Khảo sát và dịch chú tác phẩm LUẬN NGỮ TINH HOA của Nguyễn Phúc Ưng Trình
Trang 1Đại học Quốc gia Hà Nội Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
LUẬN NGỮ TINH HOA
của Nguyễn Phúc Ưng Trình
Giáo viên hướng dẫn : Ths Đinh Thanh Hiếu
Họ và tên : Đỗ Hoàng Tú Anh
Mã số SV : 07030014
Lớp : Hán Nôm
Khóa : K52
Hà nội, 12/2009
Trang 2MỤC LỤC
I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Phạm vi đề tài và phương pháp nhiên cứu 4
3 Đóng góp của đề tài 5
4 Bố cục của Niên luận 5
5 Quy cách trình bày 6
II PHẦN NỘI DUNG A Tác giả - Tác phẩm 1 Tác giả Ưng Trình 7
2 Tác phẩm Luận ngữ tinh hoa 2.1 Hoàn cảnh ra đời 8
2.2 Tình hình văn bản 9
2.3 Hình thức và bố cục 9
2.4 Nội dung chính 11
2.5 So sánh cách phân chia thiên mục của Luận ngữ tinh hoa với cách phân chia thiên mục các tác phẩm viết về Luận ngữ khác 15
Trang 32.6 Vị trí và vai trò của Luận ngữ tinh hoa trong di sản
Hán Nôm Việt Nam 19
3 Kết luận 23
B Dịch chú tác phẩm 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC (NGUYÊN BẢN)
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ khi Tứ thư được coi là bộ kinh điển sử dụng chính thống trong khoa cử
để kén chọn hiền sĩ, việc thông làu Tứ thư là yếu tố bắt buộc với những người muốn tiến thân vào con đường làm chính trị Nhắc tới Tứ thư không thể không
nhắc tới sách Luận ngữ, bộ sách đặt nền móng cho mọi tư tưởng, triết lý sâu xa khác trong Đại học, Trung Dung và Mạnh Tử Muốn hiểu được ba bộ sách còn lại, buộc người học phải thông hiểu được Luận ngữ.
Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về sự tiếp thu Nho học ở Việt Nam, mà phương pháp tiếp cận chủ yếu là tìm hiểu, khảo sát các truyền bản, dịch chú các
tác phẩm kinh điển của Nho giáo như Tứ thư, Ngũ kinh, mà Luận ngữ, tác phẩm đứng đầu trong Tứ thư, được chú trọng nhất Các tác phẩm viết về Luận ngữ tại Việt Nam đã có như Luận ngữ chế nghĩa 論 語 制 義 語 制 義 制 義 義, Luận ngữ chính văn tiểu
đối 論 語 制 義 語 制 義 正 文 小 對 文 小 對 小 對 對, Luận ngữ ngu án 論 語 制 義 語 制 義 愚 按 按 ( Phạm Nguyễn Du ) ,
Luận ngữ tập nghĩa 論 語 制 義 語 制 義 集 義 義, Luận ngữ thích nghĩa ca 論 語 制 義 語 制 義 釋 義 歌 義 歌 ( Tự
Đức biên soạn ) , Luận ngữ tiết yếu 論 語 制 義 語 制 義 節 要 要 ( Lê Văn Ngữ ) , Luận ngữ tinh
nghĩa 論 語 制 義 語 制 義 精 義 義 , Luận thuyết tập 論 語 制 義 說 集 集 義 và Luận ngữ tinh hoa 論 語 制 義 語 制 義 菁 華 華 ( Ưng Trình )
Trang 5Trong Niên luận này, chúng tôi quyết định chọn Luận ngữ tinh hoa của tác
gia Ưng Trình để tiến hành tìm hiểu và khảo sát Sở dĩ chúng tôi chọn cuốn sách này là vì những lý do đặc biệt như hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, nội dung tư tưởng và dụng ý của tác giả khi phân chia các thiên mục Ngoài ra, mục “Hải
ngoại” trong Khổng Tử đại từ điển có nhắc tới cuốn sách này sau cuốn Khổng học đăng của Phan Bội Châu, trong khi một số tác phẩm viết về Luận ngữ nổi tiếng khác như Luận ngữ ngu án hay Luận ngữ tiết yếu không được nhắc tới Luận ngữ tinh hoa không đơn thuần chỉ là một tác phẩm được viết theo hình thức tiết yếu của sách Luận ngữ, nó chắt lọc những gì mà tác giả coi tinh túy nhất, giá trị nhất của sách Luận ngữ mà viết nên.
2 Phạm vi đề tài và phương pháp nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi cố gắng làm rõ những vần đề liên quan tới sự ra đời và nội dung tư tưởng của tác phẩm Trên cơ sở đó đưa ra cái nhìn tổng quát nhất về bối cảnh lịch sử, quan niệm và sự tiếp thu Nho giáo thời bấy giờ.
Để giải quyết các vấn đề đã nêu ở trên, chúng tôi đã sử dụng phương pháp phân tích, mô tả, tổng hợp, so sánh và không thể thiếu phần phiên âm, dịch nghĩa, chú giải cho tác phẩm.
Trang 63 Đóng góp của đề tài
Khi tiến hành nghiên cứu theo phạm vi đặt ra, chúng tôi muốn đi sâu tìm hiểu bối cảnh lịch sử và cung cấp một bản dịch chú đầy đủ của một tác phẩm tìm hiểu kinh điển tại Việt Nam trong buổi giao thời Ngoài ra chúng tôi cũng tiến hành khảo cứu tác phẩm thông qua phần phiên âm,dịch nghĩa và chú thích tác phẩm Đóng góp chính của Niên luận này là đưa ra cái nhìn tổng quan nhất về lịch sử Việt Nam và sự thay đổi trong quan niệm Nho giáo của tầng lớp cai trị, cũng như tầng lớp trí thức Việt Nam trong buổi giao thời.
4 Bố cục Niên luận
Niên luận này được chia làm hai phần lớn là phần Mở đầu và phần Nội dung, ngoài ra còn có phần Phụ lục và phần Tài liệu tham khảo Các vấn đề chính được giải quyết ở phần Nội dung Bố cục như sau :
Trang 7 So sánh cách phân chia thiên mục của tác phẩm với một số tác phẩm Luận ngữ khác như Luận ngữ tiết yếu, Luận ngữ ngu án
- Tên tác phẩm : Viết hoa chữ cái đầu, in nghiêng.
- Phiên âm Hán Việt : In nghiêng.
Trang 8PHẦN NỘI DUNG
A Tác giả - Tác phẩm
1 Tác giả Ưng Trình
Ưng Trình ( chưa rõ năm sinh năm mất ) tên thật
Tịnh Viên - Bến ngự ( Huế ), nguyên là Hiệp Tá Ðại
Học Sĩ, đại thần Cơ Mật viện, Tôn Nhân Phủ Ðại Thần
(1936) và Thượng Thư Vợ là Trần Thị Như Uyển,
cũng dòng dõi quan lại cấp Thượng Thư Ưng Trình là
con của Hường Khẳng, cháu gọi Tùng Thiện Vương là
ông nội Ông sinh ra và lớn lên trong gia đình hoàng
tộc Năm Quý Mùi (1823), năm thứ tư triều Minh Mạng, Vua định phép đặt tên cho cả Hoàng gia, làm thành 11 bài thơ chạm vào Kim sách và Ngân sách Bản Kim sách chạm vào Đế hệ thi:
Miên, Hường, Ưng, Bửu, Vĩnh Bảo, Quý, Định, Long, Trường Hiền, Năng, Kham, Kế, Thuật Thế, Thoại, Quốc, Gia, Xương Nói như vậy thì Ưng Trình thuộc hàng thứ ba trong đế hệ Nguyễn tộc Ông đã từng giữ nhiều chức vị quan trọng trong triều đình nhà Nguyễn dưới thời Bảo Đại Chính vì vậy mà ông đã được chứng kiến nhiều biến cố của đất nước Ông không những là một chính trị gia luôn được tham gia vào những sự kiện lớn của triều đình nhà Nguyễn, mà về mặt văn hóa ông còn là một nhà viết sách, tác
phẩm Luận ngữ tinh hoa do ông biên soạn và viết biền ngôn năm Duy Tân Giáp
Trang 9Dần (1914) khi ông đang giữ chức Quốc Tử Giám Tư nghiệp ( Hiệu phó) Ngoài
ra ông cùng người con trai thứ hai là Linh Mục Bửu Dưỡng đã viết cuốn sách
Tùng Thiện Vương, tiểu sử và thi văn được in năm 1970.
2 Tác phẩm Luận ngữ tinh hoa
* Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
Giai đoạn đầu thế kỷ XX mà tác giả Ưng Trình sống là giai đoạn đầy những biến động trong lịch sử Việt Nam cũng như lịch sử thế giới Thời kì này
xã hội Việt Nam đang chuyển biến mạnh mẽ Chế độ phong kiến đang trên đà sụp
đổ, hệ tư tưởng Nho giáo trải qua thời kỳ cực thịnh đã đến giai đoạn suy vi, nhường chỗ cho luồng tư tưởng mới Tây Âu tân tiến xâm nhập Tầng lớp trí thức
ít nhiều đã bị ảnh hưởng bởi văn hóa phương Tây, Nho giáo không còn được chú trọng như trước nữa Trong khoa thi Hương, ngoài các môn chữ Nho còn có thêm các môn khác như cách trí, sử kí, địa dư, toán pháp dạy bằng chữ quốc ngữ
Luận ngữ tinh hoa Đây là tác phẩm được viết và ra đời vào thời điểm nhạy cảm
của văn hóa Việt Nam, văn hóa phương Tây và Nho giáo cùng song song tồn tại.
