1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

96 553 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 788,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu đặt ra là phải ổn định nền tài chính tiền tệ của quốc gia mà đặc biệt là vấn đề kiểm soát lạm phát, ổn định giá cả tiền tệ để tăng tr

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Kinh tế tài chính – ngân hàng

Mã số: 60.31.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN TẤN HOÀNG

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2010

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Họ và tên: Trần Quốc Hưng

Ngày tháng năm sinh: 11/07/1981

Ngành học: TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP Khoá: 15

Đề tài : GIẢI PHÁP ĐỂ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Tác giả cam đoan là luận văn không sao chép, không pho to… nguồn số liệu và các dẫn chứng đều có ghi chú của các tác giả, Tác giả chịu hoàn toàn trách nhiệm những gì đã thể hiện trong luận văn trước pháp luật

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng nghiên cứu .2

3 Phương pháp nghiên cứu 2

3.1.Phương pháp luận 2

3.2 Phương pháp kỹ thuật 2

4 Ýù nghĩa thực tiễn của đề tài 3

CHƯƠNG I LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT .5

1.1 Các quan điểm về lạm phát – đo lường lạm phát .5

1.1.1 Các quan điểm về lạm phát 5

1.1.2 Đo lường lạm phát 6

1.2 Các loại lạm phát 8

1.2.1 Lạm phát vừa phải .9

1.2.2 Lạm phi mã 9

1.2.3 Siêu lạm phát 9

1.3 Nguyên nhân gây ra lạm phát 10

1.3.1 Lạm phát cầu kéo 10

1.3.2 Lạm phát chi phí đẩy 12

1.4 Tác động của lạm phát 14

1.4.1 Tác động tich c c 14

1.4 2 Tác động tiêu c c 14

1.5 Kinh nghiệm kiểm soát lạm phát ở một số nước trên thế giới 17

1.5.3 Ki m soát lạm phát ở Hàn Quốc 17

1.5.4 Kiêểm soát lạm phát ở Nhật Bản 18

Trang 4

1.5.5 Kiểm soát lạm phát ở Thái Lan 18

1.5.6 Kiểm soát lạm phát ở Trung Quốc 19

1.6 Các nhóm giải pháp kiểm soát lạm phát ở các nước và bài học rút ra cho Việt Nam 20

1.6.1 Các nhóm giải pháp kiểm soát lạm phát ở các nước 20

1.6.2 Bài học kiểm soát lạm phát rút ra cho Việt Nam 22

Kết luận chương I 23

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM VỪA QUA 24

2.1 Thực trạng kiểm soát lạm phát ở Việt Nam từ năm 1976 đến 2008 .24

2.1.1 Lạm phát và kiểm soát lạm phát trong giai đoạn 1976-1996 24

2.1.2 Lạm phát và kiểm soát lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 1997 đến 2003 31

2.1.3 Tình hình lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2004 đến 2008 36

2.1.4 Đánh giá các biện pháp kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong thời gian qua 44

2.2 Tác động của lạm phát tới các biến số kinh tế vĩ mô của Việt Nam 46

2.2.1 Tác động của lạm phát đối với tăng tưởng kinh tế Việt Nam 46

2.2.2 Tác động của lạm phát đối với tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam 49

2.2.3 Tác động của lạm phát đối với cán cân thanh toán của Việt Nam 51

2.3 Những nguyên nhân cơ bản gây lạm phát ở Việt Nam … 53

2.3.1 Xét trên góc độ cầu kéo 53

2.3.2 Xét trên góc độ chi phí đẩy 58

Kết luận chương II 66 CHƯƠNG III

Trang 5

GIẢI PHÁP ĐỂ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 65

3.1 Dự báo lạm phát Việt Nam trong thời gian tới 65

3.2 Các giải pháp kiểm soát lạm phát ở Việt Nam giai đoạn hiện nay .68

3.2.1 Ngân hàng Nhà nước trong kiểm soát lạm phát .68

3.2.2 Chính phủ kiểm soát lạm phát 74

3.2.3 Những vấn đề cần phả có sự phối kết hợp đồng bộ .83

3.2.4 Doanh nghiệp tự kiểm soát lạm phát .85

Kết luận chương III 88

KẾT LUẬN .89 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng phát triển Châu Á

AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

CPI Chỉ số giá tiêu dùng

CSTT Chính sách tiền tệ

DNNN Doanh nghiệp nhà nước

DTBB Dữ trữ bắt buộc

ĐTNN Đầu tư nước ngoài

FED Cục dự trữ liên bang Mỹ

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

ICOR Tỷ lệ thu nhập tăng thêm trên đầu tư IPO Phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng LT-TP Lương thực thực phẩm

NHNN Ngân hàng nhà nước

NHTM Ngân hàng thương maị

NHTW Ngân hàng trung ương

NSNN Ngân sách nhà nước

OTC Thị trường phi tập trung

TCTD Tổ chức tín dụng

XDCB Xây dựng cơ bản

WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Lạm phát là một hiện tượng kinh tế vĩ mô cơ bản và hết sức quan trọng mà mọi quốc gia đều quan tâm trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Lạm phát là một hiện tượng kinh tế phức tạp, xuất hiện khi nền kinh tế phát triển bị mất cân đối và thường gây ra hậu quả nghiêm trọng Nói đến lạm phát có thể nhiều người có cảm giác như quen thuộc và cho rằng đây là vấn đề đã gặp Lạm phát lúc nào cũng là chủ đề mới cả, nó thay đổi liên tục, có khi tạm ổn, có khi giảm xuống, có khi lại lên cơn sốt, trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế xã hội lạm phát có những sắc thái riêng Lạm phát mỗi lần xuất hiện đều mang theo một sức mạnh tiềm ẩn, làm rối loạn nền kinh tế, làm phức tạp xã hội, làm giảm mức sống của người dân và có thể nếu ở một mức độ nào đó lạm phát gây ra rối ren chính trị - xã hội Kiểm soát lạm phát không phải là dễ dàng mà đòi hỏi phải có các giải pháp đồng bộ và khôn ngoan

Vậy nền kinh tế nước ta trong những năm qua có lạm phát hay không, và nếu có là bao nhiêu, là cao hay thấp, mức lạm phát đó có ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế, những nguyên nhân nào gây ra lạm phát ở nước ta, là những vấn đề cần phải làm sáng tỏ, để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp thích hợp để kiểm soát lạm phát, góp phần phát triển kinh tế xã hội

Vì vậy, mặc dù lạm phát là vấn đề phức tạp, có liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhưng tôi chọn “Giải pháp kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay“ làm luận văn bảo vệ học vị thạc sỹ kinh tế, với mong muốn bằng những kiến thức đã được học để phân tích diễn biến tình hình lạm phát ở nước ta trong thời gian qua và dự báo trong thời gian tới, qua đó đưa ra những giải pháp

Trang 8

nhằm kiểm soát lạm phát được tốt hơn và góp phần vào mục tiêu phát triển kinh tế xã hội

2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Xuất phát từ lý do trên, đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề sau:

- Nghiên cứu về tình hình kinh tế - xã hội của nước ta trong những năm qua

- Nghiên cứu tình hình lạm phát ở Việt Nam trong những năm qua, những tác động của lạm phát đến tình hình kinh tế xã hội của nước ta và những biện pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

3.1 Phương pháp luận:

Do vấn đề lạm phát có liên quan mật thiết đến nhiều vấn đề khác như tỷ giá, lãi suất, tăng trưởng kinh tế, thất nghiệp, cán cân thanh toán… thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như tài chính Nhà nước, tín dụng ngân hàng… nên khi nghiên cứu lạm phát phải đặt trong mối quan hệ tương hỗ qua lại giữa các yếu tố, lĩnh vực trên Do vậy, phương pháp luận chủ đạo của luận văn là vận dụng phép duy vật biện chứng và phép duy vật lịch sử

Tuy nhiên, vận dụng phương pháp nghiên cứu như thế nào đi nữa thì cũng không thể xa rời, thoát ly khỏi thực tiễn Do vậy, phải căn cứ vào tình hình thực tiễn kinh tế - xã hội và hướng phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam Do vậy, phương pháp luận của luận văn là kết hợp lý luận và thực tế

