi tôm ở xã Quảng Côngđến môi trường
- Lựa chọn mô hình và hình thức nuôi tôm phù hợp
Trang 4- Đề xuất các biện pháp bảo vệ môi trường và quản lý để phát triển nghềnuôi tôm ở xã Quảng Công.
Trang 5PHẦN II
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU, CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi tập trung nghiên cứu các hình thức nuôi tôm ở xã Quảng Công,huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế với các hình thức nuôi: Thâm canh,bán thâm canh, quảng canh cải tiến
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: xã Quảng Công, huyện Quảng Điền, tỉnh ThừaThiên Huế
- Phạm vi thời gian: từ ngày 1/12/2009 đến ngày 1/12/2010
2.2 Nội dung nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành ngành nghiên cứu việc xây dựng Bộ chỉ thị đánh giácác hình thức nuôi tôm của một số hộ dân ở thôn 1, 2, 4 ở xã Quảng Công,huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 6Để hoàn thành được đề tài này và đạt được mục đích nghiên cứu, chúng tôi
đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau:
2.3.1 Phương pháp điều tra
2.3.1.1 Thu thập số liệu:
Các số liệu thu thập được từ những tác giả đi trước, cũng như việc thu thậpcác tài liệu, số liệu ở các Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Thủy sản ThừaThiên Huế, Phòng thống kê của Cục thống kê thành phố Huế, Phòng Nôngnghiệp huyện Quảng Điền,… của các đề tài, dự án, các trang web, các báocáo, các quy định, chỉ thị, tạp chí, báo chí,…
2.3.1.2 Điều tra phỏng vấn và trả lời câu hỏi bằng phiếu điều tra
Người trả lời câu hỏi sẽ trả lời vào phiếu điều tra về 4 lĩnh vực: về QMHN,LP-TC, MT-ST, KT-XH Chúng tôi chia làm 3 nhóm, mỗi nhóm 2 người đãtrực tiếp điều tra ở 21 hộ nuôi tôm tại các thôn: 1, 2, 4
2.3.2 Phương pháp khảo sát thực địa
Phương pháp này nhằm mục đích kiểm nghiệm lại việc xây dựng cácnhóm chỉ thị đã phù hợp chưa, nếu chưa thì chỉnh sửa hoàn thiện hơn để Bộchỉ thị được xây dựng đảm bảo tính đại diện cho địa phương
2.3.3 Phương pháp thống kê
Trang 7Các số liệu thu thập đều ở dạng rời rạc, do vậy, cần được chọn lọc, thống
kê, xâu chuỗi thành một thể thống nhất ngắn gọn nhưng mà phản ánh đầy đủcác thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu
Chúng tôi đã sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2003 và phương phápthống kê toán học để xử lý số liệu sau khi thu thập được
2.3.4 Phương pháp chuyên gia
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã trao đổi thông tin, hỏi ý kiếncác cán bộ có trình độ chuyên môn về nuôi tôm, môi trường, cán bộ và ngườidân nuôi tôm ở xã Quảng Công, Phòng Nông nghiệp huyện Quảng Điền.Nhằm để xác định các nhóm chỉ thị, các tham số nào cần được xây dựng vàxem xét tầm quan trọng của từng chỉ thị để cho điểm chính xác hơn
Trang 8vệ đất, nước, các nguồn gen động vật và thực vật, không làm suy thoái môitrường, phải phù hợp về mặt kỹ thuật, vững chắc về mặt kinh tế và được chấpnhận về mặt xã hội ”.
Để thực hiện những vấn đề trên, FAO đã đưa ra mục tiêu PTBV trongNTTS:
Mục tiêu 1: Sử dụng đất và nước thích hợp trong NTTS bền vững
Mục tiêu 2: Bảo tồn các chức năng của các hệ sinh thái quan trọng vànhững môi trường nước nhạy cảm
Mục tiêu 3: Quản lý tốt các nguồn tài nguyên đất và cải tạo đất nhằm giảmthiểu các tác động có hại lên môi trường xung quanh
Trang 9Mục tiêu 4: Giảm thiểu các tác động có hại lên các nguồn tài nguyên nướcđịa phương.
Mục tiêu 5: Tránh việc để các loài nuôi ngoại lai và chuyển ghép gen xâmnhập vào môi trường xung quanh
Mục tiêu 6: Quản lý tốt việc sử dụng các loại hóa chất có hại cho sức khỏecon người và các hệ sinh thái
Mục tiêu 7: Gia tăng cao nhất hiệu quả của việc sử dụng tài nguyên vàgiảm thiểu thấp nhất lượng chất thải được tạo ra
Mục tiêu 8: Giảm thiểu sự lệ thuộc vào các nguồn giống tự nhiên ở cáctrang trại
Mục tiêu 9: Thực hiện tốt việc chăm sóc sức khỏe cho vật nuôi nhằm giảmthiểu nguy cơ dịch bệnh trong các trang trại (TT) và ngoài tự nhiên
Mục tiêu 10: Tối ưu hóa các lợi ích KT-XH cho cộng đồng và đất nước.Mục tiêu 11: Cải tiến các hoạt động ở TT nuôi nhằm giảm thiểu các tácđộng lên những đối tượng sản xuất xung quanh
Mục tiêu 12: Đảm bảo quyền và phúc lợi của nhân công làm việc ở cáctrung tâm
Trong Chương trình Nghị sự 21, tổ chức Liên Hợp Quốc (LHQ) đã chỉ rarằng, muốn xây dựng các chỉ thị PTBV cần tập trung vào các vấn đề: Kinh tế,
xã hội, môi trường và năng lực thể chế Đồng thời Uỷ ban LHQ còn kêu gọi
Trang 10mỗi ngành hãy xây cho mình Bộ chỉ thị riêng của ngành đó Đối với ngànhNTTS nói chung và nuôi tôm nói riêng là cần thiết bởi vì đây là ngành gây ranhiều tác động không chỉ cho môi trường mà còn trong lĩnh vực KT-XH Trong Hội nghị bàn về các chỉ thị và chỉ tiêu đánh giá sự bền vững trongNTTS được tổ chức tại Roma-Ý từ ngày 28 đến 30 tháng 4, năm 1998, nhómchuyên gia kỹ thuật của FAO cũng đã thống nhất đưa ra 4 nhóm chỉ thị cơ bảndựa trên 4 nhóm chỉ thị về PTBV được đề xuất bởi Ủy Ban
