Trong những năm gần đây, Đan Phượng đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, xã hội. Kinh tế tiếp tục phát triển toàn diện, duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Tốc độ giá trị sản xuất (Giá cố định 1994) tăng bình quân 5 năm 20082012 là 10,46%, trong đó công nghiệp tăng 22,7%, dịch vụ tăng 22,6%. GDP bình quân đầu người năm 2012 đạt 17,0 triệu đồng, tăng 1,5 lần so với năm 2008, tốc độ tăng năm 2012 không cao, nguyên nhân do ảnh hưởng khó khăn khủng hoảng kinh tế, tăng trưởng GDP của huyện có tốc độ tăng trưởng khá so với trung bình của Thành phố. Văn hoá xã hội có bước phát triển mới, đời sống nhân dân được cải thiện, nâng cao rõ rệt; quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm gần đây, Đan Phượng đã đạt được nhiều thành tựutrong phát triển kinh tế, xã hội Kinh tế tiếp tục phát triển toàn diện, duy trìtốc độ tăng trưởng cao Tốc độ giá trị sản xuất (Giá cố định 1994) tăng bìnhquân 5 năm 2008-2012 là 10,46%, trong đó công nghiệp tăng 22,7%, dịch vụtăng 22,6% GDP bình quân đầu người năm 2012 đạt 17,0 triệu đồng, tăng 1,5lần so với năm 2008, tốc độ tăng năm 2012 không cao, nguyên nhân do ảnhhưởng khó khăn khủng hoảng kinh tế, tăng trưởng GDP của huyện có tốc độtăng trưởng khá so với trung bình của Thành phố Văn hoá - xã hội có bướcphát triển mới, đời sống nhân dân được cải thiện, nâng cao rõ rệt; quốc phòng,
an ninh, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo
Những kết quả đạt được đó có sự góp phần quan trọng của các doanhnghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trên địa bàn huyện, trong đó các doanh nghiệpcông nghiệp nhỏ và vừa (DNCNNVV) chiếm trên 70% tổng số doanh nghiệp.DNCNNVV được đánh giá là năng động, hoạt động hiệu quả, đóng góp 46%trong GDP và sử dụng khoảng 38% lực lượng lao động địa phương Đây là bộphận có vai trò quan trọng trong quá trình phân phối, lưu thông hàng hoá,cung ứng dịch vụ và đặc biệt hơn cả là vai trò dẫn dắt các doanh nghiệp thamgia quá trình phát triển kinh tế xã hội DNCNNVV còn là tiền thân của quá
Trang 2trình tích tụ tập trung vốn, trở thành những công ty kinh tế lớn cho nền kinh tếtrong tương lai Đây là bộ phận kinh tế quan trọng trong nền kinh tế hội nhập.
Từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực (01/01/2000) tạo điều kiện thuậnlợi cho việc thành lập doanh nghiệp, đã dẫn đến số lượng doanh nghiệp đăng
ký thành lập mới hàng năm tăng lên nhanh chóng Tính đến thời điểm hếtnăm 2012, trên địa bàn huyện Đan Phượng 757 doanh nghiệp đang hoạt động(không bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) vốn đăng ký ướcđạt trên 3.000 tỷ đồng
Sự phát triển của khu vực DN ngoài nhà nước mà trong đó chủ yếu làcác DNNVV đã được Chính phủ thừa nhận là một động lực của tăng trưởngkinh tế và được khuyến khích, tạo điều kiện phát triển Từ năm 2001 Chínhphủ đã ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanhnghiệp nhỏ và vừa Chính phủ coi “Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là mộtnhiệm vụ quan trọng trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” Tháng 3 năm 2002, hội nghị lần thứ
5 của Ban chấp hành Trung ương khoá IX đã ban hành Nghị quyết số 14NQ/TW về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiệnphát triển kinh tế tư nhân Nghị quyết quan trọng này đã khẳng định khu vựckinh tế tư nhân là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân và mọithành phần kinh tế phải được đối xử bình đẳng Nghị quyết cũng đã đề ra một
Trang 3chương trình toàn diện, cụ thể hoá khá đầy đủ chủ trương chính sách củaĐảng về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiệnphát triển kinh tế tư nhân.
Quán triệt và thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng vàChính phủ về khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, trongnhững năm qua huyện Đan Phượng đã tiến hành nhiều cải cách nhằm tạo ramột môi trường kinh doanh thuận lợi để thu hút đầu tư và thúc đẩy phát triểndoanh nghiệp Các chính sách về đất đai và mặt bằng sản xuất đã giúp doanhnghiệp chủ động trong việc nắm bắt quy hoạch, xin giao đất, thuê đất; chínhsách về khuyến khích đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, nhiều doanh nghiệp
đã lập và thực hiện quy trình đổi mới công nghệ để tăng năng suất, hiệu quả
và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm Chính sách hỗ trợ phát triển nguồnnhân lực cho các DNNVV đã giúp cho doanh nghiệp nâng cao trình độ nhậnthức về pháp luật, kiến thức về quản lý cho đội ngũ cán bộ quản lý; chínhsách hỗ trợ xúc tiến xuất khẩu đã giúp doanh nghiệp xúc tiến thương mại, tiếpcận thị trường trong nước và quốc tế Tuy nhiên, việc ban hành và triển khaithực hiện các chính sách hỗ trợ DNNVV của huyện vẫn còn nhiều bất cập,chưa đồng bộ Ngân sách dành cho các chương trình hỗ trợ vẫn còn phân tándàn trải, một số chương trình hiệu quả còn thấp
Trang 4Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về doanh nghiệpnói chung, DNNVV nói riêng, nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu
về DNCNNVV được công bố Ở một góc độ nhất định, liên quan đến vấn đềnày có thể kể đến các công trình như: cuốn sách “Đổi mới cơ chế chính sách hỗtrợ phát triển DNNVV ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm
2000, đã phân tích thực trạng các chích sách hỗ trợ DNNVV, từ đó đề xuất một
số điều kiện để phát triển DNNVV ở Việt Nam TS Chu Thị Thuỷ với Luận ánTiến sĩ kinh tế “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh củaDNNVV Việt Nam”, đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề bên trong hoạt độngcủa DN để phát triển các DN bằng cách nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tiếtkiệm chi phí, tăng doanh thu TS Phạm Văn Hồng với Luận án Tiến sĩ kinh tế
“Phát triển DNNVV ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế” đã đi sâuphân tích lý luận về DNNVV, cơ hội và thách thức của các DNNVV, đề ra một
số biện pháp phát triển DNNVV Việt Nam TS Lê Thị Mỹ Linh với Luận ánTiến sĩ Kinh tế “ Phát triển nguồn nhân lực trong DNNVV ở Việt Nam trongquá trình hội nhập kinh tế’ đã đi sâu về phát triển nguồn nhân lực trongDNNVV ở Việt Nam và có gắn với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay, các DNNVV nói chung, DNNVVhoạt động lĩnh vực công nghiệp nói riêng của huyện Đan Phượng vẫn bị đánhgiá là còn nhiều hạn chế như công nghệ sản xuất lạc hậu, trình độ quản lý yếu,
Trang 5thiếu thông tin, khả năng tiếp cận và thâm nhập vào thị trường xuất khẩu cònhạn chế, các dịch vụ phát triển kinh doanh tại địa phương chưa phát triển chonên năng lực cạnh tranh của các DNNVV nói chung còn thấp Vì vậy, đểnâng cao hiệu quả kinh doanh cho các DNNVV thì các chính sách hỗ trợ vẫnđóng một vai trò rất quan trọng.