3.2 Phương pháp kỹ thuật

Luận văn đi vào thu thập các số liệu về lạm phát, tăng trưởng kinh tế, tỷ giá hối đoái, lãi suất, chỉ số giá tiêu dùng… và các số liệu cần thiết khác cho nghiên cứu Những số liệu này được thu thập trên các phương tiện thông tin đại

Trang 9

chúng, đặc biệt là từ các bộ, ban, ngành Dựa trên số liệu thống kê có được, luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hồi quy, để xử lý và biểu diễn số liệu có được theo các nội dung cần thiết Để có thể thấy được vấn đề nghiên cứu có thể thay đổi như thế nào qua thời gian, luận văn sử dụng phương pháp so sánh - đối chiếu nhằm xem xét vấn đề trong mối tương quan, so sánh đối chiếu giữa những thời kỳ khác nhau

4 Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Trong bối cảnh khu vực và thế giới có nhiều bất ổn do chiến tranh, xung đột, thiên tai, đặc biệt là nạn khủng bố thì Việt Nam trong những năm gần đây được xem là điểm đến an toàn nhất, có tình hình chính trị ổn định nhất Nếu như chúng ta tạo được một sự ổn định nữa về mặt kinh tế thì khả năng thu hút đầu tư nước ngoài là rất lớn, nhưng trước hết là tạo được một tâm lý ổn định trong nước, khuyến khích mọi tầng lớp dân cư an tâm làm ăn lâu dài vì quốc tế dân sinh, từ đó góp phần vào việc phát triển kinh tế một cách ổn định, bền vững

Để tạo được một sự ổn định về kinh tế, cần phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội Trong đó, một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu đặt ra là phải ổn định nền tài chính tiền tệ của quốc gia mà đặc biệt là vấn đề kiểm soát lạm phát, ổn định giá cả tiền tệ để tăng trưởng ổn định, bền vững và có hiệu quả Đặc biệt trong giai đoạn Việt Nam tham gia rộng hơn vào nền kinh tế thế giới như tham gia vào các tổ chức quốc tế như AFTA, WTO… Mức độ hòa nhập nền kinh tế của nước ta cũng phải gánh chịu những tác động của kinh tế khu vực và thế giới ở một mức độ cao hơn bao giờ hết, mà như thế thì nền kinh tế của nước ta cũng phải gánh chịu những tác động của kinh tế khu vực và thế giới ở một mức độ cao hơn bao giờ hết

Do vậy, đề tài đi vào nghiên cứu lạm phát với mong muốn nắm vững hơn về diễn biến tình hình lạm phát ở Việt Nam thời gian và những nhân tố tác động

Trang 10

tới lạm phát để từ đó kiểm soát lạm phát tốt hơn, góp phần tạo nên một sự ổn định về kinh tế, cùng với sự ổn định chính trị giúp chúng ta thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đặt ra

Với những mục đích như trên, đề tài mang ý nghĩa thiết thực đối với công cuộc phát triển kinh tế hiện nay

Toàn bộ nội dung của đề tài được thể hiện trong 03 chương:

Chương I: LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT

Chương II: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA

Chương III: GIẢI PHÁP ĐỂ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM

Trang 11

CHƯƠNG I LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT 1.1 CÁC QUAN ĐIỂM VỀ LẠM PHÁT - ĐO LƯỜNG LẠM PHÁT

1.1.1 Các quan điểm về lạm phát

Lạm phát là vấn đề không mấy xa lạ đối với một nền kinh tế và hầu hết chúng ta đều có thể chứng kiến hay trải qua thời kỳ lạm phát tuỳ theo mức độ khác nhau Cho đến thời điểm này, nhiều nhà kinh tế học đã đưa ra các khái niệm về lạm phát Song, chúng ta vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn về lạm phát Có người tiếp cận lạm phát theo những nguyên nhân của nó, có người tiếp cận lạm phát theo hướng tập trung vào những ảnh hưởng của lạm phát Có thể kể

ra một số quan điểm về lạm phát rất khác nhau như sau:

1.1.1.1 Luận thuyết “Lạm phát lưu thông tiền tệ”

Quan điểm này cho rằng lạm phát là đưa nhiều tiền thừa vào lưu thông làm cho giá cả tăng lên “Lạm phát trong mọi lúc mọi nơi đều là hiện tượng cầu lưu thông tiền tệ Lạm phát xuất hiện và chỉ có xuất hiện khi nào số lượng tiền trong lưu thông tăng lên với nhịp độ nhanh hơn so với sản xuất”

1.1.1.2 Luận thuyết “ Lạm phát cầu dư thừa tổng quát”

Các tác giả theo luận thuyết tiền tệ ở Mỹ giải thích “LạÏm phát là cầu dư thừa” thường xuyên do phát hành tiền quá mức đẻ ra, nguyên nhân chủ yếu của lạm phát là những vi phạm quá trình tái sản xuất nằm trong lĩnh vực tiền tệ, vì lưu thông tiền tệ có ảnh hưởng mang tính quyết định tới sự phát triển tích cực của nền kinh tế”

Trang 12

1.1.1.3 Luận thuyết “ Lạm phát giá cả”

Những người theo luận thuyết này coi sự gia tăng giá cả là lạm phát “ Bất cứ thời kỳ nào mà giá hàng tăng không kể lâu hay mau, có tính chất chu kỳ hay đột xuất đều là thời kỳ của lạm phát”

Trên đây mới chỉ là một vài luận điểm về lạm phát Điều đó cũng đủ cho nhận định rằng lạm phát là vấn đề hết sức phức tạp Khi nói đến lạm phát, có người nghĩ ngay đến lạm phá tiền tệ nhưng có người cho rằng không hẳn như vậy, vì nếu đưa tiền vào lưu thông đúng quy luật khiến giá không gia tăng thì đâu có lạm phát Ngược lại vì lý do gì đó khiến giá cả gia tăng, mặc dù không liên quan đến việc phát hành tiền, là biểu hiện của lạm phát Tóm lại, có hai quan điểm về lạm phát được ủng hộ nhiều nhất:

- Lạm phát là sự tràn ngập tiền thừa trong lưu thông dẫn đến sự gia tăng giá cả hàng hoá

- Lạm phát là sự suy giảm quá đáng trong sức mua của đồng tiền Sức mua của đồng tiền được đo lường bởi sự biến đổi nghịch đảo của mức vật gia chung

Hai quan niệm này tuy khác nhau về nguyên nhân nhưng lại thống nhất về kết quả lạm phát làm cho giá cả hàng hoá gia tăng

1.1.2 Đo lường lạm phát

1.1.2.1 Cách đo lường lạm phát trên thế giới

Ở Mỹ, cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) chọn chỉ số trượt giá tổng tiêu dùng cá nhân làm cơ sở cho các quyết định của mình Chỉ số này rộng hơn CPI và không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi thói quen tiêu dùng trong dân chúng nên nó là thước đo rất tốt cho tình trạng lạm phát hiện thời

Trang 13

Với đa số các nước khác, NHTW thường sử dụng CPI đã được hiệu chỉnh yếu tố mùa vụ vì không có được số liệu trược giá tổng tiêu dùng cá nhân tốt như của Mỹ

FED và môt số NHTW của Uùc, New Zealand, Nhật Bản loại bỏ một số loại hàng hóa có độ biến thiên lớn (lương thực, năng lượng…) ra khỏi hàng hóa tính CPI lạm phát cơ bản Lập luận của những ngân hàng này là những thành phần này mặc dù có độ dao động lớn nhưng về lâu dài không làm ảnh hưởng đến

xu hướng chung của lạm phát Ngoài ra sự biến động của những yếu tố này thường nằm ngoài khả năng kiểm soát và tầm ảnh hưởng của NHTW