* Nhóm chỉ thị về luật pháp thể chế
Hội nghị đã thống nhất các chỉ thị về LP-TC là những chỉ thị về áp lực trựctiếp hoặc gián tiếp, hoặc động lực có tác động đến hệ thống tài nguyên Ví dụnhư số lượng giấy phép được phát hành để trang trại hoặc hộ nuôi hoạt động,hoặc là các chỉ thị về đáp ứng phản ánh những hành động của chính quyền(luật pháp và quy định) hay của ngành (các cam kết và tiêu chí) để giảm thiểu,loại bỏ hay đền bù về những thiệt hại do sự phát triển và quản lý việc NTTSgây ra Nhóm chuyên gia kỹ thuật cũng đã xét đến các khía cạnh khác nhaucủa các chỉ thị thuộc nhóm này như: về quy hoạch, về quản lý trang trại,…
* Nhóm chỉ thị về quy mô trang trại (QMTT) hoặc hộ nuôi
Để xem xét đầy đủ các vấn đề liên quan đến QMTT hoặc QMHN là rấtkhó khăn bởi việc thu thập số liệu, các thông tin liên quan đến tài chính là khóthực hiện Do vậy, Hội nghị đã thống nhất đưa ra những thông tin để mang lại
Trang 11hiệu quả nuôi cho trang trại hoặc hộ nuôi như: thời gian hoạt động, cơ sở hạtầng,…
* Nhóm chỉ thị về môi trường
Đây là vấn đề nan giải bởi vì những tác động lên môi trường thường mangtính tiềm tàng Khi xây dựng chỉ thị, ta nên hạn chế số lượng các chỉ thị và tậptrung vào những chỉ thị cho thấy sự bền vững của quốc gia hoặc khu vực sinhthái Tại Hội nghị đã xem xét và đưa ra các chỉ thị về PTBV trong NTTS liênquan đến MT-ST là: diện tích ao nuôi, sử dụng nguồn nước và chất lượngnước, sử dụng hóa chất, giống và thức ăn, dịch bệnh và xử lý dịch bệnh,…
* Nhóm chỉ thị về kinh tế xã hội
Nhóm chuyên gia kỹ thuật của FAO đưa ra chú ý khi xác định các tham sốđặc trưng về nhóm chỉ thị KT-XH là phải đánh giá khả năng tồn tại về mặtkinh tế cũng như sự chấp nhận của xã hội đối với việc NTTS ở hiện tại vàtương lai
Tóm lại, các nhóm chỉ thị trên chỉ nghiên cứu ở cấp độ quốc gia Mỗinhóm có thể phù hợp ở một phạm vi nhất định Các chuyên gia kỹ thuật củaFAO khuyến khích nên phát triển các chỉ thị ở cấp độ càng nhỏ thì sẽ dễ đánhgiá hơn
3.1.2 Các hình thức nuôi tôm hiện nay [8]
3.1.2.1 Nuôi quảng canh (Extensive culture)
Trang 12Là hình thức nuôi phụ thuộc vào tự nhiên là chính, thông qua việc lấynước qua cửa cống và nhốt giữ trong một thời gian nhất định, ít đầu tư chămsóc Mật độ thả giống rất thấp, từ 1-3 con/m2 Năng suất bình quân đạt 180kg/ha/vụ Ở vùng đầm phá TTH, nuôi tôm cá CS được xem là nuôi QC Hìnhthức này vốn đầu tư phù hợp với dân nghèo nhưng mức độ rủi ro lớn do bịảnh hưởng trực tiếp của mưa lụt, nhất là lụt tiểu mãn.
3.1.2.2 Nuôi quảng canh cải tiến (Improve extensive)
Là hình thức nuôi cao hơn của QC Ở hình thức QCCT, tuy phụ thuộcnhiều vào tự nhiên, lấy nước theo thủy triều nhưng được đầu tư chủ độnggiống, thức ăn ở mật độ nhất định đồng thời có đầu tư biện pháp cải tạo đầm,diệt trừ các đối tượng dịch hại để tăng tỷ lệ sống và năng suất Quy mô DTdưới 2 ha Mật độ giống thả từ 4-9 con/m2 NS đạt từ 300-900 kg/ha/vụ Mựcnước sâu 1-1,2 m Ở vùng đầm phá, nuôi ao hạ triều được xem là nuôi QCCT.Hình thức này phù hợp với vùng có bãi triều rộng hoang hóa, nuôi có hiệuquả nhưng dễ ô nhiễm môi trường vì không xử lý triệt để đáy, nhất là nếunâng cao mật độ thả giống
3.1.2.3 Nuôi bán thâm canh (Semi-intensive)
Là hình thức nuôi bằng giống nhân tạo và thức ăn công nghiệp là chủ yếu,đồng thời kết hợp một phần sử dụng thức ăn tự nhiên có trong đầm phá Hệthống ao đầm đã được đầu tư một số cơ sở hạ tầng nhất định (điện, cơ khí,thủy lợi,…) để chủ động nguồn nước, xử lý và khống chế môi trường như hệ
Trang 13thống máy bơm, máy sục khí Diện tích ao từ 0,5-1,5 ha, mật độ thả giống từ10-15 con/m2, mực nước từ 1,2-1,4 m Năng suất đạt từ 1-2 tấn/ha/vụ
3.1.2.4 Nuôi thâm canh hay nuôi công nghiệp (Intensive)
Là hình thức nuôi hoàn toàn bằng giống và thức ăn nhân tạo, được đầu tư
cơ sở hạ tầng đầy đủ để có thể khống chế các yếu tố môi trường, chủ độngđược nguồn nước mặn và ngọt Diện tích ao từ 0,5-1 ha, độ sâu mực nước từ1,5-2,0 m Mật độ giống thả từ 16-30 con/m2 và đạt năng suất từ 2-5tấn/ha/vụ
Bảng 3.1: Chỉ tiêu các hình thức nuôi tôm
Thức ăncông
nghiệp
Trang 14triều quacống
Lấy nướctriều quacống
Theo yêu cầu
kỹ thuật
Theo yêucầu kỹthuật
NS (tấn/ha/vụ) 0,05 - 0,3 0,31 - 0,9 1,00 - 2,00 2,00 - 5,00
( Nguồn: Sở Thủy sản Thừa Thiên Huế, 12/2008)
3.1.3 Khái niệm về chỉ thị và việc sử dụng chỉ thị hiện nay [3]
3.1.3.1 Khái niệm chỉ thị
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OCED) cho rằng chỉ thị là một sự
đo lường phản ánh tình trạng các hệ thống xã hội, kinh tế và môi trường theothời gian