Nhận thức được tầm quan trọng của các chính sách hỗ trợ các DNNVV,đặc biệt các DNNVV lĩnh vực công nghiệp trong việc nâng cao năng lực cạnhtranh và hiệu quả kinh doanh trong thời gian tới, phù hợp với chương trình
học tập, tôi nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu giải pháp phát triển doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội” nhằm đánh giá hiệu quả các chính sách hỗ trợ DNNVV trong
giai đoạn 2008 - 2012 để tổng kết những mặt đã làm tốt, những mặt còn hạnchế, rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất ra một số giải pháp chínhsách nhằm vận dụng vào việc xây dựng, ban hành và triển khai thực hiện cácchính sách hỗ trợ DNNVV lĩnh vực công nghiệp trong thời gian tới đạt hiệuquả cao
Ở ngoài nước, các DNNVV đã ra đời và phát triển cách đây nhiều thập
kỷ Hiện có một số tài liệu và thông tin liên quan thu thập được qua học tập,nghiên cứu, về DNNVV Việt Nam nhưng chưa thấy có công trình nghiên cứu
về DNCNNVV ở Việt Nam và trên phạm vi địa phương
Trang 6Vì vậy việc nghiên cứu về DNCNNVV và các chính sách hỗ trợDNCNNVV rất cần được nghiên cứu, hệ thống hoá, hoàn thiện các chính sách
hỗ trợ một cách trong điều kiện thực tiễn Việt Nam hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu của Luận văn
Đề tài đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển doanh nghiệpcông nghiệp nhỏ và vừa huyện Đan Phượng giai đoạn 2012-2020 và nhữngnăm tiếp theo góp phần phát triển kinh tế - xã hội của huyện toàn diện vàvững chắc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Đối tượng nghiên cứu: Doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh
vực công nghiệp
Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng phát triển doanh nghiệp công nghiệp
nhỏ và vừa huyện Đan Phượng giai đoạn 2008 - 2012, nghiên cứu giải phápphát triển doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2012- 2020 vànhững năm tiếp theo
4 Nhiệm vụ của Luận văn-Hệ thống lý luận về phát triển DNVVN
Xác định và tổng hợp kết quả của các chính sách khuyến khích và hỗtrợ phát triển DNNVV của huyện Đan Phượng giai đoạn 2008 - 2012
Trang 7Đánh giá về những mặt được và những mặt còn tồn tại của cácchính sách khuyến khích và hỗ trợ phát triển DNNVV của huyện ĐanPhượng giai đoạn 2008 - 2012.
Đưa ra khuyến nghị về các chính sách khuyến khích và hỗ trợ phát triểnDNCNNVV giai đoạn 2012 – 2020 và những năm tiếp theo
5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử làm phương pháp nghiên cứu cơ bản
Ngoài ra, để thu thập thông tin tương đối đầy đủ và khách quan về cácvấn đề quan trọng liên quan, nhiều kỹ thuật thu thập, phân tích và tổng hợp sốliệu khác nhau đã được áp dụng và dựa trên nền tảng thu hút sự tham gia rộngrãi của các đối tượng liên quan Đánh giá đã căn cứ trên nhiều quan điểm, chủtrương đường lối lãnh đạo của Đảng, cơ chế, chính sách, quy định của nhànước, định hướng và chiến lược phát triển kinh tế của huyện, năng lực quản lý
và điều hành của cơ quan chủ trì thực hiện, nhu cầu và mức độ thoả mãn củacác đối tượng hưởng lợi là các DNCNNVV
Đề tài đồng thời sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích, tổnghợp, so sánh điểm mạnh, điểm yếu
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học
Trang 8Đề tài hệ thống hoá và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về các chínhsách phát triển DNCNNVV.
- Ý nghĩa thực tiễn
+ Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những căn cứ lý luận, thựctiễn và kiến nghị để Thành phố hoạch định chính sách phát triển bền vững chohuyện Đan Phượng
+ Đối với Trung ương, các sản phẩm nghiên cứu của đề tài sẽ là nhữngtài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách trongviệc phát triển DNCNNVV
+ Ngoài ra, việc nghiên cứu và giảng dạy ở các Viện, các trường có thểtìm thấy trong các kết quả nghiên cứu của đề tài những vấn đề phục vụ thiếtthực cho các mục tiêu nghiên cứu và đào tạo của mình về vấn đề tương tự vớinội dung nghiên cứu của đề tài
7 Cấu trúc nội dung của Luận văn
Chương 1- Tổng quan lý luận, thực tiễn về phát triển doanh nghiệp nhỏ
và vừa và doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Chương 2 - Đánh giá thực trạng phát triển DNCNNVV huyện ĐanPhượng giai đoạn 2008-2012
Chương 3- Giải pháp phát triển DNCNNVV trên địa bàn huyện ĐanPhượng, thành phố Hà Nội giai đoạn 2012 – 2020 và những năm tiếp theo
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM 1.1 Một số vấn đề lý luận về doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa
Theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/01/2001 của Chính phủ thìDNNVV Việt Nam được hiểu là cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đượcđăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷđồng, hoặc sử dụng lao động trung bình hàng năm không quá 30 người
Khái niệm doanh nghiệp vẫn còn những điểm khác biệt nhất định giữacác nước nhưng có thể hiểu doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế được thànhlập hợp pháp, có tên riêng, có địa điểm sản xuất kinh doanh ổn định, hoạtđộng kinh doanh trên thị trường nhằm mục tiêu lợi nhuận Để thuận tiện choviệc quản lý, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển, người ta thường sử dụng tiêuchí quy mô để phân loại doanh nghiệp Theo tiêu chí này các doanh nghiệpđược chia làm ba loại: doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệpnhỏ Tuy nhiên, do có nhiều đặc điểm giống nhau giữa doanh nghiệp vừa vàdoanh nghiệp nhỏ nên để đơn giản hoá, nhiều nước trên thế giới (trong đó cóViệt Nam) thường gộp chung hai loại hình doanh nghiệp này thành doanh
Trang 10nghiệp nhỏ và vừa (tại Việt Nam, các văn bản chính thức của Chính phủ vàcác cơ quan nhà nước thống nhất cách gọi là doanh nghiệp nhỏ và vừa).
Các tiêu chí được sử dụng nhiều nhất để xác định DNNVV là vốn(hoặc tài sản), lao động và doanh thu Tuy nhiên, mỗi quốc gia tuỳ theo điềukiện, trình độ phát triển cũng như các chính sách đối với DNNVV của mình
mà có thể chỉ dùng một, hai hoặc cả ba tiêu chí trên Ngoài ra, tuỳ từng lĩnhvực kinh doanh mà một số nước còn có những quy định khác nhau cho cáctiêu chí Chúng ta có thể tham khảo tiêu chí phân loại DNNVV ở một số nướctrong Bảng 1.1
Trang 11Bảng 1.1 Chỉ tiêu xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước
Nước
Tiêu chí phân loại
Số lao động (người) Bình quân
Tổng giá trị tài
sản
Doanh thu/năm
< 30 triệu JPY(264.909 USD)
Indonesia < 100
< 0,6 tỷ Rupi(63.906 USD)
< 2 tỷ Rupi(213.020
USD)Mexico < 250 < 7 triệu USD
Thái Lan < 100
< 20 triệu Baht
(654.599 USD)Hàn Quốc < 300 (ngành chế tạo, khai
khoáng)
< 200 (ngành xây dựng)
Trang 12< 20 (ngành dịch vụ)
(Nguồn:Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
DNNVV ở Việt Nam là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theoquy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy môtổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác địnhtrong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quânnăm (tổng nguồn vốn là tiếu chí ưu tiên)
Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúpphát triển DNNVV đã nêu định nghĩa DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng
ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ,nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tương đương tổng tài sản được xácđịnh trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bìnhquân
Cụ thể như sau:
- Doanh nghiệp siêu nhỏ có số lao động từ 10 người trở xuống
- Doanh nghiệp nhỏ có tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống hoặc có
số lao động từ trên 10 người đến 200 người Đối với doanh nghiệp hoạt độngthương mại và dịch vụ thì tiêu chí tổng nguồn vốn được xác định là từ 10 tỷđồng trở xụống, hoặc có số lao động từ trên 10 người đến 50 người
- Doanh nghiệp vừa có tổng nguồn vốn từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷđồng, hoặc có số lao động từ trên 200 người đến 300 người Đối với doanh
Trang 13nghiệp hoạt động thương mại và dịch vụ thì tiêu chí tổng nguồn vốn được xácđịnh là từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng, hoặc có số lao động từ trên 50người đến 100 người.