Ở phần biền ngôn, tác giả Ưng Trình có viết lý do biên soạn tác phẩm : “ Trộm nghĩ những cách ngôn của Khổng Tử về đạo đời và lòng người đều đầy đủ
trong sách Luận ngữ, mà sách Tề luận hai mươi hai thiên, Cổ luận hai mốt thiên,
Lỗ luận hai mươi thiên đều do người ghi biên soạn, phân hợp thiên chương, tản
mạn không có điều mục Nay nhân lúc nhàn rỗi, ôn lại điều cũ mà phân trích thành thiên mục, dùng như vị bánh để các học trò tiện ghi nhớ” Cách phân chia
Trang 10các thiên mục của tác phẩm cũng nhằm mang tới cho người đọc cách tiếp cận và
thông hiểu những câu trích lục trong Luận ngữ một cách dễ dàng nhất.
* Tình hình văn bản
Hiện văn bản Luận ngữ tinh hoa ( hoặc Luận ngữ tanh hoa) đang được lưu
trữ tại thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm với các kí hiệu là Vhv.775; Vhv.501;
VHv.776 Ba ký hiệu nhưng lại là một bản giống nhau được tác giả Ưng Trình
biên soạn và viết biền ngôn năm Duy Tân Giáp Dần (1914) Bài tựa của sách do
Tế tửu (Hiệu trưởng) Mã Phong tử Đặng Văn Thụy viết, bài bạt do Tạ Thúc Đĩnh và Nguyễn Văn Trình viết (1914) Sách là bản khắc in gồm 96 trang, mỗi trang chia thành bốn cột dọc, viết từ phải sang trái Mỗi cột có trung bình từ 11 đến 13 chữ Các chữ có khoảng cách khá rộng Bài tựa và bài bạt vết bằng lối chữ hành thảo tương đối khó nhìn, phần biền ngôn viết bằng chữ lệ, còn phần chính văn viết bằng lối chữ khải chân phương rất đẹp và dễ nhìn Bài tựa và bài bạt được viết theo lối viết đài, chia thành sáu cột dọc, viết từ phải sang trái, mỗi cột trung bình từ 13 đến 15 chữ, khoảng cách giũa các chữ khá nhỏ nhưng vẫn có thể phân biệt được Toàn sách được chia thành tám thiên, mỗi thiên bao gồm
nhiều câu được trích lục từ các thiên trong Luận ngữ, dưới mỗi câu có ghi xuất
chọn để trích dẫn không giống nhau Có thể ông không trích dẫn toàn chương mà
Cũng có trường hợp một chương trong nguyên văn được ông tách ra và đưa vào
Trang 11有朋自遠方來 , 不亦樂乎 ? 人不知而不慍, 不亦君子乎 ?” thì tác giả đã tách câu đầu và câu cuối, xếp vào hai thiên “ Học vấn” và “ Trì kỷ”) Tác phẩm có tính thực dụng khá cao, có thể nhận thấy trình tự sắp xếp các thiên ứng với hai mục lớn là Tu thân và Xử thế, ngoài ra những vấn đề về thiên mệnh, quỷ thần, tính lý huyền viễn siêu hình thì gần như không được đưa vào tác phẩm.
Bố cục : Tác phẩm Luận ngữ tinh hoa bao gồm 308 tiết được chia thành 8
thiên mục lớn theo thứ tự là Học vấn, Tiến tu, Sự thân, Trì kỷ, Tiếp vật, Quan nhân, Xử thế và Vi chính Sự phân chia độ dài ngắn và số lượng tiết trong mỗi thiên mục là không giống nhau Như thiên Trì kỷ có số lượng tiết nhiều nhất ( 34 tiết ), còn thiên Sự thân có số tiết ít nhất ( 8 tiết )
Tên tác phẩm là Luận ngữ tinh hoa nghĩa là trích lục những câu được coi là tinh hoa của sách Luận ngữ để dạy trẻ nhỏ học chữ Hán
Tuy nhiên với bối cảnh lịch sử như đã nói ở trên thì Luận ngữ tinh hoa ra đời trong khi Nho học đang trên đà suy yếu Điều này khiến cho Luận ngữ tinh hoa có phần khác với những tác phẩm viết về Luận ngữ trước đó, thể hiện rõ
nhất là việc phân chia các thiên mục Thứ nhất, việc phân chia các thiên mục trong tác phẩm không giống với cách phân chia các thiên mục cổ điển trong sách
Luận ngữ và các tác phẩm viết về Luận ngữ trước đó Thứ hai, cách phân chia
các thiên mục của tác giả nhằm hướng cho người đọc một cách tiếp cận dễ dàng
và dễ hiểu Điều này là cần thiết khi Nho giáo đang nhường chỗ cho văn hoá phương Tây.
Việc phân chia các tiết vào trong các thiên mục lớn lần lượt là Học vấn, Tiến tu, Sự thân, Trì kỷ, Tiếp vật, Quan nhân, Xử thế và Vi chính nhằm thể hiện hai mục tiêu lớn là Tu thân và Xử thế Ta có thể thấy Học vấn, Tiến tu, Sự thân, Trì kỷ thuộc về Tu thân Tiếp vật, Quan nhân, Xử thế và Vi chính thuộc về Xử thế Sự sắp xếp các thiên mục như vậy nhằm đưa người học từng bước tiến tới những chuẩn mực, tu thân trước rồi mới có thể đem ra thi hành.
Trang 12* Nội dung chính của tác phẩm
Thiên “Học vấn” gồm 19 tiết Mỗi tiết là một câu trích lục trong các thiên Học nhi, Vi chính, Thái Bá…Qua 19 tiết này, ta thấy rõ sự đánh giá cao việc học của Khổng Tử Người quân tử và kẻ tiểu nhân khác nhau về sự học vậy Khổng
Tử đã nói : “ Yêu thích điều nhân mà không ham học hỏi sẽ bị sự ngu dốt che lấp, yêu thích sự cương trực mà không ham thích sự học sẽ bị sự ngông cuồng
học thì mọi sự đều không đến được sự tốt đẹp, thiện ý ban đầu Như người rất yêu thích điều nhân như đã nói ở trên vậy Yêu thích điều nhân là một điều tốt, nhưng nếu không ham học hỏi thì không đủ tri thức để biết giúp đỡ người khác sao cho hợp lý và chính đáng, sẽ bị sự ngu dốt che lấp đi cái tốt đẹp Với người cương trực cũng vậy, ngay thẳng là một đức tính tốt đẹp, nhưng nếu ngay thẳng
mà không chuộng học thì sẽ không biết phân biệt đúng sai, không kiềm chế được bản thân mình, dẫn tới bị coi là ngông cuồng Vậy sự học là cần thiết, không học
sẽ không thể trở thành bậc quân tử trong thiên hạ mà chỉ sánh được cùng với những kẻ tiểu nhân ít học thô kệch và quê mùa mà thôi Tuy nhiên nếu chỉ ham học hỏi không thì chưa đủ, học phải đi đôi với hành Khổng Tử chằng đã nói “
lý thuyết vào thực tiễn sẽ giúp người học nhớ lâu hơn và có thể tự đúc rút kinh nghiệm cho bản thân mình Ngoài ra, cũng phải biết cân đối sự học của mình, không thể để thái quá hay bất cập Không chỉ học trên sách vở, lý thuyết mà còn học ở thực tế quanh mình, thấy người có đức phải gắng sức học theo.
Thiên “Tiến Tu” gồm hai mươi mốt tiết Nội dung chủ yếu của thiên này
là giúp người học xác định rõ được chí hướng và biết rèn dũa bản thân mình, gắng gỏi không ngừng nghỉ noi theo điều thiện Người ham học hỏi mà không có
ý chí phấn đấu để tiếng trong thiên hạ thì không thể trở thành người quân tử, lại càng không thể đem sự học của mình để làm chính trị Tuy nhiên có chí hướng
Trang 13rồi thì phải biết tu thân mình, trên đường đạt tới danh vọng không để vật dục câu thúc, che mờ những điều nhân nghĩa tốt đẹp.
Người quân tử muốn theo đuổi sự nghiệp chính trị ắt phải biết tới văn chương sách vở, tuy nhiên nếu không lấy đức nhân nghĩa để thi hành thì sao có thể được lòng dân chúng? Nhưng Khổng Tử đã nói rằng hãy biết hiếu kính với cha mẹ, thuận hoà với huynh đệ nơi gia thất, nơi hương đảng trước đã, rồi đem ra
sang hèn, quý tiện, hiếu kính với cha mẹ là điều quan trọng nhất Tám tiết trong thiên Sự thân đã thể hiện nội dung khái quát về quan niệm chữ Hiếu của Khổng
Tử Đối với Khổng Tử, hiếu kính với cha mẹ không chỉ thể hiện ở vẻ ngoài mà phải xuất phát từ tấm lòng người con Nếu người ngày nay coi việc nuôi dưỡng cha mẹ đã được coi là hiếu rồi thì Khổng Tử đã nói rằng đến như loài chó ngựa còn được nuôi dưỡng, nếu nuôi dưỡng cha mẹ mà bất kính thì lấy gì mà phân biệt với loài chó ngựa đây? (4)
Trì là giữ gìn, ước thúc và rèn dũa Vậy “Trì kỷ” là giữ gìn và ước thúc bản thân mình theo một chuẩn mực Với ba mươi tư tiết, số lượng tiết nhiều nhất
tác phẩm Luận ngữ tinh hoa, thiên “Trì kỷ” được coi là thiên mục quan trọng
nhất trong tác phẩm này Muốn làm chính trị, được lòng dân thì trước hết bản thân mình phải sùng đức, chuộng điều nhân, vậy nên người quân tử lấy việc tu
nghĩa, kẻ dưới không dám không nghe theo Bề trên trung tín, kẻ dưới không
biết rèn dũa đức tính của mình, lấy bản thân mình làm gương để người dưới noi
theo Nội dung chính của thiên “Trì kỷ” này là trích lục các câu trong Luận ngữ
của Khổng Tử dạy học trò cách rèn dũa đức tính ngay trong xử sự hàng ngày, không để thái quá hay bất cập Bản thân phải luôn giữ mình nghiêm trang kính
Trang 14Thiên “Tiếp vật” gồm hai mươi tư tiết Nếu như thiên “Trì kỷ” dạy người quân tử biết cách rèn dũa bản thân mình thì ở chương này lại hướng cho người quân tử đi đến tiếp xúc với sự vật, qua đó mới biết cách cư xử sao cho phù hợp.