Theo Uỷ Ban Liên Hợp Quốc về Phát triển bền vững (UNCSD), chỉ thị lànhững đơn vị thông tin mô tả tình trạng của các hệ thống, là thước đo tổnghợp các thông tin liên quan đến một hiện tượng nhất định Chỉ thị là dụng cụ,đơn vị đo lường được sử dụng để đánh giá, quan trắc những kết quả đạt đượctrong suốt quá trình Mục đích của nó cho thấy được hoạt động của một hệthống tự nhiên, kinh tế, xã hội đang diễn ra theo chiều hướng như thế nào, tốthay xấu Vì vậy, chỉ thị là rất có ích trong việc đánh giá một vấn đề, nó chỉphù hợp khi xét trong mối tương quan với các mục đích cụ thể, ví dụ mụcđích là chỉ thị môi trường Nó nhằm:
* Cung cấp thông tin cho sự đánh giá
Trang 15Nó cung cấp thông tin đến các nhà hoach định chính sách và công chúng,đối với mỗi nhóm đối tượng thì chỉ thị sẽ cung cấp sẽ khác nhau
Đối với các nhà hoạch định chính sách và nhà quản lý môi trường, chỉ thịcung cấp thông tin về hiện trạng môi trường đang diễn ra và nhận định hiệntrạng đó dựa trên xây dựng chỉ thị về môi trường đất, không khí, nước,… rồiđánh giá xem nó đang ở mức độ ô nhiễm nào, hay suy thoái Tiếp đến, dựbáo những diễn biến có thể xảy ra ở mức nào nếu ta tiếp tục gây ra tác động,hoặc hạn chế gây tác động Sau đó, họ sẽ đưa ra những biện pháp, chính sáchtrước mắt và lâu dài để làm giảm những vấn đề môi trường và dự đoán nhữngkết quả đạt được khi thực hiện việc giải quyết các vấn đề cụ thể Rồi so sánhcác chiến lược, chính sách với các địa phương tốt hơn để rút ra bài học kinhnghiệm Để đạt mục tiêu, ta phải đưa ra những chỉ thị đơn giản, phù hợp vớithực tế từng địa phương
* Phục vụ hoạch định chính sách
Đó là việc đặt ra mục tiêu và chỉ tiêu nhằm phục vụ việc xây dựng chiếnlược thực hiện và đánh giá chính sách Trong giai đoạn này, các chỉ thị đượcxây dựng cần được lựa chọn sao cho thực thi và đánh giá tốt các chính sách
đã đề ra
* Đối với cộng đồng
Trang 16Các chỉ thị đưa ra nhằm mục đích là thông tin môi trường dựa vào cácchiến dịch, nhờ đó mà thay đổi nhận thức của con người và sự tham gia nhiệttình trong việc BVMT tốt hơn Đó là các chỉ thị liên quan đến sức khỏe ngườidân, việc gây suy thoái môi trường làm cho họ mất đi kế sinh nhai,…
3.1.3.2 Các tiêu chí dùng để chọn lựa các chỉ thị [3]
Để nhằm mang lại hiệu quả cho việc chọn lựa các chỉ thị, Anderson (1991)
và Lê Thạc Cán (2005) đã đưa ra các tiêu chí như sau:
1.Tính phù hợp với chính sách: được kiểm nghiệm qua việc xem xét thamkhảo các văn bản chính sách, các kế hoạch, luật định
2 Khả năng giám sát tiến độ so với mục tiêu đề ra: được kiểm nghiệmthông qua các thông tin trong các văn bản chính sách
3 Mức độ bao phủ về mặt không gian và thời gian: nhất quán về khônggian và xem xét đến địa phương phù hợp đối với một vấn đề môi trường nhấtđịnh Chỉ thị bao phủ một khoảng thời gian đủ để có thể cho thấy xu hướngtheo thời gian
4 Mức độ phù hợp với cấp sử dụng chỉ thị (quốc gia/tỉnh) và mang tínhđại diện cho các địa phương nhằm hỗ trợ việc so sánh
5 Phù hợp với việc so sánh: ví dụ như so sánh giữa các huyện trong mộttỉnh Khi so sánh nếu một huyện vượt trội huyện khác về điểm số thì chứng tỏ
có thể học được một số điều từ huyện này
Trang 176 Đơn giản và dễ hiểu nhờ: định nghĩa về các chỉ thị phải rõ ràng và thốngnhất và trình bày chỉ thị một cách hợp lý Không nên có những nội dung mâuthuẫn giữa các chỉ thị với nhau
7 Phải có cơ sở về mặt khái niệm cũng như phương pháp luận: điều nàyphải được thể hiện trong các mô tả về phương pháp luận và công thức sửdụng, các tham khảo khoa học cho phương pháp luận và công thức đó Tất cảnhững mô tả này cần được đưa vào phần tài liệu hoá của chỉ thị
8 Được tài liệu hoá đầy đủ và quản lý được chất lượng: điều này đượcđánh giá bằng cách thực hiện kiểm tra công tác tài liệu hoá đối với chỉ thị vàmức độ đều đặn các tài liệu này được cập nhật Hệ thống quản lý chỉ thị sẽ hỗtrợ các công việc này, hệ thống này sẽ đem lại tính minh bạch và là cơ sở để
có thể quản lý tốt hơn quy trình xây dựng và công bố chỉ thị
9 Tính sẵn có của dữ liệu: các dữ liệu thu thập phục vụ cho chỉ thị phảiđảm bảo tính khả thi cả về mặt chuyên môn cũng như tài chính Các chỉ thị đóphải được xem xét ở các mức độ quan trọng của chỉ thị đem lại phù hợp vớichi phí thu thập dữ liệu để phục vụ cho việc lựa chọn chỉ thị trong thời giandài hoặc ngắn
3.1.3.3 Một số chỉ thị thông dụng hiện đang được sử dụng [1,3]
Trang 18Chỉ số phát triển con người: được đánh giá trên thang điểm từ 0 đến 1 là
một tập hợp của 3 chỉ thị: tuổi thọ bình quân, tổng sản phẩm quốc nội, tỷ lệngười biết chữ và thời gian trung bình đến trường
Chỉ số Daly-Cobb: là một chỉ thị toàn diện hơn về sự phát triển kinh tế
bền vững Chỉ số này không chỉ phản ảnh mức tiêu thụ trung bình mà còn chothấy sự công bằng trong phân phối sản phẩm và sự suy thoái môi trường
Chỉ số tiêu thụ lương thực đầu người: (Per Capital Grain Index) là một