Bảng 1.2 Chỉ tiêu xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Quy mô Khu
vực
Doanh nghiệp siêu nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ
Doanh nghiệp vừa
Số lao động
Tổng nguồn vốn
Số lao động
Tổng nguồn vốn
Số lao động
I Nông, lâm
nghiệp và thuỷ
sản
10 ngườitrở xuống
20 tỷđồng trởxuống
Từ trên10ngườiđến 200người
Từ trên
20 tỷđồng đến
100 tỷđồng
Từtrên200ngườiđến300
người
II Công nghiệp
và xây dựng
10 ngườitrở xuống
20 tỷđồng trởxuống
Từ trên10ngườiđến 200người
Từ trên
20 tỷđồng đến
100 tỷđồng
Từtrên200ngườiđến
Trang 14III Thương mại
và dịch vụ
10 ngườitrở xuống
10 tỷđồng trởxuống
Từ trên10ngườiđến 50người
Từ trên
10 tỷđồng đến
50 tỷđồng
Từtrên50ngườiđến100
người
(Nguồn:Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Tùy theo phạm vi hoạt động mà người ta chia ra: Doanh nghiệp nôngnghiệp, doanh nghiệp công nghiệp, doanh nghiệp xây dựng, vv… Như vậy,doanh nghiệp công nghiệp là một loại hình doanh nghiệp hoạt động trong lĩnhvực công nghiệp mà tập thể người lao động sử dụng máy móc, nguyên vậtliệu và những tư liệu sản xuất khác để khai thác, chế tạo sản phẩm côngnghiệp
Trong luận văn này, doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa được hiểu làcác cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luậthiện hành hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp có số vốn đăng ký không quá
100 tỷ đồng và số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người
1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa
Trang 15So với các loại hình doanh nghiệp sản xuất, các doanh nghiệp côngnghiệp có các đặc trưng sau:
Nếu xét trên góc độ tổng hợp các mối quan hệ của con người trong hoạtđộng sản xuất, thì quá trình sản xuất là sự tổng hợp của 2 mặt: Mặt kỹ thuậtcủa sản xuất và mặt kinh tế - xã hội của sản xuất Trong lĩnh vực sản xuất vậtchất của xã hội, do sự phân công lao động xã hội, nền kinh tế chia thành nhiềungành như nông nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, xây dựng…Song xét trên phương diện tính chất tương tự của công nghệ sản xuất có thểcoi đó là tổng thể của hai ngành cơ bản: nông nghiệp và công nghiệp, còn cácngành khác có thể là các dạng đặc thù của hai ngành đó Vì vậy, doanh nghiệpcông nghiệp có những đặc trưng cơ bản về mặt kỹ thuật sản xuất, cũng nhưđặc trưng kinh tế - xã hội khác với các loại hình doanh nghiệp khác ở các khíacạnh chủ yếu sau:
- Trong các doanh nghiệp công nghiệp, quá trình sản xuất chủ yếu làquá trình tác động trực tiếp bằng phương pháp cơ, lý hoá của con người thôngqua một công nghệ sản xuất nhất định, làm thay đổi các đối tượng lao độngthành các sản phẩm thích ứng với nhu cầu của con người (khác với doanhnghiệp sản xuất nông nghiệp quá trình sản xuất lại bằng phương pháp sinhhọc là chủ yếu)
Trang 16- Các đối tượng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp, sau mỗichu kỳ sản xuất được thay đổi hoàn toàn về chất từ công dụng cụ thể nàychuyển sang các sản phẩm có công dụng cụ thể khác Hoặc một loại nguyênliệu sau quá trình sản xuất có thể tạo ra nhiều loại sản phẩm có công dụngkhác nhau (nếu so sánh với các doanh nghiệp nông nghiệp thì đối tượng laođộng của doanh nghiệp nông nghiệp bao gồm các động vật và thực vật sauquá trình sản xuất chỉ có sự thay đổi về lượng là chủ yếu).
- Sản phẩm của các doanh nghiệp công nghiệp có khả năng đáp ứngnhiều loại nhu cầu ở các trình độ ngày càng cao của xã hội, là hoạt động duynhất tạo ra các sản phẩm thực hiện chức năng là các tư liệu lao động trong cácngành kinh tế
Với đặc điểm về mặt kỹ thuật của sản xuất của các doanh nghiệp côngnghiệp nêu trên, trong quá trình phát triển, doanh nghiệp công nghiệp luôn cóđiều kiện phát triển về kỹ thuật, tổ chức sản xuất; dễ dàng tạo ra được một độingũ lao động có tính tổ chức, tính kỷ luật cao, có tác phong “công nghiệp”;đồng thời, có điều kiện và cần thiết phải phân công lao động ngày càng sâu,tạo điều kiện tiền đề để phát triển nền sản xuất hàng hóa ở trình độ và tínhchất cao hơn so với doanh nghiệp ở các ngành khác
Trang 17Ngoài những đặc điểm chung của doanh nghiệp công nghiệp,DNCNNVV có những đặc điểm nhất định trong quá trình phát triển Có thểnhận thấy DNCNNVV có một số đặc điểm cơ bản sau:
- Thứ nhất: tính dễ khởi sự Luật doanh nghiệp hiện nay không quyđịnh mức vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư tối thiểu, số lao động tối thiểu bắt buộckhi đăng ký doanh nghiệp Cùng với môi trường kinh doanh đang được cảithiện thì số lượng các DNCNNVV đăng ký gia tăng nhanh chóng Trong mộtchừng mực nhất định, khi việc thực thi của quy định về phá sản và giải thểdoanh nghiệp chưa thuận lợi nên một số DNCNNVV thay vì rút lui khỏi thịtrường một cách chính thức thì chọn phương án đơn giản là ngừng hoạt động.Cũng chính vì lý do đó việc thống kê số lượng DNCNNVV đang hoạt độngtrên thị trường gặp nhiều khó khăn và khó đưa ra con số chính xác
- Thứ hai: là tính linh hoạt cao theo cơ chế thị trường Đây là đặc điểmgắn liền với các DNCNNVV Do quy mô không lớn nên đầu tư của cácDNCNNVV vào các dây chuyền và máy móc công nghệ không nhiều, chính
vì lẽ đó nên sau một thời gian hoạt động nếu nhận thấy một ngành hay mộtmặt hàng kinh doanh nào đó không có lợi thì lập tức các DNCNNVV sẽchuyển hướng sang các mặt hàng và dịch vụ hiệu quả hơn Một sốDNCNNVV sau một thời gian khẳng định được uy tín và thương hiệu đã tiếnhành các biện pháp tích luỹ vốn và mở rộng quy mô để trở thành các doanh
Trang 18nghiệp lớn Tuy nhiên nhiều chủ DNCNNVV bằng lòng với quy mô doanhnghiệp mình và thể hiện tính linh hoạt cao để khẳng định vị trí thương trường.Nếu như các doanh nghiệp lớn chuyên kinh doanh một số sản phẩm hoặc dịch
vụ nhất định thì khi gặp suy thoái hoặc các tác động bất lợi từ bên ngoài thì sẽrất khó xoay sở
- Thứ ba: Là tính linh hoạt trong cạnh tranh Với xuất phát điểm là khảnăng dễ tham gia vào thị trường cũng như rút khỏi thị trường Trong cácchuỗi giá trị ngành hàng thì các DNCNNVV có thể khá dễ dàng tìm cho mìnhphân khúc phù hợp trong hợp tác với doanh nghiệp lớn Dễ phát huy bản chấthợp tác sản xuất, dễ dàng thu hút lao động với chi phí thấp, do đó tăng hiệuquả sử dụng vốn, có thể sử dụng lao động tại nhà hoặc xung quanh do đó gópphần tăng thêm thu nhập cho một bộ phận dân cư có mức sống thấp, ít xảy raxung đột giữa người lao động và người sử dụng lao động; Có thể huy độngtiềm lực của thị trường trong nước
Bên cạnh đó, chúng ta cũng có thể kể đến hàng loạt các điểm yếu củacác DNCNNVV là: khởi đầu thường thiếu các nguồn lực phát triển, đặc biệt
là các nguồn lực về tài chính và con người trong đầu tư công nghệ, đào tạocông nhân, chủ doanh nghiệp Đối với một số ngành hàng thì các DNCNNVVkhông tận dụng các lợi thế về quy mô Còn một điểm nữa đó là sự hình thành
và phát triển của các DNCNNVV phụ thuộc vào các chủ doanh nghiệp nên
Trang 19khó thu hút trí tuệ tập thể trong các quyết định dài hạn và chiến lược của cácdoanh nghiệp Điều này thể hiện qua cách thức đưa ra quyết định quan trọngmang tính chiến lược của doanh nghiệp Tại các doanh nghiệp lớn các quyếtđịnh mang chiến lược được thực hiện theo quy trình và có hệ thống, tuy nhiêntại các DNCNNVV thì quyết định này trong nhiều trường hợp mang nặng ýkiến chủ quan của chủ doanh nghiệp.
