Khẳng định được vị trí then chốt của ngành ngân hàng nói chung đối với nền kinh tế cũng như vai trò quan trọng của nghiệp vụ tín dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, vấn đề đặt ra
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- -
Nguyễn Ngọc Diệu Hiền
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KỂM SOÁT
NỘI BỘ ĐỐI VỚI NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN CHI NHÁNH GIA ĐỊNH
Chuyên ngành: Kinh tế Tài chính – Ngân hàng Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS PHẠM VĂN NĂNG
TP Hồ Chí Minh– Năm 2009
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài : 2
2 Mục tiêu của đề tài: 2
3 Phương pháp nghiên cứu: 3
4 Phạm vi nghiên cứu: 3
5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu: 3
6 Nội dung đề tài: 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 5
1.1 LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG: 5
1.1.1 Khái niệm kiểm soát nội bộ : 5
1.1.2 Sự cần thiết khách quan về kiểm soát nội bộ: 6
1.1.3 Mục tiêu và vai trò của kiểm soát nội bộ: 8
1.1.3.1 Mục tiêu kiểm soát nội bộ: 8
1.1.3.2 Vai trò của kiểm soát nội bộ: 9
1.1.4 Các hạn chế của kiểm soát nội bộ : 10
1.1.5 Các lĩnh vực kiểm soát nội bộ trong ngân hàng: 11
1.2 KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG: 11
1.2.1 Tín dụng và vai trò của nghiệp vụ tín dụng trong ngân hàng : 12
1.2.1.1 Khái niệm về tín dụng: 12
1.2.1.2 Vai trò của nghiệp vụ tín dụng ngân hàng : 12
1.2.2 Rủi ro tín dụng : 13
1.2.2.1 Rủi ro tín dụng : 13
1.2.2.2 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng : 14
Trang 31.2.3 Các nội dung kiểm soát: 15
1.2.3.1 Kiểm soát tại ngân hàng: 16
1.2.3.2 Kiểm soát thông qua kiểm tra đối chiếu lại trực tiếp với khách hàng: 19
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến kiểm soát: 20
1.2.4.1 Môi trường kiểm soát: 20
1.2.4.2 Vấn đề thông tin: 22
1.2.4.3 Bộ phận kiểm soát: 23
1.2.5 Nguyên tắc kiểm soát: 24
1.2.6 Ý nghĩa, tác dụng của kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng: 28
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG No&PTNT GIA ĐỊNH 30
2.1 TỔNG QUAN VỀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG No&PTNT GIA ĐỊNH: 30
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển: 30
2.1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý: 32
2.1.3 Thực trạng hoạt động tín dụng: 32
2.1.3.1 Kết quả tăng trưởng dư nợ qua các năm: 32
2.1.3.2 Dư nợ các ngành kinh tế chủ yếu: 33
2.1.3.3 Dư nợ các thành phần kinh tế chủ yếu: 34
2.1.3.4 Tình hình nợ quá hạn tại chi nhánh: 35
2.1.4 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng: 36
2.2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG TRONG CHI NHÁNH NGÂN HÀNG No&PTNT GIA ĐỊNH : 45
2.2.1 Về môi trường kiểm soát: 45
2.2.1.1 Về công tác điều hành: 45
Trang 42.2.1.2 Cơ cấu tổ chức: 46
2.2.1.3 Chính sách nhân sự: 46
2.2.2 Về thông tin: 47
2.2.3 Về bộ phận kiểm soát: 48
2.2.4 Các hoạt động kiểm soát: 50
2.2.4.1 Kiểm soát tại chi nhánh: 51
2.2.4.2 Kiểm soát thông qua kiểm tra đối chiếu lại với khách hàng: 56
2.2.5 Những thành tựu và hạn chế của kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng tại chi nhánh: 56
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG No&PTNT GIA ĐỊNH 59
3.1 Về phía Ngân hàng Nhà Nước: 59
3.1.1 Hoàn thiện thể chế và hạ tầng cơ sở hỗ trợ hoạt động giám sát tài chính ngân hàng: 59
3.1.2 Nâng cao vai trò giám sát, đánh giá kiểm soát nội bộ ngân hàng và các rủi ro ngân hàng của bộ máy thanh tra thuộc Ngân hàng Nhà nước: 59
3.2 Về phía ngân hàng N0&PTNT: 60
3.3 Về phía ngân hàng No&PTNT chi nhánh Gia Định: 61
3.3.1 Về môi trường kiểm soát: 61
3.3.1.1 Nâng cao năng lực quản trị, điều hành và hoàn thiện cơ cấu tổ chức : 61
3.3.1.2 Chính sách nhân sự: 62
3.3.2 Về Thông tin: 62
3.3.3 Về bộ phận kiểm soát: 63
Trang 53.3.4 Về hoạt động kiểm soát: 65 3.3.4.1 Kiểm soát tại chi nhánh: 66 3.3.4.2 Kiểm soát thông qua kiểm tra đối chiếu lại trực tiếp với khách hàng: 76 KẾT LUẬN 81
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài :
vực khác nhau nhưng hoạt động tín dụng vẫn là nguồn cơ bản tạo nên thu nhập cho ngân hàng, đặc biệt là ở những nước đang phát triển như ở Việt Nam Ngược lại, rủi ro tín dụng cũng có tác động rất lớn đến toàn bộ hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Về mặt hệ quả, khi rủi ro tín dụng xảy ra, một phần lợi nhuận đáng kể của ngân hàng sẽ bị mất đi Đây có thể là nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp làm uy tín của ngân hàng bị giảm sút Mặt khác, sự mất lòng tin vào một ngân hàng đôi lúc rây ra những phản ứng mang tính dây chuyền, có thể ảnh hưởng đến toàn
Thực tế đã cho thấy, một nền tài chính lành mạnh, với ngân hàng hoạt động hiệu quả, an toàn là tiền đề cho quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế của một quốc gia Khẳng định được vị trí then chốt của ngành ngân hàng nói chung đối với nền kinh tế cũng như vai trò quan trọng của nghiệp vụ tín dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, vấn đề đặt ra đối với các ngân hàng là phải cố tìm được những giải pháp hữu hiệu nhằm kiểm soát và ngăn ngừa rủi ro tín dụng Để hạn chế và ngăn ngừa rủi ro tín dụng, ngoài các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ tín dụng thì việc kiểm sốt nội bộ hiệu quả đối với nghiệp vụ tín dụng sẽ góp phần quan trọng trong việc kiểm soát và giám sát rủi ro tín dụng, hạn chế được sự thất thoát vốn tín dụng của ngân hàng
2 Mục tiêu của đề tài:
Trang 7Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá thực trạng kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng tại chi nhánh ngân hàng No&PTNT Gia Định nói riêng Từ những thực trạng này nghiên cứu, đề xuất các giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng tại chi nhánh
3 Phương pháp nghiên cứu:
Thảo luận với một số nhà quản lý, kiểm soát viên nội bộ và một số cán bộ tín dụng tại chi nhánh ngân hàng No&PTNT Gia Định
Tổng hợp báo cáo các số liệu liên quan đến tình hình dư nợ tại chi nhánh ngân hàng No&PTNT Gia Định
4 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi giới hạn của đề tài là nghiên cứu vấn đề kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng tại chi nhánh ngân hàng No&PTNT Gia Định
5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu:
Mục đích của việc nghiên cứu kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng trong chi nhánh ngân hàng No&PTNT Gia Định nói riêng là nhằm đánh giá tính hữu hiệu và những yếu kém của kiểm soát nội bộ trong việc phát hiện, ngăn ngừa các rủi ro tín dụng Thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng của kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng tại chi nhánh ngân hàng No&PTNT Gia Định đưa ra các giải pháp khắc phục của nhằm đem lại khả năng kiểm soát tối ưu về hoạt động tín dụng
