DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Ký hi u Di n gi i ACB Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu Agribank Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam BIDV Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
===== ( =====
PHAN THỊ MINH HIỀN
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH : KINH TẾ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN HOÀNG NGÂN
TP HỒ CHÍ MINH- NĂM 2009
Trang 2LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TP Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 7 năm 2009
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hi u Di n gi i
ACB Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
Agribank Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam
BIDV Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam
CIC Trung tâm Thông tin Tín dụng của Ngân hàng Nhà nước
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
NHTM Ngân hàng thương mại
OCB Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông
Sacombank Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín
Techcombank Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam VCB Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam
Vietinbank Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU
2.1 Một số đóng góp của DNNVV trong sự phát triển kinh
tế Việt Nam
29
2.2 Dư nợ cho vay DNNVV tại một số ngân hàng tiêu biểu 43
2.3 Ví dụ điển hình về cơ cấu tài sản thế chấp 49
2.4 Ví dụ về nguồn vốn nhận ủy thác tài trợ cho
DNNVV
52
Trang 5MỤC LỤC
========== 6 ==========
Trang DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Tổng quan về tín dụng ngân hàng 5
1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng 5
1.1.2 Phân loại tín dụng ngân hàng 6
1.1.2.1 Căn cứ vào thời hạn cho vay 6
1.1.2.2 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn 6
1.1.2.3 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm khách hàng 6
1.1.2.4 Căn cứ vào kỹ thuật nghiệp vụ cho vay - thu nợ 6
1.1.3 Chức năng của tín dụng ngân hàng 9
1.1.4 Một số nội dung chủ yếu của tín dụng ngân hàng 10
1.1.4.1 Nguyên tắc tín dụng 10
1.1.4.2 Lãi suất tín dụng 11
1.1.4.3 Phân tích tín dụng 12
1.2 Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa 14
1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa 14
1.2.2 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa 15
1.2.3 Ưu thế và hạn chế của doanh nghiệp nhỏ và vừa 16
1.2.3.1 Các ưu thế của doanh nghiệp nhỏ và vừa 16
1.2.3.2 Các hạn chế của doanh nghiệp nhỏ và vừa 18
1.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 19
1.3.1 Các kênh tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa và vai trò của vốn tín dụng 19
Trang 61.3.2 Các biện pháp hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
tại các nước trên thế giới 20
1.3.2.1 Đài Loan 21
1.3.2.2 Nhật Bản 21
1.3.2.3 Philipin 22
1.3.2.4 Hàn Quốc 24
1.3.3 Bài học kinh nghiệm trong việc hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam 24
CHƯƠNG II : TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 2.1 Tình hình hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam 26
2.1.1 Tình hình phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 26
2.1.1.1 Các DNNVV Việt Nam phát triển với tốc độ nhanh về số lượng và tiếp tục có sự biến đổi về cơ cấu các loại hình sở hữu 26
2.1.1.2 Sự đóng góp của các DNNVV đối với nền kinh tế nước ta 28
2.1.1.3 Sự hạn chế của các DNNVV 30
2.1.2 Những thuận lợi và khó khăn chủ yếu của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam 32
2.1.2.1 Thuận lợi của DNNVV 32
2.1.2.2 Khó khăn chủ yếu của DNNVV 36
2.2 Tình hình hoạt động tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam 40
2.2.1 Dư nợ tín dụng DNNVV 41
2.2.2 Tổng quan về các sản phẩm tín dụng cung cấp cho DNNVV 46
2.2.3 Các chính sách tín dụng có liên quan đến DNNVV 49
2.2.3.1 Tài sản bảo đảm 49
2.2.3.2 Chính sách khách hàng 51
2.2.3.3 Cung cấp tín dụng cho DNNVV từ các nguồn vốn quốc tế 52
2.2.3.4 Hỗ trợ của chính phủ thông qua bảo lãnh tín dụng 54 2.2.4 Nguyên nhân tồn tại hạn chế trong hoạt động tín dụng DNNVV…55
Trang 72.2.4.1 Các nguyên nhân khách quan 55
* Chính sách điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ 55
* Sự hạn chế trong hoạt động của CIC 58
* Các hạn chế từ phía doanh nghiệp nhỏ và vừa 60
2.2.4.2 Các nguyên nhân chủ quan 63
* Công tác quản trị rủi ro tín dụng còn nhiều khiếm khuyết 63
* Quan điểm cho vay DNNVV còn hạn chế 64
* Chất lượng nguồn nhân lực chưa được nâng cao 65
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 3.1 Định hướng cung cấp tín dụng cho DNNVV trong thời gian tới 67
3.2 Kiến nghị đối với các cơ quan hữu quan 67
3.2.1 Chính phủ cần đảm bảo môi trường kinh tế vĩ mô ổn định 70
3.2.2 Chính phủ cần thực thi nhanh và có hiệu quả các chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV 71
3.2.2.1 Đẩy nhanh việc thực hiện Kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 5 năm (2006-2010) 71
3.2.2.2 Phát triển các loại Quỹ hỗ trợ vốn cho DNNVV 72
3.2.2.3 Tăng cường công tác thông tin và đối thoại 74
3.2.2.4 Phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ 75
3.2.2.5 Phát triển hình thức vườn ươm doanh nghiệp 76
3.2.3 Kiến nghị Chính phủ hỗ trợ phát triển hoạt động cho thuê tài chính 77
3.2.4 Kiến nghị Ngân hàng Nhà nước tăng cường đầu tư cho CIC để nâng cao chất lượng thông tin tín dụng .79
3.3 Giải pháp đối với ngân hàng thương mại 81
3.3.1 Tăng cường công tác quản lý rủi ro tín dụng 81
3.3.2 Phát triển nguồn nhân lực 83
3.3.3 Quan tâm đến hình thức góp vốn đầu tư, liên doanh, liên kết với DNNVV 85
Trang 83.3.4 Các giải pháp khác tạo điều kiện cho NHTM mở rộng
tín dụng DNNVV 86
3.4 Giải pháp đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa .87
3.4.1 Nâng cao năng lực kinh doanh của doanh nghiệp 87
3.4.2 Đảm bảo minh bạch về thông tin doanh nghiệp 89
3.4.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp 90
KẾT LUẬN 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam, đại bộ phận các doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế hiện nay đều là doanh nghiệp nhỏ và vừa, và tuyệt đại bộ phận các doanh nghiệp được tạo lập trong thời gian tới cũng sẽ là doanh nghiệp nhỏ và vừa Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là phù hợp với điều kiện về vốn và trình độ quản lý của nước ta Đồng thời đây cũng là hình thức thích hợp để thúc đẩy các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư bỏ vốn đầu tư trực tiếp, góp phần thực hiện tăng trưởng nhanh nền kinh tế, giải quyết vấn đề công ăn việc làm cho xã hội Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã gặp không ít khó khăn để tồn tại và phát triển, đặc biệt là về khả năng tài chính Doanh nghiệp đã tìm đến các nguồn vốn bên ngoài để phục vụ cho hoạt động kinh doanh, trong đó chủ yếu vẫn là nguồn vốn ngân hàng Trong khi đó, hệ thống ngân hàng thương mại cũng đã có nhiều động thái tích cực để gia tăng cung cấp các sản phẩm tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhiều ngân hàng còn xem các doanh nghiệp này là đối tượng khách hàng đầy tiềm năng Tuy nhiên, trên thực tế, một bộ phận không nhỏ các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam vẫn còn khó tiếp cận tín dụng ngân hàng Đây là trở ngại cần được giải quyết, nhất là trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay, bởi lẽ sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp này là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn vong của nền kinh tế
quốc gia Chính vì vậy, tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài “Giải pháp mở rộng tín
dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam” để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 10Với quá trình nghiên cứu, luận văn hướng đến việc tìm kiếm câu trả lời cho những nội dung sau:
- Tình hình phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam trong thời gian qua như thế nào? Thiếu vốn kinh doanh có phải là khó khăn đáng kể của doanh nghiệp nhỏ và vừa?
- Tình hình hoạt động tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam ra sao ?