1.1.3 Sự cần thiết hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ vừa
1.1.3.1 Vai trò của doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình pháttriển kinh tế - xã hội
Ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới, các DNCNNVVđóng vai trò rất quan trọng việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế và trong mạnglưới sản xuất toàn cầu và chuỗi cung ứng hàng hoá và dịch vụ Trong điềukiện nền kinh tế Việt Nam hiện nay vai trò của các DNCNNVV được thể hiện
ở các khía cạnh khác nhau:
- Thứ nhất: Đóng góp vào kết quả hoạt động của nền kinh tế, góp phầnlàm tăng GDP Cũng như DNCNNVV ở tất cả các nước, DNCNNVV ở ViệtNam cung cấp ra thị trường nhiều loại hàng hoá khác nhau đáp ứng nhu cầusản xuất và tiêu dùng trong nước, trang thiết bị và linh kiện cần thiết cho cácngành sản xuất hàng tiêu dùng và các ngành thủ công nghiệp cũng như cáchàng hoá tiêu dùng khác Theo số liệu của Tổng cục Thống kê trong những
Trang 20năm vừa qua trung bình hàng năm DNCNNVV đã đóng góp 12% tổng sảnphẩm quốc dân (GDP) của cả nước Ngoài ra, DNCNNVV Việt Nam còntham gia phân phối sản phẩm cho nhiều ngành công nghiệp truyền thống thuhút nhiều lao động như giầy dép, chiếu cói Việc mở rộng và phát triển cácDNCNNVV sẽ góp phần không nhỏ trong việc làm tăng GDP.
- Thứ hai: Thu hút vốn của các nguồn lực có sẵn có trong dân cư Vốnđầu tư là một yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh Vốn là yếu tố cơ bản đểkhai thác và phối hợp các yếu tố khác trong kinh doanh như lao động, côngnghệ và quản lý…để tạo ra lợi nhuận Tuy nhiên một nghịch lý hiện nay làtrong khi có nhiều DN đang thiếu vốn trầm trọng thì vốn nhàn rỗi trong dân
cư còn nhiều nhưng không huy động được Khi chính sách tài chính tín dụngcủa Chính phủ và các ngân hàng chưa thực sự tạo được niềm tin đối vớinhững người có tiền đứng ra đầu tư kinh doanh, thành lập DN Dưới khíacạnh đó, DNCNNVV có vai trò to lớn trong việc huy động vốn để phát triểnkinh tế
- Thứ ba: Giúp nền kinh tế phát triển ổn định và hiệu quả hơn Trongquá trình kinh doanh, nhiều DNCNNVV có thể hỗ trợ cho các DN lớn, cungcấp những bán thành phẩm hay nguyên liệu đầu vào cho DN lớn hoặc thâmnhập vào mọi ngõ ngách thị trường mà DN lớn khó có thể với tới để phânphối các sản phẩm cuả DN lớn Bên cạnh đó, khi số DNCNNVV tăng lên sẽ
Trang 21kéo theo sự gia tăng nhanh chóng cung cấp số lượng các sản phẩm và dịch vụmới trong nền kinh tế Nhờ hoạt động với quy mô nhỏ và vừa, cácDNCNNVV có ưu thế là chuyển hướng kinh doanh nhanh từ những mặt hàngnày sang mặt hàng khác, thỏa mãn nhu cầu linh hoạt của dân cư Chính sựphát triển đó của các DNCNNVV đã làm tăng tính cạnh tranh, tính linh hoạt
và làm giảm bớt mức độ rủi ro trong nền kinh tế
- Thứ tư: Góp phần tăng cường và phát triển các mối quan hệ kinh tế CácDNCNNVV hình thành và phát triển kinh doanh trong những ngành nghề khácnhau luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau và có mối liên kết với các DN lớn.Nhiều DN nhỏ khi mới ra đời chỉ nhằm mục đích làm vệ tinh cung cấp các sảnphẩm cho các DN lớn Mối quan hệ giữa DNCNNVV và các DN lớn cũng chính
là nguyên nhân thành công của nền kinh tế Nhật Bản trong nhiều thập kỷ qua
Do đó, khi các DNCNNVV Việt Nam phát triển sẽ góp phần tăng cường cácmối quan hệ liên kết lẫn nhau giữa các DNCNNVV và giữa các DNCNNVV vớicác DN lớn Nhờ đó mà các rủi ro kinh doanh sẽ chia sẻ và góp phần tăng hiệuquả kinh tế xã hội chung
- Thứ năm: Tạo cơ hội cơ sở để hình thành các DN lớn Kinh nghiệmphát triển kinh tế ở nhiều nước cho thấy hiện nay phần lớn các công ty và cáctập đoàn kinh tế đa Quốc gia đều trưởng thành từ các DNCNNVV Với cáchxem xét đó DNCNNVV chính là nguồn tích luỹ ban đầu và là “lồng ấp” cho
Trang 22các DN lớn Hầu hết các cơ sở kinh doanh ở Việt Nam khi mới ra đời do thiếukinh nghiệm và chưa thật hiểu biết về thị trường nên họ thường lựa chọn quy
mô kinh doanh vừa và nhỏ để bắt đầu sự nghiệp kinh doanh Sau một thờigian tích luỹ thêm vốn, kinh nghiệm và khẳng định được vị thế của mình trênthị trường, họ mới tiến hành mở rộng kinh doanh và phát triển với quy mô lớnhơn Ngoài ra, DNCNNVV còn là nơi đào tạo tay nghề và trau dồi kinhnghiệm cho các cán bộ quản lý của DN lớn vì lao động thường có xu hướngchỉ làm các DNCNNVV một thời gian, sau khi có đủ kinh nghiệm và khảnăng họ sẽ chuyển sang các DN lớn để làm việc, hưởng thu nhập cao hơn.Nhờ thế, DN lớn tiết kiệm được nhiều chi phí đào tạo khi tuyển được cácnhân viên có tay nghề từ các DNCNNVV chuyển sang Như vậy có thể cácDNCNNVV còn là nơi đào tạo lao động cho các DN lớn
- Thứ sáu: Tạo việc làm cho người lao động, góp phần giảm tỉ lệ thấtnghiệp Đặc điểm chung của các DNCNNVV là ít vốn và sử dụng nhiều laođộng, do đó DNCNNVV ở tất cả các nước có thể tạo ra công ăn việc làm chomột số lượng lớn người lao động Ở nhiều nước trên thế giới, kể cả các nướcphát triển, DNCNNVV nơi tạo ra nhiều việc làm nhất Khi các DNCNNVVphát triển để tạo nhiều cơ hội tăng việc làm, thu hút lao động và giảm tỉ lệ thấtnghiệp trong nền kinh tế, qua đó góp phần giải quyết các vấn đề xã hội manglại lợi ích cho cộng đồng dân cư kể cả người thất nghiệp, phụ nữ và người tàn
Trang 23tật Với tính chất kinh doanh nhỏ, chi phí để tạo ra một chỗ để làm việc thấp,các DNCNNVV Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo ra vàtăng thêm việc làm cho nền kinh tế, góp phần giảm tỉ lệ thất nghiệp và ổnđịnh xã hội bằng cách thu hút nhiều lao động với chi phí thấp và chủ yếu bằngvốn của dân.