Ví như trong thiên Vệ Linh Công sách Luận ngữ có trích lời Khổng Tử nói rằng
người quân tử lấy nghĩa làm bản chất, dùng lễ để làm theo, nói năng từ tốn, lấy lòng tín để thành tựu (7) Người quân tử lấy lễ làm chuẩn mực, noi theo điều nghĩa, nói năng chậm rãi, không cần nhiều lời, một lòng trung tín khi làm việc, noi theo được bốn điều đó ắt sẽ có những cư xử đúng đắn Đây cũng là một chuẩn mực đánh giá người quân tử Có làm được chính trị hay không phần nhiều thể hiện ở cách cư xử hàng ngày trong mọi việc.
Nội dung của thiên “Quan nhân” ( gồm hai mươi tư tiết ) chỉ rõ các hạng người, có thể dễ dàng thấu rõ được thông qua cử chỉ, hành động và dung nhan, giúp người quân tử nhìn rõ được bản chất mà có cách cư xử sao cho phù hợp Điều thể hiện sự tài giỏi của người cầm quyền không dừng lại ở chỗ tuỳ thời mà
có cách cư xử khác nhau sao cho thích hợp mà vẫn theo điều nhân nghĩa, không trái với lễ, mà còn thể hiện ở chỗ biết nhìn người và dùng người Muốn có người tài để phụ giúp mình việc chính trị, ắt người cầm qưyền phải biết cách nhìn người để thấu rõ tâm can họ Ví như người có lời nói dễ nghe nhưng sắc mặt lạnh lùng thì là người ít điều nhân (8), hay như kẻ bên ngoài thì tỏ ra mạnh mẽ mà bên trong lại là kẻ nhu nhược thì ắt là kẻ tiểu nhân, chỉ đào tường đi ăn cắp mà
con người, chỉ có bậc quân tử tài đức vẹn toàn mới có thể làm được.
Thiên “Xử thế” gồm hai mươi tư tiết Nội dung chính của thiên này là dạy người quân tử cách xử sự trung dung Điều khác biệt giữa kẻ tiểu nhân và người quân tử là ở chỗ người quân tử thì trung dung còn tiểu nhân thì thái quá hay bất
Trang 15cập Như người quân tử thì rộng rãi mà không kiêu căng, kẻ tiểu nhân thì kiêu
người quân tử đều phải lấy nhân nghĩa làm đầu, có như vậy mới được mọi người xung quanh nể trọng
Thiên “Vi chính” gồm hai mươi bảy tiết Nội dung chủ yếu của hai mươi bảy tiết này là dạy người quân tử biết cách trị dân Lấy dân làm gốc là điều căn bản mà bất cứ nhà cầm quyền nào cũng phải biết Nhưng làm thế nào để dân nể phục mà theo thì quả thực không đơn giản Theo Khổng Tử, nếu người trên yêu chuộng lễ thì kẻ dưới không dám bất kính, nếu người trên yêu chuộng điều nghĩa thì kẻ dưới không dám không phục, nếu người trên chuộng điều tín thì kẻ dưới
quyền, phải biết đặt những điều lợi ích cho dân chúng làm trọng, thấy khó khăn thì không được mệt mỏi.
Tám thiên Học vấn, Tiến tu, Sự thân, Trì kỷ, Tiếp vật, Quan nhân, Xử thế,
Vi chính đã đưa người học từng bước đi từ tu kỷ đến trị nhân, từ đạo đức tới
chính trị Với những câu trích lục từ sách Luận ngữ ngắn gọn, súc tích, Luận ngữ tinh hoa không đơn giản chỉ là cuốn sách dạy trẻ nhỏ chữ Hán mà còn là một cuốn Luận ngữ thu nhỏ Thông qua cách phân chia các thiên mục và cách chọn
lựa các câu để trích lục của tác giả, người học có thể nắm được tinh thần của
toàn bộ sách Luận ngữ, ngoài ra còn hướng người đọc dễ dàng tiếp cận kinh điển
Nho gia Tại thời điểm này khoa cử sắp bị bãi bỏ, kinh nghĩa không thi nữa,
người ta không học kinh Luận ngữ theo dạng đại toàn nữa mà cần chắt lọc tinh
hoa, giản tiện mà có hệ thống để phù hợp với tình hình thực tế.
Trang 16* So sánh cách phân chia thiên mục trong sách Luận ngữ tinh hoa với
cách phân chia thiên mục trong các tác phẩm viết về Luận ngữ khác.
Ở trong khuôn khổ Niên luận này, chúng tôi không có điều kiện để khảo
sát hết các tác phẩm viết về Luận ngữ khác, mà chỉ lấy hai tác phẩm tiêu biểu là Luận ngữ ngu án ( Phạm Nguyễn Du ) và Luận ngữ tiết yếu ( Lê Văn Ngữ ) để
thực hiện việc so sánh Sở dĩ chúng tôi chọn hai tác phẩm này vì hình thức và bố
cục tác phẩm tương đối có những nét tương đồng với Luận ngữ tinh hoa Như hình thức hai tác phẩm này đều là dạng Luận ngữ tiết yếu, bố cục tác phẩm đều
chia thành các thiên mục lớn Tuy vậy nhưng mỗi tác phẩm lại có cách chia các
chương mục khác nhau và đều khác cách chia truyền thống trong sách Luận ngữ.
Luận ngữ ngu án của Phạm Nguyễn Du. Với 20 thiên, 482 chương chính
văn của Luận ngữ, theo cách làm của mình, Phạm Nguyễn Du đã trùng đính, sắp xếp lại thành 4 thiên Thánh, Học, Sĩ, Chính, tổng cộng 493 chương Toàn sách
chia ra 18 quyển và 1 quyển Mục lục, cộng 19 quyển.
Về số chương, ông tách 1 chương gồm 15 tiết của thiên Hương đảng ra làm
15 chương riêng biệt, tách 2 chương trong thiên Công Dã Tràng và Thái Bá ra làm 4 chương (Chương Tử vị Nam Dung và Chương Tử viết tam phân thiên hạ hữu kỳ nhị ) Sở dĩ có sự tách này là do ông căn cứ trên nhận xét của Tập chú Ông cũng bỏ đi 6 chương trùng lặp trong chính văn Luận ngữ (Vị kiến hiếu đức như hiếu sắc , Chủ trung tín , Tam niên vô cải ư phụ chi đạo , Bác học ư văn , Bất tại kỳ vị bất mưu kỳ chính , Xảo ngôn lệnh sắc ) Cuối cùng, tổng số chương trong Luận ngữ ngu án là 493 chương.
Về số thiên, Phạm Nguyễn Du hợp 20 thiên trong chính văn Luận ngữ, căn cứ vào nội dung mà quy loại, chia ra làm 4 thiên: Thánh, Học, Sĩ, Chính.
Trong mỗi thiên lại gồm nhiều loại Cách làm của ông là đầu tiên dẫn nguyên
Trang 17văn từng chương kinh nhưng vẫn ghi rõ tên thiên cũ để “không mất đi cái cũ” và
dễ tra tìm Sau chính văn kinh là Ngu án, ấy là “nhân khi đọc sách, ngẫu nhiên
có sở đắc, theo ý mà viết ra” Cuối mỗi thiên có phần Tổng thuyết, nêu rõ ý nghĩa chung của toàn thiên Trong Phàm lệ, Phạm Nguyễn Du có nói đại lược về việc
chia bốn thiên như sau:
- Thánh thiên lấy từ thiên Hương đảng và các chương ở các thiên, phàm
ghi lại thịnh đức sự thực của thánh nhân đều xếp theo loại, có 8 loại, 98 chương Lại đem 6 chương môn nhân bàn về đức của thánh nhân, cùng một chương
Nghiêu viết, tất cả là 7 chương phụ vào, tổng cộng 105 chương.
- Học thiên lấy những lời thánh nhân rất thiết thực với việc học ở các
thiên, đều theo loại, có 4 loại, 168 chương Lại đem những điều môn nhân ghi chép giống như thế, tất cả 34 chương phụ vào, tổng cộng là 202 chương.
- Sĩ thiên lấy những lời thánh nhân rất thiết thực với việc làm quan ở các
thiên, đều theo loại, có 3 loại, 37 chương Lại đem những điều môn nhân bàn và ghi chép giống như thế, tất cả 8 chương phụ vào, tổng cộng là 45 chương.
- Chính thiên lấy những lời thánh nhân bàn về chính sự, đều theo loại, có 5
loại, 136 chương Lại đem những điều môn nhân bàn và ghi chép giống như thế, tất cả 5 chương phụ vào, tổng cộng là 141 chương.
Luận ngữ ngu án ra đời vào cuối thế kỷ XVIII, trong thời kỳ có thể được
xem là “thời loạn”, danh phận điên đảo, loạn lạc liên miên, đạo học, nho phong suy đồi Bản thân tác giả khi viết tác phẩm không có ý định ban bố rộng rãi mà chỉ đểr tự răn mình trong buổi loạn lạc mà thôi, chính vì vậy nên tác phẩm mang dấu n cá nhân khá đậm Tuy nhiên cách phân chia các thiên mục của tác giả đã
tạo nên cách hiểu riêng biệt mới mẻ về Luận ngữ, khác với cách hiểu truyền
Trang 18thống thông thường Với cách phân chia các thiên chương rõ ràng, tác giả đã làm đúng theo mô thức nội thánh ngoại vương, đi từ tu kỷ đến trị nhân, từ đạo đức tới chính trị.