- Những giải pháp khả thi nào để các ngân hàng có thể mở rộng tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu : những khó khăn, thuận lợi trong quá trình phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa và tình hình tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại hệ thống ngân hàng thương mại
- Phạm vi nghiên cứu: sự vận động phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam; mối quan hệ tín dụng giữa bộ phận doanh nghiệp này và các ngân hàng thương mại Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng kết hợp phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp diễn dịch và quy nạp để xử lý thông tin từ các nguồn báo chí, tập san, internet, …; vận dụng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp logic để làm làm sáng tỏ vấn đề và tìm biện pháp giải quyết vấn đề
- Sử dụng thang đo Likert, phương pháp thống kê mô tả và phương pháp phân tích nhân tố khám phá để thực hiện nghiên cứu cá nhân có liên quan đến nội dung luận văn
- Vận dụng kinh nghiệm của các nước trên thế giới đồng thời quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước trong việc tìm giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trang 115 Ý nghĩa thực tiễn và hạn chế của luận văn
Luận văn đã đi vào thực tiễn tình hình phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, nêu bật những khó khăn, hạn chế cần được quan tâm khắc phục vì sự phát triển của bộ phận doanh nghiệp này trong tương lai Đồng thời, luận văn cũng đã đi vào phản ảnh thực tế tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam Từ đó, khẳng định vai trò quan trọng của các ngân hàng trong việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ tài chính cho bộ phận doanh nghiệp nói chung, các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng; song song với việc đưa ra các giải pháp thiết thực góp phần nâng cao hiệu quả mối quan hệ tín dụng của hai chủ thể này Ngoài ra, tác giả cũng đã góp phần nâng cao độ tin cậy, tính thực tiễn của luận văn thông qua việc tiến hành nghiên cứu cá nhân về quan điểm của cán bộ tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tuy nhiên, hạn chế của luận văn là các số liệu liên quan đến tình hình cung cấp các sản phẩm tín dụng ngân hàng còn thiếu cập nhật và chỉ là số liệu đại diện tại một số ngân hàng nên làm giảm đi tính thời sự của những nhận định mà tác giả đưa ra Đồng thời, các giải pháp mà tác giả đưa ra cũng mới mang tính định hướng mà chưa đi sâu phân tích để đưa ra một tiến trình thực hiện cụ thể
* Kết cấu luận văn
Luận văn bao gồm ba phần với các nội dung chính như sau :
-Phần I : Nêu lên những lý luận chung về tín dụng ngân hàng và doanh
nghiệp nhỏ và vừa
-Phần II : Đi vào nghiên cứu tình hình hoạt động của doanh nghiệp nhỏ
và vừa và thực trạng tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
-Phần III : Đưa ra kiến nghị đối với các cơ quan hữu quan, các giải pháp
thực tiễn đối với ngân hàng thương mại cũng như đối với doanh nghiệp nhỏ và
Trang 12vừa để các ngân hàng có thể thực hiện mở rộng tín dụng cho bộ phận doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trang 13CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
- - 1.1 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Từ “tín dụng” xuất phát từ gốc Latinh “Creditum” nghĩa là sự tin tưởng, tin dùng Hoạt động tín dụng xuất hiện từ rất sớm, nó ra đời và phát triển cùng với sự phát triển không ngừng của sản xuất hàng hóa “Tín dụng” được biểu hiện qua một số hành vi kinh tế phức tạp như: bán chịu hàng hóa, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, ký thác, phát hành giấy bạc Qua các hành vi nói trên, chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản tín dụng là một giao dịch giữa hai bên, trong đó bên cho vay cung cấp tiền, hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng khoán dựa vào lời hứa thanh toán trong tương lai của người vay và giao dịch này còn bao gồm cả việc thanh toán cho người cho vay một khoản lợi tức cho vay Phát biểu một cách học thuật, nhà kinh tế Pháp, ông Louis Baudin, đã định nghĩa tín dụng như là “một sự trao đổi tài hóa hiện tại lấy một tài hóa tương lai” hay Các Mác trong tác phẩm “Tư Bản” của ông cũng đưa ra quan điểm “Tín dụng, dưới hình thức biểu hiện đơn giản nhất của nó, là sự tín nhiệm ít nhiều có căn cứ đã khiến cho một người này giao cho một người khác một số tư bản nào đó dưới hình thái hàng hóa, được đánh giá thành một số tiền nhất định Số tiền này phải được trả lại trong một thời gian nhất định”
Hành vi tín dụng có thể thực hiện bởi bất cứ ai nhưng theo thời gian chúng
ta thấy có sự chuyên nghiệp đã xảy ra Ngày nay, khi nói đến tín dụng thì người
ta nghĩ ngay đến các ngân hàng vì tổ chức này chuyên làm các việc như cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, ký thác Từ thực tế này, định nghĩa về “tín dụng ngân hàng” có thể được khái quát hóa như Điều 20 của “Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam” là “việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một
Trang 14khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác”
1.1.2 Phân loại tín dụng ngân hàng
1.1.2.1 Căn cứ vào thời hạn cho vay, tín dụng có thể chia thành :
- Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn dưới một năm, mục đích thường
là tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động
- Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn từ một đến năm năm, mục đích
thường là tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định
- Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên năm năm, mục đích thường là
tài trợ cho các dự án đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh
1.1.2.2 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn, tín dụng có thể chia thành : cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp, cho vay nông nghiệp, cho vay tiêu dùng cá nhân, cho vay bất động sản, cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu …
1.1.2.3 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm khách hàng, tín dụng có thể chia thành :
- Cho vay không có bảo đảm tiền vay: là loại cho vay không có tài sản thế chấp,
cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách
hàng vay vốn để quyết định cho vay
- Cho vay có bảo đảm tiền vay: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho
tiền vay như tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác
1.1.2.4 Căn cứ vào kỹ thuật nghiệp vụ cho vay - thu nợ, tín dụng có thể chia thành:
- Cho vay thông thường (cho vay theo món): đây là loại hình tín dụng lâu đời
nhất, nó phục vụ cho các đối tượng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên, có
Trang 15tính chất đột xuất Số tiền vay được ngân hàng giải ngân một lần vào thời điểm khách hàng ký giấy nhận nợ và thường được hoàn trả vào cuối thời hạn vay
- Cho vay luân chuyển (tín dụng hạn mức): người đi vay ký kết hợp đồng tín dụng
như cho vay thông thường nhưng trong thời gian thực hiện hợp đồng có thể bổ sung, sửa đổi hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp theo yêu cầu của mỗi bên Người vay vốn có thể chủ động về thời gian và tiết kiệm vốn vì khi có tiền, khách hàng nộp tiền vào tài khoản tiền vay, giảm nợ; khi cần vốn, khách hàng chỉ cần viết giấy nhận nợ hoặc ký nhận tiền vay trong hợp đồng tín dụng Ngược lại, phía ngân hàng cũng tiết kiệm được vốn trong quá trình luân chuyển
- Thấu chi: là loại hình tín dụng mà theo đó khách hàng được ngân hàng cho
phép chi tiền vượt quá số dư thực có trên tài khoản tiền gửi trong một giới hạn thỏa thuận
- Chiết khấu chứng từ có giá ( như chiết khấu thương phiếu, trái phiếu, tín phiếu