thước đo hữu hiệu về kinh tế ở các nước có thu nhập thấp Chỉ thị này phảnảnh sự thoả mãn của nhu cầu cơ bản con người bởi con người không thể tồntại nếu mức tiêu thụ lương thực hàng năm dưới 180 kg
Chỉ số thịnh vượng quốc gia (Wealth of Nations Index, WNI)
Chỉ số thịnh vượng quốc gia do nhóm chuyên gia kinh tế của World Paper
và Viện Nghiên cứu các vấn đề tiền tệ Mỹ công bố hằng năm
WNI được tính dựa trên 3 nhóm chỉ tiêu là kinh tế, xã hội và trao đổithông tin Mỗi nhóm chỉ tiêu gồm 21 thông số, các tham số này có trọng sốnhư nhau Đối với mỗi nhóm chỉ số, các số liệu thô được chuyển đổi thànhcác chỉ số thay đổi từ thấp nhất 0 điểm đến cao nhất là 100 điểm Tổng sốđiểm của mỗi nhóm tham số là 800 điểm, điểm tổng cộng tối đa của WNI là2.400 điểm
Trang 19Về chỉ tiêu kinh tế, Việt Nam đạt 494 điểm, bằng 62% mức cao nhất cácnước đang phát triển; về chỉ tiêu xã hội, chúng ta đạt 507 điểm bằng 63,4%mức cao nhất các nước đang phát triển và nhóm chỉ tiêu về trao đổi thông tinchúng ta chỉ đạt 226 điểm bằng 28,3% mức cao nhất của các nước đang pháttriển Tính chung 3 nhóm chỉ tiêu trên, Việt Nam đạt được 1.227 điểm bằng51,1% mức cao nhất của các nước đang phát triển, đứng thứ 56/70 nước đangphát triển có số liệu so sánh.
Chỉ số thương tổn môi trường (Environmental Vulnerability Index, EVI)
Chỉ số EVI đã được Uỷ ban Khoa học Địa lý ứng dụng Nam Thái BìnhDương (SOPAC) và Tổ chức Phát triển Liên Hợp Quốc(UNDP) triển khai.Chỉ số này được xây dựng dựa trên các chỉ số thương tổn về xã hội, kinh tế đểhiểu được các quá trình có thể tác động tiêu cực tới sự PTBV của các quốc gianhư thế nào
Chỉ số EVI gồm 57 chỉ thị thuộc 3 nhóm chỉ số thứ cấp: chỉ số về tai biến,chỉ số về phục hồi sau các tai biến từ tự nhiên hay nhân tạo, chỉ số về sự suythoái hay tính nguyên vẹn của môi trường
Chỉ có 6 trong số 57 chỉ thị này có trọng số là 5, các chỉ thị còn lại cótrọng số như nhau là 1 Thang điểm của chỉ số EVI dao động từ 1 đến 7 Điểmcàng cao thì tính dễ bị thương tổn càng lớn
Trang 20Chỉ số phát triển bền vững (Sustainable Development Index, SDI): Trong
Chương trình nghị sự 21 của Hội nghị thượng đỉnh Rio năm 1992 về Môitrường và Phát triển khuyến khích việc sử dụng các chỉ thị PTBV để mô tảhiện trạng kinh tế, môi trường và xã hội nhằm đo lường mức độ phát triểntoàn diện của một quốc gia
Chỉ số SDI được xây dựng bao gồm 134 chỉ thị đã được chọn lọc và 22quốc gia tình nguyện áp dụng thử nghiệm Bộ chỉ thị này Vào năm 2001, Bộchỉ thị này đã được chuẩn hoá như là một công cụ đo lường các sự tiến bộtrong PTBV nhằm hỗ trợ cho những người ra quyết định, những nhà hoạchđịnh chính sách phát triển KT-XH của một quốc gia được bền vững lâu dài Chỉ số bền vững môi trường (Environmental Sustainability Index, ESI):chỉ ra những việc làm, những khả năng của một quốc gia trong việc BVMTcho tương lai Chỉ số này được xây dựng bởi 21 chỉ thị bền vững môi trườngvới 76 tham số, tập trung vào 5 khía cạnh sau:
- Hệ thống môi trường
- Giảm thiểu tác động môi trường
- Giảm thiểu tính thương tổn của con người đối với các áp lực môi trường
- Năng lực xã hội, thể chế trong việc đáp ứng các thách thức môi trường
- Quản lý trái đất
3.2 Cơ sở thực tiễn
Trang 213.2.1 Các văn bản pháp luật
Nơi nào có vùng ven đầm phá và biển lớn thì nơi đó có ngành NTTS đượcphát triển mạnh NTTS là ngành gắn liền với thiên nhiên, do vậy không tránhkhỏi những nguy cơ những tác động tiêu cực do nó gây ra về mặt môi trường:
ô nhiễm môi trường, giảm sự đa dạng sinh học, …
Quảng Điền là vùng nuôi trồng thuỷ sản trọng điểm nói chung và nuôi tômnói riêng của tỉnh Thừa Thiên Huế, vì lẽ đó hoạt động nuôi tôm tại huyệncũng nằm trong những diễn biến, tình hình của toàn tỉnh Trước những khókhăn đó, với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, huyện Quảng Điền trongnhững năm qua vẫn đạt được những thành tích đáng kể, góp phần thúc đẩyngành thuỷ sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của huyện, cùng với ngànhthuỷ sản của tỉnh phát triển nhanh trong xu thế hội nhập
Hiện nay, xã Quảng Công có 3 loại hình nuôi tôm: nuôi cao sản, nuôi aođất hạ triều, nuôi ao nổi cao triều Dựa vào những ưu nhược điểm của mỗiloại hình mà có các phương thức phù hợp với chúng Nuôi ao hạ triều phùhợp với hình thức nuôi QCCT, nuôi ao cao triều phù hợp với hình thức BTC
và TC
Theo Báo cáo Đánh giá thực trạng môi trường của UBND huyện QuảngĐiền năm 2008 cho biết việc phát triển NTTS đang làm cho pH của đầm pháthay đổi, biến đổi và ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái vùng đầm phá
Trang 22Vì vậy, việc xây dựng Bộ chỉ thị đánh giá các hình thức nuôi tôm là rất cầnthiết, nhằm cho phép các nhà quản lý có thể mô tả, đánh giá hình thức nàomang lại tính bền vững cho môi trường, đồng thời cũng thỏa mãn những nhucầu về KT-XH.