Luận ngữ tiết yếu được tác giả sắp xếp lại toàn bộ từ đầu đến cuối theo một trật tự mới Từ 20 thiên gồm 512 chương trong sách Luận ngữ chính văn, tác
giả đã chọn lấy 297 chương mà ông cho là cốt yếu nhất Như vậy, so với cuốn
sách Luận ngữ chính văn đã lược đi cả thảy 215 chương thuộc nhiều chủ đề Tên các thiên cũng được đặt lại theo các chủ đề: Đạo học, Đạo giáo, Cư xử, Giáo giới, ứng đối, Vấn đáp, Nghị luận, Bình phẩm, Quy cảnh. Khác với tác phẩm
Luận ngữ ngu án của Phạm Nguyễn Du Tác phẩm đó được chia làm bốn thiên lớn, được sắp xếp theo công phu Nội thánh - Ngoại vương Mục tiêu chính mà
Phạm Nguyễn Du hướng tới khi đưa tác phẩm của ông trước là chỉ nhằm dành
riêng cho bản thân mình, nhâm nhi ý vị sâu xa của Luận ngữ thôi! Sách của Lê
Văn Ngữ thì khác hơn so với của Phạm Nguyễn Du Ông làm sách với mục tiêu soạn ra một cuốn giáo trình cho người học, trong hoàn cảnh Tây học đang phát
triển, lấn lướt Nho học Ông chia sách Luận ngữ ra làm 9 mục lớn, tổng kết một
số nội dung tiêu biểu có liên quan xếp vào 9 mục đó Chín mục đó là những hình thức dạy học trò như vấn đáp, nghị luận, cư xử, quy cảnh… hay là cách Khổng
Tử làm chính trị : ứng đối…Việc chia như vậy có ưu điểm là giúp người đọc
hình dung được các thể loại trích lục cụ thể trong sách Luận ngữ Đây cũng là
một cách chia mới mẻ, có phần hợp lý Cách chia này giúp cho người đọc có
những cái nhìn cụ thể về quan điểm trong Luận ngữ trên từng khía cạnh.
Khác với hai tác phẩm trên, từ 20 thiên trong Luận ngữ, tác giả đã chia
308 tiết của Luận ngữ tinh hoa thành 8 thiên lần lượt là Học vấn, Tiến tu, Sự
thân, Trì kỷ, Tiếp vật, Quan nhân, Xử thế, Vi chính Số lượng mỗi tiết không bằng nhau Như thiên Trì kỷ có 34 tiết, chiếm số lượng tiết nhiều nhất và thiên
Trang 19Sự thân có 8 tiết là thiên có số tiết ít nhất 8 thiên lớn ứng với Lập thân ( Học vấn, Tiến tu, Sự thân, Trì kỷ ) và Xử thế ( Tiếp vật, Quan nhân, Xử thế và Vi
chính ) Khác với Phạm Nguyễn Du khi biên soạn Luận ngữ ngu án, Lê Văn Ngữ biên soạn Luận ngữ tiết yếu, cách phân chia các thiên mục và các câu trích lục trong sách Luận ngữ tinh hoa đều nhằm đưa người học tiếp cận Luận ngữ -
một kinh điển của Nho gia một cách đơn giản và dễ hiểu nhất Tuy nhiên, không phải vì vậy mà những câu được trích lục không đem lại triết lý sâu xa, mà qua
các tiết này, người học có thể nắm được toàn bộ tinh thần sách Luận ngữ mà không cần phải đọc hết 20 thiên gồm 512 chương của chính văn Luận ngữ Như
ta đã biết, sống trong thời buổi văn minh phong hội, cả tác giả Lê Văn Ngữ và tác giả Ưng Trình đều mong muốn chấn hưng nền Nho học đang suy vi Tuy nhiên, Lê Văn Ngữ nghiêng hẳn về văn hoá cổ, hoài tiếc cho thời kỳ cực thịnh
của Nho giáo, nên ông biên soạn Luận ngữ tiết yếu để cho những nhà Nho còn sót lại giám thưởng, Phạm Nguyễn Du biên soạn sách Luận ngữ ngu án để tự răn mình Còn Ưng Trình biên soạn Luận ngữ tinh hoa là một cuốn sách dạy trẻ nhỏ,
gạn lọc tinh hoa cổ học, dung hòa Đông – Tây, cũng là một dạng sách giáo khoa kinh điển, giúp người học có thể tiếp nhận Nho học một cách đơn giản mà hiệu quả nhất Ở bài bạt của sách có trích lời của Tạ Thúc Đĩnh “ Vì hậu học mà mở
ra cầu bến, tận hưởng tinh hoa trong đó, công phu bác ước để tiến lên tuần tự, tự thân thể nghiệm rồi gắng sức thi hành, thì sách này há không có sự bổ trợ ? Cho nên có cái để cho các bậc tân học cùng sử dụng chứ riêng đâu lời nói của một người, vậy làm bài bạt.” Ngoài ra ở phần biền ngôn, chính tác giả cũng nói rõ lý
do khi biên soạn sách “ Trộm nghĩ những cách ngôn của Khổng Tử về thế đạo
nhân tâm đều đầy đủ trong sách Luận ngữ, mà sách Tề luận hai mươi hai thiên,
Cổ luận hai mốt thiên, Lỗ luận hai mươi thiên đều do người ghi biên soạn, phân
hợp thiên chương, tản mạn không có điều mục Nay nhân lúc nhàn rỗi, ôn lại điều cũ mà phân trích thành thiên mục, dùng như vị bánh để các học trò tiện ghi
Trang 20nhớ Lại theo lệ đệ trình lên Học bộ tài duyệt, được Phụ chính đại thần Hiệp biện Đại học sỹ, Lĩnh Học bộ Thượng thư Hồ tước tướng đại nhân cùng quý vị ở bộ Học giám thưởng cho là sưu tầm sự anh hoa, thiết thực dễ hiểu, học giả giảng độc rất tiện” Như vậy, cách phân chia các thiên mục của tác giả nhằm giúp cho học giả có thể dễ dàng đọc hiểu được những thâm ý sâu xa của thánh ngôn.
Ba tác phẩm Luận ngữ ngu án, Luận ngữ tiết yếu và Luận ngữ tinh hoa đều được viết theo dạng Luận ngữ tiết yếu, nhưng cách phân chia các thiên mục
cho thấy ba nội dung tư tưởng và ba đối tượng tiếp nhận khác nhau Tuy đều theo mô thức đi từ tu kỷ đến trị nhân, đạo đức đến chính trị nhưng dụng ý của tác giả khi biên soạn sách lại không giống nhau Đối tượng tiếp nhận không phải là bản thân mình hay tầng lớp Nho sĩ còn sót lại trong xã hội, đối tượng tiếp nhận
của Luận ngữ tinh hoa là tầng lớp tân học - tầng lớp có thể tiếp nhận hai luồng
giáo dục khác nhau là Tây học và Nho giáo Chính vì vậy mà tác phẩm không thể mang tính khuôn mẫu, chuẩn mực như các tác phẩm viết về kinh điển của Nho gia khác, mà phải ngắn gọn, súc tích, dễ tiếp nhận.Cách phân chia thiên mục như vậy đưa người học từng bước tiến tới những chuẩn mực cao hơn, chỉ rõ con đường để người học tự giác ngộ, dần đạt được hai chuẩn mực lớn của Nho gia là nội thánh và ngoại vương.
* Vị trí và vai trò của Luận ngữ tinh hoa trong di sản Hán Nôm Việt
Nam
Qua các triều đại phong kiến ở nước ta, Nho giáo càng khẳng định rõ rệt tầm ảnh hưởng mạnh mẽ tới hệ thống tư tưởng mọi tầng lớp trong xã hội Việt Nam Từ khi các kinh điển Nho gia được chính thức đưa vào chế độ khoa cử, đã
có không ít các nhà Nho nối tiếp nhau giành mối quan tâm để bình chú và xiển phát cho số lượng kinh tịch này Trong số các kinh điển của Nho gia thì Tứ thư được quan tâm hơn cả Hiện di sản Hán Nôm có 9 đầu sách viết về Tứ thư và 10
đầu sách viết về Luận ngữ, trong số đó có Luận ngữ tinh hoa Đây là số sách
Trang 21không lớn so với chiều dài lịch sử tồn tại của Nho giáo tại Việt Nam Trong số những sách ấy đa phần lại là tuyển tập các bài kinh nghĩa, văn sách có nội dung
liên quan đến Tứ thư, trong đó có Luận Ngữ như Tứ thư sách lược, Tứ thư tinh nghĩa, Tứ thư văn tuyển, Tứ thư nghĩa tuyển, Luận ngữ sách đoạn, Luận ngữ chế nghĩa,… Lượng sách mang hình thức tuyển tập như vậy chiếm đa số trong kho sách luận giải về Luận ngữ Các sách này cho thấy vai trò chủ yếu của kinh điển
ở Việt Nam là dùng trong thi cử là chính.
Ra đời trong thời buổi văn minh phong hội, Luận ngữ tinh hoa đã có những sự thay đổi phù hợp với thời đại, khác những tác phẩm viết về Luận ngữ
trước đó Qua cách phân chia các thiên mục của tác giả, ta có thể thấy được cách tiếp cận kinh điển Nho gia kiểu mới, dễ hiểu và đơn giản hơn Đây là sự thay đổi cần thiết vì đối tượng tiếp nhận là tầng lớp tân học, không thể giữ lối tiếp nhận chính thống khuôn mẫu và gò bó Ngoài ra, qua tác phẩm này, ta có thể thấy được bối cảnh lịch sử và quan điểm Nho giáo của tầng lớp trí thức đương thời Tác giả khi biên soạn cuốn sách cũng mong muốn chấn hưng lại nền Nho học cực thịnh một thời đang trên đà suy vi, mang tới cái nhìn căn bản và khái quát nhất về Nho học cho hậu sinh, mong muốn hậu sinh sẽ lưu giữ được một chút vinh quang tàn dư của Nho học.