kho bạc nhà nước, kỳ phiếu, thẻ tiết kiệm, chiết khấu bộ chứng từ trong xuất nhập khẩu…): theo đó ngân hàng đứng ra trả tiền trước cho các chứng từ có giá chưa đến hạn thanh toán theo yêu cầu của người thụ hưởng (người sở hữu chứng từ) bằng cách khấu trừ ngay một số tiền nhất định, số tiền còn lại thanh toán cho người thụ hưởng
- Cho vay hợp vốn (tín dụng liên kết, tín dụng đồng tài trợ): là phương thức tín
dụng mà theo đó một nhóm ngân hàng thương mại cùng tham gia cung cấp tín dụng cho một dự án vay hoặc phương án vay vốn của khách hàng kèm theo các điều kiện, điều khoản nhất định
- Bảo lãnh ngân hàng: là một hợp đồng giữa hai bên, một bên là người bảo lãnh
(thường là ngân hàng) và một bên là người thụ hưởng bảo lãnh, trong đó người bảo lãnh cam kết sẽ bồi hoàn một khoản tiền cho người thụ hưởng bảo lãnh trong trường hợp người được bảo lãnh vi phạm những nghĩa vụ của họ được quy định trong bảo lãnh Các loại bảo lãnh có thể kể đến là: bảo lãnh nợ vay, bảo
Trang 16lãnh thanh toán, bảo lãnh xây dựng, bảo lãnh thực hiện hợp đồng cho nhà xuất khẩu, bảo lãnh đấu thầu, bảo lãnh hoàn thanh toán, bảo lãnh bảo hành, bảo lãnh nhận hàng, bảo lãnh hải quan
- Tín dụng thẻ ngân hàng: là hình thức tín dụng mà ngân hàng cấp tín dụng cho
khách hàng thông qua thẻ tín dụng Khách hàng sử dụng thẻ để mua hàng hóa, dịch vụ từ cơ sở tiếp nhận thẻ hoặc dùng thẻ để rút tiền mặt tại máy ATM hoặc tại ngân hàng đại lý trong hạn mức tín dụng đã thỏa thuận Cuối tháng, ngân hàng sẽ gửi giấy báo Nợ yêu cầu khách hàng thanh toán trên số dư thực tế mà khách hàng đã sử dụng
- Tín dụng chứng từ hay tín dụng thư (Letter Credit - L/C): Tín dụng thư là cam
kết của ngân hàng mở L/C đối với nhà xuất khẩu theo yêu cầu của khách hàng (nhà nhập khẩu) rằng ngân hàng sẽ đảm bảo thanh toán cho nhà xuất khẩu hoặc chấp nhận hối phiếu do nhà xuất khẩu ký phát nếu nhà xuất khẩu xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với các điều khoản trong L/C Ngân hàng mở L/C theo yêu cầu của nhà nhập khẩu nhưng không phải lúc nào nhà nhập khẩu cũng có đủ số dư ký quỹ mở L/C Do vậy, có thể nói việc mở thư tín dụng đã thể hiện là một phương thức tài trợ vốn cho nhà nhập khẩu
- Cho thuê tài chính: là hợp đồng tín dụng trung và dài hạn trên cơ sở hợp đồng
cho thuê tài sản giữa một bên là tổ chức tín dụng (bên cho thuê tài chính) với một bên là khách hàng thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã thỏa thuận Khi kết thúc thời hạn thuê, khách hàng được quyền mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã được thỏa thuận trong hợp đồng Trong thời gian thuê, các bên không được đơn phương hủy bỏ hợp đồng
- Bao thanh toán: là hoạt động mua bán nợ Ngân hàng (hoặc công ty tài chính
chuyên nghiệp) đứng ra trả tiền ngay cho nhà cung cấp hàng hoá, dịch vụ (người bán) theo bộ chứng từ mà người bán xuất trình; sau đó ngân hàng sẽ đòi tiền
Trang 17người mua theo hợp đồng bao thanh toán đã ký kết Chênh lệch giữa số tiền trên chứng từ, hóa đơn và số tiền ứng trước chính là khoản thu nhập của ngân hàng bao thanh toán
- Tài trợ theo dự án: là cung cấp vốn cho các dự án đầu tư mới bằng cách thiết
kế một cấu trúc tài chính dựa trên dòng tiền và tài sản của dự án Nguồn tiền chủ yếu trả nợ là từ doanh thu của dự án và được đảm bảo bởi tính hiệu quả của dự án chứ không phụ thuộc vào chủ dự án
1.1.3 Chức năng của tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng có ba chức năng sau:
- Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ theo nguyên tắc có hoàn trả:
Thực hiện chức năng này, tín dụng được xem là chiếc cầu nối giữa cung và cầu vốn tiền tệ trong nền kinh tế Ở khâu tập trung: tín dụng tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, ở khâu phân phối: tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp, cá nhân và cả ngân sách nhà nước Phân phối vốn qua hệ thống tín dụng phục vụ chủ yếu cho nhu cầu sản xuất, lưu thông hàng hóa, dịch vụ, qua đó góp phần phát triển nền kinh tế trong từng giai đoạn nhất định Trong nền kinh tế thị trường, ta không chỉ nhìn thấy chức năng này ở tín dụng ngân hàng mà còn thấy ở các loại hình tín dụng trực tiếp khác như: mua bán chịu hàng hóa trên cơ sở phát triển hoạt động thương mại (tín dụng thương mại), hay việc các doanh nghiệp, chính phủ phát hành trái phiếu trên thị trường chứng khoán…
- Chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội:
Thoạt đầu tiền tệ lưu thông là hóa tệ nhưng quan hệ tín dụng đã làm xuất hiện việc lưu thông dưới các dấu hiệu giá trị, cụ thể là:
+ Tín dụng tạo điều kiện thay thế tiền kim loại bằng các phương tiện chi trả khác như: giấy bạc ngân hàng, thẻ, séc…
+ Tín dụng ra đời tạo điều kiện phát triển việc thanh toán không dùng tiền mặt và thanh toán bù trừ giữa các đơn vị kinh tế Từ đó tiết kiệm được lượng tiền
Trang 18mặt phải phát hành để phục vụ cho lưu thông hàng hóa, khuyến khích các doanh nghiệp tập trung dự trữ tiền mặt trong tài khoản ngân hàng Đây là nguồn động lực để gia tăng nguồn vốn hoạt động của hệ thống ngân hàng và tạo điều kiện cho ngân hàng trung ương thực hiện linh hoạt chính sách tiền tệ
+ Tín dụng ngân hàng thông qua việc phát huy chức năng tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội vào quá trình sản xuất của cải vật chất đã đẩy nhanh tốc độ lưu thông tiền tệ, lưu thông hàng hóa Qua đó đã phần nào tiết kiệm chi phí lưu thông cho xã hội
- Chức năng phản ánh một cách tổng hợp và kiểm soát quá trình hoạt động của nền kinh tế:
Trong quá trình thực hiện chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ, tín dụng ngân hàng có khả năng phản ánh một cách tổng hợp và nhạy bén tình hình hoạt động của nền kinh tế nên tín dụng được coi là một trong những công cụ quan trọng của nhà nước để kiểm soát và thúc đẩy việc thực thi các chiến lược phát triển kinh tế Mặt khác, khi thực hiện chức năng tiết kiệm tiền mặt gắn liền với việc phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, tín dụng ngân hàng cũng có thể phản ánh và kiểm soát được quá trình phân phối sản phẩm quốc dân trong nền kinh tế
1.1.4 Một số nội dung chủ yếu của tín dụng ngân hàng:
1.1.4.1 Nguyên tắc tín dụng: Hiện nay, việc cấp phát tín dụng tại nước ta
phải tuân thủ theo hai nguyên tắc sau:
(1) Vốn vay phải được hoàn trả cả vốn gốc và lãi theo đúng kỳ hạn đã cam kết:
nguyên tắc này có tác dụng giúp cho ngân hàng đảm bảo khả năng thanh toán, đảm bảo nguồn lợi nhuận, giảm tỷ lệ dự phòng rủi ro, từ đó nâng cao điểm tín nhiệm và tăng hạng xếp loại của ngân hàng
(2) Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín
dụng : thực hiện nghiêm túc nguyên tắc này sẽ giúp ngân hàng kiểm soát hoạt
Trang 19động kinh doanh của khách hàng, góp phần đảm bảo nguồn thu cho ngân hàng (tức giúp thực hiện nguyên tắc (1)) Việc quy định mục đích sử dụng vốn trên hợp đồng tín dụng cũng góp phần đảm bảo thực hiện quy định của pháp luật đối với hoạt động cho vay của ngân hàng
1.1.4.2 Lãi suất tín dụng: đây là giá cả tiền vay được đo lường bằng tỷ
lệ % giữa lợi tức tín dụng trên vốn tín dụng mà người đi vay phải trả cho người cho vay trong một khoảng thời gian nhất định Lãi suất tín dụng của một ngân hàng chịu ảnh hưởng của một số yếu tố: lãi suất huy động, chi phí nghiệp vụ ngân hàng, lợi tức dự kiến chia cho cổ đông, rủi ro tín dụng, mối quan hệ của khách hàng với ngân hàng, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại, kỳ hạn vay Ngoài ra, lãi suất tín dụng còn bị chi phối bởi thị trường tiền tệ, sự can thiệp của ngân hàng trung ương (yếu tố vĩ mô)
Chúng ta có thể điểm qua một số lãi suất quen thuộc đối với hoạt động ngân hàng sau :