Giúp chi nhánh ngân hàng No&PTNT Gia Định soi rọi lại các tồn tại, yếu kém trong kiểm soát nội bộ về hoạt đông tín dụng của mình Các kiến nghị của đề tài đối với chi nhánh ngân hàng No&PTNT Gia Định trong việc hoàn thiện môi trường kiểm soát nói chung và kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng nói riêng đồng thới thực hiện các biện pháp quản lý rủi ro tín dụng tốt hơn
6 Nội dung đề tài:
Trang 8Nội dung đề tài được chia làm 03 chương lớn:
Chương 1: Sơ lược về kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng trong đó trình bày về sự cần thiết, nội dung, nguyên tắt, các yêu cầu của các kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng
Chương 2: Trong chương này tác giả sơ lược về quá trình hình thành chi nhánh ngân hàng No&PTNT Gia Định Thông qua thảo luận với một số nhà quản lý, kiểm soát viên nội bộ và một số cán bộ tín dụng tác giả nhận dạng các nguyên nhân đẫn đến rủi ro tín dụng, phân tích thực trạng kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng tại chi nhánh
Chương 3: Nêu ra một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng tại ngân hàng No&PTNT chi nhánh Gia Định
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.1 LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG: 1.1.1 Khái niệm kiểm soát nội bộ :
* Theo văn bản hướng dẫn về quy chế kiểm soát nội bộ của ngân hàng Nhà nước:
- Kiểm tra, kiểm soát nội bộ là tập hợp các cơ chế chính sách, quy trình, thủ tục, quy định nội bộ trong kiểm soát, cơ cấu tổ chức của tổ chức tín dụng được thiết lập trên cơ sở phù hợp với quy định pháp luật hiện hành và được tổ chức thực hiện nhằm đảm bảo phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời các rủi ro và đạt được các mục tiêu mà tổ chức tín dụng đã đặt ra
* Theo báo cáo COSO :
Năm 1985, Hội đồng quốc gia về chống gian lận báo cáo tài chính, thường được gọi là ủy ban Treadway, được thành lập nhằm khảo sát các nguyên nhân d6a4n đến việc gian lận báo cáo tài chính và tìm cách khắc phục Năm 1987, báo cáo của Hội đồng có liên quan đến nhiều tổ chức nghề nghiệp, đã đưa ra hàng loạt các vấn đề về kiểm soát nội bộ, nhấn mạnh vai trò của môi trường kiểm soát, các quy tắt về đạo đức …và ủy ban tổ chức đồng bảo trợ COSO thuộc Hội đồng quốc gia về chống gian lận báo cáo tài chính đã được thành lập nhằm nghiên cứu về kiểm soát nội bộ đã thống nhất định nghĩa về kiểm soát nội bộ như sau:
Trang 10“Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị, các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện mục tiêu các luật lệ và qui định được tuân thủ
- Kiểm soát nội bộ là một chuổi các hoạt động kiểm soát tồn tại ở mọi bộ phận trong doanh nghiệp và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất Nó là phương tiện giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu trên
- Kiểm soát nội bộ không chỉ đơn thuần là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu… mà còn bao gồm những con người trong tổ chức như Ban giám đốc, nhân viên Chính con người định ra mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát và vận hành chúng
tuyệt đối các mục tiêu được thực hiện Trong quá trình vận hành, kiểm soát có thể tồn tại yếu kém, những sai lầm của con người dẫn đến mục tiêu không được thực hiện Kiểm soát nội bộ chỉ có thể ngăn ngừa và phát hiện những sai sót nhưng không thể đảm bảo là chúng không xẩy ra Hơn nữa, một trong những nguyên tắc cơ bản để quyết định trong quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không được vượt quá lợi ích mong đợi từ quá trình kiểm soát đó Do vậy, người quản lý có thể nhận thức được mọi rủi ro nhưng nếu chi phí cho quá trình kiểm soát quá lớn thì không thể áp dụng các thủ tục kiểm soát
- Qua định nghĩa trên, ta thấy rằng báo cáo COSO 1992 đã cung cấp một nhận thức về Kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ Nó đã nêu lên được tầm quan trọng và mối liên hệ mật thiết giữa các mục tiêu hoạt động và tuân thủ Báo cáo COSO 1992 còn nhấn mạnh đến nhân tố con người : con người giữ một vai trò rất quan trọng trong toàn bộ quản trị Từ nhận thức đó, ta có thể đánh giá đúng đắn hơn và có những biện pháp hoàn thiện Kiểm soát nội bộ trong ngân hàng 1.1.2 Sự cần thiết khách quan về kiểm soát nội bộ:
Trang 11Xét dưới gốc độ ảnh hưởng của nền kinh tế quốc gia, hoạt động kinh doanh của ngân hàng có những điểm khác biệt so với các doanh nghiệp khác Trước hết, đó là lĩnh vực kinh doanh bao gồm tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân àng, những lĩnh vực này liên quan đến tất cả các ngành và mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội Mặt khác, tiền tệ ngân hàng là lĩnh vực rất “nhạy cảm” nên nó đòi hỏi một sự thận trọng trong hoạt động điều hành ngân hàng để tránh những thiệt hại cho nền kinh tế xã hội Đối tượng kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ mà tiền tệ là một công cụ được Nhà nước sử dụng để quản lý vĩ mô nền kinh tế, nó quyết định đến sự phát triển và suy thoái của cả một nền kinh tế, do đó nó được Nhà nước kiểm soát rất chặt chẽ
Xét dưới góc độ hoạt động nghiệp vụ ngân hàng, những đặc điểm của hoạt động ngân hàng ảnh hưởng đến việc thiết kế kiểm soát nội bộ như sau:
- Thường có số lượng lớn các nghiệp vụ và giao dịch trực tiếp bằng tiền mặt, chứng từ có giá Điều này dẫn đến rủi ro về thất thoát tài sản và gian lận cả trong công việc bảo quản tài sản và thực hiện giao dịch Do đó, các ngân hàng thường thiết lập những qui trình hoạt động và kế toán thống nhất, hạn chế quyền hạn cá nhân và duy trì kiểm soát nội bộ hữu hiệu
- Thường có số lượng lớn các nghiệp vụ và giao dịch cả về số lượng lẫn giá trị Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải thiết lập kế toán và kiểm soát nội bộ phức tạp cùng với việc áp dụng công nghệ thông tin hiện đại trong xử lý nghiệp vụ
- Thường có mạng lưới hoạt động rộng lớn nhiều chi nhánh và phòng giao dịch trải khắp quốc gia, phân tán về mặt địa lý Điều này đòi hỏi việc phân cấp trách nhiệm và quyền hạn lớn trong chức năng kế toán và giám sát nhưng vẫn đảm bảo tuân thủ kế toán và kiểm soát thống nhất Ngoài ra, đặc điểm này
Trang 12cũng ảnh hưởng đáng kể đến yếu tố thông tin và truyền thông trong toàn của ngân hàng
- Các ngân hàng thường phải tuân thủ chặt chẽ các qui định về pháp lý trong hoạt động Các qui định này cũng thường xuyên được thay đổi và điều chỉnh
1.1.3 Mục tiêu và vai trò của kiểm soát nội bộ:
Theo Basel : “ Kiểm soát nội bộ là quá trình được thực hiện bởi Ban điều hành và toàn thể nhân viên Đó không chỉ là một thủ tục hoặc một chính sách được thực hiện tại một thời điểm nào đó, mà còn tiếp diễn ở tất cả các cấp trong ngân hàng Ban điều hành thiết lập môi trường văn hóa tạo thuận lợi cho quá trình kiểm soát nội bộ được hiệu quả và việc theo dõi sự hiệu quả đó được diễn
ra liên tục Mỗi cá nhân trong một tổ chức phải tham gia vào quá trình đó Những mục tiêu chủ yếu của quá trình kiểm soát nội bộ có thể được phân loại như sau:
- Những hoạt động có hữu hiệu và hiệu quả (mục tiêu hoạt động);