1.1.2.2 Cách đo lường lạm phát của Việt Nam

Lạm phát đươc đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá bán lẻ của một lượng lớn các hàng hóa và dịch vụ trong môt nền kinh tế Giá cả của các loại hàng hóa và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra mức giá cả trung bình gọi là mức giá trung bình của tập hợp các sản phẩm Chỉ số giá cả là tỷ lệ mức giá trung bình ở thời điểm hiện tại đối với mức giá turng bình của nhóm hàng tương ứng ở thời điểm gốc Tỷ lệ lạm phát thể hiện qua chỉ số giá cả, là tỷ lệ phần trăm mức tăng của mức giá trung bình hiện tại so với mức giá trung bình ở thời điểm gốc

Lạm phát được đo lường bằng tỷ lệ lạm phát, là suất tăng của mức giá tổng quát theo thời gian Hai thước đo thông dụng phản ánh mức tổng quát là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số thu nhập quốc dân điều chỉnh

Chỉ số giá tiêu dùng là tỷ số phản ánh giá của rổ hàng hóa trong nhiều năm khác nhau so với giá của cùng rổ hàng hóa đó trong năm gốc Chỉ số giá này phụ thuộc vào năm được chọn làm năm gốc và sự lựa chọn rổ hàng hóa tiêu dùng Trên cơ sở xác định chỉ số giá tiêu dùng bình quân, tỷ lệ lạm phát phản

Trang 14

ánh sự thay đổi mức giá bình quân của giai đoạn này so với giai đoạn trước theo công thức:

Mức giá hiện tại – mức giá năm trước Tỷ lệ lạm phát = x 100%

Mức giá năm trước

Nhược điểm của chỉ số này là mức độ bao phủ cũng như sử dụng trọng số cố định trong tính toán Mức độ bao phủ của chỉ số này chỉ giới hạn đối với một số hàng hóa tiêu dùng và trọng số cố định dựa vào tỷ phần chi tiêu đối với một số hàng hóa cơ bản của người dân thành thị mua vào năm gốc Những nhược điểm mà chỉ số giá này gặp phải khi phản ánh giá cả sinh hoạt là không phản ánh sự biến động của giá hàng hóa cơ bản, không phản ánh sự biến đổi trong cơ cấu hàng hóa tiêu dùng cũng như sự thay đổi trong phân bổ chi tiêu của người tiêu dùng cho những hàng hóa khác nhau thời gian

1.2 CÁC LOẠI LẠM PHÁT

Tuỳ vào các tiêu chuẩn khác nhau mà người ta có thể phân chia lạm phát

ra thành nhiều loại khác nhau:

Căn cứ vào mức độ biểu hiện của giá cả trên thị trường lạm phát được chia thành 2 loại: Lạm phát ngầm và lạm phát công khai

Căn cứ biểu hiện bên ngoài của bản chất lạm phát người ta chia ra: Lạm phát lưu thông tiền tệ, lạm phát giá cả, lạm phát sức mua và lạm phát suy thoái

Căn cứ vào nguyên nhân lạm phát người ta chia ra bảy loại: Lạm phát cầu

dư thừa tổng quát, lạm phát cung, lạm phát chi phí, lạm phát cơ cấu, lạm phát nhập khẩu, lạm phát tài chính - tín dụng, lạm phát hệ thống bốn yếu tố

Căn cứ vào tốc độ lạm phát, lạm phát được chia thành 03 loại như sau:

Trang 15

- Lạm phát vừa phải

- Lạm phát phi mã

- Siêu lạm phát

1.2.1 Lạm phát vừa phải (Reasonable Inflation)

Mức độ tăng của giá cả cao hơn từ trên vài % đến mức lớn hơn không nhiều so với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm được gọi là lạm phát vừa phải hay lạm phát kiểm soát được Đối với loại này thì tuỳ theo chiến lược và chiến thuật phát triển kinh tế mỗi thời kỳ mà các Chính phủ có thể chủ động định hướng mức không chế trên cơ sở duy trì một tỷ lệ lạm phát là bao nhiêu để gắn với một số mục tiêu kinh tế khác: Kích thích tăng trưởng kinh tế, tăng cường xuất khẩu và giảm tỷ lệ thất nghiệp trong các năm tài khoá nhất định

1.2.2 Lạm phát phi mã

Mức độ tăng của giá cả hàng hoá lúc này cũng giống như “Một con ngựa bất kham đang tung vó để chạy” Nhìn chung lạm phát phi mã duy trì trong thời gian dài sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng Trong bối cảnh đó, đồng tiền sẽ mất giá nhanh, cho nên mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cho giao dịch hàng ngày Mọi người có xu hướng tích trữ hàng hoá, mua bất động sản, chuyển sang sử dụng vàng hoặc các ngoại tệ mạnh để làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch lớn và tích luỹ của cải

Khi lạm phát phi mã xảy ra, sản xuất bị đình trệ, nền tài chính bị phá hoại và nếu không có biện pháp thích hợp để “ghìm chân chú ngựa” thì nền kinh tế sẽ dễ dàng rơi vào tình trạng siêu lạm phát

1.2.3 Siêu lạm phát (Hyperinflation)

Siêu lạm phát là lạm phát xảy ra ở mức độ lớn hơn lạm phát phi mã Siêu lạm phát thường xảy ra do các biến cố lớn dẫn đến đảo lộn trật tự xã hội như: chiến tranh, khủng hoảng chính trị Khi những biến cố lớn xảy ra, sự thâm hụt

Trang 16

ngân sách khiến Chính phủ phải phát hành tiền giấy để bù đắp dẫn đến siêu lạm phát Siêu lạm phát có sức phá huỷ toàn bộ hoạt động kinh tế và nền kinh tế bị suy thoái nghiêm trọng

Một trường hợp được ghi nhận chi tiết về siêu lạm phát là nước Đức sau thế chiến thứ nhất Giá một tờ báo đã tăng từ 0,3 DM vào tháng 01 năm 1922 lên đến 70.000.000 DM chỉ trong chưa đầy hai năm sau Giá cả các thứ khác cũng tăng tương tự Từ tháng 01 năm 1922 đến tháng 11 năm 1923, chỉ số giá đã tăng từ 1 lên 10.000.000.000

Như vậy, có thể phân loại lạm phát theo nhiều mức độ khác nhau để có những biện pháp kiểm soát thích hợp Song, biện pháp “phòng bệnh” hay “chữa bệnh” cũng còn phải căn cứ vào nguyên nhân gây “bệnh”

1.3 NGUYÊN NHÂN GÂY RA LẠM PHÁT

Có nhiều nguyên nhân gây ra lạm phát, song nguyên nhân trực tiếp của bất kỳ cuộc lạm phát nào cũng xuất phát từ các lý do đẩy tổng cầu tăng quá mức (lạm phát do cầu kéo) hoặc tổng cung giảm do chi phí tăng lên (lạm phát chi phí đẩy)

1.3.1 Lạm phát cầu kéo (Demand Pull Inflation)

Lạm phát cầu kéo hay lạm phát nhu cầu là lạm phát xảy ra do tổng cầu tăng vượt quá mức cung hàng hóa của xã hội, dẫn đến áp lực làm tăng giá cả Khi tổng cầu tăng, tức có nhiều người mua và sẵn sàng mua hàng hóa, trong khi đó lượng cung không tăng hoặc tăng ít hơn dẫn đến trên thị trường sẽ xảy ra tình trạng thiếu hụt hàng hóa Theo quy luật cung cầu thì giá cả thị trường sẽ tăng lên, tức là xuất hiện lạm phát

Trang 17

Nếu gọi tổng cầu là AD thì AD = C + I + G + X – M

Trong đó:

C: Chi tiêu gia đình

G: Chi tiêu Chính phủ

I: Đầu tư nền kinh tế

X: Nhu cầu hàng hóa cho xuất khẩu

M: Lượng hàng hóa nhập khẩu

Tổng cầu tăng lên có thể do một số nguyên nhân sau:

- Chi tiêu của Chính phủ cho an ninh quốc phòng, tăng các khoản đầu tư của Chính phủ làm tăng tổng cầu

- Thâm hụt ngân sách kéo dài và được đài thọ bằng cách vay mượn ở trong nước, ngoài nước hoặc NHTW, NHTW ứng trước cho NSNN tức là NHTW đã phát hành tiền qua ngõ Chính phủ, vì vậy khối lượng tiền tệ lưu thông tăng Vay nước ngoài cũng làm khối lượng tiền tệ tăng Vay trong nước khi trả mà thu không đủ chi cũng phải phát hành và làm cho khối lượng tiền tệ tăng Khối lượng tiền tệ tăng làm cho tổng chi tiêu bằng tiền tăng