- Lãi suất phi rủi ro (Rf): là lãi suất mà đối tượng cho vay không bịù rủi ro mất
vốn, chỉ có lãi suất tín phiếu kho bạc mới có thể được xem là lãi suất phi rủi ro
- Lãi suất huy động vốn (Rd): là lãi suất mà ngân hàng trả cho khách hàng gửi
tiền Công thức xác định: Rd = Rf + Rtd (trong đó Rtd là tỷ lệ bù đắp rủi ro tín
dụng do ngân hàng ước lượng)
- Lãi suất cơ bản (Rcb) : là lãi suất do Ngân hàng nhà nước công bố làm cơ sở
cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh Lãi suất cơ bản được hình thành dựa trên cơ sở quan hệ cung cầu tín dụng trên thị trường tiền tệ liên ngân
hàng; nó được xác định theo công thức: Rcb = Rd + Rtn ( với Rtn là tỷ lệ thu
nhập do đầu tư của ngân hàng)
- Xác định lãi suất cho vay (R) dựa vay lãi suất cơ bản :
R = Rcb + Rth + Rct
(với Rth là tỷ lệ điều chỉnh rủi ro thời hạn, Rct là tỷ lệ điều chỉnh cạnh tranh)
Trang 201.1.4.3 Phân tích tín dụng: đây là động thái nhằm xác định khả năng và ý
muốn của người đi vay trong việc hoàn trả nợ vay, xem xét tình hình hoạt động thực tế của người vay liệu có phù hợp với các điều khoản của hợp đồng tín dụng Hiện nay, một số ngân hàng khi phân tích tín dụng thường xem xét các yếu tố sau :
- Nguyên tắc 5 C (được áp dụng phổ biến tại các ngân hàng Châu Aâu) bao gồm
các yếu tố:
+ Capacity (khả năng hoàn trả nợ vay): bất kể người đi vay có nhu cầu vốn để làm gì (sản xuất kinh doanh, xây dựng, mua sắm) đều phải chứng minh năng lực của mình trên cả hai mặt vay nợ và trả nợ
+ Charater (tính cách, uy tín của khách hàng) : bất cứ ngân hàng nào đều muốn chọn lựa người đi vay có uy tín cao thể hiện qua tính cách của họ trong nhiều khía cạnh (trí tuệ, năng lực, các hành vi đạo đức ) Đây là yếu tố rất quan trọng trong phân tích tín dụng
+ Capital (vốn chủ sở hữu) : vốn là yếu tố quan trọng hàng đầu của người sản xuất kinh doanh, nó cũng là một trong những yếu tố để ngân hàng tin tưởng vào khả năng sử dụng vốn của đơn vị bởi lẽ vốn của doanh nghiệp và vốn tín dụng phải phối hợp với nhau theo một tỷ lệ hợp lý thì việc kinh doanh mới đạt hiệu quả cao
+ Collateral (đảm bảo tín dụng): một khoản tín dụng nếu được đảm bảo tài sản cầm cố hoặc thế chấp sẽ có tác dụng gắn chặt trách nhiệm và nghĩa vụ của người đi vay ; mặt khác nếu xảy ra rủi ro khách quan khiến người đi vay không trả được nợ thì tài sản đảm bảo sẽ trở thành nguồn thu nợ thứ hai của ngân hàng
+ Conditions (các điều kiện chung): đây là các điều kiện về pháp lý, kinh tế vĩ mô, tài chính do nhà nước quy định có ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng
Trang 21ngân hàng Đó cũng là những điều kiện cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến tín dụng như thời hạn, kỳ hạn, lãi suất
- Nguyên tắc 5 P (được áp dụng phổ biến tại các ngân hàng Châu Á) bao gồm
các tiêu chuẩn :
+ Person (con người) : có ý nghĩa tương tự như nguyên tắc Charater trong tiêu chuẩn 5 C
+ Purpose (mục đích vay) : người vay vốn phải có mục đích sử dụng vốn vừa hợp pháp, vừa phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của họ Chính vì vậy mà mục đích vay vốn không những cần được thể hiện trong các cam kết của hợp đồng tín dụng mà còn phải được chứng minh cụ thể qua các chứng từ, hóa đơn
+ Payment Source (nguồn trả nợ) : người đi vay phải chứng minh mình có khả năng thanh toán đối với những khoản nợ đến hạn
+ Prospect hay Policy (triển vọng) : Hoạch định chiến lược, sách lược phát triển doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Do vậy, phân tích tín dụng cũng xem nó là một nội dung quan trọng để đảm bảo cho sự thu hồi vốn gốc và lãi cho vay
+ Properties hay Protection (tài sản đảm bảo): có ý nghĩa tương tự như nguyên tắc Collateral trong tiêu chuẩn 5 C
- Ngoài ra còn có thể kể đến Nguyên tắc PAPERS tổng hợp các tiêu chuẩn có
thể áp dụng phù hợp cho cả ngân hàng Châu Aâu và Châu Á là :
+ Person : tìm kiếm các khách hàng có uy tín, có năng lực, gây ấn tượng tốt, tạo được chỗ đứng trong kinh doanh
+ Amount : thẩm định số tiền mà khách hàng đề nghị vay có phù hợp với mục đích sử dụng vốn không, khách hàng có thể trả khoản vay như thế này không
+ Purpose : phân tích mục đích vay có hợp pháp, hợp lý không
Trang 22+ Equity : thẩm định về vốn chủ sở hữu
+ Repayment : xem xét khả năng hoàn trả vốn vay của khách hàng
+ Security : xem xét tài sản đảm bảo
1.2 TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA (DNNVV)
1.2.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Có thể sử dụng nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại DNNVV như : tổng vốn đầu tư, giá trị tài sản cố định, lao động, doanh thu bán hàng, lợi nhuận, vốn đầu tư bình quân cho một lao động… Trên thực tế, các quốc gia thường quan tâm đến hai tiêu thức là vốn và lao động để xác định DNNVV Tùy thuộc vào điều kiện của mỗi nước mà việc xác định độ lớn của mỗi tiêu thức là khác nhau, chẳng hạn như tại Thái Lan, Philipin, Mỹ, Cộng hòa Liên bang Đức đã phân loại doanh nghiệp như sau:
(người) Doanh số bán hàng/ năm
Từ trên 15 đến 60 triệu Peso
Từ trên 1,5 đến 15 triệu Peso
Dưới 1,5 triệu Peso
Cộng hòa
Liên bang
Đức
- doanh nghiệp vừa:
- doanh nghiệp nhỏ:
499 dưới 9
từ 1 đến 100 triệu DM
dưới 1 triệu
DM
Tại Việt Nam, khái niệm về DNNVV đã chính thức được nhắc đến trong Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật
Trang 23hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người” Sau đó, khái niệm này được điều chỉnh một cách chi tiết hơn, mang tính thời sự hơn bởi Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 (ban hành thay cho Nghị định 90/2001/NĐ-CP) Theo đó, “doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Khu vực Số lao động Tổng nguồn vốn Số lao động Tổng nguồn vốn Số lao động
I Nông, lâm
nghiệp và thủy
sản
10 người trở xuống 20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng
từ trên
200 người đến 300 người
II Công nghiệp
và xây dựng
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
200 người
từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng
từ trên
200 người đến 300 người
III Thương mại
và dịch vụ 10 người trở xuống 10 tỷ đồng trở xuống
từ trên 10 người đến
50 người
từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng
từ trên 50 người đến
100 người
Các DNNVV xuất hiện trong mọi thành phần kinh tế nhưng tập trung chủ yếu ở bộ phận kinh tế ngoài quốc doanh Trên cơ sở này, luận văn sẽ tập trung phân tích các số liệu có liên quan đến kinh tế ngoài quốc doanh, xem đó là đại diện cho cả bộ phận DNNVV, để tạo thuận lợi cho việc nghiên cứu về DNNVV
1.2.2 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trang 24DNNVV đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, là bộ phận doanh nghiệp có khả năng tận dụng các nguồn lực xã hội, cụ thể trên các khía cạnh sau:
- Về vốn: DNNVV thường khởi sự kinh doanh bằng nguồn vốn ít ỏi của chủ
doanh nghiệp nên DNNVV dễ được đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia hoạt động Từ đó, thu hút được nguồn vốn trong dân vào sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế đất nước
- Về lao động: Doanh nghiệp nhỏ và vừa góp phần quan trọng trong việc tạo ra
công ăn việc làm cho người lao động Tại các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển, số DNNVV chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp trong cả nước, giải quyết việc làm cho gần 2/3 lực lượng lao động DNNVV được thành lập ở địa phương nào là sử dụng chủ yếu lao động ngay tại địa phương đó, đặc biệt là các địa phương có nhiều lao động chân tay, lao động phổ thông Bởi lẽ phần lớn các DNNVV sử dụng ít vốn, nhiều lao động nên hầu như lao động ở khu vực này không đòi hỏi phải có trình độ cao mà chỉ cần đào tạo ngắn ngày là đã có thể tham gia sản xuất được trong doanh nghiệp