Đứng trước tình hình đó, Đảng và Nhà Nước đã có nhiều chủ trương,chính sách về PTBV đối với mọi hoạt động sản xuất KT-XH, trong đó có hoạtđộng NTTS Trên cơ sở chủ trương, định hướng về PTBV và BVMT, trongthời gian qua, Đảng và Nhà Nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật liênquan như:
- Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủnghĩa Việt Nam số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005
- Quyết định 12/2006/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường vềviệc ban hành Danh mục phế liệu được phép nhập khẩu làm nguyên liệu sảnxuất
- Quyết định 23/2006/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường vềviệc ban hành Danh mục chất thải nguy hại
- Quyết định 19/2007/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường vềviệc ban hành Quy định về điều kiện và hoạt động dịch vụ thẩm định báo cáođánh giá tác động môi trường
Trang 23- Nghị định 174/2007/NĐ-CP của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đốivới chất thải rắn
- Nghị định 120/2008/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý lưu vực sông
3.2.2 Tình hình phát triển nuôi tôm ở Thừa Thiên Huế
3.2.2.1 Đối với tỉnh Thừa Thiên Huế [9]
Thừa Thiên Huế là tỉnh có bờ biển dài 128 km và hệ đầm phá Tam Giang,Cầu Hai có diện tích 21.594 ha, có rất nhiều bãi ngang hội đủ các điều kiện vềthời tiết khí hậu, đất đai, thổ nhưỡng… phù hợp với NTTS, là nơi có tiềmnăng để phát triển nghề nuôi tôm Nhờ những thuận lợi sẵn có của hệ sinh tháiđầm phá, nghề NTTS nước lợ chủ yếu là nuôi tôm sú đã phát triển nhanhchóng trong những năm gần đây ở vùng đầm phá Thừa Thiên Huế
Bảng 3.2: Tình hình nuôi tôm sú tỉnh Thừa Thiên Huế qua 3 năm 2007-2009
m2007
Năm2008
Năm2009
So sánh2008/2007
So sánh2009/2008
4
3024
3632,1
440
Trang 24lượng 3 1 5 910,5
Năng
suất
Tấn/ha
( Nguồn:Theo số liệu thống kê sở thủy sản Thừa Thiên Huế, 2009)
Về diện tích nuôi: Diện tích nuôi tôm trong năm 2009 đã có giảm sút đáng
kể, từ 3.464 ha năm 2007 giảm xuống 3.024 ha năm 2008 Nguyên nhân củavấn đề này là: năm 2007 do thời tiết thay đổi phức tạp ảnh hưởng trực tiếpđến môi trường sống của con tôm; bên cạnh đó dịch bệnh tại các địa phươngtrên địa bàn tỉnh diễn ra phổ biến, tạo tâm lý hoang mang trong người nuôitôm Từ đó, khiến cho diện tích nuôi năm 2008 giảm đáng kể so với năm
2007 Tuy nhiên, năm 2009 diện tích nuôi lại tăng lên khá nhanh, lên tới3.632,1 ha, tăng 120,1% so với năm 2008.[9]
Về năng suất và sản lượng tôm nuôi: Mặc dù, năm 2008 diện tích nuôi tômgiảm sút đáng kể, nhưng tình hình nuôi trồng diễn ra thuận lợi; thời tiết ổnđịnh, thích hợp với con tôm; dịch bệnh không xuất hiện tạo điều kiện thuậnlợi trong việc nuôi trồng, chăm sóc và thu hoạch tôm Sản lượng tôm nuôinăm 2008 đạt 3.861 tấn, tăng 114,8% so với năm 2007 Tuy nhiên, sự thayđổi thất thường của thời tiết khí hậu, sự dao động mạnh của độ mặn; bên cạnh
Trang 25đó là sự diễn biến phức tạp của dịch bệnh đã làm cho năng suất tôm năm 2009giảm xuống còn 2.950,5 tấn, tức bằng 76,4% so với năm 2008.[9]
Mặc dù vậy, so với cả nước thì năng suất tôm của Thừa Thiên Huế vẫncòn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có Mục tiêu đặt ra là khôngngừng nâng cao năng suất, sản lượng để ngành nuôi trồng nuôi tôm của ThừaThiên Huế phát triển, phát huy lợi thế so sánh của vùng
Tình hình nuôi trồng chịu nhiều rủi ro, bị ảnh hưởng rất nhiều bởi điềukiện tự nhiên đã và đang đặt ra cho người nông dân, các cấp chính quyền địaphương, cơ quan liên quan một bài toán hóc búa, cần phải kịp thời đưa ra cácgiải pháp áp dụng vào nuôi trồng, giúp cho người nông dân tránh và hạn chếrủi ro, nâng cao hiệu quả, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhândân
3.2.2.2 Đối với huyện Quảng Điền [5], [6]
Quảng Điền là vùng nuôi trồng thuỷ sản trọng điểm nói chung và nuôi tômnói riêng của tỉnh Thừa Thiên Huế, vì lẽ đó hoạt động nuôi tôm tại huyệncũng nằm trong những diễn biến, tình hình của toàn tỉnh Trước những khókhăn đó, với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, huyện Quảng Điền trongnhững năm qua vẫn đạt được những thành tích đáng kể, góp phần thúc đẩyngành thuỷ sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của huyện, cùng với ngànhthuỷ sản của tỉnh phát triển nhanh trong xu thế hội nhập