- Sự đáng tin cậy, đầy đủ và kịp thời của các thông tin quản trị và tài chính (mục tiêu thông tin);
- Tuân thủ các qui định và luật hiện hành (mục tiêu tuân thủ)
Mục tiêu hoạt động của kiểm soát nội bộ đi đôi với sự hữu hiệu và hiệu quả của ngân hàng trong việc sử dụng tài sản và những nguồn lực khác để ngân hàng không bị lỗ Tiến trình kiểm soát nội bộ cũng tìm kiếm sự chắc chắn rằng nhân sự trong tổ chức làm việc để đạt được sự hiệu quả và toàn vẹn, hạn chế chi phí
Mục tiêu thông tin là kịp thời, đáng tin cậy, những báo cáo có liên quan cần thiết cho việc đưa ra quyết định trong tổ chức ngân hàng Chúng cũng chỉ ra
Trang 13sự cần thiết của những tài khoản định kỳ đáng tin cậy, những báo cáo tài chính và báo cáo cho cổ đông, cho những nhà giám sát và các đối tác bên ngoài Thông tin cung cấp cho các nhà quản lý, hội đồng quản trị, cổ đông và những nhà giám sát phải hiệu quả, đúng đắn mà những người nhận có thể dựa trên thông tin đó để ra quyết định
Mục tiêu tuân thủ đảm bảo chắc chắn rằng tất cả hoạt động kinh doanh của ngân hàng phải theo đúng các qui định của pháp luật, yêu cầu của ngân hàng nhà nước, và các chính sách và thủ tục của tổ chức Mục tiêu này nhằm để bảo vệ quyền lợi và danh tiếng của ngân hàng
Kiểm soát nghiệp vụ tín dụng nhằm đánh giá tính thích đáng trong việc định giá trị khoản cho vay, tình trạng rủi ro của toàn bộ nghiệp vụ tín dụng, đánh giá tính nghiêm túc, đúng đắng trong khi thực hiện cấp tín dụng để đảm bảo rằng những rủi ro của nghiệp vụ này đã được kiểm soát, tránh những thất thoát có thể đe dọa đến sự tồn tại của ngân hàng và trích lập một khoản dự phòng rủi
ro thích đáng Việc kiểm soát nghiệp vụ tín dụng cũng nhằm mục tiêu xác định ảnh hưởng của hoạt động tín dụng tới kết quả tài chính của ngân hàng
1.1.3.2 Vai trò của kiểm soát nội bộ:
Với vai trò quan trọng của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế và sự phức tạp trong kinh doanh kiềm soát nội bộ đảm bảo cho ngân hàng kinh doanh
an toàn và lành mạnh trong thị trường dễ biến động, cung cấp các thông tin cần thiết, đáng tinh cậy cho Ban điều hành và các cơ quan giám sát ngân hàng để có thể đưa ra những quyết định đúng đắn
Kiểm soát nội bộ có tác dụng giúp ngân hàng có một cái nhìn mới và toàn diện về hiệu quả của cơ chế hoạt động cũng như giúp cho Ban lãnh đạo ngân hàng có cơ sở đưa ra những biện pháp thích đáng để có thể đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng ngày càng trở nên tốt hơn
Trang 141.1.4 Các hạn chế của kiểm soát nội bộ :
Kiểm soát nội bộ hữu hiệu chỉ có thể hạn chế tối đa các sai phạm chứ không thể đảm bảo rủi ro, gian lận và sai sót không xẩy ra Những hạn chế vốn có của kiểm soát bao gồm :
- Kiểm soát nội bộ khó ngăn chặn được gian lận và sai sót của người quản lý cấp cao Các thủ tục kiểm soát là do người quản lý đặt ra, nó chỉ kiểm tra việc gian lận và sai sót của nhân viên Khi người quản lý cấp cao cố tình gian lận, họ có thể tìm cách bỏ qua các thủ tục kiểm soát cần thiết
- Bất kỳ một hoạt động kiểm soát nào của kiểm soát nội bộ cũng phụ thuộc vào yếu tố con người Con người là nhân tố gây ra sai sót từ những hạn chế xuất phát từ bản thân như: vô ý, bất cẩn, sao lãng, đánh giá hay ước lượng sai, hiểu sai chỉ dẫn của cấp trên hoặc báo cáo của cấp dưới
- Sự gian lận của nhân viên thông qua sự thông đồng với nhau hay với các bộ phận bên ngoài tổ chức;
trong quá trình thực hiện nghiệp vụ có thể dẫn đến việc không kiểm soát được các rủi ro và làm cho môi trường kiểm soát trở nên yếu kém
xẩy ra các sai phạm bất thường thì thủ tục kiểm soát trở nên kém hữu hiệu thậm chí vô hiệu
- Chi phí thực hiện hoạt động kiểm soát phải nhỏ hơn giá trị thiệt hại ước tính do sai sót hay gian lận xẩy ra
hoạt động có thể dẫn đến những thủ tục kiểm soát không phù hợp
Tóm lại, kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý chứ không phải đảm bảo tuyệt đối các mục tiêu được thực hiện Kiểm soát nội bộ chỉ có thể
Trang 15ngăn ngừa và phát hiện những sai sót, gian lận nhưng không thể đảm bảo là chúng không xẩy ra Chính vì vậy, kiểm soát nội bộ hữu hiệu đến đâu cũng đều tồn tại rủi ro nhất định Vấn đề là người quản lý đã nhận biết, đánh giá và giới hạn chúng trong mức độ chấp nhận được
1.1.5 Các lĩnh vực kiểm soát nội bộ trong ngân hàng:
Nghiệp vụ tín dụng là một nghiệp vụ chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và rủi ro trong kinh doanh chủ yếu cũng tập trung ở lĩnh vực này, sau đó là các nghiệp vụ kinh doanh giao dịch và các nghiệp vụ khác Do vậy công việc đặt trưng trong kiểm soát ngân hàng là tiến hành xem xét các hồ sơ cho vay và đây là công việc luôn được thực hiện đầu tiên trong hoạt động kiểm soát của ngân hàng và các khoản mục trọng tâm cần kiểm soát là các khoản có phải đòi và các khoản nợ phải trả, có nghĩa là kể cả các nghiệp vụ cho vay lẫn nghiệp vụ đi vay Tuy nhiên do hoạt động kinh doanh của ngân hàng là rất đa dạng, phong phú và rủi ro trong ngân hàng cũng phong phú không kém, cho nên nói chung mọi hoạt động trong ngân hàng đều cần được kiểm soát Các lĩnh vực cần được kiểm soát có thể là nghiệp vụ tín dụng, nghiệp vụ hối phiếu, kinh doanh ngoại hối, hoạt động kho quỹ, hoạt động thanh toán séc, hoạt động tiết kiệm, hoạt động thanh toán quốc tế, hoạt động điện toán, hoạt động kế toán, giám sát vốn khả dụng, trái phiếu được chuyển nhượng, hoạt động mua sắm tài sản, hoạt động quản trị hành chính chung…
Do kinh doanh ngân hàng khác rất nhiều so với các ngành khác nên kiểm soát ngân hàng cũng có những điểm đặt biệt Và vì vậy để thực hiện một cuộc kiểm soát có hiệu quả cao điều quan trọng là cần có sự hiểu biết thấu đáo và về các rủi ro mà ngân hàng thường gặp để có thể thiết lập và thực hiện kiểm soát thành công
1.2 KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG:
Trang 161.2.1 Tín dụng và vai trò của nghiệp vụ tín dụng trong ngân hàng : 1.2.1.1 Khái niệm về tín dụng:
Tín dụng là một loại giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó, bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên vay khi đến hạn thanh toán
1.2.1.2 Vai trò của nghiệp vụ tín dụng ngân hàng :
Nghiệp vụ tín dụng là một nghiệp vụ chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và rủi ro trong kinh doanh cũng chủ yếu tập trung ở lĩnh vực này, sau đó là các nghiệp vụ kinh doanh giao dịch và các nghiệp vụ khác Về mặt tài chính, đây là nghiệp vụ tạo thành bộ phận chủ yếu và quan trọng của tài sản có của ngân hàng Những yếu kém trong nghiệp vụ này sẽ làm cho tình hình tài chính của ngân hàng bị đe dọa
Về mặt kinh doanh, cho vay là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất do nó luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng thu nhập của ngân hàng Vì hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại là kinh doanh tiền tệ tức huy động vốn tiền tệ từ bên ngoài và sử dụng vốn huy động để kinh doanh tạo ra lợi nhuận từ thu nhập lãi chênh lệch đầu ra và chi phí huy động vốn đầu vào nên ngân hàng luôn phải tính toán việc sử dụng vốn sao cho hiệu quả nhất