- Chi tiêu dùng của các hộ gia đình tăng do mức thu nhập tăng hoặc được Chính phủ giảm thuế, hoặc chế độ an sinh xã hội hay bảo hiểm tốt nên quyết định cắt giảm tiết kiệm để chi tiêu, hoặc Chính phủ tăng trợ cấp

- Tâm lý thích tiêu dùng hay tiết kiệm của dân chúng đưa đến sự gia tăng tốc độ lưu thông tiền tệ Nếu dân chúng có khuynh hướng thích tiêu dùng, tốc độ lưu thông tiền tệ gia tăng

- Đầu tư của các doanh nghiệp tăng lên do dự đoán về triển vọng phát triển kinh tế trong nước và cả ngoài nước hay do lãi suất giảm

Trang 18

- Do chính sách tiền tệ mở rộng tạo nên điều kiện cho các doanh nghiệp, người dân dễ tiếp cận nguồn vốn, có thể vay dễ dàng hơn, vay nhiều hơn dẫn đến nhu cầu chi tiêu nhiều hơn

- Các yếu tố liên quan đến nhu cầu nước ngoài như: Tỷ giá hối đoái, mức thu nhập của cư dân nước ngoài… làm gia tăng nhu cầu hàng hóa xuất khẩu kéo theo tổng cầu gia tăng

Trong các phân tích trên, tổng cầu tăng gây áp lực tăng giá làm xảy ra tình trạng lạm phát trong ngắn hạn Song, nếu nền kinh tế chưa đạt được mức sản lượng tiềm năng, thì việc tăng tổng cầu trong trường hợp này trở thành một chính sách lạm phát có hiệu quả để thúc đẩy sản xuất xã hội làm cho kinh tế tăng trưởng, khi đó tổng cung sẽ tăng, sản lượng của nền kinh tế tăng lên

Ngược lại với lạm phát do nguyên nhân từ phía cầu là lạm phát do nguyên nhân từ phía cung, gọi là lạm phát chi phí đẩy

1.3.2 Lạm phát chi phí đẩy (Cost Push Inflation)

Trong hoàn cảnh sản xuất không tăng hoặc tăng ít trong khi chi phí tăng

lên (chi phí sản xuất tăng vượt quá mức tăng của năng suất lao động) thì sẽ sinh

ra lạm phát chi chí đẩy Chi phí sản xuất tăng lên tạo áp lực “Đẩy” giá bán sản phẩm tăng lên hay có thể làm giảm mức cung ứng hàng hóa của xã hội, như vậy trong trường hợp này là do các yếu tố sản xuất và tiêu thụ hàng hóa gây ra

Chi phí tăng lên có thể xuất phát từ những nguyên nhân sau:

- Mức tăng tiền lương vượt quá mức tăng năng suất lao động: Các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường thường phải chịu rất nhiều áp lực về vấn đề lương tiền Trong ngắn hạn chi phí công nhân ổn định do bị hạn chế bởi hợp đồng lao động nhưng trong dài hạn do áp lực của công đoàn, do thuế thu nhập và các yếu tố khác làm cho nhân viên tạo sức ép nâng tiền lương lên, khi lương tăng,

Trang 19

giá cả hàng hóa sẽ tăng Quy trình này tác động bởi yếu tố hành chính, có ý nghĩa khi giá cả tăng lên, các doanh nghiệp phải tăng giá bán để đảm bảo lợi nhuận Khi giá cả hàng hóa nói chung và tiêu dùng nói riêng tăng lên thì người lao động tìm mọi cách để tăng lương Khi lương tăng, giá cả tăng Đến lượt mình, các doanh nghiệp lại tăng giá bán để đảm bảo lợi nhuận

- Do giá nhập khẩu tăng lên tác động trực tiếp tới giá cả trong nước (nếu

là hàng tiêu dùng trực tiếp) hoặc tác động gián tiếp thông qua việc làm tăng chi phí sản xuất (nếu là đầu vào của quá trình sản xuất) Giá hàng nhập khẩu tăng

lên có thể do lạm phát của nước ngoài cao làm cho giá nguyên liệu ở nước xuất khẩu tăng, hay do đồng nội tệ bị mất giá so với đồng tiền của những nước có quan hệ mậu dịch…

- Do thuế suất tăng lên làm ảnh hưởng tới mức sinh lời của các nhà đầu tư

do vậy đẩy giá cả tăng lên Để duy trì mức sinh lời mong muốn, hoặc các doanh nghiệp tăng tỷ lệ lợi nhuận bằng biện pháp tăng giá bán hàng hóa sẽ làm cho giá cả tăng, việc tăng giá trong trường hợp này mang tính bất hành chính tích cực nhằm duy trì lợi nhuận ở mức mong muốn Việc này thường xảy ra trong điều kiện độc quyền Một số nước gọi là “lạm phát hành chính”

Như vậy, một lần nữa khi phân tích về lạm phát cầu kéo và lạm phát chi phí đẩy đều cho thấy lạm phát xảy ra sẽ làm cho giá cả hàng hóa tăng lên Trong khi phân tích về các loại lạm phát, nguyên nhân của lạm phát, các nhà kinh tế thừa nhận rằng không phải lạm phát tích cực hay tiêu cực đến nền kinh tế phụ thuộc vào mức độ của nó, song nhìn chung khi lạm phát cao xảy ra nó thường để lại, không nhiều thì ít, những hậu quả cho nền kinh tế

Trang 20

1.4 TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT

Lạm phát có thể tác động tích cực lẫn tiêu cực đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều kênh khác nhau, với mức độ ảnh hưởng tổng thể khác nhau đáng kể phụ thuộc vào cơ cấu thể chế (cả Nhà nước và tư nhân) của nền kinh tế, phụ thuộc vào khả năng thích nghi với mức lạm phát hiện hành và khả năng dự báo lạm phát

1.4.2 Tác động tiêu cực

Ngược lại khi lạm phát xảy ra ngoài dự tính, nó tạo nên sự biến động bất thường về giá trị tiền tệ và làm sai lệch toàn bộ thước đo các quan hệ giá trị, ảnh hưởng đến mọi hoạt động kinh tế xã hội Có thể kể ra một số hậu quả của lạm phát như sau:

Trang 21

1.4.2.1 Lạm phát kìm hãm tăng trưởng kinh tế

Lạm phát làm cho thu nhập thực của người lao động bị giảm sút, có thể kéo theo các cuộc đình công đòi tăng lương với quy mô lớn, dài ngày làm ngừng trệ sự tăng trưởng kinh tế

Lạm phát còn làm cho lãi suất danh nghĩa tăng lên bởi tỷ lệ lạm phát dự tính tăng lên (lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát), nếu lạm phát dự tính không phù hợp với lạm phát thực tế nó sẽ làm ảnh hưởng đến mức lãi suất thực Kết quả là ảnh hưởng đến tiết kiệm và đầu tư, cuối cùng là ảnh hưởng đến mức tăng trưởng kinh tế

Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, do lạm phát, giá cả vật tư hàng hóa, nguyên liệu tăng, làm cho khu vực sản xuất kinh doanh mỗi ngày một thu hẹp, ngược lại dịch vụ, thương mại lại phát triển (buôn bán có lợi hơn) dẫn đến khủng hoảng kinh tế và trật tự kinh tế bị rối loạn

Trong lĩnh vực đầu tư, sự biến động bất thường của lạm phát gây khó khăn cho việc xác định mức sinh lợi chính xác của các khoản đầu tư, khiến cho các nhà đầu tư ngần ngại khi tiến hành đầu tư, nhất là đầu tư vào các dự án dài hạn, làm ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế

Trong lĩnh vực lưu thông phân phối, giá cả hàng hóa tăng đã gây nên tình trạng đầu cơ tích trữ hàng hóa vì thế làm mất cân đối giả tạo quan hệ cung cầu làm cho lĩnh vực lưu thông bị rối loạn