Trang 26Vùng đầm phá Quảng Điền là một trong những vùng phát triển nghề thuỷsản của Thừa Thiên Huế Tuy nhiên, hoạt động nuôi trồng thuỷ sản mà chủyếu là nuôi tôm sú chỉ thật sự phát triển hơn 12 năm trở lại đây ( 1998 - 2010)
cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Đến nay hầu hết các xã vùng đầm phá củahuyện đã phát triển nghề nuôi tôm sú với nhiều hình thức nuôi như chắn sáomồng, nuôi ao trung triều, hạ triều, cao triều Nuôi trồng thuỷ sản thật sự trởthành nghề mới của vùng đầm phá Quảng Điền, có sức thu hút nhiều ngườitham gia Tình hình nuôi tôm trong những năm gần đây được thể hiện quabảng
Bảng 3.3: Tình hình nuôi tôm sú của huyện Quảng Điền qua 3 năm 2007
– 2009
2007
Năm2008
Năm2009
So sánh2008/2007
So sánh2009/2008
Trang 27( Nguồn: Theo thồng kê của phòng nông nghiệp huyện Quảng Điên, 2007,
2008, 2009) 3.2.2.3 Đối với xã Quảng Công [10], [11], [12]
Với lợi thế là xã có diện tích tương đối rộng, lại có diện tích mặt nước đầmphá nên Quảng Công rất thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản xã
đã xác định đây là ngành kinh tế mũi nhọn, góp phàn vào sự tăng trưởng kinh
tế của xã cũng như tăng thu nhập và giải quyết việc làm cho nhiều hộ ngưdân
Xã tồn tại hai loại hình nuôi chính là nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt Tuynhiên tôm sú thường được nuôi ở nước lợ, chỉ có diện tích nuôi chắn sáo đượcngư dân tận dụng để xen canh, nuôi ghép nhiều loại như tôm cua, cá để tăngthu nhập và nâng cao hiệu quả kinh tế Tình hình nuôi tôm ở xã Quảng Côngđược thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3.4: Diện tích, sản lượng nuôi của xã Quảng Công năm 2009
Trang 28Chỉ tiêu ĐVT
Kếhoạch
Thựchiện
TH/KH(%)
(Nguồn: báo cáo nuôi trồng thủy sản xã Quảng Công, 2009)
Tôm sú là đối tượng chính mà người dân lựa chọn Năm 2009 ngư dân đãđưa vào nuôi với diện tích là 126ha, đạt 94,7% so với kế hoạch
Tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản của xã so với kế hoạch để ra tuy khôngđúng kế hoạch nhưng tổng diện tích nuôi vẫn đạt 137,1 ha đạt so với kế hoạch
là 97%
Sản lượng nuôi trồng trong năm là 176 tấn, cá, tôm các loại, đạt 110% kếhoạch, tăng 26 tấn so với năm trước, tổng giá trị đạt khoảng 7.2 tỷ đồng.Trong đó sản lượng tôm sú thu về là 101 tấn tăng so với kế hoạch là 6% Đây
là nét đáng mừng cho hoạt động nuôi tôm của xã, tạo động lực để phát triểnngành nuôi tôm sú trên địa bàn của xã
Trang 30PHẦN IV
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội [6], [13]
4.1.1 Vị trí địa lý [13]
Xã Quảng Công nằm về phía Đông của huyện Quảng Điền và cách trungtâm huyện 6 km, cách thành phố Huế 12 km và có vị trí địa lý như sau:
- Phía Bắc giáp xã Quảng Ngạn
- Phía Đông giáp Biển Đông
- Phía Tây giáp Phá Tam Giang
- Phía Nam giáp xã Hải Dương, huyện Hương Trà
Với tổng diện tích đất tự nhiên là 1261,43 ha
4.1.2 Điều kiện tự nhiên [6], [13]
4.1.2.1 Địa hình
Xã có địa hình tương đối bằng phẳng, thấp từ Tây sang Đông, phía Đônggiáp với Biển Đông Hải, vùng đầm phá làm cho một phần diện tích bị nhiễmmặn và đây cũng là điều kiện để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi
4.1.2.2 Thổ nhưỡng [13]
Trang 31Xã Quảng Công có tổng số 1261,43 ha diện tích đất tự nhiên, trong đó cócác loại đất chính như sau:
- Đất cát (haplic arenosols): Diện tích 313,5 ha chiếm 27,33% diện tích đất
tự nhiên Loại đất này được phân bố chủ yếu ở địa phận tiếp giáp phá TamGiang, loại đất này ít có ý nghĩa đối với sản xuất nông nghiệp
- Đất phù sa (fluvisol): Diện tích 30,4 ha chiếm 2,65% diện tích đất tựnhiên Đất phù sa có diện tích không lớn và phân bố dọc sông, loại đất nàyrất có ý nghĩa cho sản xuất nông nghiệp và thực tế đã được người dân khaithác một cách triệt để vào sản xuất hoa màu, lương thực cũng như các câycông nghiệp ngắn ngày hàng năm bởi những đặc điểm khá ưu việt: tỷ lệ đạm,mùn trung bình đến khá, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình, dễ thoátnước, địa hình bằng, tập trung
- Đất biến đổi do trồng lúa (LP): Diện tích 561,5 ha chiếm 48,5% diện tíchđất tự nhiên (đất thịt nặng) Đây là đất được hình thành do sản phẩm phonghoá đá mẹ khác nhau, được nhân dân địa phương cải tạo lâu đời nên hìnhthành các chân ruộng để sản xuất nông nghiệp Loại đất này được phân bốhầu hết ở các vùng trong xã
- Đất khác: Bao gồm mặt nước đầm phá, kênh mương, sông hồ và đấtchuyên dùng Tổng diện tích 241,6 ha chiếm 21,1 %