- Thứ bảy: Nâng cao thu nhập của dân cư góp phần xóa đói giảmnghèo, thực hiện công bằng xã hội Việt Nam là nước nông nghiệp, năng suấtcủa một nền sản xuất xã hội cũng như thu nhập của dân cư thấp Thu thập củadân cư nông thôn chủ yếu dựa vào nền nông nghiệp thuần nông Việc pháttriển các DNCNNVV ở thành thị cũng như ở nông thôn là một trong nhữngbiện pháp cơ bản đóng góp phần tăng nhanh thu nhập của các tầng lớp dân cư.Thông qua việc phát triển các DNCNNVV, lao động ở nông thôn sẽ được thuhút vào các DN nhờ đó mà thu nhập của dân cư được đa dạng hoá nâng cao.Cuộc sống của người dân nông thôn sẽ ổn định hơn và mức sống của dân cư
sẽ được nâng cao góp phần xoá đói giảm nghèo, giảm khoảng cách về thunhập giữa các tầng lớp dân cư và tăng mức độ công bằng trong nền kinh tế.Hơn nữa, do có tính năng động và linh hoạt khi các DNCNNVV phát triển sẽgóp phần giúp phát triển các ngành sản xuất truyền thống ở địa phương Việcphát triển các DNCNNVV là một trong các giải pháp thực hiện Đề án xâydựng nông thôn mới của các xã trong toàn quốc hiện nay
Trang 24- Thứ tám: Tạo điều kiện phát triển các tài năng kinh doanh Ngoài racác vai trò như đã nói ở trên, các DNCNNVV còn có vai trò trong việc pháttriển các tài năng kinh doanh Trong nhiều năm qua, đội ngũ cán bộ kinhdoanh đã gắn nhiều với cơ chế cao cấp, chưa có kinh nghiệm làm việc trongnền kinh tế thị trường Sự phát triển của các DNCNNVV có tác dụng đào tạo,chọn lọc và thử thách đội ngũ doanh nhân Sự ra đời của các DNCNNVV làmxuất hiện rất nhiều tài năng kinh doanh, đó là doanh nhân thành đạt biết cáchlàm giàu cho bản thân mình và xã hội Bằng sự tôn vinh những doanh nhângiỏi, kinh nghiệm quản lý của họ sẽ được nhân ra và truyền bá tới nhiều cánhân trong xã hội dưới nhiều kênh thông tin khác nhau, qua đó sẽ tạo ra nhiềutài năng mới cho đất nước Với khía cạnh như vậy, DNCNNVV có vai tròkhông nhỏ trong việc đào tạo lớp doanh nhân mới ở Việt Nam cũng như cácnước trên thế giới.
1.1.3.2 Những khó khăn, thách thức do chính sự hạn chế của doanh nghiệpcông nghiệp nhỏ vừa Việt Nam
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay các DNCNNVV chiếm số lượngđáng kể trong tổng số doanh nghiệp, thu hút được rất nhiều lao động của xãhội, có rất nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển và đa dạng hoá ngànhhàng, mặt hàng và thị trường, nhưng đồng thời cũng có rất nhiều khó khăn và
Trang 25hạn chế khi tham gia nền kinh tế đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tếhiện nay Những khó khăn và hạn chế đó cụ thể như sau:
- Một là, DNCNNVV hạn chế về vốn và khả năng tiếp cận với các
nguồn vốn tín dụng so với các DN lớn, những quy định chặt chẽ về việc tiếpcận các nguồn tài chính cần thiết cho sản xuất kinh doanh thực sự gây khókhăn cho các DNCNNVV Các pháp lý tài chính, tín dụng, thường xem cácDNCNNVV là những con nợ rủi ro cao Hơn nữa các DNCNNVV và các tổchức tài chính Ngân hàng thường không có mối quan hệ chặt chẽ, nên cácDNCNNVV rất khó tiếp cận các nguồn vốn chính thức Việc huy động vốn từcác nguồn không chính thức thường là lãi suất cao, khiến cho chi phí vốn trởlên đắt đỏ và DN không còn đảm bảo được tính cạnh tranh Thực tế này đượcphản ánh trong nhiều báo cáo điều tra mới đây về DNCNNVV ở một số nướclựa chọn Kết quả điều tra cho thấy tài chính là vấn đề khó khăn nhất hiện nayđối với các DNNVV nói chung, DNCNNVV nói riêng
Thực tế này cũng đúng đối với các DNCNNVV khi mà khả năng vàđiều kiện tiếp cận các nguồn vốn trên thị trường tài chính, tín dụng của họ bịhạn chế và gặp nhiều khó khăn như: Không đủ tài sản thế chấp; không đủ độtin cậy và rủi ro cao; các lô hàng và các món vay thường nhỏ lẻ, vụn vặt,không thường xuyên, thủ tục ít chặt chẽ nên các Ngân hàng và các tổ chức tíndụng thường không muốn cho vay vì hiệu quả vay thấp
Trang 26Mức lãi suất cho vay còn quá cao so với mức lợi nhuận có thể thu được
từ kinh doanh; Số lượng vốn được vay ít; Thời hạn được vay quá ngắn khôngphù hợp với chu kỳ kinh doanh sản phẩm; Hình thức và pháp lý tín dụngnghèo nàn, đơn điệu, hiệu quả pháp lý thấp…
- Hai là, DNCNNVV thường khó khăn, lúng túng và chịu chi phí caotrong tác nghiệp các nghiệp vụ kinh doanh cụ thể, đặc biệt là trong các khâubảo quản, giao nhận và vận tải hàng hoá Đặc điểm cơ bản của DNCNNVV làđội ngũ nhân lực yếu, trình độ chuyên môn hoá thấp, thiếu các cán bộ nghiệp
vụ giỏi, nhất là cán bộ có nghiệp vụ về thị trường, đồng thời các cơ sở vậtchất kỹ thuật của phần lớn các DN này là nghèo nàn lạc hậu, thiếu các trangthiết bị cần thiết như kho tàng, phương tiện vận tải, phương tiện thông tin…nên khi thực hiện một số lô hàng, đặc biệt các loại hàng nông sản, hải sản, thủcông mỹ nghệ khó bảo quản, dễ bị xuống cấp, gặp nhiều khó khắn và lúngtúng trong các khâu đóng gói, in mã hiệu, tập kết hàng hoá, khai báo và làmthủ tục Hải quan Thời gian tác nghiệp công đoạn này kéo dài, chi phí cao,gây chậm trễ cho quá trình kinh doanh, thậm chí nhiều khi không bảo đảmđược thời gian giao hàng dễ bị người mua từ chối hàng hoặc giảm giá, gâynhiều thiệt hại cho DN Một hạn chế rất lớn xuất phát từ đặc thù phổ biến củacác lô hàng mà DNCNNVV kinh doanh nhỏ lẻ và manh mún nên rất khó khăntrong việc thuê phương tiện để vận chuyển và phải chịu giá cước cao Ngoài
Trang 27cước phí cao còn phải chịu rất nhiều loại lệ phí và chi phí khác làm cho giáthành hàng hoá bị đội lên rất nhiều, kết hợp với hao hụt, như hư hỏng trênđường vận chuyển dẫn đến giảm đáng kể sức cạnh tranh và hiệu quả kinhdoanh Kinh doanh hàng hoá ở các vùng miền núi lại càng khó khăn, nhiềusản phẩm có giá trị cao như mận tam ho, bưởi phúc trạch…nhưng do khôngvận chuyển, bảo quản được, nên phải đem bán tháo với giá rẻ Đây là mộtnguyên nhân cơ bản gây cản trở cho việc thúc đẩy các DNCNNVV phát triểntrong thời gian qua.