Nghiệp vụ cho vay không những đem lại thu nhập về tiền lãi cho ngân hàng mà còn là tiền đề kéo theo các dịch vụ khác của ngân hàng phát triển như : thanh toán quốc tế thông qua nghiệp vụ tài trợ ngoại thương, thẻ thanh toán và các giao dịch tài khoản tiền gửi
Trang 17Đối với xã hội, hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại còn có vai trò rất to lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội thông qua việc cung ứng một khối lượng vốn lớn cho nền kinh tế nhằm phục vụ cho sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng đầu tư, tạo việc làm, hỗ trợ tiêu dùng và nhu cầu làm nhà ở cho dân cư
1.2.2 Rủi ro tín dụng :
1.2.2.1 Rủi ro tín dụng :
Rủi ro tín dụng gây hậu quả rất nghiêm trọng, do đó điều quan trọng là phải thực hiện việc đánh giá toàn diện năng lực quản trị của ngân hàng liên quan đến việc nhận định, điều hành, giám sát, kiểm tra, củng cố và thu hồi nợ Quản trị rủi ro tín dụng gồm cả việc đánh giá chính sách và triển khai thực hiện của ngân hàng Việc đánh giá cũng nhằm xác định các thông tin tài chính đầy đủ do khách hàng cung cấp để ngân hàng sử dụng làm cơ sở cho việc mở rộng tín dụng, cũng như đánh giá định kỳ về tình hình biến đổi rủi ro
Có nhiều định nghĩa về rủi ro tín dụng nhưng chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản về rủi ro tín dụng như sau:
Trong hoạt động ngân hàng thực hiện nghiệp vụ cho vay thì đó chỉ mới là một giao dịch chưa hoàn thành Giao dịch tín dụng chỉ được xem là hoàn thành khi nào ngân hàng thu hồi vể được khoản cho vay cả gốc và lãi Tuy nhiên khi thực hiện giao dịch tín dụng ngân hàng không biết chắc chắn được giao dịch đó có hoàn thành hay không Do đó rủi ro tín dụng thể hiện ở khả năng hay xác suất hoàn thành giao dịch tín dụng đó Như vậy rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối quan hệ mà trong đó ngân hàng chỉ là chủ nợ mà khách hàng nợ lại không thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn Nó diễn ra trong quá trình cho vay chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bão lãnh, bao thanh toán của ngân hàng Đây còn
Trang 18được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn là loại rủi ro liên quan đến chất lượng hoạt động của ngân hàng
- Tóm lại rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu hồi được đầy đủ cả vốn gốc và lãi của khoản vay hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn đã thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng vay
- Rủi ro tín dụng bắt nguồn từ sự yếu kém về tài chính của khách hàng, các tác động bất thường của môi trường kinh doanh, sự giảm sút giá trị của tài sản đảm bảo cho khoản vay và các nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan khác
- Rủi ro tín dụng phát sinh cao sẽ ảnh hưởng đến sự an toàn về tài chính của ngân hàng dẫn đến phát sinh rủi ro thanh khoản của ngân hàng do không thu hồi kịp tiền để thanh toán các khoản vốn huy động phải trả đến hạn và có thể khiến cho ngân hàng bị sụp đổ, phá sản
1.2.2.2 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng :
Môi trường kinh doanh biến động ảnh hưởng đến khả năng tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng Bên cạnh đó, thực lực về tài chính của khách hàng kém và ỷ lại, chậm thích nghi với môi trường
Khách hàng không có kế hoạch kinh doanh tốt, cụ thể, rõ ràng và hợp lý, không dự báo trước đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng như thị trường, chi phí, cạnh tranh, nguồn lực…Nói chung, thực lực của khách hàng kém
Do tư cách của người vay kém, khách hàng không có phẩm chất tốt, gian lận
Môi trường pháp lý, kinh tế vĩ mô chưa hoàn chỉnh
Thiếu thông tin kinh tế, xã hội trong nước và quốc tế
Tài sản đảm bảo do ngân hàng nắm giữ bị giảm sút giá trị
Trang 19Các nguyên nhân khác về sự thay đổi điều kiện kinh doanh, bộ máy quản lý, tình trạng gia đình của khách hàng vay, nguồn thu nhập, thiên tại, hỏa hoạn
- …
Do chính sách của người điều hành ngân hàng muốn tăng chỉ tiêu dư nợ mà không thực hiện đầy đủ các bước kiểm soát khi cho vay
Do năng lực và trình độ của cán bộ tín dụng yếu kém
Nhân viên tín dụng không tìm hiểu kỹ và không đánh giá được tư cách khách hàng
Thông tin về khoản vay thu thập không đầy đủ đẫn đến cho vay sai mục đích Không phân tích rõ môi trường kinh doanh của khách hàng, nguồn thu nhập, tài sản đảm bảo…
Không hiểu rõ nhu cầu của khách hàng vay, không cơ cấu khoản vay cho phù hợp với luồng tiền của họ do không hiểu luồng tiền của khách hàng vay… Qui trình tín dụng không đầy đủ và chặt chẽ, để sơ hở các yếu tố pháp lý trên hợp đồng vay gây bất lợi cho ngân hàng
Sự gian lận của nhân viên tín dụng, thông đồng với khách hàng
Quản lý khoản cho vay kém, không thường xuyên kiểm tra, giám sát, từ đó không phát hiệu kịp thời những dấu hiệu có vấn đề
1.2.3 Các nội dung kiểm soát:
Hoạt động kiểm soát là những chính sách và thủ tục để đảm bảo cho các chỉ thị chủa nhà quản lý được thực hiện nhằm giúp kiểm soát các rủi ro mà đơn
vị đang hay có thể gặp phải Việc chọn quy mô cơ chế kiểm soát tín dụng có thể bằng các cách sau: tiến hành kiểm soát toàn diện hoặc kiểm soát theo xác suất Việc lựa chọn quy mô kiểm soát có thể căn cứ vào một số tiêu chí sau:
- Cơ cấu nghiệp vụ tín dụng, danh mục vốn đầu tư
Trang 20- Mức độ thận trọng của lãnh đạo ngân hàng trong việc định giá trị các khoản vốn cho vay
- Đánh giá phân loại khách hàng hiện hành
- Những điểm yếu kém đã được phát hiện
- Danh sách khách hàng thấu chi và khách hàng cần nhắc nhở, các khách hàng được vay vốn đặt biệt
- Mối quan hệ giữa việc tổ chức thực hiện nghiệp vụ tín dụng và rủi ro về môi trường kinh tế
Khi thực hiện bất kỳ một quy trình nghiệp vụ nào, ví dụ quy trình cấp tín dụng, quy trình quản lý hạn mức tín dụng….kiểm soát viên luôn phải tìm xem trong quy trình đó chốt kiểm tra được cài đặt ở điểm nào? Quy trình còn thiếu chốt kiểm tra nào? Ở mõi chỗ kiểm tra như vậy có quy định rõ bằng văn bản ai là người chịu trách nhiệm thực hiện kiểm tra, cách thức kiểm tra không…
Sau đây là các bước quy trình thủ tục kiểm soát thực hiện đối với các nghiệp vụ tín dụng:
1.2.3.1 Kiểm soát tại ngân hàng:
* Xem xét đơn xin vay vốn của khách hàng:
Xem xét đơn chính là quá trình thu thập, kiểm tra các thông tin cần thiết về khách hàng, lập hồ sơ tín dụng…để làm cơ sở cho việc ra quyết định tín dụng Với những hồ sơ tín dụng đã được lựa chọn để kiểm tra-số lượng hồ sơ lựa chọn, loại hồ sơ chọn… tùy thuộc vào đánh giá của kiểm soát viên về kết quả hoạt động kiểm soát nội bộ và mức độ rủi ro phát hiện được chấp nhận – kiểm soát viên cần:
- Kiểm tra xem các quy định về thẩm quyền được tiếp nhận, xem xét đơn đề nghị cấp tín dụng có được thực hiện như trong các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ không?