- Về kỹ thuật: DNNVV thường lựa chọn kỹ thuật phù hợp với trình độ lao động
và khả năng về vốn Họ kết hợp kỹ thuật thủ công với kỹ thuật mà đa số lao động có thể nhanh chóng tiếp thu và ít khi sử dụng kỹ thuật hiện đại đòi hỏi vốn lớn
- Về nguyên vật liệu: DNNVV chủ yếu sử dụng các nguyên vật liệu thuộc phạm
vi địa phương, dễ khai thác sử dụng Họ chỉ phải nhập khẩu các vật liệu mà thị
trường trong nước chưa thể đáp ứng
1.2.3 Ưu thế và hạn chế của doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.2.3.1 Các ưu thế của doanh nghiệp nhỏ và vừa:
- Dễ dàng khởi sự kinh doanh và năng động, nhạy bén với thị trường: Việc thành lập DNNVV không đòi hỏi quá nhiều vốn, không cần một bộ máy tổ chức phức
Trang 25tạp nên các DNNVV dễ tiến hành hoạt động kinh doanh Chính vì thế số lượng DNNVV ra đời tại các quốc gia ngày càng tăng theo thời gian Mặt khác, khi nhu cầu thị trường thay đổi, DNNVV với bộ máy quản lý gọn nhẹ sẽ dễ dàng chuyển đổi hoạt động sang các lĩnh vực kinh doanh khác hoặc chuyển sang sản xuất các
sản phẩm mới
- Có thể duy trì sự tự do cạnh tranh: Các DNNVV kinh doanh thường không có
tình trạng độc quyền Họ sẵn sàng chấp nhận tự do cạnh tranh như là con đường tốt nhất để phát huy mọi tiềm lực
- Có thể phát huy tiềm lực thị trường trong nước: Sự phát triển DNNVV ở giai
đoạn đầu là phương thức tốt nhất để thay thế nhập khẩu Tại các nước chưa phát triển như nước ta, DNNVV chỉ cần lựa chọn sản xuất một số mặt hàng thay thế nhập khẩu với vốn đầu tư thấp, kỹ thuật không phức tạp, phù hợp với sức mua của người dân là có thể lấy đó làm cơ sở để nâng cao năng lực sản xuất và sức mua của thị trường trong nước
- Tạo sự phát triển cân bằng giữa các vùng: DNNVV có thể phát triển ở mọi nơi,
mọi vùng của đất nước, lấp vào khoảng trống của các doanh nghiệp lớn Từ đó tạo nên sự cân bằng giữa các vùng lãnh thổ
- Dễ phát huy sự hợp tác: DNNVV thường chỉ tiến hành một giai đoạn trong quá
trình sản xuất một sản phẩm, mà các giai đoạn phải kết hợp với nhau để có được sản phẩm hoàn chỉnh tiêu thụ trên thị trường nên đòi hỏi các DNNVV phải luôn tự hoàn thiện bản thân mình và tiến hành hợp tác sản xuất, nếu không sẽ dễ bị
đào thải
- Thu hút nhiều lao động nên có thể góp phần giảm bớt nạn thất nghiệp: Các
DNNVV thường tận dụng lao động thay thế cho vốn, đặc biệt là ở các nước có lực lượng lao động dồi dào và giá lao động rẻ như nước ta Từ đó DNNVV không chỉ góp phần tạo ra việc làm cho xã hội mà còn “ tự giúp mình” hoạt động với chi phí cố định thấp
Trang 26- Ít có xung đột giữa người lao động và người sử dụng lao động: Do quy mô
không lớn nên trong DNNVV gần như không có sự ngăn cách giữa người lao động và người sử dụng lao động, nội bộ dễ thống nhất Bản thân chủ doanh nghiệp cũng luôn theo sát công việc của người lao động nên nếu có xảy ra mâu thuẫn, xung đột thì cũng dễ dàng giải quyết
- DNNVV là nơi đào luyện các nhà doanh nghiệp và là cơ sở kinh tế ban đầu để
phát triển thành doanh nghiệp lớn: Thực tế cho thấy mạng lưới DNNVV trên khắp mọi miền đất nước có khả năng đào tạo, sàng lọc các nhà doanh nghiệp một cách hữu hiệu nhất Mặt khác, quá trình phát triển DNNVV cũng là quá trình tích tụ vốn, tìm kiếm, mở mang thị trường… để phát triển thành doanh nghiệp lớn
1.2.3.2 Các hạn chế của doanh nghiệp nhỏ và vừa:
- Do vốn ít, khả năng huy dộng vốn có hạn nên khi việc kinh doanh rơi vào suy thoái thì DNNVV dễ lâm vào tình trạng sản xuất sa sút, thậm chí thua lỗ lớn một lần thì cũng khó gượng dậy, dễ lâm vào phá sản
- Khó có khả năng trong việc chiếm lĩnh thị trường và khó cạnh tranh trên thương trường với các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là trên trường quốc tế
- Thiếu các thiết bị, công nghệ hiện đại nên khó đạt được năng suất lao động cao, chi phí thấp như các doanh nghiệp lớn
- Việc tuyển chọn, thu hút và giữ chân những lao động có trình độ tay nghề cao thường khó khăn hơn các doanh nghiệp lớn, chủ yếu vì trả lương không cao bằng doanh nghiệp lớn Ngoài ra các điều kiện lao động, bảo hiểm, đào tạo chuyên môn, cơ hội thăng tiến… cũng kém thuận lợi hơn doanh nghiệp lớn
- Thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin thị trường, thông tin về công nghệ, quản lý từ đó làm hạn chế năng lực quản lý của người điều hành doanh nghiệp
Trang 27- Trong quá trình hoạt động, một số DNNVV vì chạy theo lợi nhuận có thể gây
ra một số tiêu cực ảnh hưởng không tốt đến đời sống kinh tế-xã hội, chẳng hạn như: trốn thuế, làm hàng giả, sản xuất hàng kém chất lượng, gây ô nhiễm môi trường …
1.3 VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA (DNNVV)
1.3.1 Các kênh tiếp cận vốn của DNNVV và vai trò của vốn tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường, các nguồn cung ứng vốn là hết sức đa dạng mà dựa vào đó các DNNVV có thể tiếp cận để hình thành nguồn vốn kinh doanh của mình Ở đây, chúng ta có thể kể đến các nguồn vốn sau:
- Trước hết là nguồn vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn được các chủ sở hữu bỏ ra
đầu tư thành lập doanh nghiệp Nguồn vốn ban đầu này gọi là vốn điều lệ, thường thì nó không đổi trong quá trình doanh nghiệp hoạt động (trừ khi doanh nghiệp quyết tăng hay giảm vốn) Vốn chủ sở hữu của DNNVV chỉ được tăng cường khi doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, chủ sở hữu dùng lợi nhuận sau thuế để bổ sung nhu cầu vốn của mình
- Thứ hai là nguồn vốn liên doanh, liên kết: được tạo lập thông qua việc hợp tác
kinh doanh hoặc liên kết giữa doanh nghiệp với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Đối với DNNVV thì các hoạt động liên doanh, liên kết còn khá hạn chế nên vốn huy động từ nguồn này còn thấp
- Thứ ba là vốn huy động từ thị trường chứng khoán: Thị trường chứng khoán là
nơi diễn ra các giao dịch, mua bán chứng khoán và các giấy tờ có giá trung và dài hạn Đây là nơi cung cấp các nguồn tài trợ cũng như điều tiết rất hiệu quả nguồn vốn của toàn xã hội Tuy nhiên, ở nước ta, cho đến thời điểm này, các DNNVV vẫn chưa thể tiếp cận với kênh huy động vốn này Một mặt là do tồn tại quy định doanh nghiệp muốn niêm yết trên thị trường chứng khoán thì phải có vốn điều lệ trên 10 tỷ đồng, mặt khác là thị trường chứng khoán Việt Nam có
Trang 28quy mô còn nhỏ bé, hoạt động trồi sụt bất thường Đó là chưa kể đến tình hình
“ảm đạm” của thị trường chứng khoán trong thời gian gần đây, dù cho có hy vọng lắm thì cũng phải mất một thời gian rất lâu các DNNVV mới có thể huy động vốn từ thị trường chứng khoán
- Và cuối cùng là khả năng huy động vốn từ các tổ chức tài chính trung gian :
Các DNNVV có thể nhận vốn tài trợ từ các quỹ đầu tư mạo hiểm, các công ty tài
chính, công ty cho thuê tài chính và các ngân hàng thương mại Đối với quỹ đầu
tư mạo hiểm, DNNVV phải là một doanh nghiệp thực sự giàu tiềm năng phát triển thì mới trở thành đối tượng đầu tư của các quỹ này Còn nguồn vốn mà các
công ty tài chính dành cho DNNVV thì khá hạn hẹp Hiện tại, chỉ có các ngân
hàng thương mại là kênh huy động vốn quen thuộc với nhiều DNNVV Điều này xuất phát từ thực tế tín dụng ngân hàng đã phát triển từ lâu đời, nó đáp ứng nhu cầu linh hoạt về vốn, thúc đẩy quá trình tập trung vốn và sử dụng vốn hiệu quả Tín dụng ngân hàng không những ưu tiên vốn cho các ngành kinh tế mũi nhọn mà còn vận dụng cơ cấu vốn hợp lý, chính sách lãi suất phù hợp… để tài trợ cho các ngành kém phát triển Bản thân ngân hàng thương mại là tổ chức chuyên nghiệp trong hoạt động cho vay, vừa cung cấp các dịch vụ thanh toán hiện đại vừa triển khai nhiều sản phẩm tín dụng đa dạng (trong đó bao hàm cả sản phẩm “cho thuê tài chính” - được cung ứng từ công ty cho thuê tài chính trực thuộc ngân hàng - được xem là một sản phẩm khá phù hợp với loại hình DNNVV) Bên cạnh đó, thông qua việc áp dụng ngày càng nhiều chính sách ưu đãi cho DNNVV, các ngân hàng đang thể hiện xu hướng xem DNNVV là khách hàng tiềm năng của mình Điều này rất thuận lợi cho việc huy động vốn của các DNNVV trong tương lai và càng khẳng định mạnh mẽ vai trò của tín dụng ngân