Nhìn từ góc độ kinh điển, Luận ngữ tinh hoa ấu học cũng là một tác phẩm
phản ánh tư tưởng căn bản của Nho giáo Tuy khi biên soạn sách, đối tượng hướng tới là tầng lớp tân học, nhưng không vì thế mà những triết lý sâu xa của thánh ngôn bị mất đi Tác phẩm đã cho ta biết thêm một cách nhìn nhận mới về kinh điển Nho gia trong hệ thống di sản Hán Nôm Việt Nam, đồng thời khiến cho số lượng tác phẩm nghiên cứu kinh điển Nho gia tại Việt Nam, mà đặc biệt
là Luận ngữ, phong phú về nội dung và gia tăng về số lượng
Chú thích :
Trang 22(1) Luận ngữ - Dương hoá : 子曰: “ 好仁不好學, 其蔽也愚 按, 好剛不好學, 其蔽也狂”
Tử viết : “ Hiếu nhân bất hiếu học, kỳ tế dã ngu; Hiếu cương bất hiếu học, kỳ tế dã cuồng.”
(Khổng Tử nói : “ Yêu chuộng điều nhân mà không yêu chuộng học sẽ bị sự ngu dốt che lấp,yêu chuộng sự cương trực mà không yêu chuộng sự học sẽ bị sự ngông cuồng che lấp.”)
Tử viết : “ Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ ?”
( Khổng Tử nói : “ Học mà được luyện tập theo sự học đó chẳng phải là vui sao ? )
Tử viết : “ Bác học ư văn, ước chi dĩ lễ, diệc khả dĩ phất bạn phù.”
Trang 23(Khổng Tử nói : “ Người quân tử học rộng ở văn, dùng lễ để ước thúc, bởi vậy có thể
không trái với đạo.”)
Tử viết : “ Quân tử nghĩa dĩ vi chất, lễ dĩ hành chi, tốn dĩ xuất chi, tín dĩ thành chi.”
(Khổng Tử nói : “ Người quân tử lấy nghĩa làm bản chất, dùng lễ để làm theo, nói năng từtốn, lấy lòng tín để thành tựu.”)
Tử viết : “ Xảo ngôn, lệnh sắc, tiển hỹ nhân.”
(Khổng Tử nói : “ Lời nói khéo léo, sắc mặt vui vẻ, là người ít lòng nhân.” )
(9) Luận ngữ - Dương hoá : 子 曰: “色厲而內荏, 譬諸小 對人, 其猶穿窬之 盜也與.”
Tử viết : “ Sắc lệ nhi nội nhẫm, thí chư tiểu nhân, kỳ do xuyên dư nhi đạo dã dư”
( Khổng Tử nói : “ Vẻ mặt ngoài tỏ ra mạnh mẽ mà bên trong nhu nhược, ắt là kẻ tiểu nhân,chỉ đào tường ăn cắp được thôi.” )
Tử viết : “ Cương nghị mộc nột, cận nhân.”
( Khổng Tử nói : “ Cứng rắn, quả quyết, giản dị, chậm rãi là những điều gần với lòng nhân.” )
Tử viết : “ Quân tử thái nhi bất kiêu, tiểu nhân kiêu nhi bất thái.”
( Khổng Tử nói : “ Người quân từ rộng rãi mà không kiêu căng, kẻ tiểu nhân kiêu căng màkhông rộng rãi.” )
Tử viết : Quân tử hoà nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất hoà.”
( Khổng Tử nói : “ Người quân tử hòa hảo nhưng không hòa nhập, kẻ tiểu nhân hòa nhậpnhưng không hòa hảo.” )
Trang 24(13) Đã chú.
(14) Luận ngữ - Hiến vấn : 子 曰: “上好禮, 則民易使也.”
Tử viết : “ Thượng hiếu lễ, tắc dân dị sử dã.”
( Khổng Tử nói : “ Bề trên yêu thích lễ ắt kẻ dưới dễ sai khiến.” )
3 Kết luận
Vào khoảng cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, xã hội Việt nam có nhiều chuyển biến, cũng là thời kì học thuật trong nước tiếp cận và thay đổi theo nhiều khuynh hướng khác nhau Lúc này tầng lớp trí thức bị ảnh hưởng bởi hai luồng giáo dục là Nho giáo phong kiến và Tây học Tuy lúc này chế độ khoa cử đã bị bãi bỏ nhưng Nho giáo vẫn giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục tại Việt Nam Tác giả Ưng Trình đã sống và chứng kiến những đổi thay của xã hội Việt Nam trong buổi giao thời đó Vốn xuất thân từ dòng dõi hoàng thất, từ bé tác giả đã chịu sự huấn giới của cửa Khổng Ông muốn dựa vào sự hiểu biết của mình để giúp cho những người học sau này, những người sinh ra và lớn lên trong buổi văn minh phong hội và bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi văn hoá phương Tây, không lãng quên Nho học, mà sẽ tiếp nhận Nho học dễ dàng và chủ động hơn Vì
vậy mà ông biên soạn cuốn sách Luận ngữ tinh hoa.
Luận ngữ tinh hoa là những lời thánh ngôn tinh túy chắt lọc từ hai mươi thiên Luận ngữ Không tiếp cận kinh điển theo cách thông thường như những Nho sĩ xưa nay vẫn làm, Ưng Trình muốn người học khi đọc Luận ngữ tinh hoa
có cách nhìn tổng quát nhưng vẫn nắm được đầy đủ và trọn vẹn tinh thần của
toàn bộ sách Luận ngữ nguyên văn Với tám thiên mục phân chia rõ ràng, đi từ lập thân đến xử thế , Luận ngữ tinh hoa từng bước dẫn dắt người học tiếp cận tư
Trang 25tưởng thánh nhân một cách đơn giản và dễ hiểu, điều này là vô cùng cần thiết khi Nho học đang trên đà suy vi, nhường chỗ cho Tây học.
Trong khuôn khổ Niên luận này, chúng tôi chưa thể đi sâu giải quyết kĩ
những thiếu sót là không thể tránh khỏi Nhưng trong khuôn khổ Niên luận này,
chúng tôi mong muốn đóng góp một bản dịch chú đầy đủ tác phẩm Luận ngữ tinh hoa - cuốn sách giáo khoa kinh điển, đồng thời qua đó giúp người đọc hiểu
được thêm bối cảnh lịch sử học thuật ở nước ta trong buổi giao thời.
B Dịch chú tác phẩm Luận ngữ tinh hoa
* Luận ngữ tinh hoa tự
Phiên âm :
Trang 26Đạo tại thiên địa gian như nhất nguyên chi khí, vị thường tức dã, thiện học giả tự đắc chi Luận ngữ nhị thập thiên, hoành thánh ngôn chi tinh túy dã.
Kỳ ngôn hồn nhiên nhi ư thế đạo nhân tâm chi quan hệ, diệc thường thống hạ châm linh Như sở vị bất nghĩa chi phú quý, bất nhân chi lễ nhạc Hoạn đắc hoạn thất, xích vi bỉ phu, sắc lệ nội nhẫm, thí chi du đạo, vị thường bất thâm thiết nhi trứ minh dã Khuê thụ Khổng giới, vị năng hữu hành yên Trình Tử bất vân hồ : “ Luận ngữ vị độc thời thị thử nhân, độc liễu hậu hựu thị thử nhân, tiện thị bất tằng độc” Kim hạ nhuận nguyệt, Tư nghiệp Ưng quân hầu thích thành thị biên, thành dục san phiền tựu giản, vi hậu học tân lương dã Phi thị biên giả,
dĩ chi tỉnh thân, dĩ chi khắc kỷ, nhất tự nhất cú, thiện thể thánh nhân chi ngôn,
do ước nhi bác, ấu học tráng hành, tha nhật hoặc vi Triệu Trung lệnh chi bán
bộ, vi Lý Văn Chính chi chung thân, diệc vô bất khả Thư do hạnh đắc thỉnh, vưu
ư học giới hữu dư vọng yên Cẩn tự
Duy Tân bát niên nhuận nguyệt chính trung tiết Tứ Giáp thìn Đệ nhị giáp Tiến sĩ, bị phạp Tế tửu Mã Phong Tử Đặng Văn Thụy phụng đề.
Dịch nghĩa :
Bài tựa sách Luận ngữ tinh hoa
Đạo ở trong khoảng trời đất như khí nhất nguyên, chưa từng ngừng nghỉ
vậy, kẻ khéo học tự sở đắc được nó Sách Luận ngữ hai mươi thiên, phát huy sự
tinh tuý của thánh ngôn Ngôn từ hồn hậu mà có quan hệ đến đạo đời và lòng người, như người bị đau đầu mà được châm đúng huyệt đạo Như sự bất nghĩa
mà được phú quý (1), bất nhân mà dùng lễ nhạc (2), lo được lo mất (3) , làm kẻ đê hèn (4), ngoài mặt thì oai vệ mà trong lòng thì nhu nhược (5) , khác nào kẻ trộm
chịu sự huấn giới của họ Khổng, song chưa có sự thi hành Trình Tử chẳng từng
nói : “ Luận ngữ khi chưa đọc là hạng người ấy, sau khi đọc xong vẫn là hạng
Trang 27thành sách, những gì thành tựu thì san định, những gì phồn tạp thì giản lược, là cầu bến cho kẻ học sau vậy Mở sách này ra, dùng nó để thức tỉnh và tu rèn bản thân, mỗi câu mỗi chữ đều thể theo lời nói của thánh nhân, từ sự dùng lễ để ước thúc bản thân rồi dùng văn để mở rộng sự học (8), khi nhỏ thì học tập, khi lớn thì
được học giới để ý Cẩn tự
Năm thứ tám niên hiệu Duy Tân (1914), tháng nhuận, tiết chính trung Ban Giáp Thìn Đệ nhị giáp Tiến sỹ, bị phạp Tế tửu Mã Phong Tử Đặng Văn Thụy phụng đề.