Trang 21- Kiểm tra lại nội dung văn bản xem xét giải quyết cho vay, chú ý những yêu cầu đối với hồ sơ chứng minh khả năng chi trả như các số liệu về tình hình sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, vốn tự có…yêu cầu đối với đảm bảo tín dụng
- Kiểm tra cách sử dụng các mẫu biểu tín dụng được tiêu chuẩn hóa, nội dung của mẫu biểu để đảm bảo hợp lý rằng không một bước nào trong quá trình xét duyệt bị bỏ sót Để thực hiện kiểm tra kiểm soát viên có thể lấy ra một số phiếu xét duyệt để theo xác suất để xem xét, đặt ra các tình huống để đánh giá cách xử trí của cán bộ tín dụng khi sử dụng mẫu biểu thống nhất
* Kiểm soát tài sản đảm bảo tín dụng:
Kiểm soát kết quả định giá tài sản đảm bảo và xem xét tính hợp lệ của hồ
sơ tài sản đảm bảo rằng việc định giá đã được tiến hành trên cơ sở các căn cứ định giá do ngân hàng đề ra và tài sản đảm bảo đủ tiêu chuẩn nhận thế chấp, cầm cố, bảo lãnh
Xác định tài sản đảm bảo tín dụng là có thực và khi cần ngân hàng có quyền phát mại tài sản đó
Kiểm soát việc thực hiện các thủ tục pháp lý đối với tài sản đảm bảo và hợp đồng tín dụng nhằm đảm bảo rằng các thủ tục pháp lý đã được tiến hành đầy đủ và không có sự sơ hở nào về mặt pháp lý có thể ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng cho ngân hàng
* Kiểm soát việc quyết định cho vay, cam kết cho vay và giải ngân:
Ở phần này kiểm soát viên cần:
- Kiểm tra việc chấp hành các quy định về thẩm quyền cho vay, tôn trọng hạn mức cho vay chung cũng như giới hạn cho từng loại hình tín dụng…
- Kiểm tra hình thức và nội dung của cam kết cho vay, cách ghi chép thể hiện quá trình ra quyết định tín dụng…
Trang 22- Kiểm tra cách thức giải ngân và điều kện giải ngân
* Kiểm soát việc theo dõi sau cho vay:
Kiểm tra việc sử dụng vốn vay là công việc cần phải được các cán bộ tín dụng thực hiện nghiệm túc, vì chỉ có kiểm tra mới có thể biết được rằng khách hàng sử dụng vốn vay như thế nào? Có gì thay đổi làm tăng khả năng xảy ra rủi
ro cho ngân hàng không? …Trong trường hợp ngân hàng kinh doanh một sản phẩm mới thì hoạt động giám sát lại càng trở nên quan trọng
Kiểm soát viên cũng cần quan tâm đến hoạt động giám sát tín dụng này Các nội dung cần được kiểm soát viên kiểm tra là:
- Phạm vi và thời điểm của hoạt động giám sát thường xuyên được quy định và thực hiện như thế nào? Hoạt động giám sát thường xuyên có được thực hiện ngay cả đối với những khoản vay trả nợ đúng hạn không? Khi nào thì cần phải xem xét lại khoản vay lại từ đầu…
- Các yêu cầu ghi sổ trong hồ sơ giám sát có được thực hiện đầy đủ không? Việc lập và sử dụng các mẫu biểu giám sát có hợp lý không?
- Việc thu thập các thông tin bổ sung về khách hàng, về môi trường có được cán bộ quan tâm không
* Kiểm soát việc xử lý các khoản nợ có vấn đề:
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, ngân hàng có thể gặp phải các khoản nợ có vấn đề Định nghĩa về khoản nợ có vấn đề có thể khác nhau do cách nhìn nhận, cách đánh giá giá trị của khoản nợ của Ban lãnh đạo ngân hàng Tuy nhiên việc xác định một khoản nợ là có vấn đề không nên lệ thuộc vào việc khách hàng đã trễ nợ bao nhiêu lâu mặc dù đây là một dấu hiệu cần thiết, mà quan trọng là cần xem xét khách hàng đang ở trong tình trạng tài chính như thế nào
Trang 23Điều quan trọng là cách xử lý nợ có vấn đề của Ban lãnh đạo ngân hàng bởi vì việc theo dõi, xử lý nợ có vấn đề có ảnh hưởng lớn đến tình hình tài chính của ngân hàng
Khi tiến hành kiểm soát nghiệp vụ này, kiểm soát viên cần quan tâm đến các vấn đề sau:
- Việc thực hiện các quy định về thẩm quyền xử lý các khoản nợ có vấn đề
- Định nghĩa về khoản nợ co vấn đề của ban lãnh đạo ngân hàng
- Cách thức tiến hành việc trích lập các khoản dự phòng cần thiết, tính hợp lý của các khoản dự phòng đã trích lập, cách thức tiến hành việc xóa sổ các khoản nợ được coi là không có khả năng thu hồi vốn hoặc quá sốt kém trong việc thực hiện các thủ tục pháp luật
1.2.3.2 Kiểm soát thông qua kiểm tra đối chiếu lại trực tiếp với khách hàng:
Thông qua đối chiếu trực tiếp với khách hàng nhằm kiểm tra lại việc tuân thủ các quy định trong kiểm soát của cán bộ được kiểm soát như:
- Kiểm tra xác định lại dư nợ
- Kiểm tra việc sử dụng tiền vay của khách hàng xem có hợp lý với báo cáo của cán bộ tín dụng về việc theo dõi tình hình sử dụng vốn vay sau cho vay không
- Kiểm tra thực trạng tài sản đảm bảo để xác minh lại tài sản đảm bảo có đúng như trong hồ sơ cầm cố, thế chấp Kiểm tra lại báo cáo việc theo dõi tình hình tài sản sau cho vay của cán bộ tín dụng có hợp lý không
- Kiểm tra hiệu quả dự án và trả nợ của khách hàng để kiểm tra lại báo cáo của cán bộ tín dụng về việc theo dõi tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng có hợp lý không
Trang 24Chỉ có thông qua đối chiếu trực tiếp khách hàng mới có thể nâng cao ý thức vai trò của cán bộ được kiểm soát trong việc tuân thủ các thủ tục quy định trong kiểm soát
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến kiểm soát:
1.2.4.1 Môi trường kiểm soát:
Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một tổ chức, chi phối
ý thức kiểm soát của mọi thành viên trong tổ chức Các nhân tố chính thuộc về môi trường kiểm soát bao gồm:
* Sự tôn trọng các giá trị đạo đức của những người liên quan đến quá trình kiểm soát:
Sự hữu hiệu của kiểm soát nội bộ trước tiên phụ thuộc vào tính chính trực và việc tôn trọng các giá trị đạo đức của những người liên quan đến các quá trình kiểm soát Để đáp ứng yêu cầu này, các nhà quản lý cao cấp phải xây dựng những chuẩn mực về đạo đức trong đơn vị và cư xử đúng đắn để có thể ngăn cản không cho các thành viên có hành vi thiếu đạo đức hoặc phạm pháp Các nhà quản lý cần phải làm gương cho cấp dưới về việc tuân thủ các chuẩn mực và cần phải phổ biến những quy định đến mọi thành viên bằng các thể thức thích hợp
Để nâng cao tính chính trực và sự tôn trọng các giá trị đạo đức còn phải loại trừ hoặc giảm thiểu những sức ép hoặc điều kiện có thể dẫn đến nhân viên có những hành vi thiếu trung thực , chẳng hạn gian lận báo cáo tín dụng có thể xuất phát từ việc nhân viên bị ép buộc phải thực hiện những mục tiêu phi thực tế của nhà quản lý, Những hành động không đúng cũng có thể phát sinh khi quyền lợi của nhà quản lý lại gắn chặt với số liệu báo cáo về thu nhập như các khoản thưởng trên tỷ lệ nợ quá hạn, nghĩa là khi có phát sinh mâu thuẩn quyền lợi
* Công tác điều hành của nhà quản lý:
Trang 25Công tác điều hành của nhà quản lý có ảnh hưởng rất quan trọng đối với kiểm soát Điều này xuất phát từ quan điểm và nhận thức của nhà quản lý Nếu nhà quản lý cho rằng kiểm soát nội bộ là quan trọng thì sẽ luôn quan tâm đến việc tổ chức điều hành hỗ trợ cho bộ phận kiểm soát hoạt động hiệu quả
* Năng lực của đội ngủ nhân viên kiểm soát:
cần thiết để thực hiện được nhiệm vụ của mình nghĩa là am tường về hoạt động tín dụng, nếu không chắc chắn họ sẽ không thể thực hiện nhiệm vụ kiểm soát hữu hiệu và hiệu quả Do đó, nhà quản lý chỉ nên phân bổ các nhân viên có trình độ đào tạo và kinh nghiệm phù hợp với nhiệm vụ được giao làm nhân viên kiểm soát
* Cơ cấu tổ chức:
Cơ cấu tổ chức phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều hành, kiểm soát và giám sát các hoạt động của ngân hàng; Cơ cấu tổ chức phù hợp như đảm bảo được tính độc lập của bộ phận kiểm soát sẽ nâng cao tính khách quan và chất lượng của hoạt động kiểm soát