1.4.2.2 Lạm phát làm cho đời sống dân cư gặp khó khăn

Khi lạm phát tăng lên, tổng thu nhập danh nghĩa tăng lên, giá cả hàng hóa tăng, trong khi thu nhập không tăng, hoặc tăng chậm (đặc biệt là những người làm công ăn lương) ngày càng gặp khó khăn

Trang 22

1.4.2.3 Lạm phát làm rối loạn hệ thống tiền tệ

Trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, lạm phát làm cho sức mua đồng tiền giảm, lưu thông tiền tệ diễn biến khác thường, tốc độ lưu thông của tiền tệ tăng lên một cách đột biến càng làm cho sức mua của đồng tiền giảm xuống nhanh chóng hơn Hoạt động của hệ thống tín dụng ngân hàng rơi vào tình trạng khủng hoảng,

do nguồn tiền gửi trong xã hội bị sụt giảm nhanh chóng, nhiều ngân hàng bị phá sản do mất khả năng thanh toán và thua lỗ trong kinh doanh Tình hình đó làm cho hệ thống tiền tệ bị rối loạn và không thể kiểm soát nổi

1.4.2.4 Lạm phát làm xấu đi tình trạng của cán cân thanh toán quốc tế

Nếu tỷ lệ lạm phát trong nước cao hơn tỷ lệ lạm phát nước ngoài (có quan hệ mậu dịch) thì giá cả hàng hóa trong nước trở nên mắc hơn so với giá cả hàng hóa nước ngoài, do đó làm giảm xuất khẩu, tăng nhập khẩu, làm xấu đi tình trạng của tài khoản vãng lai Tỷ lệ lạm phát cao cùng với bội chi tài khoản vãng lai có thể tạo nên tâm lý trông đợi một sự giảm giá của đồng nội tệ so với ngoại tệ tạo nên áp lực tăng tỷ giá, tỷ giá tăng càng đẩy mức giá cả chung tăng lên

1.4.2.5 Lạm phát làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp

Mức giá chung tăng lên có thể gây nên sự giảm sút của tổng cầu và công ăn việc làm, do đó gia tăng tỷ lệ thất nghiệp (vì lý do khu vực sản xuất sẽ bị thu hẹp)

Như vậy, có thể thấy ngoại trừ trường hợp lạm phát vừa phải còn có tác động tích cực đến nền kinh tế còn lại nói chung lạm phát đều gây ảnh hưởng xấu đến quá trình phát triển của nền kinh tế xã hội Vì vậy, việc tìm ra giải pháp thích hợp để kiềm chế lạm phát là một vấn đề cần thiết

Trang 23

1.5 Kinh nghiệm kiểm soát lạm phát ở một số nước trên thế giới

Trong năm 2007 - 2008, do chịu nhiều tác động, ảnh hưởng của nhiều yếu tố, đặc biệt là sự tăng giá liên tục với mức độ lớn của các loại hàng hóa như dầu mỏ, lương thực… đã dẫn đến tình trạng lạm phát với mức độ khác nhau ở các nước trên thế giới Để ứng phó với tình trạng này, giảm bớt gánh nặng cho nền kinh tế, Chính phủ các nước đã thực thi hàng loạt các biện pháp để kiểm soát lạm phát

1.5.1 Kiểm soát lạm phát ở Hàn Quốc

Mức độ lạm phát của Hàn Quốc năm 2007 là 2.5%, phá kỷ lục kể từ 5 năm trở lại đây Vào đầu năm 2008, Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện chính sách ổn định giá cả hàng hóa trong thời gian ngắn, trong đó có các biện pháp:

- Thành lập tổ công tác về chính sách liên ngành đối với sự ổn định giá cả với sự tham gia của 14 cơ quan trung ương như Bộ tài chính kinh tế, Bộ tài nguyên, Bộ Giáo dục, Bộ nông lâm, cơ quan y tế thực phẩm… Nhiệm vụ của tổ công tác là theo dõi, kiểm soát những sản phẩm tăng giá quá nhanh, thành lập nhóm “điều tra hiện trường” điều tra, theo dõi việc sản xuất, lưu thông hàng hóa liên quan tới dân sinh Chính quyền địa phương cũng thành lập cơ quan chỉ đạo và Uûy ban đối sách về giá cả để theo dõi xu hướng lên xuống của giá cả và đề

ra chính sách phù hợp

- Tăng cường điều tiết nền kinh tề vĩ mô Theo đó, Chính phủ và cơ quan tài chính sẽ điều chỉnh phù hợp chính sách tiền tệ, kiểm soát thị trường ngoại hối

- Miễn giảm thuế, tăng cường trợ cấp cho những gia đình có thu nhập thấp, mở rộng phạm vi hỗ trợ cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp thông qua các quỹ hỗ trợ tài chính cho giáo dục, hỗ trợ phúc lợi, miễn giảm thuế Đồng thời

Trang 24

khuyến khích doanh nghiệp tạo thêm cơ hội việc làm cho những người nghèo trong xã hội, sử dụng ngân sách chính phủ giúp giảm bớt áp lực của doanh nghiệp vừa và nhỏ

- Ngăn chặn và xử lý nghiêm những hành vi bán phá giá không chính đáng, trọng điểm là những hành động lũng đoạn giá cả, tăng cường giám sát các hành vi tăng giá cao các sản phẩm như dầu mỏ, lương thực, phòng ngừa những giao dịch không minh bạch thông qua lợi dụng thị trường và địa vị chính trị

1.5.2 Kiểm soát lạm phát ở Nhật Bản

Nhật Bản luôn là một trong những quốc gia trên thế giới ổn định về giá cả các loại hàng bán lẻ và cách làm dẫn đến sự thành công đó là:

- Coi trọng tính ổn định trong việc cung cấp các sản phẩm cần thiết cho cuộc sống

- Chính phủ kiểm soát khâu lưu thông và đưa ra mức giá hàng hóa, kiểm soát, điều tiết hiệu quả việc sản xuất và khâu thị trường Hiện nay ở một số nơi đã xây dựng các trung tâm cung cấp sản phẩm hàng bán lẻ quy mô lớn để tiện cho Chính phủ trong việc kịp thời, nắm bắt tình hình, tạo cơ sở nhanh chóng ổn định giá cả

- Xây dựng, kiện toàn hệ thống mạng thông tin, kịp thời công khai các thông tin về thị trường để phòng ngừa lạm phát và các hành động cạnh tranh không lành mạnh

1.5.3 Kiểm soát lạm phát ở Thái Lan

Để kiểm soát sự tăng giá hàng hóa quá nhanh, Chính phủ Thái Lan thực hiện các biện pháp:

Trang 25

- Tăng sản lượng lương thực và trợ cấp, giải quyết đời sống người thu nhập thấp Chính phủ Thái Lan có chính sách hỗ trợ người dân có thu nhập thấp do ảnh hưởng của giá lương thực - thực phẩm tăng cao Tại Thái Lan, Chính phủ khuyến khích nông dân gieo trồng lúa vụ 3 trong năm trên diện tích đất canh tác có thể thực hiện được Ngày 15/07/2008, Chính phủ quyết định đưa ra chương trình kích thích kinh tế với trị giá 46 tỷ Baht, tương đương 1.4 tỷ USD, gồm 6 biện pháp, thực hiện trong 6 tháng, bắt đầu từ 01/08/2008, nhằm hỗ trợ người thu nhập thấp và thúc đẩy nền kinh tế trì trệ Cụ thể Chính phủ Thái Lan chi trả hoàn toàn tiền nước sạch cho các hộ gia đình sử dụng dưới 50 lít/ngày; trả hết tiền điện cho các hộ gia đình tiêu thụ dưới 80 số/tháng… Khách di xe buýt không có điều hòa nhiệt độ tại Bangkok được miễn phí; Hành khách không phải trả vé tàu hỏa nếu ngồi ghế hạng ba Từ ngày 25/07/2008 giảm thuế xăng dầu, theo đó giá dầu Diesel giảm 5.2%, giá xăng pha cồn giảm 8.7% Chính quyền giữ nguyên giá gas nấu ăn vốn đã được trợ giá rất nhiều