Trang 324.1.2.3 Khí hậu thời tiết [13]
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào tháng 2 năm sau Đỉnh mưadịch chuyển trong bốn tháng từ tháng 9 đến tháng 12, riêng tháng 11có lượngmưa nhiều nhất chiếm tới 30% lượng mưa cả năm
c Độ ẩm
Độ ẩm tương đối trung bình năm: 85 - 86% Độ ẩm cao nhất là 89%.Tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 9, tháng 10, tháng 11 Độ ẩm thấp nhất là76%
Trang 33d Bốc hơi
Lượng nước bốc hơi trung bình hàng năm là 977mm/năm Lượng bốc hơinhiều nhất từ tháng 5 đến tháng 8 (tháng 7 là 133mm), tháng có lượng bốc hơinhiều nhất là tháng 2 cũng đạt 39,6mm
e Gió, bão, nắng
- Xã Quảng Công chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính:
+ Gió mùa Tây Nam: Bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8, tốc độ gió bình quân
từ 2 - 3m/s có khi lên đến 7 - 8m/s Mùa này gió thường khô nóng, bốc hơinên khô hạn kéo dài
+ Gió mùa Đông Bắc: Bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, tốc độ gióbình quân từ 4 -6m/s Gió kèm theo mưa làm khí hậu lạnh ẩm dễ gây lũ lụt,ngập úng ở nhiều nơi
- Bão thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 10 Trong các trường hợpchịu ảnh hưởng của bão, lốc và gió mùa Đông Bắc, tốc độ gió có thể đạt trên15m/s trong gió mùa Đông Bắc và 30m/s trong khi lốc bão
- Số giờ nắng trung bình hàng năm: 2075 giờ/năm và số ngày nắng trungbình năm là 196 ngày
4.1.2.4 Môi trường nước [6]
a Nước mặt
Trang 34Quảng Công có hệ thống nước mặt không nhiều, đáng chú ý là sông Bồ,đây là nguồn nước mặt chủ yếu phục vụ sinh hoạt và sản xuất của nhân dântrong xã Sông này có chiều dài 12 km, đoạn chảy qua xã Quảng Công dài 6
km Lưu vực của sông này có nhiều hói nước dẫn vào khu vực sản xuất
b Nước ngầm
Theo quan sát thực tế từ các giếng đào cho thấy, nguồn nước ngầm ởQuảng Công tương đối lớn, độ sâu 4 - 6m có thể khai thác phục vụ sinh hoạt
và cung cấp cho một số cơ sở công nghiệp nhỏ
Về chất lượng nước cũng đáng quan tâm, đây là vùng ven biển phần lớn bịnhiễm phèn, mặn hoặc nhiễm bẩn do hoạt động sản xuất và sinh hoạt củangười dân
4.1.2.5 Tài nguyên sinh học [4]
Quảng Công có trên 7 km bờ ven đầm phá Tam Giang và rộng trên 165 ha,đánh giá tài nguyên đầm phá của xã được xem xét trên hai khía cạnh:
- Tài nguyên thuỷ sản: Được đánh giá là xã có tài nguyên thuỷ sản đa dạng
và sản lượng đánh bắt theo số liệu thực tế đến năm 2005 thì tổng sản lượngđánh bắt trên 28 tấn/năm đạt 0,34% so với toàn huyện
Tài nguyên sinh vật thuỷ sinh đầm phá: Vùng đầm phá của xã có hệ sinhvật thuỷ sinh phong phú, là nguồn thức ăn đa dạng, tốt cho NTTS
4.1.2.6 Đánh giá về vị trí và điều kiện tự nhiên
Trang 35* Thuận lợi:
- Có lợi thế về vị trí và điều kiện tự nhiên: Nằm cách trung tâm huyện vàthành phố Huế không xa thuận lợi cho xã trong việc trao đổi và tiêu thụ cáchàng hóa nông sản, thủy sản, vật tư nông nghiệp và các ngành kinh tế khácphát triển cũng như việc tiếp cận với các tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại vàthông tin thị trường
- Điều kiện địa hình địa thế thuận lợi cho phát triển đa dạng nông nghiệp
- Mặc dù đất đai trên địa bàn xã khá đa dạng nhưng trong số đó vẫn còncác loại đất có lợi cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ thấp Đất cát chiếm
tỷ lệ khá cao ít có ý nghĩa đối với sản xuất nông nghiệp và trong quá trình sảnxuất nông nghiệp đất bị thoái hóa theo chiều hướng xấu đi rất nhiều
4.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội [13]
Trang 364.1.3.1 Dân số và lao động
Toàn xã chia thành 9 cụm dân cư gồm các thôn: Cương Gián, Hải Thành,Tân Thành, An Lộc, Thôn 1, Thôn 2, Thôn 3, Thôn 4, Thôn 14
Tổng dân số của năm 2009 của xã là 9.430 người với 1520 hộ Trong đó
có 4046 người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp
Quảng Công là xã không ngừng quan tâm đến việc đào tạo nghề, giảiquyết việc làm cho người lao động như: phát triển TTCN, tạo điều kiện đểphát triển các ngành nghề dịch vụ và xuất khẩu lao động sang các nướcMalaysia, Nhật Bản, Đài Loan và Australia Và đây cũng chính là nguyênnhân làm cho lao động trong lĩnh vực nông nghiệp giảm đáng kể Ngoài ra,nông dân đều ý thức được rằng, sản xuất NN vốn mang lại lợi nhuận rất thấplại mang tính rủi ro cao như thiên tai, hạn hán, lũ lụt, sâu bệnh nên việc họtìm kiếm công việc khác để cải thiện đời sống là điều tất yếu