* Việc phân định quyền hạn và trách nhiệm
thể và các thể thức báo cáo cho phù hợp Dựa trên việc quy định rõ ràng về quyền hạn trách nhiệm đó cũng như thể chế hóa nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể đó nhân viên kiểm soát có căn cứ quy trách nhiệm xử phạt đối với từng hành vi cụ thể Do đó, khi mô tả công việc, đơn vị cần phải thể chế hóa bằng văn bản những nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của từng thành viên và quan hệ giữa họ với nhau
* Chính sách nhân sự:
Trang 26Chính sách nhân sự bao gồm sự tuyển dụng, huấn luyện, bổ nhiệm, đánh giá, sa thải, đề bạt, khen thưởng và kỷ luật nhân viên
Chính sách nhân sự có ảnh hưởng đáng kể đến sự hữu hiệu của môi trường kiểm soát thông qua tác động đến các nhân tố khác trong môi trường kiểm soát như đảm bảo về năng lực, tính chính trực và các giá trị đạo đức…Thí dụ, một chính sách nhân sự dành ưu tiên cho những cá nhân có trình độ, kinh nghiệm, chính trực và hạnh kiểm tốt làm công tác kiểm soát sẽ là sự đảm bảo về năng lực và phẩm chất của đội ngủ nhân viên kiểm soát, nâng cao chất lượng hiệu quả kiểm soát
Mõi nhân viên kiểm soát đóng vai trò quan trọng trong kiểm soát nội bộ
Vì vậy, nhà lãnh đạo cần thiết lập các chương trình động viên khuyến khích bằng các hình thức khen thưởng và nâng cao mức khuyến khích cho các hoạt động cụ thể Đồng thời, các hình thức kỷ luật nghiêm khắc cho các hành vi vi phạm cũng cần được các nhà lãnh đạo quan tâm
1.2.4.2 Vấn đề thông tin:
Thông tin và truyền thông chính là điều kiện không thể thiếu cho việc thiết lập , duy trì và nâng cao năng lực kiểm soát trong đơn vị thông qua việc hình thành các báo cáo để cung cấp thông tin về hoạt động tín dụng và sự tuân thủ pháp luật bao gồm cả bên trong và bên ngoài đơn vị cho bộ phận kiểm soát
Thông tin tín dụng phải đảm bảo thích hợp và đáng tin cậy nghĩa là thông tin phải được ghi chép kịp thời, đáp ứng kịp thời theo yêu cầu của nhân viên kiểm soát, phân loại đúng đắng các nghiệp vụ và sự kiện, được chuyển đi dưới những biểu mẫu và lộ trình bảo đảm nhân viên thực hiện chức năng trong kiểm soát nội bộ Do đó, kiểm soát nội bộ đòi hỏi tất cả các nghiệp vụ phải lập các chứng từ đầy đủ
Trang 27Yêu cầu chất lượng của thông tin là thích hợp, kịp thời, cập nhật, chính xác và truy cập thuận tiện Thông tin được cung cấp thông qua hệ thống thông tin thông tin thích hợp phải tạo ra các báo cáo về tình hình hoạt động, những vấn đề tuân thủ hỗ trợ cho việc điều hành và kiểm soát của đơn vị
1.2.4.3 Bộ phận kiểm soát:
Bộ phận kiểm soát phải đáp ứng một số yêu cầu nhất định nếu không sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng kiểm soát:
- Nhân viên kiểm soát phải có phẩm chất và năng lực thật sự
- Phương pháp kiểm soát phải khoa học và rút ngắn thời gian kiểm soát
- Phương pháp kiểm soát phải phát hiện không những vi phạm về tình hình tuân thủ mà còn phải phát hiện được các gian lận, các rủi ro tiềm ẩn
- Bộ máy tổ chức của bộ phận kiểm soát nội bộ phải đốc lập với các đơn
vị, bộ phận điều hành tác nghiệp của ngân hàng
- Bộ phận kiểm soát nội bộ, kiểm soát viên nội bộ phải đảm bảo tính khách quan, trung thực, công bằng, không định kiến, không bị lệ thuộc khi thực hiện nhiệm vụ kiểm soát
- Kiểm soát viên nội bộ phải là những người có trình độ, kiến thức và kỹ năng kiểm soát, không kiêm nhiệm các cương vị, công việc chuyên môn khác
* Báo cáo của bộ phận kiểm soát: báo cáo kiểm tra kiểm soát là công việc rất quan trọng của kiểm soát nội bộ, báo cáo rõ ràng chính xác giúp cho việc thiết lập một tập hợp các thông tin chính xác về hoạt động tín dụng giúp cho công tác điều hành của lãnh đạo có được những quyết sách đúng đắn điều chỉnh những sai sót và phát huy những lợi thế của hợp đồng tín dụng, không ngừng đẩy mạnh hoạt động kinh doanh có hiệu quả Vì vậy báo cáo phải thể hiệc được một số vấn đề sau:
- Phải trình bày đối tượng, nội dung, phạm vi kiểm soát
Trang 28- Những đánh giá, kết luận về nội dung đã thực hiện kiểm soát, cơ sở để đưa ra các đánh giá này
- Những tồn tại, sai sót, vi phạm của bộ phận được kiểm soát; yêu cầu đơn
vị được kiểm soát khắc phục sai sót, tồn tại trong thời hạn nhất định, kiến nghị xử lý
- Các ý kiến giải trình của bộ phận được kiểm soát
- Trường hợp có nội dung kiểm soát không được thống nhất giữa bộ phận đươc kiểm soát và cán bộ kiểm soát, báo cáo kiểm soát phải ghi rõ nội dung không thống nhất và nêu rõ lý do
1.2.5 Nguyên tắc kiểm soát:
Basel đề ra 11 nguyên tắc thiết kế và đánh giá kiểm soát Cụ thể như sau:
(1) Nguyên tắc 1:
Ban điều hành của ngân hàng cần hiểu rõ những rủi ro trọng yếu về tín dụng của ngân hàng, xây dựng những mức độ có thể chấp nhận được đối với các rủi ro này và đảm bảo rằng Ban điều hành đã thực hiện các công việc cần thiết để xác định, đo lường, theo dõi và kiểm tra những rủi ro này; xét duyệt cơ cấu tổ chức; đảm bảo rằng Ban điều hành đang giám sát sự hiệu quả của kiểm soát , chịu trách nhiệm sau cùng về việc thiết lập và duy trì một kiểm soát đầy đủ và hiệu quả
(2) Nguyên tắc 2:
Cần nâng cao việc xác định, đo lường, theo dõi và kiểm soát những rủi ro phát sinh trong hoạt động tín dụng của ngân hàng; duy trì một cơ cấu tổ chức trong đó có sự phân công rõ ràng về trách nhiệm, quyền hạn và các mối quan hệ giữa các bộ phận; đảm bảo rằng đã thực hiện nhiệm vụ một cách hiệu quả; thiết
Trang 29lập những chính sách kiểm soát nội bộ thích hợp; kiểm tra sự đầy đủ và hiệu quả của kiểm soát nội bộ
(3) Nguyên tắc 3:
Ban điều hành chịu trách nhiệm nâng cao đạo đức và tính liêm chính, thiết lập văn hóa trong đó nhấn mạnh và làm cho tất cả nhân viên thấy rõ tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ Tất cả nhân viên ngân hàng cần hiểu rõ vai trò của mình trong quá trình kiểm soát nội bộ và thực sự tham gia vào quá trình đó
(4) Nguyên tắc 4:
kiểm soát nội bộ hiệu qủa đòi hỏi phải nhận biết và đánh giá liên tục những rủi ro tín dụng có thể ảnh hưởng đến việc hoàn thành kế hoạch của ngân hàng Sự đánh giá này phải bao trùm tất cả các rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Kiểm soát nội bộ cần xem lại những rủi ro chưa được kiểm soát trước nay cũng như mới phát sinh
(5) Nguyên tắc 5:
Hoạt động kiểm soát phải là một công việc quan trọng trong các hoạt động hàng ngày của ngân hàng kiểm soát hiệu quả đòi hỏi thiết lập một cơ cấu kiểm soát thích hợp, trong đó sự kiểm soát được xác định ở mỗi mức độ hoạt động Những điều này bao gồm kiểm tra ở mức độ cao nhất, kiểm tra hoạt động đối với các bộ phận, phòng ban khác nhau, kiểm kê, kiểm tra sự tuân thủ những quy định ban hành và theo dõi sự không tuân thủ; một đã được phê duyệt; một kiểm tra và đối chiếu
(6) Nguyên tắc 6:
Kiểm soát nội bộ hiệu quả đòi hỏi phải phân công hợp lý, các công việc của nhân viên không mâu thuẩn với nhau Những xung đột về quyền lợi phải được nhận biết, giảm thiểu tối đa và tùy thuộc vào sự kiểm soát độc lập và thận trọng
Trang 30(7) Nguyên tắc 7:
Kiểm soát nội bộ hiệu quả đòi hỏi có dữ liệu đầy đủ và tổng hợp về sự tuân thủ, về tình hình hoạt động và tình hình tài chính, cũng như những thông tin về thị trường bên ngoài có thể ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định Thông tin đáng tin cậy, kịp thời, có thể sử dụng được và trình bày theo biểu mẫu