- Ba là, Hạn chế về thông tin giá cả, khách hàng và khả năng tiếp cậpvới thị trường Trong thời đại công nghệ phát triển cao và xu thế hội nhậpngày càng nhanh chóng hiện đại, kịp thời, cập nhật và chất lượng cao về thịtrường, về khoa học công nghệ về sản phẩm thay thế, về đối thủ cạnh tranh…
là vô cùng quan trọng trong việc ra các quyết định sản phẩm kinh doanh của
DN Tuy nhiên các DNCNNVV khó có thể tiếp cận các nguồn tin như vậy vì:Khả năng tài chính có hạn; Trình độ kiến thức và năng lực thu nhập xử lýthông tin của DN yếu; Thiếu sự hỗ trợ thiết thực và hiệu quả của Nhà nước vàcác trung tâm hỗ trợ thông tin…
Đối với một DN hoạt động trong cơ chế kinh tế thị trường, thị trườngđầu ra là yếu tố sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của DN Song không
Trang 28phải DNCNNVV nào cũng có thể tự mình tìm kiếm và tạo dựng được thịtrường tiêu thụ sản phẩm.
- Bốn là, Hạn chế về xúc tiến bán hàng marketing Các DN lớn thường
tự chịu trách nhiệm về xúc tiến bán hàng, tự mình đứng ra thiết lập các kênhmarketing, xây dựng hệ thống thông tin thương mại và các văn phòng đại diệncủa bản thân doanh nghiệp Trong khi đó, các DNCNNVV do thiếu kiến thứcthâm nhập được vào thị trường mà các kênh marketing; không tự mình xâydựng được mạng lưới marketing đã hoàn chỉnh, không biết tiếp cận việc cungcấp các dịch vụ sửa chữa, dịch vụ kỹ thuật, không có nguồn lực để thực hiệnxúc tiến bán hàng và cung cấp dịch vụ trong nước còn kém phát triển…nêncác DNCNNVV thường rất bị động trong kinh doanh
- Năm là, Hạn chế về nhân lực và lao động được đào tạo Nguồn nhânlực là một yếu tố nội lực quan trọng hàng đầu của mọi loại hình doanh nghiệp,năng suất, chất lượng lao động và hiệu quả của quá trình quản lý sẽ quyếtđịnh thành bại của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh Thực tếthì DNCNNVV nơi tạo việc làm cho những người lần đầu tiên (thường lànhững người chưa được đào tạo, chưa có nghề gì) tham gia thị trường laođộng Họ được DNCNNV nhận vào làm, được học nghề để có thể đảm nhậncông việc, nhưng khi có nghế rồi họ thường hướng tới những nơi có triểnvọng tốt hơn DNCNNVV lại thường không có khả năng để tiếp nhận nhưng
Trang 29lao động lành nghề hay các chuyên gia đã được đào tạo Tình trạng lao độngkhông được đào tạo và tay nghề thấp là phổ biến ở các DNCNNVV Có thểnói rằng sự hạn chế nhân lực và lao động được đào tạo của DNCNNVV cóthể dẫn đến hậu quả sau: Năng suất và chất lượng lao động kém; Chi phí lớn,giá thành cao; Khả năng ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệcủa thời đại vào sản xuất kinh doanh hạn chế; Quá trình tác nghiệp các nghiệp
vụ kinh doanh kéo dài, chậm trễ và nhiều sai sót, chi phí rủi ro cao; Quá trìnhquản lý hiệu quả thấp dẫn đến hàng hoá thiếu sức cạnh tranh; Thiếu khả năngcập nhật các nguồn thông tin về giá cả hàng hoá, về khách hàng, bạn hàng vàđối tác cạnh tranh trên thị trường; Hạn chế về khả năng ứng xử và đối phó kịpthời với biến động trên thị trường, với những quy định và rào cản thương mại.1.1.3.3 Những khó khăn, thách thức do quá trình hội nhập quốc tế và thựchiện cam kết WTO
Đặc trưng thương mại trong khuôn khổ các quy định của WTO là cácnước thành viên phải dỡ bỏ rào cản thương mại không cần thiết, mở cửa thịtrường nội địa hàng hoá nước khác và thực thi thương mại theo một số chuẩnmực chung:
- Thuế nhập khẩu được ban hành theo hệ thống mã số chung mà phảicam kết giảm dần (cam kết thuế trần và lộ trình giảm) Do đó nếu nhà nướckhông thay đổi các biện pháp hỗ trợ, thì các DNCNNVV kinh doanh hàng
Trang 30hoá trong nước sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi cạnh tranh với hàng nước ngoàitrên trị trường nội địa Trong điều kiện hàng rào thuế quan bị hạ thấp, doanhnghiệp công nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam không đủ tiềm lực để nhập khẩuhàng nước ngoài, gặp khó khăn khi kinh doanh hàng trong nước, đồng thờiphải nỗ lực rất nhiều mới có thể hưởng lợi từ đẩy mạnh xuất khẩu Để tăngnăng lực cạnh tranh, doanh nghiệp cần có sự hỗ trợ tăng cường của nhà nướctheo những cách mà WTO không cấm.