Qua phân tích tình hình dân số và lao động của xã, ta thấy rõ tỷ trọng sảnxuất nông nghiệp giảm rất đáng kể, lao động phi nông nghiệp tăng lên Đây làthành tích đạt được của xã, là sự nỗ lực đi lên từ giá trị nông nghiệp sản xuấtthấp kém không đủ trang trải cho cuộc sống, để cải thiện đời sống khó khăncho bà con vươn lên khá giàu, góp phần làm giàu cho bộ mặt của toàn xã
4.1.3.2 Đặc điểm kinh tế
a Về sản xuất nông nghiệp
Trang 37* Về trồng trọt:
Xã Quảng Công là xã chuyên canh sản xuất nông nghiệp, kinh tế chủ yếuphụ thuộc vào sản xuất NN đặc biệt là chuyên canh sản xuất lúa
- Tổng diện tích gieo trồng cả năm 2009 là 925 ha Trong đó:
+ Diện tích canh tác lúa cả năm là 829,4 ha
+ Diện tích trồng màu là 95,6 ha (gồm: ngô, khoai lang, sắn, đậu, rau)
- Năng suất lúa bình quân đạt 56,7 tạ/hạ/năm
- Tổng sản lượng lương thực cả năm 2009 đạt 4700 tấn/năm đạt 100,14%
so với cùng kỳ năm trước:
- Bình quân lương thực đầu người 492,7 kg/năm 2009 đạt 92,6% so vớicùng kỳ năm trước
Nguyên nhân là do sâu bệnh, đặc biệt chuột phá hoại trên diện rộng, thờitiết vụ Đông Xuân không thuận lợi
Trang 38yếu để cung cấp thực phẩm tại chỗ và tận dụng phân bón cho trồng trọt nênquy mô cũng như chất lượng đàn gia súc còn thấp.
* Về thuỷ sản:
Tổng diện tích nuôi thả năm 2009 là 139 ha Trong đó, nuôi nước lợ là 128
ha, nuôi nước ngọt là 11 ha
Tổng sản lượng nuôi trồng năm 2009 là 161 tấn Trong đó: tôm 70 tấn, cua
16 tấn, cá các loại 75 tấn Ước thu gần 7 tỷ đồng Vì thế, nhu cầu vốn choNTTS là rất lớn
b Tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề khác
Tiếp tục chỉ đạo củng cố, khôi phục các ngành nghề truyền thống như: nón
lá, mộc, nề dân dụng, giày dép, đàn Guytar nhằm tăng thu nhập trong nhândân Giá trị sản xuất ngành công nghiệp - TTCN theo giá trị thực tế khoảng2,6 tỷ đồng
c Về thương mại dịch vụ
Hoạt động thương mại dịch vụ có mức độ chưa lớn nhưng đây là thịtrường đầy tiềm năng, ước tính tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ đạt 1,47
tỷ đồng Dịch vụ bưu chính viễn thông tiếp tục phát triển, đến nay điện thoại
đã đến tận các khu dân cư, có bưu điện văn hoá xã, số hộ dùng điện thoạingày càng tăng
4.1.3.3 Đánh giá về điều kiện kinh tế xã hội
Trang 39* Thuận lợi:
- Quảng Điền có lực lượng lao động dồi dào, có trình độ văn hóa Đây làmột lợi thế trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuấtnông nghiệp để đưa sản xuất nông nghiệp của xã theo hướng hàng hóa cũngnhư xuất khẩu lao động
- Hệ thống giao thông trên địa bàn khá hoàn chỉnh, đó là thuận lợi chongười dân trong việc vận chuyển các vật tư, cũng như đảm bảo cho khâu thuhoạch được diễn ra một cách thuận lợi hơn về mùa nắng cũng như mùa mưa
* Khó khăn:
- Hệ thống kênh mương nội đồng tỷ lệ bê tông hóa còn thấp nên tỷ lệ thấtthoát nước lớn, vẫn còn nhiều nơi trên địa bàn xã vẫn chưa đưa được nướctưới vào, điều đó đã gây khó khăn rất lớn cho những khu vực không đưa nướcvào được khiến họ không thể trồng màu, ảnh hưởng đến việc nâng cao thu nhập
để cải thiện tạo cuộc sống của người dân
- Lao động chủ yếu theo mùa vụ không liên tục gây khó khăn cho các vấn đề
xã hội Mùa nhàn rỗi lao động phải đi nơi khác kiếm việc làm dẫn đến số laođộng thì nhiều nhưng số lao động cố định tại địa phương thì ít
4.2 Mô hình được lựa chọn để xây dựng bộ chỉ thị đánh giá các hình thức nuôi tôm
Trang 40Dựa vào CSKH và CSTT của vấn đề NTTS, chúng tôi chọn mô hình S-I-R để xây dựng Bộ chỉ thị đánh giá các hình thức nuôi tôm
D-P-Sự phát triển mô hình DPSIR dựa vào sự tiến hóa các mô hình của UNEP:
- Mở đầu từ mô tả trạng thái, State, gọi tắt là S
- Tiến sang phân tích trạng thái được mô tả với áp lực đã gây nên trạngthái đó, Pressure, gọi tắt là PS
- Tiến thêm một bước xem xét các đáp ứng của con người để gây ảnhhưởng tới tình trạng S, đó là các đáp ứng Respone, gọi tắt là PSR
- Bổ sung xem xét các tác động của vấn đề tồn tại, Impacts, gọi là PSIR
- Xem xét các đáp ứng R của con người trước tình trạng môi trường đã mô
tả, dẫn tới mô hình DPSIR
Trong đó, D - Driving forces, có thể gọi là lực thúc đẩy nguyên nhân của
áp lực, P – Pressures là áp lực, S - State of Environment là trạng thái của môitrường, I –Impacts là tác động, R – Response là đáp ứng
Quá trình này có thể biểu thị một cách đơn giản như ở hình 3 sau đây:
S
P - S
P - S - R
P - S- I - R