(8) Nguyên tắc 8:
Kiểm soát nội hiệu quả đòi hỏi một thông tin đáng tin cậy, có thể đáp ứng cho hầu hết các yêu cầu kiểm soát của ngân hàng Thông tin phải lưu trữ và sử dụng dữ liệu bằng máy tính, an toàn, được theo dõi độc lập và được kiểm tra đột xuất, đầy đủ
(9) Nguyên tắc 9:
Kiểm soát nội bộ hiệu quả đòi hỏi kênh trao đổi thông tin hiệu quả để đảm bảo rằng tất cả nhân viên đã hiểu đầy đủ và tuân thủ triệt để các chính sách và các thủ tục có liên quan đến trách nhiệm và nhiệm vụ của họ và đảm bảo rằng những thông tin cần thiết khác cũng được phổ biến đến các nhân viên khác có liên quan
(11) Nguyên tắc 10:
Phải có hoạt động kiểm soát nội bộ toàn diện, hiệu quả và được thực hiện bởi những người có năng lực, đào tạo thích hợp để có thể làm việc độc lập Công việc kiểm soát nội bộ, cũng là việc theo dõi kiểm soát nội bộ, phải được báo cáo trực tiếp cho Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát và Ban điều hành
(12) Nguyên tắc 11:
Những sai sót của kiểm soát được phát hiện bởi bộ phận kinh doanh, kiểm soát nội bộ, hoặc các nhân viên khác thì phải được báo cáo kịp thời cho cấp quản lý thích hợp và ghi nhận ngay lập tức Những sai sót trọng yếu của kiểm soát nội bộ phải được báo cáo cho Ban điều hành và Hội đồng quản trị
Trang 311.2.6 Các yêu cầu của kiểm soát:
Mọi rủi ro có nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả và mục tiêu hoạt động tín dụng của ngân hàng đều phải được nhận dạng, đo lường, đánh giá một cách thường xuyên, liên tục để kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và có biện pháp quản lý rủi ro thích hợp Mõi khi có sự thay đổi về các mục tiêu kinh doanh, các sản phẩm, dịch vụ và các hoạt động kinh doanh mới, ngân hàng phải rà soát, nhận dạng các rủi ro liên quan để xây dựng, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, quy trình, quy định kiểm tra, kiểm soát nội bộ cho phù hợp
Cơ chế kiểm tra, kiểm soát được thiết kế, cài đặt, tổ chức thực hiện ngay trong quy trình nghiệp vụ, tại tất cả các phòng ban, bộ phận liên quan dưới nhiều hình thức như:
- Quy định về hạn mức rủi ro cụ thể đối với từng cá nhân, bộ phận trong việc thực hiện các giao dịch
- Quy trình và cơ chế thẩm định, kiểm tra, chấp thuận và duyệt cho phép thực hiện các giao dịch; đảm bảo một nghiệp vụ phải có ít nhất 02 cán bộ tham gia, không có cá nhân nào có thể một mình tiến hành thực hiện và quyết định một nghiệp vụ, một giao dịch cụ thể, ngoại trừ những giao dịch trong hạn mức được ngân hàng cho phép phù hợp với quy định của pháp luật
Cơ chế phân cấp ủy quyền được thiết lập, thực hiện một cách hợp lý, cụ thể, rõ ràng, tránh các xung đột lợi ích; đảm bảo một cán bộ không đảm nhiệm cùng một lúc những cương vị, nhiệm vụ có mục đích, quyền lợi mâu thuẩn hoặc chồng chéo với nhau; đảm bảo mọi cán bộ không có điều kiện để thao túng hoạt động, bưng bít thông tin phục vụ các mục đích cá nhân hoặc che dấu các hành vi
vi phạm quy định của pháp luật và quy định nội bộ
Đảm bảo chấp hành chế độ hạch toán, kế toán theo quy định và phải có thông tin nội bộ về tài chính, về hoạt động, về tình hình tuân thủ trong ngân
Trang 32hàng và tình hình kinh tế, thị trường bên ngoài hợp lý, tin cậy, kịp thời nhằm phục vụ cho công tác quản trị, điều hành có hiệu quả
Đảm bảo mọi cán bộ, nhân viên của ngân hàng đều phải quán triệt được tầm quan trọng của hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ; vai trò của từng cá nhân trong quá trình kiểm tra, kiểm soát nội bọ có liên quan đến chức năng nhiệm vụ của bản thân họ và phải tham gia thực hiện một cách đầy đủ và có hiệu quả các quy định, quy trình kiểm tra kiểm soát nội bộ liên quan
Người điều hành các bộ phận, đơn vị nghiệp vụ, các cá nhân có liên quan phải thường xuyên xem xét, đánh giá về tính hiệu lực, hiệu quả của kiểm tra, kiểm soát nội bộ; mọi khiếm khuyết của này phải được báo cá kịp thời quản lý trực tiếp; những khiếm khuyết có thể gây tổn thất hoặc nguy cơ rủi ro phải báo cáo ngay cho ban lãnh đạo
Tất cả các cá nhân, các bộ phận ở mọi cấp của ngân hàng phải thường xuyên, liên tục kiểm tra và tự kiểm tra việc thực hiện các quy định, quy trình nội bộ có liên quan và phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện hoạt động thực hiện nghiệp vụ của mình trước ngân hàng và pháp luật
Lãnh đạo các phòng ban, bộ phận của ngân hàng phải báo cáo, đánh giá về kết quả kiểm tra kiểm soát nội bộ tại đơn vị mình; đề xuất biện pháp xử lý đối với những tồn tại bất cập nếu có gửi lãnh đạo cấp quản lý trực tiếp theo định kỳ hoặc đột xuất theo yêu cầu của lãnh đạo cấp quản lý trực tiếp
1.2.6 Ý nghĩa, tác dụng của kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng:
Kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng hữu hiệu và hiệu quả sẽ có thể kiểm soát và ngăn ngừa được một phần các nguyên nhân chủ quan dẫn đến rủi ro tín dụng Kiểm soát nội bộ được thiết lập có thể có được sự đảm bảo hợp lý rằng:
Trang 33- Đánh giá được việc tuân thủ các chính sách, các quy định, quy trình hoạt động tín dụng của ngân hàng
- Kiểm tra được các biện pháp bảo đảm an toàn trong hoạt động tín dụng
- Kiểm soát nội bộ được thực hiện đầy đủ, kịp thời, có hiệu quả, có thể ngăn ngừa kịp thời những thiếu sót trong xử lý nghiệp vụ
- Các dữ liệu cần thiết được thu thập, kiểm soát một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời giúp cho việc ra quyết định tín dụng có chất lượng cao
- Tài liệu, hồ sơ, các tài sản có liên quan đến nghiệp vụ được đảm bảo an toàn
- Kiểm soát các khoản cho vay có thể nắm bắt và đánh giá các rủi ro về khả năng tài chính của từng khách hàng vay, từ đó có thể đánh giá độ an toàn của từng khoản cho vay
Kết luận chương 1:
Hoạt động tín dụng luôn là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất trong ngân hàng, là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro xuất phát từ các nguyên nhân khách quan và chủ quan Hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng có thể giảm thiểu được một phần rủi ro tín dụng do các nguyên nhân chủ quan nhờ đảm bảo kiểm soát chặt chẽ các khâu trong quy trình tín dụng cũng như có sự giám sát kịp thời, cảnh báo sớm các dấu hiệu rủi ro
Vì vây bất kỳ một tổ chức nào cũng cần phái thiết lập kiểm soát nội bộ nhằm đảm bảo mục tiêu sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động và đảm bảo tuân thủ pháp luật
Để hoạt động kiểm soát nội bộ hiệu quả thì cần thiết lập thủ tục kiểm soát chặt chẽ cũng như đòi hỏi phải xây dựng hệ thống thông tin thuận lợi và bộ phận kiểm soát phải đảm bảo một số yêu cầu nhất định để đảm bảo có được một hệ thống kiểm soát hữu hiệu là rất cần thiết
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG
CỦA CHI NHÁNH NGÂN HÀNG No&PTNT GIA ĐỊNH
2.1 TỔNG QUAN VỀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG No&PTNT GIA ĐỊNH:
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển:
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn – Chi nhánh Gia Định được thành lập theo quyết định số 199/2000/QĐ-NHNN ngày 03/5/2000 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam, sau hơn 8 năm thành lập, đến nay chi nhánh Gia định đã trở thành một trong những chi nhánh lớn của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn với 230 cán bộ công nhân viện, gồm 9 phòng ban và 03 phòng giao dịch trực thuộc