hàng đối với sự phát triển của các DNNVV
1.3.2 Các biện pháp hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các nước trên thế giới
Trang 291.3.2.1 Đài Loan
Đài Loan phổ biến các xí nghiệp nhỏ có từ 5 đến 10 công nhân nhưng các DNNVV lại đóng góp rất nhiều cho sự phát triển kinh tế Do vậy, chính phủ Đài Loan thường xuyên có các chương trình hỗ trợ lãi suất cho DNNVV như : phối hợp giữa nguồn vốn ngân sách và vốn ngân hàng để thành lập Quỹ bảo lãnh DNNVV vay vốn; khuyến khích ngân hàng thành lập Trung tâm Liên hiệp hỗ trợ tín dụng DNNVV (là tổ chức giúp ngân hàng thẩm định cho vay đối với những dự án mà ngân hàng không thể tự quyết định); khuyến khích tư nhân cho vay vốn hoặc cung cấp tín dụng cho nhau để khởi sự thành lập doanh nghiệp
1.3.2.2 Nhật Bản
Các DNNVV có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giúp Nhật duy trì tốc độ tăng trưởng Do vậy, chính phủ Nhật Bản đã sử dụng nhiều công cụ trong hệ thống tài chính tín dụng để hỗ trợ về vốn cho bộ phận này Ở đây có thể kể đến :
- Ngân hàng công thương (The Shoko Churi Bank-SCB): Các DNNVV vay vốn từ
SCB được ưu đãi hơn so vay vốn từ ngân hàng tư nhân, cụ thể:
Ngân hàng tư nhân Ngân hàng công thương Tài sản thế chấp Đất đai Đất đai và máy móc
Trị giá tài sản thế chấp 70% giá trị thật 100% giá trị thật
Lãi suất cho vay Biến động theo lãi suất
thị trường
Ổn định trong nhiều năm (có khi đến 10 năm)
- Công ty tài chính nhân dân (People’s Finance Corporation) (thành lập năm
1949): chủ yếu cho các doanh nghiệp thật nhỏ, có tính chất gia đình - không có điều kiện vay ngân hàng và các tổ chức tài chính thông thường- vay các khoản vốn nhỏ, lãi suất ưu đãi (mười năm đối với vốn cố định và năm năm đối với vốn lưu động) Phần lớn DNNVV vay không cần thế chấp và theo dõi bảng thu chi Nguồn vốn hoạt động của Quỹ là do chính phủ cung cấp, là số tiền được thu hút
Trang 30thông qua hình thức tiết kiệm bưu điện, tiền bảo hiểm của người lao dộng và tiền hưu trí của quốc gia
- Công ty tài chính Nhật Bản dành cho doanh nghiệp nhỏ (Japan Finance
Corporation for Small bussine-JFSB): thành lập năm 1953, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, bao gồm: Công ty tài chính nông lâm ngư nghiệp, Công ty tài chính thuộc lĩnh vực xây dựng và nâng cấp nhà ở, Quỹ cải tiến nông nghiệp, Quỹ khuyến khích cải tiến quản lý nông nghiệp… Chức năng của tổ chức này là tài trợ dài hạn phần vốn mà DNNVV không thể vay từ ngân hàng tư nhân với mức lãi suất rất thấp và cung cấp những thông tin quản lý, kinh doanh cho DNNVV
- Liên đoàn Doanh nghiệp nhỏ và vừa Nhật Bản (thành lập năm 1980): giúp đỡ
DNNVV trong lĩnh vực tài chính, đào tạo nhân lực, trợ giúp kỹ thuật và hỗ trợ quan hệ quốc tế Trong đó, về lĩnh vực tài chính, Liên đoàn Doanh nghiệp nhỏ và vừa Nhật Bản cùng Chính quyền địa phương cung cấp các khoản vay cho các Hiệp hội hợp tác DNNVV để thực hiện dự án nâng cấp doanh nghiệp Cơ chế thực hiện có thể tóm tắt như sau:
Cho vay Cho vay Liên đoàn DNNVV -> Chính quyền địa phương -> DNNVV
Đề nghị vay Đề nghị vay Liên đoàn DNNVV cho vay không vượt quá nửa tổng số vốn của doanh nghiệp và sẽ thu hồi dần qua cổ phần
- Hệ thống Bảo lãnh và Bảo hiểm Tín dụng: được ngân hàng Trung ương và địa
phương đầu tư vốn để đứng ra bảo lãnh cho các DNNVV không có tài sản thế chấp được vay vốn tại các ngân hàng tư nhân nhằm tránh rủi ro cho các ngân hàng này khi cho DNNVV vay vốn
1.3.2.3 Philipin
Trong những năm qua ở Philipin, nhiều kế hoạch tài chính cho DNNVV được đưa ra Đơn cử là chương trình SULONG, một chương trình cho các doanh
Trang 31nghiệp vay vốn quy mô quốc gia, là sự kết hợp giữa các cơ quan tài chính của chính phủ Tham gia vào chương trình này có những ngân hàng lớn của Philipin như Ngân hàng phát triển Philipin (DBP), Tổ hợp doanh nghiệp nhỏ (SB Corp), Ngân hàng tín dụng xuất nhập khẩu Philipin… Chương trình đã đưa ra các mức lãi suất thấp, hấp dẫn với những khoản vay ngắn, trung và dài hạn Khoảng hơn 640 triệu USD vốn vay đã được giải ngân cho khoảng 368.000 DNNVV trên toàn quốc kể từ khi chương trình này được tiến hành từ tháng 02/2003 đến tháng 10/2004 Ngoài những chương trình như vậy, nguồn vốn cho DNNVV còn được cung cấp bởi hệ thống ngân hàng và các tổ chức phi tài chính (bao gồm các công
ty bảo hiểm, tổ chức đầu tư, các hoạt động ủy thác và các tổ chức tài chính trung gian khác, trong số đó có cả các nhà đầu tư dưới dạng cho vay và các cửa hàng cầm đồ) Khoảng 20% tổng số vốn mà khu vực này nắm giữ là dành cho DNNVV, đó là chưa tính đến một số vốn khá lớn do các nhà cho vay không chính thức đầu tư vào các hộ kinh doanh Thực tế này khác hẳn với thập kỉ trước, khi mà nguồn vốn dành cho DNNVV rất hạn chế, đặc biệt là nguồn vốn ngân hàng Sở dĩ đạt được con số như hiện nay là do Chính phủ Philipin đã đưa ra hàng loạt chính sách quy định các tổ chức tài chính, nhất là ngân hàng phải dành một tỷ lệ nhất định trong tổng số vốn đầu tư cho các DNNVV vay Luật Magna Carta quy định ngân hàng phải dành 10% trong tổng số các khoản cho vay cho DNNVV Tuy nhiên, trở ngại của các ngân hàng khi cho DNNVV vay là tốn chi phí giao dịch cao và nhiều rủi ro; DNNVV cũng không dễ đáp ứng yêu cầu về thế chấp và bảo lãnh như doanh nghiệp lớn Để giải quyết vấn đề này, nhiều chương trình tài chính đã buộc phải đưa ra điều khoản để giúp các DNNVV nâng cao mức độ tín chấp của mình Bên cạnh các tổ chức chính phủ, những tổ chức tư nhân cũng đã triển khai chương trình trọn gói nhằm giúp cho doanh nghiệp có khả năng tín chấp bằng cách cung cấp cho họ các loại dịch vụ cần thiết giúp cho doanh nghiệp phát triển Các dịch vụ đó là: hỗ trợ phát triển thị trường, hỗ trợ
Trang 32phát triển sản phẩm, đào tạo nâng cao tay nghề công nhân, đào tạo quản lý vốn và các chương trình phát triển quản trị doanh nghiệp
1.3.2.4 Hàn Quốc
Để giúp các DNNVV thoát khỏi khó khăn tài chính, chính phủ Hàn Quốc đã thành lập các ngân hàng có sự đầu tư của chính phủ để phục vụ riêng cho các DNNVV Các DNNVV còn được hỗ trợ về tín dụng thông qua các Quỹ bảo lãnh tín dụng giúp cho DNNVV có điều kiện vay vốn từ các ngân hàng Ngân hàng Hàn Quốc đảm bảo cung cấp khoảng 90% tổng số vốn cho vay trong các lĩnh vực nhập khẩu công nghệ, hoạt động nghiên cứu và nhập khẩu máy móc để sản xuất nguyên vật liệu, phụ tùng Đặc biệt, chính phủ còn bắt buộc các ngân hàng thương mại phải dành 35% đến 40% tổng nguồn vốn vay của mình cho các DNNVV vay với lãi suất thương mại
1.3.3 Bài học kinh nghiệm trong việc hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp
nhỏ và vừa tại Việt Nam
Trên đây chúng ta đã điểm qua hết sức vắn tắt những biện pháp mà hầu hết quốc gia đã áp dụng để hỗ trợ vốn kinh doanh cho DNNVV Mặc dù vẫn chưa thấy hết mặt tích cực và hạn chế của những biện pháp đó nhưng về tổng quan ta có thể rút ra được một số kinh nghiệm để hỗ trợ tín dụng hiệu quả cho các DNNVV Việt Nam như sau:
- Sự hỗ trợ cho DNNVV không chỉ về vốn mà còn về mọi mặt (thông tin, kỹ thuật, quản trị…) để có thể nâng cao uy tín, nâng cao “tầm vóc” của DNNVV trong nền kinh tế Sự hỗ trợ này cần được hoạch định thành chiến lược dài hạn và phải được pháp chế hóa thành Luật (như tại Nhật, Philipin) Bên cạnh đó cần không ngừng phát huy sự liên kết của chính quyền các cấp trong việc hỗ trợ DNNVV