- Chính phủ đẩy mạnh hoạt động tấn công các hành vi vi phạm giá bán của hàng hóa và bất cứ ai đầu cơ tích trữ, căn cứ vào pháp luật để phạt tiền rất cao, nếu nghiêm trọng có thể phải chịu trách nhiệm hình sự

1.5.4 Kiểm soát lạm phát ở Trung Quốc

Tính đến tháng 2/2008 chỉ số CPI của Trung Quốc tăng 8.7% so với cùng kỳ, tháng 04/2008 là 8.5% tháng 05/2008 là 7.7% và tháng 06/2008 là 7.1% Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện một số giải pháp kiểm soát lạm phát như:

- Trung Quốc thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ có lộ trình với mỗi liều lượng phù hợp để thị trường thích ứng dần dần Từ tháng 04/2007 đến trung tuần tháng 7/2008, Trung Quốc thực hiện tới 15 lần điều chỉnh tăng dự trự bắt buộc, với mỗi lần tăng chỉ có 0.5%

Trang 26

- Trung Quốc nâng giá Nhân dân tệ so với USD, phù hợp với xu thế biến động chung của USD mất giá mạnh so với các loại ngoại tệ chủ đạo khác Bởi vậy, tác động của giá hàng nhập khẩu thanh toán bằng USD sau đó quy đổi sang Nhân dân tệ thì biến động không lớn

- Trung Quốc thắt chặt tiền tệ, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đi kèm với quản lý chặt chẽ lãi suất trên thị trường, thông qua biện pháp khống chế trần lãi suất tiền gửi và trần lãi suất cho vay, nhằm kiềm chế sự tăng nóng lãi suất trên thị trường

1.6 CÁC NHÓM GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở CÁC NƯỚC VÀ BÀI HỌC RÚT RA CHO VIỆT NAM

Việc đưa ra các giải pháp kiểm soát lạm phát thường xuyên xuất phát từ sự phân tích đúng đắn nguyên nhân gây nên lạm phát, bao gồm nguyên nhân sâu

xa và nguyên nhân trực tiếp Để giải quyết các nguyên nhân sâu xa cần phải có thời gian và đi kèm với các cuộc cải cách lớn Còn nguyên nhân trực tiếp của bất kỳ cuộc lạm phát nào cũng xuất phát từ các lý do đẩy tổng cầu tăng quá mức hoặc tổng cung giảm do chi phí tăng lên Thông thường để tác động vào các nguyên nhân trực tiếp của lạm phát và kiềm chế lạm phát ở tỷ lệ mong muốn, Chính phủ các nước sử dụng một hệ thống các giải pháp tác động vào tổng cầu hoặc tổng cung nhằm làm giảm sự gia tăng của tổng cầu hoặc khắc phục các nguyên nhân làm gia tăng chi phí

1.6.1 Các nhóm giải pháp kiểm soát lạm phát ở các nước

1.6.1.1 Nhóm giải pháp tác động vào tổng cầu

Biện pháp tiền tệ

NHTW tiến hành thông qua việc quản lý và sử dụng các công cụ và chính sách tiền tệ để tác động trực tiếp làm giảm khối tiền trong lưu thông như: Thắt

Trang 27

chặt tiền tệ bằng cách nâng cao tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất tái chiết khấu, hạn chế tín dụng cung cấp cho các ngân hàng trung gian; huy động tiền gửi từ công chúng bằng cách nâng cao lãi suất tiết kiệm, phát hành trái khoán, công trái; Đưa dự trữ vàng và ngoại tê ra bán để thu hút bớt tiền thừa trong lưu thông

Biện pháp tài chính

Chính phủ sử dụng các biện pháp để ngăn chặn các nguyên nhân dẫn đến gia tăng khối lượng tiền tệ như: Hạn chế chi tiêu ngân sách như giảm chi phí quốc phòng, giảm biên chế công nhân viên nhà nước, kiểm soát và chống thất thoát trong chi tiêu ngân sách, chống tham nhũng; Tăng thu ngân sách bằng cách chống thất thu thuế, vay nợ của dân chúng… nhằm rút ngắn cách biệt giữa chi và thu dần dần tiến đến cân bằng thu chi ngân sách

1.6.1.2 Nhóm giải pháp tác động vào cung

Đây là những biện pháp nhằm làm gia tăng khối lượng hàng hóa, dịch vụ Khối lượng hàng hóa và dịch vụ do hai yếu tố sản xuất trong nước và nhập khẩu quyết định

Nhập khẩu

Đây là biện pháp cấp thời để đưa vào thị trường các mặt hàng đang thiếu và lên giá, nhằm chặn đứng nhanh chóng và hữu hiệu cơn sốt giá cả vì khan

hiếm hàng hóa Tuy nhiên giải pháp này chứa đựng nguy cơ tiềm tàng như làm

cạn kiệt dự trữ ngoại hối, tạo thói quen tiêu dùng hàng ngoại, làm suy giảm sức sản xuất trong nước Do vậy về lâu dài các quốc gia bị lạm phát đều tìm cách gia tăng khả năng sản xuất hàng hóa trong nước

Trang 28

Gia tăng sản xuất trong nước

Đây là biện pháp cơ bản nhất trong chiến lược chống lạm phát, nhằm gia tăng một cách vững chắc khối lượng hàng hóa, dịch vụ Tuy nhiên, trong điều kiện lạm phát giá cả tăng hàng ngày hàng giờ và lãi suất tín dụng thường rất cao nên có những trở ngại nhất định đối với gia tăng sản xuất Bởi vậy, thông thường cần kết hợp vừa nhập khẩu hàng hóa để sớm ổn định giá cả vừa chú ý đến việc gia tăng sản xuất để tạo cơ sở vững chắc cho việc kiểm soát lạm phát

Biện pháp kiểm soát lạm phát có nhiều và mỗi biện pháp đều có mặt tích cực và tiêu cực nhất định Do đó vấn đề là phải biết kết hợp hài hòa giữa các biện pháp nhằm đạt mục tiêu trước mắt lẫn lâu dài

1.6.2 Bài học kiểm soát lạm phát rút ra cho Việt Nam

Từ kinh nghiệm kiểm soát lạm phát ở một số nước trên thế giới, có thể rút

ra một số bài học cho kiểm soát lạm phát ở Việt Nam:

- Thực hiện chính sách tài chính - tiền tệ năng động và hiệu quả trong giai đoạn hội nhập kinh tế

- Hạn chế tăng chi phí sản xuất của doanh nghiệp, xã hội: thực hiện tiết kiệm trong sản xuất thông qua một số giải pháp như: tăng cường quản lý sản xuất theo định mức, kiểm tra chặt chẽ các yếu tố đầu vào theo quy cách, phẩm chất, chủ động nghiên cứu tìm vật tư thay thế với chi phí thấp, hoàn thiện công nghệ, đổi mới công nghệ, cải tiến tổ chức sản xuất nhằm tăng năng suất lao động

- Cần xây dựng quy chế quản lý giá cả hợp lý, xây dựng một hệ thống giá cả, mặt bằng giá hợp lý, phối hợp các biện pháp tài chính tiền tệ, điều hòa cung cầu với các biện pháp quản lý giá, quỹ dự trữ đủ mạnh…

Trang 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG I

Lạm phát là một chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản và hết sức quan trọng mà mọi quốc gia đều phải quan tâm trong quá trình phát triển kinh tế xã hội Lạm phát tác động xấu hay tốt đối với nền kinh tế còn tùy thuộc vào mức độ của nó Lạm phát mỗi lần xuất hiện đều mang một sức mạnh tàn phá tiềm ẩn, làm rối loạn nền kinh tế, làm phức tạp xã hội, làm giảm mức sống của người dân và có thể ở một mức độ nào đó thì lạm phát gây ra rối ren chính trị xã hội Vì vậy các quốc gia có lạm phát đều tìm cách kiểm soát lạm phát Gây ra lạm phát không chỉ có các nguyên nhân từ bên trong của bản thân nền kinh tế mà còn do các nguyên nhân bên ngoài gây ra Do đó để kiểm soát lạm phát không chỉ áp dụng đơn lẽ giải pháp nào mà cần có hệ thống các nhóm giải pháp thì mới mong thành công Các nhóm giải pháp này phải đi từ đẩy mạnh sản xuất đến các giải pháp phát triển lưu thông hàng hóa, các giải pháp chống lũng đoạn thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa dịch vụ, chi tiêu hiệu qủa, tiết kiệm Kiểm soát lạm phát không quên nhiệm vụ đẩy nhanh phát triển kinh tế, đảm bảo kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao

Trang 30

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM

TRONG NHỮNG NĂM VỪA QUA 2.1 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TỪ 1976 ĐẾN

2008

Tình hình lạm phát ở Việt Nam từ 1976 đến 2008 có thể chia thành giai đoạn như sau:

- Giai đoạn 1976 – 1996: Đánh dấu công việc kiểm soát được lạm phát của nước

ta, bắt đầu từ lạm phát phi mã và đi đến kiểm soát được lạm phát vào những năm cuối giai đoạn

- Giai đoạn 1997-2003: Giai đoạn lạm phát chuyển sang thiểu phát, được đánh

dấu bằng cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á; Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam đã giảm dần qua các năm, Việt Nam rơi vào tình trạng giảm phát, thuật ngữ

“kích cầu” lần đầu tiên xuất hiện trong các chính sách điều hành kinh tế của Chính phủ

- Giai đoạn 2004-2008: Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam sau một thời gian “hạ nhiệt” và có khi chuyển sang thiểu phát đã bắt đầu “ấm” dần lên và chuyển sang

“sốt” vào cuối năm 2004 và trở lại ổn định vào năm 2005, đồng thời giảm xuống vào năm 2006, tăng cao trở lại vào năm 2007 và 2008

2.1.1 L m phát và kiểm soát lạm phát trong giai đoạn 1976 - 1996

Trước năm 1975, nền kinh tế Việt Nam nằm trong tình trạng chiến tranh và bị cách biệt với bên ngoài Hai miền đất nước là hai nền kinh tế khác nhau Một bên là nền kinh tế thị trường tự do, bên kia là nền kinh tế kế hoạch hoá tập

Trang 31

trung quan liêu bao cấp Do đặc thù của nền kinh tế Việt Nam giai đoạn này nên lạm phát hầu như chưa xuất hiện rõ nét

Vào năm 1975, đất nước thống nhất, hai miền đất nước với hai hệ thống kinh tế, chính trị hoàn toàn khác nhau đã sáp nhập làm một Ở miền Nam với thị trường tự do tương đối phát triển với xuất khẩu phát triển Trong khi đặc điểm của nền kinh tế ở miền Bắc là mang nặng tính kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp dựa chủ yếu vào viện trợ, nhập khẩu hàng tiêu dùng và tập trung hoá cao tư liệu sản xuất Đến giai đoạn năm 1985, nền kinh tế chuyển từ kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường đã làm thay đổi mọi mặt từ chính trị, xã hội, kinh tế…

Trước đổi mới năm 1979, nền kinh tế nứơc ta thống nhất từ hai mô hình kinh tế nêu trên vào một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp với sự kiểm soát và can thiệp tập trung của Chính phủ lên tất cả các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế Lĩnh vực nông nghiệp thì hợp tác hoá và quản lý theo hình thức hợp tác xã trong hệ thống kế hoạch hoá Cả ngành công nghiệp lẫn nông nghiệp đều dựa vào phân bổ vốn và vật tư, nguyên liệu của Nhà nước Sản phẩm làm ra được phân phối theo kế hoạch đã vạch sẵn Do sự sát nhập hai nền kinh tế khác nhau nên dẫn đến tình hình mặc dù là nền kinh tế tập trung nhưng vẫn tồn tại nền kinh tế thị trường phát triển ngầm Mặc dù giá hàng hoá do Nhà nước quy định cố định từ năm 1960 và áp dụng cho các hàng hoá phân phối theo kế hoạch và tem phiếu nhưng ngoài thị trường ngầm vẫn tồn tại một loại giá khác cao hơn nhiều so với giá do Nhà nước quy định Hiện tượng lạm phát ngầm xuất hiện, hàng hoá phân phối theo định lượng ngày một khan hiếm, giá cả thị trường ngày một tăng và nền kinh tế khủng hoảng trầm trọng

Trang 32

Bảng 2.1:Chỉ số giá bán lẻ giai đoạn 1976 – 1980 (năm trước bằng 100%)

Năm Thị trường xã hội Thị trường có tổ chức Thị trường tự do

Nguồn: Ban vật giá Chính phủ

Bảng 2.2: Mức tăng GDP và TNQD thời kỳ 1977 – 1980 (%)

Thị trường xã hội Thị trường có tổ chức

Nguồn: Tổng cục thống kê

Vào cuối những năm 1979 đầu 1980, một số chính sách và biện pháp mới được áp dụng nhằm cải thiện nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất các ngành nông, công nghiệp như đổi mới quản lý doanh nghiệp Nhà nước, khoán sản phẩm nông nghiệp, ba kế hoạch trong đó kế hoạch ba cho phép doanh nghiệp được quyền quyết định sản xuất kinh doanh Tuy nhiên những đổi mới này là những bước chập chững nữa vời nên ngoài những mặt tích cực chúng mang lại còn chứa đựng nhiều yếu kém và mâu thuẫn Do đó nền kinh tế vốn khó khăn lại càng khó

Trang 33

khăn hơn, lạm phát phi mã xuất hiện ngày một trầm trọng, tỷ lệ lạm phát vào năm 1984 ở mức 164,9%, năm 1985 là 191, 6% còn tăng trưởng thì giảm sút, năm

1984 khoảng 6% thì năm 1985 xuống khoảng 3%

Lạm phát phi mã những năm cuối thập kỷ 80

Sau năm 1985, cùng với sự cải tổ của Liên Xô và các nước Đông Aâu lần lượt sụp đổ, nguồn viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam cũng bị cắt giảm mạnh, làm cho giá cả đầu vào như sắt thép, dầu hoả, máy móc thiết bị… Nước ta phải mua vào với giá cao đưa đến chi phí sản xuất tăng lên, trong nước thì thiếu tiền, Chính phủ chỉ còn cách in tiền để các xí nghiệp quốc doanh có tiền mua nguyên vật liệu phục sản xuất, đưa đến nền kinh tế ngày càng khó khăn, kiệt quệ Năm

1985, Chính phủ đã đổi mới cơ chế chính sách tiền tệ với tỷ lệ 10 đồng tiền cũ bằng 1 đồng tiền mới nhằm giảm bớt lượng tiền lưu thông, đồng thời xoá bỏ bao cấp hàng tiêu dùng và điều chỉnh tiền lương Cơ chế hai giá dần được xoá bỏ, tiến tới giá cả được hình thành và hoạt động dựa trên cơ sở trao đổi thương mại Mặc dù nhu cầu hàng hoá và dịch vụ trên thị trường trong nước rất cao nhưng thị trường trong nước lại cắt khúc và tình trạng ngăn sông cấm chợ được tháo bỏ còn

ít Ngoại thương được tự do hoá rất ít, tình trạng khan hiếm ngoại hối tăng nhanh Chính phủ lại in thêm một lượng tiền lớn đưa vào thị trường làm cho giá cả vốn đã cao nay lại cao thêm đưa đến thu nhập thực tế của người lao động giảm một cách đáng kể Trong nông nghiệp thì giá cả lương thực thực phẩm thấp, lượng lương thực dư thừa thấp, các yếu tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp như thuốc trừ sâu, phân bón còn khan hiếm, bão lụt xảy ra ở một số vùng làm cho sản xuất nông nghiệp bị đình đốn Nhân dân tích cực tích trữ hàng hoá, lương thực, vàng, đô la càng nhiều vị sợ đồng Việt Nam sẽ còn mất giá tạo nên nhu cầu giả tạo tăng cao, giá cả tăng vọt, tất cả những nguyên nhân trên là nguyên nhân gây ra lạm phát phi mã đến chóng mặt Bên cạnh đổi tiền là phát hành tiền ra để bù