Chú thích :
(1) Luận ngữ - Thuật nhi : Tử viết : “ Bất nghĩa nhi phú thả quý, vu ngã như phù vân”
giàu có thì đối với ta như mây nổi vậy.”
(2) Luận ngữ - Bát dật : Tử viết : “ Nhân nhi bất nhân, như lễ hà? Nhân nhi bất nhân
nhi nhạc hà?” (子曰 : “人而不仁 , 如禮何 ? 人而不仁而樂何 ?” ) nghĩa là : Khổng Tửnói : “ Người mà bất nhân thì dùng lễ sao được? Người mà bất nhân thì dùng nhạc sao được?”
(3)(4) Luận ngữ - Dương hoá : Tử viết : “ Bỉ phu khả dữ sự quân dã dư tai ? Kỳ vị đắc
chi dã, hoạn đắc chi, kí đắc chi, hoạn thất chi Cẩu hoạn thất chi, vô sở bất chí hỹ.” (子曰 :
至矣”) nghĩa là : Khổng Tử nói : “ Kẻ bỉ lậu có thể thờ vua được chăng? Khi chưa được lộc vịthì lo được Khi được rồi thì lo mất Nếu chúng lo mất thì có việc gì mà chúng không dámlàm?”
(5)(6) Luận ngữ - Dương hoá : Tử viết : “ Sắc lệ nhi nội nhẫm, thí chư tiểu nhân, kì do
xuyên dư nhi đạo dã dư” (子曰 : “色厲而內荏譬諸小 對人, 其猶穿窬之 盜也與 ) nghĩa là:”Khổng Tử nói : “ Những kẻ ngoài mặt thì oai vệ mà trong lòng thì nhu nhược cũng giống như
kẻ tiểu nhân đào tường khoét vách ăn trộm mà thôi.”
(7) Luận ngữ tự thuyết : Trình Tử viết : “ Kim nhân bất hội độc thư Như độc Luận ngữ , vị độc thời thị thử đảng nhân, độc liễu hậu hựu chỉ thị thử đẳng nhân, tiện thị bất tằng
Trang 28độc.” (程子曰 : “今人不会讀書 如讀論 語 制 義語 制 義 , 未 得之也 讀時此等 人 人 , 讀了後又只是此等 人 人 , 便
Luận ngữ, khi chưa đọc là hạng người ấy, khi đọc xong vẫn chỉ là hạng người ấy, ấy là chưa
(9) Mạnh Tử - Lương Huệ Vương : “ Phù nhân ấu nhi học chi, tráng nhi dục hành
chi.” (夫人幼而學之 , 壯而欲行之 ) Nghĩa là khi con người còn nhỏ thì học tập, khi lớn thìmuốn mang ra thi hành
(10) Triệu Trung lệnh tức Triệu Phổ, tự là Tắc Bình, làm chức Trung thư lệnh, trải quahai triều Tống Thái Tổ và Tống Thái Tông Ban ngày thì trị lý chính sự, ban đêm thi đọc sách
Luận ngữ Tống Thái Tổ từng hỏi ông vì sao chỉ đọc sách Luận ngữ, ông đáp : “ Như muốn tề
gia trị quốc thì tất thảy nằm trong sách Lỗ luận ( tức Luận ngữ) này vậy.” Về sau Tống Thái
Tông kế vị, muốn dùng Triệu Phổ làm tể tướng, nhưng có người nói rằng : “ Ông ta chỉ biết
đọc sách Luận ngữ mà thôi, Thái Tông liền mang lời nói ấy kể lại thì Triệu Phổ đáp : “ Thần thật không biết sách vở, chỉ có thể đọc sách Luận ngữ mà thôi Thần đã chỉ dùng nửa bộ Luận
ngữ để giúp Thái Tổ định yên thiên hạ, nửa bộ còn lại thì để giúp bệ hạ đạt tới sự thái bình.
Về sau, thành ngữ “ Bán bộ Luận ngữ trị thiên hạ” trở thành một giai thoại trong văn hoá sử Trung Quốc sách Tam tự kinh cũng ca ngợi : “ Triệu Trung lệnh, độc Lỗ luận, bỉ kí sỹ, học thả cần” nghĩa là : “Triệu Trung lệnh đọc Lỗ luận, đã làm quan, còn chăm học.”
* Độc Luận ngữ tinh hoa bạt hậu
Phiên âm
Trang 29Khổng Tử vi cổ kim lai đại giáo dục gia, sinh bình cách ngôn tải tại Luận ngữ Phàm học vấn, tiến tu, sự thân, trì kỷ, tiếp vật, quan nhân, xử thế, vi chính ngữ đại đoan nhất nhất cai bị Kì ngôn hồn nhi bất kích, thường nhi bất quái, cao đẳng khả dĩ ngữ, hạ đẳng diệc khả dĩ ngữ, vưu học giả chi nghi tiên tiễn lý
dã Cố nhị thập thiên trung đương thời kí giả tuỳ thuật sở văn, hậu chi học giả tòng vị hữu tích loại trích biên, tì tiện khảo lãm Kim văn minh phong hội, Luận ngữ phiên dịch hành ư hoàn cầu giả đa thiết Ngã quốc học giới phương tân nhi thánh ngôn tinh hoa tập thành điều thứ, thượng khuyết như dã Chuyết thường hữu chí nhi vị đãi thị thảo chi hạ, thích Hiếu Hậu Ưng quân hầu, thư khắc biên
dĩ thị, phi độc tái tứ hồi, khoát nhiên viết : “ Tiên đắc ngã tâm hỹ” Ưng quân hầu, Thương Sơn đại gia phái dã Tư hựu phân chưởng Thành Quân, năng dĩ kỳ gia học thi ư quốc tư tư yên, vị hậu học chỉ tân lương , do thị trước tuý trữ anh, bác ước công phu, tuần tự dĩ tiến, thân thể nhi lực hành chi, tắc tư biên bất vi vô trợ Thử cố hữu dĩ tân học giả chi sở đồng uỷ, phi độc chuyết nhất nhân chi tư ngôn dã Thị vi bạt Thời đương Duy Tân kỷ nguyên Giáp dần trung nguyên tiết Giáp thin khoa , Phó nguyên, Tham biện Nội các sự vụ, Hàn lâm bội tinh Tạ Thúc Đĩnh Tô thị thư vu Đồ Mai sảnh chi đông hiên.
Dịch nghĩa
Bài bạt đọc sách Luận ngữ tinh hoa
Khổng Tử là nhà giáo dục lớn xưa nay, những lời cách ngôn lúc sinh bình
được ghi trong Luận ngữ Phàm những sự học vấn, tiến tu, sự thân, trì kỷ, tiếp
vật, quan nhân, xử thế, vi chính, các mối lớn thảy đều đầy đủ Lời lẽ của nó hồn
nói, bậc thấp cũng có thể nói, có thể làm đường lối trước tiên cho người học noi theo Trong hai mươi thiên ấy, đương thời người ghi chép ghi lại những điều được nghe, kẻ học sau này chỉ noi theo mà chưa có sự phân loại, chọn thiên để
tiện xem xét Ngày nay là thời buổi văn minh phong hội, sách Luận ngữ được
Trang 30phiên dịch và lưu hành trên hoàn cầu là điều cần thiết Nay học giới nước ta vừa được đổi mới mà tinh hoa của thánh ngôn được tập thành điều thứ vẫn còn thiếu khuyết vậy Tôi từng có chí mà chưa có lúc nhàn hạ Được Hiếu Hậu Ưng quân hầu biên soạn thành sách cho xem, mở xem mấy lượt bỗng vỡ vạc ra rằng : “ Trước được lòng ta vậy.” Ưng quân hầu là đại gia phái Thương Sơn, nay lại phân giữ Thành Quân, có thể lấy ra học để thi triển ra quốc thể vậy Vì kẻ học sau này
mà mở ra cầu bến, tận hưởng tinh hoa trong đó, công phu bác ước để tiến lên tuần tự, tự thân thể nghiệm rồi gắng sức thi hành, thì sách này há không có sự bổ trợ ? Cho nên có cái để cho các bậc tân học cùng sử dụng chứ riêng đâu lời nói của một người, vậy làm bài bạt
Niên hiệu Duy Tân, năm Giáp Dần (1914), tiết trung nguyên Giáp Thìn khoa Phó nguyên, Tham biện Nội các sự vụ, Hàn lâm bội tinh Tạ Thúc Đĩnh Tô thị viết ở hiên phía Đông của Đồ Mai sảnh.
Chú thích
(1) Luận ngữ - Thuật nhi : “ Tử bất ngữ quái, lực, loạn, thần.” (子不語 制 義怪 , 力 , 亂 ,
神 ) nghĩa là “ Khổng Tử không nói chuyện quái lạ, không nói đến sức lực, không nói đếnviệc loạn, không nói đến thần thánh.”
Luận ngữ tập chú : Tạ Thị viết : “ Thánh nhân ngữ thường bất ngữ quái, ngữ đức bất
ngữ lực, ngự trị bất ngữ loạn, ngữ nhân bất ngữ thần.” ( 聖人語 制 義常不語 制 義怪 , 語 制 義德不語 制 義力 , 語 制 義
không nói việc quái đản, nói đức độ chứ không nói sức mạnh, nói tới việc trị chứ không nói tớiviệc loạn, nói tới người chứ không nói tới thần thánh.”