- Phát triển ngày một nhiều các chương trình hỗ trợ tài chính cho DNNVV mang tầm vóc quốc gia đi liền với việc phát triển hoạt động của các tổ chức tài chính,
Trang 33các Hiệp hội có liên quan đến DNNVV, đặc biệt là Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV
- Chính phủ nghiên cứu các biện pháp để huy động một phần vốn từ ngân sách nhà nước, từ quỹ hưu trí, quỹ bảo hiểm quốc gia cũng như kết hợp với hệ thống ngân hàng góp vốn tài trợ cho DNNVV Bên cạnh đó cần cổ vũ sự đóng góp của các tổ chức tài chính tư nhân để cho vay DNNVV
- Khuyến khích các DNNVV tăng cường sự liên kết, hợp tác trong sản xuất; khuyến khích tư nhân cung cấp tín dụng cho nhau với lãi suất phù hợp để khởi sự thành lập doanh nghiệp hoặc mở rộng sản xuất
- Bản thân các ngân hàng thương mại phải chủ động xây dựng chính sách cho vay phù hợp với DNNVV, trong đó có thể kể đến là áp dụng mức lãi suất ưu đãi, thời hạn vay là trung và dài hạn, điều kiện thông thoáng về tài sản thế chấp, thủ tục vay đơn giản… Đặc biệt là cần nghiên cứu phát triển các sản phẩm tín dụng phù hợp với loại hình DNNVV
*** Kết luận chương I
Chương I có nội dung bao hàm về mặt lý thuyết, là nền tảng cho luận văn
đi vào phân tích thực tiễn hoạt động tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại các ngân hàng thương mại trong chương sau Theo đó, chúng ta đã tìm hiểu tổng quan các nội dung về tín dụng ngân hàng cũng như đề cập đến vai trò, ưu thế và hạn chế trong hoạt động của loại hình doanh nghiệp này Đồng thời, luận văn đưa ra mối liên kết giữa tín dụng ngân hàng với DNNVV thông qua việc khẳng định tầm quan trọng của tín dụng ngân hàng đối với DNNVV so với các hình thức cung ứng vốn khác Quan trọng hơn, luận văn đã liên hệ đến các biện pháp hỗ trợ tín dụng cho DNNVV tại một số quốc gia tiêu biểu là Đài Loan, Nhật Bản, Philipin và Hàn Quốc để rút ra kinh nghiệm hữu ích trong việc cung cấp tín dụng cho các DNNVV ở nước ta trong thời gian tới
Trang 34CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
- - 2.1 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
VIỆT NAM
2.1.1 Tình hình phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV)
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số doanh nghiệp (chiếm tỷ lệ 90% tính đến cuối tháng 8/2008), đặc biệt tập trung chủ yếu ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Kể từ năm 1987 đến nay, với việc chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường, nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Đó cũng là cơ hội để các doanh nghiệp nhỏ và vừa khẳng định vai trò của mình trong nền kinh tế Để thấy rõ tình hình phát triển của các DNNVV ở nước ta trong những năm gần đây, chúng ta sẽ điểm qua vài nét chủ yếu sau :
2.1.1.1 Các DNNVV Việt Nam phát triển với tốc độ nhanh về số lượng
và tiếp tục có sự biến đổi về cơ cấu các loại hình sở hữu :
Trong thời gian qua, số lượng các DNNVV lại không ngừng gia tăng Hãy
xét sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, nơi tập trung chủ yếu DNNVV (số DNNVV trong năm 2006 ở khu vực ngoài quốc doanh chiếm trên 95% tổng số DNNVV Việt Nam), để thấy được sự gia tăng nhanh chóng số lượng các DNNVV Trong giai đoạn 2002–2006, số doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng từ 55.237 lên 123.392 doanh nghiệp, trung bình mỗi năm tăng 22,25% Từ đó giúp cho tỷ trọng doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong tổng số doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế trong nước tăng từ 87,81% trong năm 2002 lên 93,96% vào năm 2006 Không những vậy, trong quá trình
phát triển, các DNNVV ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã có sự biến đổi về
cơ cấu loại hình sở hữu doanh nghiệp Cụ thể là :
Trang 35- Hợp tác xã : Là loại hình được xem là giữ vị trí quan trọng thứ hai sau doanh
nghiệp nhà nước nên đã ra đời ồ ạt trong giai đoạn trước năm 1990 Nhưng khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường thì xảy ra tình trạng giải thể các hợp tác xã trên quy mô lớn Những năm gần đây, sau khi Luật hợp tác xã ra đời thì các hợp tác xã còn tồn tại trước đây cùng với các hợp tác xã mới ra đời đã được tổ chức lại theo mô hình hợp tác xã cổ phần có hiệu quả hơn Điển hình là trong các năm 2002 – 2005 số lượng hợp tác xã mỗi năm đều tăng mặc dù loại hình doanh nghiệp này ngày càng chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số doanh nghiệp ngoài quốc doanh (năm 2006 chỉ chiếm 4,74% trong tổng số doanh nghiệp ngoài quốc doanh)
- Doanh nghiệp tư nhân và Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) : Đây là hai loại hình doanh nghiệp tập trung đông đảo các DNNVV, thậm chí rất nhỏ Chúng được thành lập hàng loạt và phát triển với tốc độ nhanh Nếu như trước
1986 cả nước hầu như không có doanh nghiệp tư nhân, đến giữa năm 1990 chỉ có
500 xí nghiệp tư nhân thì đến năm 2002 đã là 24.794 doanh nghiệp tư nhân và lên đến 37.323 vào năm 2006 (tăng hơn 50% trong bốn năm)) Sự phát triển của các công ty TNHH cũng nhanh không kém : chỉ trong vòng bốn năm 2002 –
2006 mà số lượng công ty TNHH đã tăng hơn 2,7 lần (63.658 so với 23.485
doanh nghiệp)
- Công ty cổ phần : Là loại hình doanh nghiệp được mong đợi nhiều nhất trong
nền kinh tế thị trường nhưng vẫn còn chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng số các doanh nghiệp ở nước ta Điều này xuất phát từ thực tế ở nước ta: tuy loại hình công ty cổ phần có ưu thế là được quyền phát hành chứng khoán để huy động vốn nhưng do thị trường chứng khoán Việt Nam chưa phát triển nên cơ hội dành cho các doanh nghiệp nói chung và các DNNVV thuộc loại hình công ty cổ phần nói riêng tham gia thị trường chứng khoán còn rất hạn chế Mặt khác, thủ tục thành lập công ty cổ phần phức tạp hơn các loại hình doanh nghiệp khác (do
Trang 36công ty cổ phần có liên quan đến lợi ích của nhiều người) Chính vì vậy mà nhiều doanh nghiệp mặc dù có đủ điều kiện thành lập công ty cổ phần nhưng thường đăng ký dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn Tuy nhiên, cũng phải ghi nhận rằng thời gian gần đây, các công ty cổ phần ra đời ngày càng nhiều : số công ty cổ phần năm 2006 so với năm 2000 tăng 5,7 lần và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong nền kinh tế, từ 4,5% trong năm 2002 đến 12,31% trong năm 2006 Điều này sẽ rất hữu ích cho sự đi lên của nền kinh tế thị trường
ở nước ta trong những năm sắp tới
2.1.1.2 Sự đóng góp của các DNNVV đối với nền kinh tế nước ta :
- Góp phần thu hút vốn đầu tư phát triển kinh tế trong nước :
Chỉ tính riêng khu vực kinh tế ngoài quốc doanh thì trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2007 số vốn đầu tư phát triển đã gia tăng đáng kể, năm 2007 so với năm 2004 vốn đầu tư tăng 169,87% (trung bình mỗi năm tăng 39,55%) Mặc dù
ở thời điểm năm 2004, số vốn của các DNNVV thuộc khu vực ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng khoảng 26,9% tổng vốn đầu tư và đến năm 2007 vẫn chỉ chiếm khoảng 40,66% tổng vốn đầu tư phát triển trong nước nhưng cũng đã thể hiện đây là một sự cố gắng lớn Bởi lẽ, trong khi số vốn của các doanh nghiệp nhà nước là kết quả của sự tích lũy vốn trong nền kinh tế suốt trên 40 năm và kể cả các khoản viện trợ, vay nợ nước ngoài thì vốn của các công ty cổ phần, công ty tránh nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân là kết quả đầu tư trực tiếp của dân chúng trong thời gian khoảng mười lăm năm trở lại đây