- Giảm dần đi tới xoá bỏ các hạn chế số lượng nhập khẩu, kinh doanhhàng hóa sản xuất trong nước và hàng hoá nhập khẩu chỉ còn khác biệt trongđối xử nhà nước về mức thuế quan không lớn Do đó, nếu các DNCNNVVkinh doanh hàng hoá sản xuất trong nước không có sức cạnh tranh với hàngnhập khẩu mà sự cứu nguy bằng các biện pháp hành chính Nhà nước khôngcòn Trong điều kiện đó, DNCNNVV không có lợi thế cạnh tranh sẽ có nguy
cơ phá sản hàng loạt Vì vậy, nhà nước cần hỗ trợ doanh nghiệp để họ nângcao năng lực cạnh tranh
- Thủ tục cần thiết liên quan đến xuất, nhập khẩu được từng bướcchuẩn hoá theo tiêu chuẩn Quốc tế để các nhà xuất nhập khẩu không phải chịunhững chi phí không cần thiết, nhất là các thủ tục hải quan, về công nhận tiêuchuẩn hàng hoá, về vận chuyển… Rất nhiều thủ tục này đã quen thuộc vớidoanh nghiệp ở các nước phát triển, nhưng doanh nghiệp nhỏ vừa nước ta còn
Trang 31hết sức bỡ ngỡ Vì thế, để giúp doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa chủđộng trong tham gia thương mại cũng như để giảm chi phí giao dịch chodoanh nghiệp, ngoài việc hướng dẫn, tuyên truyền, cần đào tạo kỹ năngthương mại theo chuẩn mực Quốc tế cho DNCNNVV
- Các nước thành viên không những phải mở cửa thị trường trong nướccho hàng hoá mà còn mở cửa cho thương gia, vốn là lao động nước ngoài,nhất là trong lĩnh vực thương mại dịch vụ Chính vì thế, DNCNNVV khôngnhững phải cạnh tranh về mặt hàng phân phối trên thị trường nội địa mà cònphải cạnh tranh với các đối thủ là doanh nghiệp và lao động nước ngoài Nếunhà nước không hỗ trợ để doanh nghiệp trưởng thành, có được kỹ năng laođộng cần thiết sẽ mất cơ hội đầu tư và việc làm ngay trên thị trường của mình
1.2 Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa
1.2.1 Khái niệm, chức năng của chính sách hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa
Trang 32- Theo France ELLis “Chính sách được xác định như là đường lối hoạtđộng của Chính phủ chọn đối với mọi lĩnh vực của nền kinh tế, kể cả mục tiêu
mà Chính phủ tìm kiếm và lựa chon phương pháp để theo đuổi mục tiêu đó
“[22Tr.23]
- Thmas R.Dye đưa ra một định nghĩa ngắn gọn hơn: “chính sách công
là cái mà Chính phủ lựa chọn làm hay không làm” [26,Tr.7]
- Chính sách là một quá trình hành động có mục đích và một số cá nhânhoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề(James Anderson 1003) [26,Tr.11]
- Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhaucủa một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựachọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó (Willam Jenkin
1978 [21,Tr.7]
- Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quanlẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan nhànước hay các quan trức nhà nước đề ra (Willam N Dunn,1992) [21,TR.7]
- Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do chính phủ tiếnhành (Peter Aucoin 1971) [21, Tr.11];
Trang 33- Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởngmột cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân (B Guy Pêtr1990) [21 Tr11].
- Theo Charles O Jones (1984), chính sách công là một tập hợp các yếu
tố gồm: i) Dự định (intentión): mong muốn của chính quyền ; 2i) Mục tiêu(goals): dự định được tuyên bố và cụ thể hoá; 3i) Đề xuất (proposals): cáccách thức để đạt được mục tiêu; 4i) Các quyết định hay lựa chọn (decisions orchoices); 5i) Hiệu lực (effects);
- Kraft và Furlong (2004) đưa ra một định nghĩa tổng hợp hơn Theo
đó, chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động củachính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng Nó được kết hợp với các cáchthức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũngnhư các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện nhữngchương trình [40.Tr.56]
Trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt, “chính sách là chủ trương và cácbiện pháp của một Đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xãhội; như chính sách đối ngoại của nhà nước, chính sách dân tộc” [12, Tr.213]
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, thì chính sách được hiểu là “nhữngchuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiệntrong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất,
Trang 34nội dung và phương hướng của chính sách tuỳ thuộc tính chất của đường lối,nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá…”[71,Tr.416].
Theo TS Lê Chi Mai “chính sách là chương trình hành động do cácnhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm
vi thẩm quyền của họ” [32]
Theo TS Lê Vinh Danh định nghĩa một cách vắn tắt “chính sách công
là những gì mà chính quyền thi hành đến dân” với sự lý giải rằng chính sáchcông được hoạch định và thực thi các cơ quan nhà nước và có công tác độngthực tế đến đời sống, hoạt động của dân cư
Tiến sĩ Đinh Thị Nga trong “chính sách kinh tế và năng lực cạnh tranhdoanh nghiệp” định nghĩa “hệ thống chính sách kinh tế của nhà nước nhằmnâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là các biện pháp, cách thức sửdụng các công cụ kinh tế tác động vào nền kinh tế nhằm hỗ trợ doanh nghiệptiếp cận nguồn lực đầu vào, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm,tăng cường khả năng tiếp cân thị trường để doanh nghiệp phát triển, tồn tạibền vững trên thị trường, đạt mức tăng trưởng về doanh thu và lợi nhuận ngàycàng tăng”[76]
Giáo trình “Chính sách kinh tế - xã hội” của trường Đại học kinh tếquốc dân, các tác giả đồng nghĩa chính sách công với chính sách kinh tế - xãhội và đưa ra định nghĩa: “Chính sách kinh tế - xã hội là tổng thể các quan
Trang 35điểm, tư tưởng và khách thể quản lý nhằm giải quyết vấn đề chính sách thựchiện mục tiêu nhất định theo hướng mục tiêu tổng thể của xã hội” [11,Tr.15].
Những quan điểm trên đề cập đến phạm trù chính sách theo những khíacạnh khác nhau và theo những mục đích khác nhau Tuy nhiên, có thể thấynhững từ khóa chính của khái niệm chính sách gồm; vấn đề, chính quyền và
sự lựa chọn Có một vấn đề kinh tế - xã hội nào đó xuất hiện Chính quyền sẽlựa chọn nội dung, mục tiêu và cách thức giải quyết một vấn đề nào đó (đểcho vấn tự phát triển cũng là một cách giải quyết) Sự lựa chọn đưa đến quyếtđịnh và toàn bộ quy trình này được đặt trong một môi trường tương tác củacác tác nhân chính sách, tạo ra hàng loạt các ràng buộc trước khi chính sáchxuất hiện và các tác động sau đó từ sự chi phối của những điều kiện này, dẫnđến các cách thể hiện khác nhau trong các vai trò chính sách (policy actcor)
và quy trình chính sách (policymaking processing) Một số nước công khaithể hiện vai trò của nhóm lợi ích, một số khác là sự chi phối của các Đảngphái chính trị, ở nơi này quy trình chính sách nặng về kỹ thuật, ở nơi khác lại
là sự thoả hiệp hay áp đặt
Như vậy, khi đề cập đến phạm trù chính sách thì nội hàm của nó phảibao gồm các yếu tố cấu thành sau đây:
- Chủ thể đề ra và triển khai thực hiện chính sách là chủ thể quản lý của
hệ thống quản lý, trong đó chính sách được đề ra và tổ chức thực hiện Tuỳ
Trang 36theo các hệ thống quản lý khác nhau có chính sách khác nhau như chính sáchcủa một cơ quan, doanh nghiêp, ngành, quốc gia, quốc tế…, trong đó bộ máyquản lý tương ứng của cơ quan, doanh nghiệp, ngành, quốc gia, tổ chức quốctế… là chủ đề thể của chính sách Không có khái niệm chính sách mà khônggắn với một chủ thể nào đó.