Trong những năm qua, chi nhánh Gia Định luôn bám sát định hướng, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn cũng như định hướng kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam và đã từng bước khẳng định được vị trí của mình trên địa bàn TPHCM thông qua hiệu quả kinh doanh và chất lượng dịnh vụ khách hàng không ngừng được cải thiện
Về huy động vốn: nguồn vốn huy động của chi nhánh tiếp tục tăng trưởng qua các năm Chi nhánh đã đề ra những giải pháp đúng đắn nhằm đẩy mạnh công tác huy động thông qua nhiều hình thức như tiếp thị, chính sách lãi suất, đa dạng hóa hình thức huy động Kết quả là nguồn vốn huy động của chi nhánh luôn gia tăng, chênh lệch giữa huy động và cho vay khá lớn
Trang 35Về công tác tín dụng: Chi nhánh đã từng bước thực hiện định hướng hoạt động kinh doanh đã đề ra hàng năm và đề án phát triển kinh doanh giai đoạn 2006-2010 đã được Tổng giám đốc phê duyệt, trong đó đã làm tốt công tác cơ cấu lại dư nợ cho vay với chủ trương chuyển dịch dư nợ từ đối tượng là các DNNN sang đối tượng là các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh
Về quản trị điều hành: Chi nhánh chấp hành tốt chủ trương chính sách, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và những quy định của ngành Thực hiện điều hành theo quy chế, cơ chế đã được quy định, thực hiện tốt quy chế dân chủ và tạo được sự đoàn kết nhất trí cao trong chỉ đạo kinh doanh Sử dụng một cách có hiệu quả công cụ điều hành như: kế hoạch, lãi suất, tài chính, kiểm tra, kiểm soát nội bộ…
Về phát triển thị phần: Thực hiện tốt việc mở rộng mạng lưới, từng bước chiếm lĩnh thị phần Các phòng giao dịch trực thuộc đều đã đi vào hoạt động và mang lại hiệu quả bước đầu rất khả quan, một số phòng giao dịch đã hoạt động có lãi và trả được chi phí Chi nhánh vừa giữ vững mối quan hệ đối với khách hàng truyền thống là các DNNN, vừa mở rộng cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, tư nhân cá thể hộ gia đình, đây là đối tượng cho vay có lãi suất cao hơn và có tài sản thế chấp đầy đủ
Thời gian qua, nỗ lực tự đổi mới của Ban giám đốc-chi nhánh Gia Định đã tạo nên những bước chuyển biến quan trọng nhằm tạo lập cơ chế hoạt động phù hợp-là nền tảng vững chắc cho sự bứt phá trong giai đoạn phát triển lên tầm cao mới
Trang 362.1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý:
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC
Sơ đồ trên cho thấy hoạt động tổ chức của chi nhánh bao gồm nhiều phòng ban quản lý trong đó có phòng kiểm tra kiểm soát nội bộ trực thuộc điều hành của Giám đốc chi nhánh
2.1.3 Thực trạng hoạt động tín dụng:
2.1.3.1 Kết quả tăng trưởng dư nợ qua các năm:
Nguồn: Ngân hàng No&PTNT chi nhánh Gia Định
Phòng khách hàng doanh nghiệp Phòng khách hàng cá nhân
Phòng kiểm tra, kiểm
soát nội bộ
Trang 37Chi nhánh luôn mở rộng mạng lưới hoạt động nhằm thu hút nguồn vốn huy động và đa dạng hóa được các hoạt động cho vay, chi nhánh đã từng bước củng cố lại bộ máy tổ chức, lập đề án tăng trưởng giai đoạn 2005-2010 nên trong hoạt động cho vay đã đạt được những kết quả đáng kể Đến 31/12/2008 dư nợ tín dụng tại chi nhánh đạt 1736 tỷ đồng, tỷ lệ tăng bình quân 63.5%
2.1.3.2 Dư nợ các ngành kinh tế chủ yếu:
Bảng 2.2: Dư nợ các ngành kinh tế chủ yếu
ĐVT: tỷ đồng
Nguồn:Ngân hàng No&PTNT chi nhánh Gia Định
Dư nợ cho vay của chi nhánh đối với:
- Ngành công nghiệp: dư nợ đến 31/12/2008 đạt 191 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 11.23% trên tổng dư nợ
- Ngành thương nghiệp: dư nợ đến 31/12/2008 đạt 284tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 16.73% trên tổng dư nợ
- Ngành giao thông vận tải: dư nợ đến 31/12/2008 đạt 44tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 2.58% trên tổng dư nợ
Trang 38- Ngành xây dựng: dư nợ đến 31/12/2008 đạt 450 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 26.50% trên tổng dư nợ
- Ngành nông nghiệp: dư nợ đến 31/12/2008 đạt 320 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 18.82% trên tổng dư nợ
- Ngành khác: dư nợ đến 31/12/2008 đạt 410 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 24.14% trên tổng dư nợ
Tỷ trọng dư nợ giữa các ngành kinh tế tương đối ổn định qua các năm, không có sự thay đổi lớn Dư nợ ngành thương nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn và ổn định trong tổng dư nợ Bình quân hai ngành này chiếm khoảng 63% trên tổng dư nợ, vì đây là những ngành kinh tế mũi nhọn của TPHCM, nên được Nhà nước và chính quyền địa phương khuyến khích phát triển Việc tăng cường đầu tư của ngân hàng đối với những ngành nghề này đảm bảo an toàn vốn và nâng cao được hiệu quả kinh doanh
2.1.3.3 Dư nợ các thành phần kinh tế chủ yếu:
Bảng 2.3: Dư nợ các thành phần kinh tế
ĐVT: tỷ đồng STT Thành phần kinh tế
chủ yếu
3 Khu vực có vốn đầu tư
Trang 39Dư nợ cho vay của chi nhánh đối với các thành phần kinh tế như sau:
- Kinh tế nhà nước: dư nợ đến 31/12/2008 đạt 645 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 37% trên tổng dư nợ
- Kinh tế tư nhân cá thể: dư nợ đến 31/12/2008 đạt 1000 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 58% trên tổng dư nợ
-Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài: dư nợ đến 31/12/2008 đạt 91 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 5% trên tổng dư nợ
Qua số liệu trên cho thấy dư nợ cho vay của chi nhánh đối với thành phần kinh tế Nhà nước ngày càng giảm mạnh, dư nợ cho vay đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng lên nhanh chóng Nguyên nhân Nhà nước đầy mạnh tiến trình cổ phần hóa DNNN, khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh phát triển, thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam nói chung và TPHCM nói riêng Thực tế cho thấy những năm gần đây, sự phát triển kinh doanh của những thành phần kinh tế này trở nên mạnh mẽ, làm ăn thực sự có hiệu quả, góp phần to lớn vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế Việc tăng đầu tư tín dụng của chi nhánh nói chung là tất yếu và phù hợp với thực tiễn của nền kinh tế nước ta, đảm bảo tính tăng trưởng bền vững an toàn và hiệu quả
2.1.3.4 Tình hình nợ quá hạn tại chi nhánh:
Trang 40Bảng 2.4: Tình hình nợ quá hạn
Đvt: tỷ đồng
Nguồn ngân hàng No&PTNT Gia Định Qua các bảng số liệu trên cho thấy trung bình tỷ lệ nợ quá của chi nhánh chiếm khoảng 3.1% so với tổng dư nợ tương ứng với 3.3% vào năm 2006, 1.42% vào năm 2007, và 4.53% vào năm 2008
2.1.4 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng:
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng, xem xét dưới góc độ khách quan và chủ quan, có thể chia ra thành 03 nhóm nguyên nhân :
(1) Các biến động của môi trường kinh doanh và các yếu tố khách quan khác nằm ngoài sự kiểm soát của chi nhánh và khách hàng
Đây là nguyên nhân khách quan luôn có thể xẩy ra vì hoạt động kinh doanh của khách hàng vay chịu sự tác động của nhiều nhân tố và các vấn đề như nguồn thu nhập, gia đình sức khỏe, sự an toàn về tài sản của khách hàng vay đều có thể thay đổi
Mặt khác, nền kinh tế có nhiều biến đổi, chuyển đổi, môi trường kinh doanh nhiều biến động nên các dự báo, đánh giá về tính khả thi, hiệu quả của dự án vay vốn thường không chắc chắn