- Góp phần trong sự tăng trưởng GDP, giá trị sản xuất công nghiệp và thu ngân sách nhà nước:
Trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2006, giá trị GDP (theo giá hiện tại) đóng góp vào nền kinh tế của các DNNVV tăng từ 330.110 tỷ đồng đến 610.341 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng bình quân mỗi năm là 61,5% GDP Mức đóng góp vào giá trị sản xuất công nghiệp quốc gia (tính theo giá năm 1994) của các DNNVV
Trang 37cũng tăng từ 63,47 nghìn tỷ trong năm 2004 lên 144,11 nghìn tỷ vào năm 2006 Cũng trong thời gian này, tỷ trọng đóng góp vào tổng thu ngân sách nhà nước của DNNVV chiếm tỷ lệ trung bình là 7,07% Trong tám tháng đầu năm 2008, theo dự toán thu ngân sách của Bộ Tài chính, trong 189 ngàn tỷ đồng từ nguồn thu nội địa thì phần đóng góp vào ngân sách của khu vực công - thương nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 20,25 % Với lĩnh vực công nghiệp, kinh tế ngoài quốc doanh tăng trưởng bình quân là 21,7%, trong khi kinh tế nhà nước chỉ tăng 6,5%, khu vực đầu tư nước ngoài tăng 17,7%; còn trong lĩnh vực bán lẻ & thương mại dịch vụ, kinh tế ngoài quốc doanh tăng trưởng bình quân tám tháng đầu năm
2008 là 32%, gấp ba lần khu vực kinh tế nhà nước Những con số này khẳng định các DNNVV Việt Nam đang cố gắng phấn đấu tăng cường vai trò của mình trong nền kinh tế đất nước
- Góp phần tạo công ăn việc làm trong xã hội:
Hiện nay, nhu cầu về việc làm ở nước ta ngày càng tăng lên Số lao động làm việc trong khu vực kinh tế quốc doanh hầu như không tăng mà còn giảm Lý do là sự phát triển của công nghiệp quốc doanh có thể đã thúc đẩy các ngành khác phát triển (như ngành dịch vụ phục vụ công nghiệp, các ngành sản xuất năng lượng nguyên liệu… ) do vậy đã tạo ra việc làm mới trong các ngành này nhưng hầu hết đây là vào các công trình lớn, công nghệ tương đối hiện đại nên sử dụng
ít lao động Trong khi đó, DNNVV dù mang cái tên khiêm tốn “nhỏ và vừa” song vai trò của nó thực sự không nhỏ, đặc biệt là trong việc thu hút nguồn lao động Các DNNVV là khu vực tạo ra việc làm cho khoảng 50% lực lượng lao động trong tất cả các loại hình doanh nghiệp (năm 2006)
Trang 38Bảng 2.1: Một số đóng góp của DNNVV trong sự phát triển kinh tế Việt Nam
Tiêu thức
Đơn
vị tính
DNNVV
6,27
6,80
6,95
7,42
7,90 - (2) Vốn đầu tư phát triển
của khu vực kinh tế trong
nước (theo giá thực tế)
219,8
258,7
324
398,9 461,9 Trong đó đóng góp của
DNNVV
nghìn tỷ
69,59
104,98
134,03 187,80 (3) GDP (theo giá hiện tại) 535,762 613,443 715,307 839,211 973,790 - Trong đó đóng góp của
DNNVV
nghìn tỷ đồng 330,110
373,707
435,603
516,970
610,341 - (4) Tổng số lao động 5.175.092 5.770.671 6.237.396 6.715.166 - Trong đó đóng góp của
DNNVV
người
2.049.891 2.475.448 2.979.129 3.369.855 - (5) Sản xuất công nghiệp
(tính theo giá năm 1994) 261,092 305,170 354 414,89 490,82 574,75 Trong đó đóng góp của
DNNVV
nghìn tỷ đồng 63,474 78,339 96,2 116,31 144,11 174,23
(Nguồn: Niên giám thống kê 2007; www.imf.org ; www.gso.gov.vn - bài viết "Tình hình kinh tế-xã hội năm 2004, 2005, 2006, 2007"; và tác giả tự tính toán )
2.1.1.3 Sự hạn chế của các DNNVV:
Trong quá trình phát triển, bên cạnh những mặt tích cực thể hiện rõ vai trò to lớn của bộ phận DNNVV đối với nền kinh tế thì chúng ta cũng không thể không nhắc đến những mặt hạn chế của lo i hình doanh nghi p này để kịp thời quan tâm khắc phục Chẳng hạn như :
- Các DNNVV vẫn chưa phát triển cân đối về cơ cấu ngành nghề và lãnh thổ :
Trong các ngành sản xuất, các DNNVV Việt Nam thường hoạt động trong lĩnh vực chế biến nông lâm thủy hải sản, gia công may mặc, sản xuất giày dép, linh kiện thiết bị điện tử, nhận làm ủy thác cho các doanh nghiệp lớn hoặc làm thuê cho các doanh nghiệp nước ngoài Số liệu thống kê năm 2000, số DNNVV trong ngành thương mại dịch vụ vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất (trên 54% tổng số doanh
Trang 39nghiệp ngoài quốc doanh), tiếp đó là hoạt động trong công nghiệp, xây dựng (với tỷ lệ trên 33%) Đến năm 2006, cơ cấu ngành nghề vẫn không có sự thay đổi: số DNNVV trong ngành thương mại dịch vụ vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất ( trên 60% tổng số DNNVV), tiếp đó là hoạt động trong công nghiệp chế biến (khoảng 17% tổng DNNVV) và xếp thứ ba là ngành xây dựng (với tỷ lệ trên 13%) Như vậy, dù cho có sự tăng trưởng số lượng các DNNVV hoạt động trong công nghiệp nhưng vẫn cho thấy sự phát triển chưa cân đối của DNNVV trong các ngành Chúng ta phải thừa nhận rằng các DNNVV Việt Nam còn rất non yếu nên chọn hướng đầu tư chủ yếu vào các ngành có khả năng tạo ra lợi nhuận, thu hồi vốn nhanh là điều hợp lý Mặt khác, việc tập trung vào các ngành công nghiệp chế biến để tận dụng nguyên vật liệu, nguồn nhân lực với tay nghề thủ công tại địa phương cũng là một việc đáng hoan nghênh Tuy nhiên, không vì thế mà chúng ta có thể bỏ qua việc định hướng cho sự phát triển của DNNVV trong các ngành đòi hỏi công nghệ kỹ thuật cao
Xét về sự phân bố theo lãnh thổ, các DNNVV tập trung chủ yếu ở khu vực Đông Nam Bộ, kế đến là Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long ( theo số liệu thống kê năm 2006, tỷ lệ DNNVV ở các khu vực này lần lượt là 35,95%, 27,18% và 12,45% trong tổng số DNNVV cả nước) Số lượng DNNVV hoạt động tại các khu vực nông thôn, miền núi còn thấp (như tỷ lệ DNNVV tại Điện Biên là 0,22% , Kontum 0,28%, Bạc Liêu 0,56% tổng số DNNVV cả nước) Đầu tư không đều theo lãnh thổ là khuynh hướng chung của tất cả các doanh nghiệp chứ không phải chỉ riêng bộ phận DNNVV bởi lẽ chỉ ở những khu vực có cơ sở hạ tầng tốt mới tạo nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển Tuy vậy, về chiến lược lâu dài, việc định hướng cho các nhà đầu tư bỏ vốn vào các lĩnh vực, các vùng lãnh thổ không chỉ mang lại lợi ích cho riêng cá nhân nhà đầu tư mà còn mang lại lợi ích chung cho toàn bộ nền kinh tế (thông qua việc góp phần hạn
Trang 40chế sự mất cân đối giữa các vùng trong quá trình phát triển) là điều nên được quan tâm hơn
- Các DNNVV nhìn chung có quy mô còn quá nhỏ bé và hạn chế về năng lực tài chính:
Sau khi Luật doanh nghiệp ra đời, số lượng doanh nghiệp tăng nhanh chóng nhưng hầu hết số doanh nghiệp mới thành lập đều có quy mô quá nhỏ Theo số liệu thống kê năm 2006, trong số 121.875 DNNVV ngoài quốc doanh thì có đến 91,8 % doanh nghiệp có số lao động dưới 50 người, trong đó số doanh nghiệp có số lao động từ 5 đến 9 người chiếm đến 47,36% ; nếu xét theo quy mô vốn thì số doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ chiếm đến 89,65% số DNNVV ngoài quốc doanh Không những vậy, các DNNVV Việt Nam còn bị yếu kém về năng lực tài chính Chính quy mô và năng lực tài chính còn quá nhỏ bé của các DNNVV là tác nhân chủ yếu làm hạn chế nội lực phát triển của chúng, phần nào làm hạn chế những đóng góp của các DNNVV đối với nền kinh tế cũng như đối với khả năng giải quyết việc làm cho lao động
Bên cạnh đó, khả năng quản lý và trình độ nhân lực của bộ phận doanh nghiệp này cũng còn nhiều hạn chế Đó là chưa kể đến tình trạng một số nhà đầu tư vội vã thành lập doanh nghiệp của mình khi chưa đủ điều kiện chín muồi (thiếu vốn để kinh doanh, chưa có trụ sở cố định, chưa có kinh nghiệm quản lý…) dẫn đến tình trạng doanh nghiệp ra đời nhưng không hoạt động được, hoặc hoạt động cầm chừng, kinh doanh chụp giật và cuối cùng rơi vào tình trạng khó khăn, dễ dẫn đến phá sản
2.1.2 Những thuận lợi và khó khăn chủ yếu của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
2.1.2.1 Thuận lợi của DNNVV
Thuận lợi lớn nhất cho sự phát triển của các DNNVV trong thời gian qua ở nước ta là Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách tạo hành lang pháp lý