- Chính sách luôn gắn với những mục tiêu cụ thể Mục tiêu của chínhsách có thể được hiểu theo nghĩa rộng, có nghĩa đạt tới trạng thái mong đợicủa hệ thống quản lý, cũng có thể được hiểu theo nghĩa hẹp, tức là giải quyếtmột nhu cầu, một vấn đề mới xuất hiện của hệ thống quản lý Mục tiêu củachính sách có thể xét trên góc độ tổng thể hệ thống, do đó mang tính toàn diệnnhư mục tiêu tăng trưởng, mục tiêu phát triển…, cũng có thể xét trên một mặtnào đó của hệ thống như mục tiêu thu nhập, mục tiêu mở rộng quy mô, mụctiêu cải cách cơ cấu…Mục tiêu khác nhau quy định chính sách khác nhau.Nhưng không có khái niệm chính sách mà không gắn với mục tiêu và nỗ lựcđạt được mục tiêu của cơ quan thực hiện chính sách
- Chính sách còn bao hàm trong nó cả cách thức hành động để đạt tớimục tiêu mong muốn Cách thức hành động ở đây bao hàm nhiều nội dung từ
hệ quan điểm chỉ đạo hành động của chủ thể chính sách đến phương hướng,phương án, phương tiện, công cụ và nguồn lực thực thi chính sách trong thựctiễn, kể cả tiêu chí đánh giá chính sách Phương thức hành động có thể bao
Trang 37hàm cả sự phân chia trách nhiệm và quyền hạn trong bộ máy quản lý của hệthống nếu mục tiêu của chính sách đổi thì có sự cơ cấu lại.
Nói tóm lại, chính sách là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giảipháp và công cụ mà nhà nước sử dụng tác động lên các chủ thể kinh tế - xãhội nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định theo hướng mục tiêu tổng thểcủa đất nước
Chính sách là một khái niệm phức tạp, bao hàm trong nó có giác độnhận thức (hệ quan điểm lý thuyết làm cơ sở cho hoạch định chính sách), cảgiác độ hành động thực tế (mục tiêu, phương tiện, phương pháp, thái độ thựcthi chính sách); cả giác độ kinh tế (so sánh lợi ích và chi phí khi hoạch định
và thực hiện), cả giác độ khoa học kỹ thuật (phương tiện, phương án thực thichính sách phải có căn cứ khoa học thuyết phục), cả giác độ xã hội (tác độngcủa chính sách tới các nhóm dân cư và môi trường)…Do đó, tuỳ theo mụcđích xem xét của các nhà nghiên cứu và các hoạch định chính sách mà kháiniệm chính sách được xác định khác nhau
So với luật pháp, chính sách có độ co giãn và mềm dẻo, khi đó chínhsách là sự kết hợp chặt chẽ giữa các nhân tố chủ quan với các điều kiện kháchquan Mặt khác, trong nhiều trường hợp, các biện pháp chính sách phải mượncon đường luật pháp để đưa vào cuộc sống
Trang 38Có nhiều cách phân loại chính sách kinh tế như: Theo các lĩnh vực hoạtđộng của các nền kinh tế; theo phạm vi ảnh hưởng của chính sách, theo thờigian phát huy hiệu lực và theo cấp độ của chính sách Mỗi chính có một mụctiêu riêng, tác động vào lĩnh vực cụ thể nền kinh tế, song đều có ảnh hưởngđến lĩnh vực khác, do vậy trong quá trình thực hiện chính sách, một trongnhững yếu tố đem lại hiệu quả cao là sự phối hợp đồng bộ giữa cách chínhsách.
Từ những phân tích trên cần đặt ra các yêu cầu khi thiết kế các chínhsách là phải đảm bảo tính hệ thống, tính đồng bộ và tính thực tiễn Đây là bayêu cầu cơ bản, quyết định đến hiệu quả trong thực thi chính sách nhằm
“cộng hưởng” các tác động đồng hướng và hạn chế các tác động ngược chiềukhi thực hiện chính sách Tất cả những yêu cầu đó chính là sự thể hiện quanđiểm khoa học khi xây dựng, hoạch định chính sách, trong đó cần nhấn mạnhđến sự tôn trọng quy luật khách quan khi xây dựng và triển khai chính sáchtrong đời sống xã hội
Trên cơ sở quan niệm như vậy, có thể hiểu; chính sách hỗ trợDNCNNVV là tổng thể các quan điểm, chủ trương, đường lối, phương pháp
và công cụ mà nhà nước sử dụng để tác động đối với khu vực DNCNNVVnhằm thực hiện các mục tiêu Nhà nước mong muốn ở DNCNNVV
Trang 391.2.1.2 Các chức năng cơ bản của chính sách hỗ trợ doanh nghiệp côngnghiệp nhỏ và vừa
Tương tự các chính sách khác, chính sách hỗ trợ DNCNNVV cũng có
ba chức năng cơ bản đó là chức năng định hướng, chức năng điều tiết, chứcnăng tạo tiền đề để phát triển và khuyến khích phát triển cho các DNCNNVVtrong phạm vi của vùng lãnh thổ
- Chức năng định hướng: Được thể hiện thông qua việc chính sách hỗtrợ DNCNNVV xác định những chỉ dẫn chung cho quá trình ra quyết địnhcủa các chủ doanh nghiệp liên quan đến các hoạt động phát triển doanhnghiệp Chính sách hỗ trợ DNCNNVV đề ra giới hạn cho phép của các quyếtđịnh, nhắc nhở các chủ thể những quyết định nào có thể (nằm trong khuônkhổ cho phép của chính sách) và những quyết định nào là không thể (khôngnằm trong khuôn khổ cho phép của chính sách) Bằng cách đó chính sáchhướng các hoạt động liên quan tới việc thực hiện việc phát triển DNCNNVV.Chức năng định hướng luôn được coi là một trong những chức năng quantrọng nhất của chính sách hỗ trợ DNCNNVV Điều này được khẳng định bởivai trò định hướng tới việc đạt được những mục tiêu đã đề ra của mỗi quốcgia, vùng địa phương Chính sách hỗ trợ DNCNNVV định hướng các doanhnghiệp đầu tư phát triển theo ưu tiên cơ cấu ngành, các khu vực cần thiết theoquy hoạch để đảm bảo môi trường, phát triển bền vững vùng địa phương, giải
Trang 40quyết công ăn việc làm, kết hợp với phát triển công nghệ cao, định hướngphát triển thương mại với vai trò dẫn dắt các ngành kinh tế khác trong nềnkinh tế quốc dân.
- Chức năng điều tiết: Ba vai trò quan trọng nhất của nhà nước trongnền kinh tế thị trường được xác định là huy động nguồn lực, phân bổ nguồnlực và bình ổn kinh tế nhằm đảm bảo tính hiệu quả trong sử dụng nguồn lực,tạo nên ổn định xã hội và tăng trưởng bền vững Ở góc độ này, chính sách hỗtrợ DNCNNVV được ban hành nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh, thựchiện chức năng điều tiết trong phát triển vùng địa phương Chính sách hỗ trợDNCNNVV điều tiết khắc phục tình trạng mất cân đối trong việc sử dụng,phát huy hiệu quả nguồn lực của xã hội, điều tiết những hành vi, hoạt độngkhông phù hợp trong phát triển kinh tế, nhằm tạo ra một hành lang pháp lýcho các hoạt động thương mại hướng tới việc đạt được các mục tiêu đã đề ra
- Chức năng tạo tiền đề và khuyến khích phát triển: Chính sách hỗ trợDNCNNVV là công cụ nhằm thực hiện chức năng tạo tiền đề, khuyến khích
và dẫn dắt các ngành kinh tế xã hội phát triển theo xu hướng đã đề ra Chínhsách hỗ trợ DNCNNVV hướng tới thúc đẩy tăng trưởng bền vững cho ngànhthương mại của địa phương thông qua việc xây dựng môi trường thuận lợicho doanh nghiệp, thực hiện các chính sách tăng cường hỗ trợ DNCNNV:Tạo thuận lợi để các DN có mặt và đầu tư, tiếp cận thị trường,…