* Độc Luận ngữ tinh hoa bạt hậu
Phiên âm
Trang 31Thánh đản (bát nguyệt nhị thập thất nhật) hậu đắc đồng sự Hiến Hậu Ưng quân xuất thị Luận ngữ tinh hoa nhất tập, thị thư tôn kì sở tri, thuật nhi bất tác, vấn kỳ mục, đắc kỳ môn hữu thủy hữu tốt Khu dĩ biệt hĩ Học nhi thời tập chi , pháp ngữ cải chi vi quý, tiểu tử tri sở dĩ tài, kính tín, tiên nan hậu hành, hiếu hữu thi ư hữu chính, đa văn, trạch nhi tòng chi, dĩ ước kì giả tiển hỹ Mỗ dã bất mãn, hữu văn, vị chi năng hành Kỳ hữu tòng sư ư tư, dụng trọng nhi đạo viễn, tiên nan nhi hậu hoạch, kì thứ hội văn dĩ hội hữu, đức tất hữu lân, phi viết năng chi, nguyện học Duy Tân bát niên xuân vương cửu nguyệt vọng tiền Quốc tử Tĩnh Thạch Nguyễn Văn Trình cẩn bạt.
Dịch nghĩa
Bài bạt đọc sách Luận ngữ tinh hoa
Sau ngày thánh đản (ngày hai mươi bảy tháng tám) được đồng sự Hiếu
Hậu Ưng quân đưa tập Luận ngữ tinh hoa Sách này tôn trọng tri thức, thuật mà
không tác (1), hỏi tới mục thứ (2), được cửa mà vào (3), có đầu có cuối Dùng điều
nói phép tắc thì sửa đổi theo đó là quý (5), kẻ tiểu tử biết cách để sửa mình theo đạo (6), kính tín, trước khó rồi sau thi hành (7), hiếu với cha mẹ, thuận với anh em rồi mang ra thi hành chính trị (8), nghe nhiều chọn điều thiện để theo (9), kẻ lấy đó
đường xa (11), trước khó rồi sau mới lượm thu được (12) Ngõ hầu dùng văn để kết
chẳng nói có thể, song nguyện học (15) theo.
Năm thứ tám niên hiệu Duy Tân (1914), tháng chín trước ngày vọng, Quốc tử Tĩnh Thạch Nguyễn Văn Trình cẩn bạt.
Chú thích
Trang 32(1) Luận ngữ - Thuật nhi : Tử viết : “ Thuật nhi bất tác, tín nhi hiếu cổ, thiết tỉ vu ngã Lão
Bành.” (子曰 : “述而不作 , 信而好古 , 竊比于我老彭” )” Nghĩa là : Khổng Tử nói : “ Thuật
mà không tác, tín mà hiếu cổ, trộm ví ta với Lão Bành.”
(2) Luận ngữ - Nhan uyên : Nhan Uyên viết : “ Thỉnh vấn kỳ mục ?” Tử viết : “ Phi lễ vật thị,
phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động.” ( 顏淵曰 : “請問其目”子曰 : “ 非禮勿視 , 非
trả lời : “ Trái lễ thì chớ nhìn, trái lễ thì chớ nghe, trái lễ thì chớ nói, trái lễ thì chớ làm.”
(3) Luận ngữ - Tử Trương : Tử Cống viết : “ Thí chi cung tường, tứ chi tường dã cập kiên,
khuy kiến thất gia chi hảo Phu tử chi tường sổ nhận, bất đắc kì môn nhi nhập, bất kiến tông miếu chi
mỹ , bách quan chi phú, đắc kì môn giả hoặc quả hỹ.” (子貢曰: “譬之 宮墙 , 賜之 墙 也及肩 , 窺
矣” ) nghĩa là : Tử Cống nói : “ Ví như cung tường, tường của tứ này chỉ tới vai, nhìn vào thì thấy sự tốt đẹp trong nhà Tường của phu tử cao tới vài nhận, không tìm được cửa để vào thì không nhìn thấy
sự mỹ lệ của tông miếu, sự giàu có của bách quan, song kẻ tìm được cửa thì ít lắm vậy.”
(4) Luận ngữ - Học nhi : Tử viết : ” Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ ” ( 子曰 : “ 學而時習之 , 不亦說 集乎 ?”)
(5) Luận ngữ - Tử Hãn : Tử viết : “ Pháp ngữ chi ngôn, năng vô tòng hồ ? Cải chi vi quý ”(
tắc không thể theo được sao ? Sửa theo đó là quý.”
(6) Luận ngữ - Công dã tràng : Tử tại Trần viết: “ Quy dư ? Quy dư ? Ngô đảng chi tiểu tử
cuồng giản, phỉ nhiên thành chương, bất tri sở dĩ tài chi.” (子在陳曰 : “ 歸與 ? 歸與 ? 吾黨之
chăng ? Về chăng ? Các môn sinh của ta là kẻ cuồng sĩ, giản lược, không câu nệ tiểu tiết, lại là người
có văn thể rỡ ràng, nhưng họ không biết cách sửa mình theo đạo.”
(7) Luận ngữ - Ung dã : Viết : “ Nhân giả tiên nan nhi hậu hoạch, khả vị nhân hỹ.” ( 曰 :
sau đó mới thu hoạch được thành tựu, vậy mới có thể gọi là nhân.”
(8) Luận ngữ - Vi chính : Hoặc vị tử viết : “ Tử hề bất vi chính ?” Tử viết : “ Thư vân hiếu hồ
duy hiếu, h ữ u ư huynh đệ, thi ư hữu chính, thị diệc vi chính, hề kì v ị vi chính.” ( 或謂子曰 : “子兮
Nghĩa là : Có người hỏi Khổng Tử rằng : “ Sao ngài không làm việc chính trị ?” Khổng Tử đáp : “
Trang 33Kinh thư có nói : “ Kẻ nào hiếu với cha mẹ, thuận với anh em, rồi mang ra thi hành chính trị thì đó cũng là làm việc chính trị rồi Sao cần đến lúc làm quan mới làm chính trị.”
(9) Luận ngữ - Thuật nhi : Tử viết “ Đa văn, trạch kỳ thiện giả nhi tòng chi, đa kiến nhi chí chi, tri chi thứ dã.” (子曰 : “ 多聞擇其善者而從之 , 多見而至之 , 知之 次也 ) ” Nghĩa là : “ Nghe nhiều, chọn lấy điều thiện mà theo, thấy nhiều ghi nhớ lấy những điều đáng chú ý, ấy là bậc thứ tri vậy.”
(10) Luận ngữ - Nhan Uyên : Nhan Uyên viết : “ Hồi tuy bất mẫn, thỉnh sự tư ngữ hỹ.” ( 顏淵
nhưng cũng theo lời dạy của thầy.”
(11) Luận ngữ - Thái Bá : Tăng Tử viết : “ Sĩ bất khả dĩ bất hoằng nghị, nhậm trọng nhi đạo
viễn.” (曾子曰 : “士不可以不弘毅 , 任重而道遠 )” nghĩa là : Tăng Tử nói : “ Kẻ sĩ không thể không có chí khí rộng lớn và sự cương nghị, bởi vì gánh nặng mà đường xa.”
(12) Đã chú.
(13) Luận ngữ - Tử Lộ : Tăng Tử viết : “ Quân tử dĩ văn hội hữu dĩ hữu phụ nhân.” (曾子曰
để phụ giúp cho điều nhân.”
(14) Luận ngữ - Lý nhân : Tử viết : “ Đức bất cô, tất hữu lân.” (子曰 : “德不孤, 必有鄰.”) Nghĩa là : Khổng Tử nói : “ Người có đức chẳng lẻ loi, ắt có những kẻ đồng tâm đồng chí gần gũi và ủng hộ mình.”
(15) Luận ngữ - Tiên tiến : Đối viết : “ Phi viết năng chi, nguyện học yên Tông miếu chi sự,
như hội đồng, đoan, chương phủ, nguyện vi tiểu tướng yên.” (對曰 : “非曰能之 , 願學焉 , 宗廟
khả năng nhưng cũng nguyện được học tập theo Như các dịp tế lễ trong tông miếu, những cuộc hội họp các vua chư hầu, mặc áo huyền đoan, đội mũ chương phủ, nguyện làm phần tiểu tướng mà thôi.”
* Luận ngữ tinh hoa biền ngôn
Phiên âm
Trang 34Khổng Tử danh Khâu, tự Trọng Ni Lỗ Xương Bình hương, Trâu ấp nhân
dã Phụ Thúc Lương Hột, mẫu Nhan Thị Trưng Tại Sinh ư Canh Tuất niên, thập nhất nguyệt, canh tý ( Thiên chúa giáng sinh tiền ngũ bách ngũ thập nhất niên ) Chung ư Nhâm Tuất niên, tứ nguyệt, kỷ sửu ( Thiên chúa giáng sinh tiền tứ bách thất thập bát niên ) Thọ thất thập tam tuế Tử sinh ôn nhi lệ, uy nhi bất mãnh, học tắc bất yếm, hối nhân bất quyện Kì yến cư dã, bất ngữ quái lực loạn thần.
Kì tại hương đảng tuân tuân tự bất năng ngôn Kì tại triều đình biền biền ngôn duy cẩn nhĩ Hoặc vấn : “ Tử hề bất vi chính ?” Tử viết : “ Hiếu hồ duy hiếu hữu vu huynh đệ, thi vu hữu chính, thị diệc vi chính, hề kì vi vi chính ?” Hoặc nguyện văn tử chi chí, Tử viết : “ Lão giả an chi, bằng hữu tính chi, thiếu giả hoài chi…” Dĩ cố Khổng Tử giáng sinh chí tử nhị thiên tứ bách lục thập dư niên, nhi danh thường tôn, đạo thường trọng dã Quốc triều phụng tự Khổng Tử tại kinh chi An Ninh xã địa phận Kì miếu danh viết Văn Miếu, tại ngoại chư tỉnh miếu danh đồng Kì thần vị đề viết : “ Chí Thánh Tiên Sư Khổng Tử thần vị” Xuân thu quốc tế, khâm mệnh văn ban đại thần nhất viên hành lễ.
Bộc ấu học vô sư thụ, gia đại nhân dĩ công phồn bất hạ, cố phiến ngôn chích tự đắc chi mẫu giáo Chí Thành Thái Quý tị niên, gia đại nhân phụng chỉ đặc sai sung Đông Dương Toàn quyền Đa La Niết Xan đại thần phủ từ Hàn lâm Nhân dịch Tứ thư toàn bộ, mông thưởng bội tinh, quí dĩ cảo thị Bộc tự nhược hữu đắc, thiết dĩ Khổng Tử cách ngôn, thế đạo nhân tâm ư Luận ngữ bị hỹ Nhi
Tề luận nhị thập nhị thiên, Cổ luận nhị thập nhất thiên, Lỗ luận nhị thập thiên, quân thị kí giả tuỳ đắc biên tàng, phân hợp thiên chương mạn cô điều thứ Cận nhân hưu giả ôn cố phân mục trích thiên, liên dụng bính vị tử đệ tiện dị kí ức, nãi tuân lệ đệ trình Học bộ tài duyệt nãi mông Phụ chính đại thần Hiệp biện Đại học sĩ, Lĩnh học bộ Thượng thư Hồ tước tướng đại nhân, tịnh học bộ quý liệt giám thưởng, hứa vĩ hiệt uý trừu anh, thiết thực dị hiểu, học giả giản độc thậm tiệm, túc thư Trụ kinh Khâm sứ đại thần Đại nhân phúc duyệt, Phụng phiến ban
Trang 35cấp thi hành Bộc tự suỷ khốn học, nhi ư Thánh đạo chi đại, phu giáo chi nan, Luận ngữ tinh hoa đồ thị, cung tường ngoại vọng Cung ức tiên vương phụ thi Thương Sơn tập hữu cú vân : “ Di kinh năng thục phủ? Lục thập vạn dư ngôn” Bộc duy bội phục Khổng ngôn, đắc chi nhất nhị, cảm bất tự miễn dĩ huấn tử đệ, hoặc thứ cơ tu đạo chi vị giáo, Sơ phi hữu ý ư thành sách dã Viên dụng biền ngôn, quán dĩ Khổng Tử lược trạng, hạnh thức giả kì lượng chi Thời Duy Tân Giáp Dần, Quý thu thượng cán Tùng Thiện Vương phòng Công tôn, bị phạp Quốc Tử Giám tư nghiệp, Kính Đình Ưng Trình Hiếu Hậu thị cẩn thư
Dịch nghĩa
Khổng Tử tên là Khâu, Tự là Trọng Ni, người ở hương Lỗ Xương Bình,
ấp Trâu Cha là Thúc Lương Hột, mẹ là Nhan Thị Trưng Tại, sinh vào ngày Canh tý, tháng mười một năm Canh tuất (Năm 551, trước thiên chúa giáng sinh), mất vào ngày Kỷ sửu, tháng tư năm Nhâm tuất (Năm 478, trước thiên chúa giáng sinh), thọ 73 tuổi Khổng Tử bình sinh ôn hoà mà nghiêm trang, oai vệ mà không hung mãnh (1), học thì không biết chán, dạy người không mệt mỏi (2) Khi ở nhàn, không nói tới các việc quái lạ, sức mạnh, rối loạn, thần thánh (3) Khi ở chốn làng xóm thì thật thà, dường như chẳng biết ăn nói, khi ở chốn triều đình thì ngài biện
Khổng Tử đáp : “ Hiếu với cha mẹ, thuận với anh em, rồi mang ra thi hành, ấy
trí của Khổng Tử, Khổng Tử đáp : “ Người già được an dưỡng, bạn bè thì tin
ngàn bốn trăm sáu mươi năm mà danh thường tôn, đạo thường trọng vậy Quốc triều phụng tự Khổng Tử tại địa phận xã An Ninh tại kinh đô, đặt tên miếu là Văn Miếu, các miếu ở tỉnh ngoài cũng như vậy Thần vị đề rằng : “ Chí Thánh Tiên Sư Khổng Tử thần vị.” Xuân Thu quốc tế khâm mệnh cho một viên đại thần thuộc văn ban tới hành lễ.
Trang 36Tôi thủa nhỏ học hành không có thầy truyền dạy, gia đại nhân bởi việc công bận rộn, không lúc nhàn hạ nên những câu lẻ chữ vặt tự sở đắc được do mẹ dạy Đến năm Quý Tị thời Thành Thái (1893), gia đại nhân phụng chỉ đặc sai sung làm Hàn lâm của Phủ toàn quyền Đông Dương Đa La Niết Xan Nhân dịch toàn bộ sách Tứ thư mà được mông thưởng bội tinh, về lấy bản thảo cho xem nên tôi tự như có điều sở đắc Trộm nghĩ những cách ngôn của Khổng Tử về đạo
hai thiên, Cổ luận(8) hai mốt thiên, Lỗ luận(9) hai mươi thiên đều do người ghi
biên soạn, phân hợp thiên chương, tản mạn không có điều mục Nay nhân lúc nhàn rỗi, ôn lại điều cũ mà phân trích thành thiên mục, dùng như vị bánh để các học trò tiện ghi nhớ Lại theo lệ đệ trình lên Học bộ tài duyệt, được Phụ chính đại thần Hiệp biện Đại học sỹ, Lĩnh Học bộ Thượng thư Hồ tước tướng đại nhân cùng quý vị ở bộ Học giám thưởng cho là sưu tầm sự anh hoa, thiết thực dễ hiểu, người học có thể giảng đọc rất tiện Gửi về kinh cho Khâm sứ đại thần đại nhân phúc duyệt, cho được ban cấp thi hành Tôi tự lượng sức học mà đối với sự lớn
lao của thánh đạo, sự khó khăn của phu giáo thì Luận ngữ tinh hoa chỉ cung
Vương ) trong Thương Sơn thi tập có câu rằng : “ Di kinh năng thục phủ? Lục thập vạn dư ngôn” (các Kinh sách để lại ai có thể thuần thục hơn sáu mươi vạn lời) Tôi bội phục lời nói của thánh Khổng, sở đắc được một hai điều, dám chẳng
không có ý làm thành sách bèn dùng lối biền ngôn, lược trạng Khổng Tử đặt lên đầu, may được bậc thức giả lượng thứ cho.
Năm Giáp Dần (1914), Niên hiệu Duy Tân, Quý thu thượng cán Tùng Thiện Vương Phòng Công Tôn, bị phạp Quốc Tử Giám Tư nghiệp, Kính Đình Ưng Trình Hiếu Hậu thị cẩn viết.
Chú thích
Trang 37(1) Luận ngữ - Thuật nhi : “Tử ôn nhi lệ, uy nhi bất mãnh, cung nhi an.” (子温而厲 ,
hung mãnh, cung kính mà an nhàn.”
(2) Luận ngữ - Thuật nhi : Tử viết : “ Mặc nhi thức chi, học nhi bất yếm, hối nhân bất
quyện, hà hữu ư ngã tai !” (子曰 : “默而識之 , 學而不厭 , 誨人不倦 , 何有於 兄我
học đạo mà không biết chán, dạy người mà không biết mệt, ba điều đó có ở nơi ta chăng?”
(3) Đã chú
(4) Luận ngữ - Hương đảng : “ Khổng Tử ư hương đảng, tuân tuân như dã, tự bất
năng ngôn giả Kỳ tại tông miếu, triều đình, biền biền ngôn, duy cẩn nhĩ.” (孔子於 兄鄉黨恂
nơi làng xóm thì ngài thật thà như chẳng biết ăn nói Nhưng đến khi ra tông miếu triều đình,thì ngài biện luận rất rành rẽ và cẩn thận
(5) Đã chú
(6) Luận ngữ - Công dã tràng : Tử Lộ viết : “ Nguyện văn Tử chi chí.” Tử viết : “ Lão
giả an chi, bằng hữu tín chi, thiếu giả hoài chi.” (子路曰 : “ 願聞子之 志 ” 子曰 :
nguyện của thầy.” Khổng Tử đáp : “ Ta muốn cho người già cả được an vui, khỏi khổ cực ;Bạn bè tin tưởng lẫn nhau ; Trẻ nhỏ thì được bao bọc.”
(7)(8)(9) Tề luận, Cổ luận và Lỗ luận : Thời Tiền Hán, khi thu thập sách vở cũ pháthiện ra ba bản Tề luận( bản này lưu truyền ở nước Tề ), Lỗ luận ( bản này lưu truyền ở nướcLỗ) và Cổ luận ( phát hiện thấy trong vách nhà họ Khổng, viết bằng chữ khoa đầu)
(10) Ấu học quỳnh lâm – Sư sinh : “ Vị đắc cập môn giả viết cung tường ngoại vọng.”
tường nhìn vào.”
(11) Trung Dung : “Suất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo.” Nghĩa là : “ Noi theo tính
* Luận ngữ tinh hoa mục lục.
Trang 38Viết : “ Tính tương cận dã, tập tương viễn dã.” ( Dương hóa )
( Khổng Tử nói: “ Con người sinh ra thì cái tính ban đầu vốn giống nhau, nhưng càngngày do thói quen càng khiến tính đó khác xa nhau.” )