Trang 34

đắp thiếu hụt ngân sách, giá cả thì tự do, hàng hóa thì khan hiếm do sản xuất trong nước không tăng trong khi nhập khẩu hạn chế do cơ chế xuất nhập khẩu chưa được tự do hóa Lượng tiền phát hành ra lưu thông tăng lên chóng mặt, năm

1985 là 4,59 tỷ đồng thì năm 1989 là 901, 63 tỷ đồng Như vậy, một mặt tiền tiền thì dư thừa trên thị trường, nhu cầu hàng hoá tăng cao và cung hàng hoá lại quá thấp đưa đến lạm phát tăng nhanh đến chóng mặt

Bảng 2.3: Chỉ số giá bán lẻ giai đoạn 1981 – 1988

(năm trước bằng 100%)

Năm Thị trường xã hội Thị trường có tổ chức Thị trường tự do

Nguồn: Ban vật giá Chính phủ

Bảng 2.4 Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát giai đoạn 1986-1989

Trang 35

Thời kỳ tăng trưởng kinh tế đi đôi với kiểm soát lạm phát: từ năm

1989 -1996

Giai đoạn này, Chính phủ thực hiện chính sách thắt chặt chi tiêu thể hiện

ở việc Chính phủ giảm chi tiêu cho quốc phòng, từng bước xóa bỏ bao cấp, giải thể các doanh nghiệp quốc doanh làm ăn không hiệu quả, xoá bỏ bao cấp cho các doanh nghiệp xuất khẩu, bao cấp của Chính phủ đối với hàng tiêu dùng được bãi bỏ, tiền tệ hoá đối với lương cán bộ công nhân viên chức Bên cạnh đó Nhà nước thực hiện cải tiến hệ thống thuế làm tăng NSNN (năm 1988 thu được 455 tỷ đồng thì năm 1989 tăng gấp đôi lên 1043 tỷ đồng).Vào giữa năm 1989, hệ thống hai giá được bãi bỏ, về cơ bản giá cả hàng hoá dịch vụ được dựa trên cơ sở giá cả thị trường, loại bỏ tất cả cản trở trong lưu thông hàng hoá và độc quyền trong giá cả hàng hoá, giá cả dần phản ánh đúng cung cầu thị trường Với những biện pháp trên đã tạo ra sự ổn định giá cả, góp phần đáng kể trong kiềm chế lạm phát

Ngoài ra, Nhà nước đã tiến hành cải cách trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng ngân hàng Chính sách thắt chặt tiền tệ được áp dụng, kiểm soát chặt chẽ lượng tiền cung ứng, khống chế tổng phương tiện thanh toán, giảm việc phát hành tiền để bù đắp NSNN (năm 1988, phát hành tiền để bù đắp thâm hụt NSNN chiếm 67,3% số thâm hụt thì năm 1989 tỷ lệ này là 58,7%, năm 1990 là 47,9%, năm

1991 là ngừng hoàn toàn)

Biện pháp cơ bản trong chính sách tiền tệ là việc tăng cao lãi suất Đến năm 1989, chính sách lãi suất thực dương được áp dụng và nó đã khuyến khích đáng kể người dân gửi tiền vào hệ thống Ngân hàng Lãi suất cho vay cũng được áp dụng lãi suất dương và công bằng đối với các thành phần kinh tế Cả lãi suất tiền huy động và lãi suất cho vay đều có thể được điều chỉnh theo sự thay đồi

Trang 36

của chỉ số giá, chúng bao gồm lãi suất thực cơ bản công với chỉ số giá

Việc tự do hóa thị trường vàng bạc cũng góp phần đáng kể trong việc ổn định kinh tế cho phép Nhà nước kiểm soát gián tiếp lượng vàng thông qua cung cầu trên thị trường Nhờ biện pháp này, giá vàng đã không lên xuống đột biến mà được ổn định và có giảm xuống đã góp phần đưa tỷ lệ lạm phát giảm xuống

Tháng 03/1989, Chính phủ đã cải cách mạnh mẽ chính sách tỷ giá và thương mại tiến tới thị trường tự do Hai cơ chế tỷ giá khác nhau đã được thống nhất vào một tỷ giá thống nhất phản ánh tương đối cung cầu ngoại tệ trên thị trường Việc thống nhất tỷ giá khác nhau thành tỷ giá thị trường tự do đã đóng góp vai trò quan trọng trong kiềm chế lạm phát.Việc áp dụng tỷ giá tương đối thực tế góp phần đáng kể khuyến khích xuất khẩu Tiếp đó là thị trường ngoại hối được tự do hóa, mọi người trước đây tích lũy ngoại tệ thì nay đã giữ tiền đồng và gửi tiết kiệm vào hệ thống ngân hàng nên lượng tiền ngoài lưu thông giảm, áp lực của lạm phát phi mã giảm xuống rõ rệt

Cải cách kinh tế được triển khai trên tất cả các lĩnh vực kinh tế Doanh nghiệp Nhà nước đã được tư nhân hóa một phần, nhiều doanh nghiệp quốc doanh cấp huyện, tỉnh phải giải thể do làm ăn không hiệu quả Kinh tế hộ gia đình được khuyến khích phát triển Sản xuất trong nền kinh tế được đa dạng hóa Bên cạnh đó là các biện pháp tự do hóa ngoại thương được áp dụng Kết quả là hàng hóa không còn khan hiếm trên thị trường, cầu hàng hóa được đáp ứng, không còn gay gắt như trước, đưa đến lạm phát giảm đáng kể

Đến năm 1996, tình hình lạm phát được kiểm soát Tỷ lệ lạm phát giảm xuống còn 4,5% còn tăng trưởng kinh tế đạt 9,34% Đây là mức lạm phát thấp nhất ở nước ta từ những năm trước đó

Trang 37

Bảng 2.5: Tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ lạm phát ở nước ta giai đoạn 1991 – 1996 Đơn vị tính: %

1991 1992 1993 1994 1995 1996

Tốc độ tăng trưởng kinh tế 6,0 8,65 8,07 8,5 9,5 9,34 Tỷ lệ lạm phát 67,6 17,6 5,2 14,4 12,7 4,5

Nguồn:Bộ kế hoạch đầu tư

Sở dĩ diễn biến tình hình giá cả và lạm phát trong năm 1996 được kiểm soát là do:

- Chính phủ đã đề ra các biện pháp kiềm chế lạm phát kiên quyết, toàn diện và đồng bộ, được các bộ ngành và địa phương thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả

- Tiếp tục thực thi chính sách tài chính, tiền tệ chặt chẽ đã được áp dụng kiên quyết ngay từ 6 tháng cuối năm 1995, trong đó khống chế mức tăng tổng phương tiện thanh toán, khống chế dư nợ cho vay tín dụng Ngân hàng, điều hành tỷ giá linh hoạt…

Như vậy, lạm phát Việt Nam thời kỳ 1976 - 1996 từ chỗ “âm ỉ cháy” trong giai đoạn 1976 - 1980 đã “bùng lên thành một ngọn lửa cháy cao” trong những năm từ 1980 đến 1988, những năm sau đó chính phủ Việt Nam đã phải ra sức dập tắt ngọn lửa này và bước đầu đạt được những kết quả khích lệ

2.1.2 Lạm phát và kiểm soát lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 1997 – 2003

Đến giai đoạn sau 1996, nền kinh tế đã đạt được những thành tựu quan trọng, cơ chế quản lý theo hướng thị trường có sự quản lý Nhà nước đã từng bước phát huy tác dụng trong thực tế

Trang 38

Năm 1997, với những giải pháp kiềm chế lạm phát được đưa ra từ đầu năm, nhìn chung tình hình giá cả thị trường cả nước trong năm 1997 khá ổn định, chỉ số lạm phát ở mức 103,6%, tăng 3,6% so với năm 1996

Bước sang năm 1998 đã có nhiều thay đổi về tình hình kinh tế xã hội, do vậy tình hình lạm phát cũng đã có nhiều biến đổi, tỷ lệ lạm phát thấp và kéo theo đó là tình hình tăng trưởng kinh tế có chiều hướng không thuận lợi Sự ổn định của nền kinh tế nước ta bị tác động của cuộc khủng hoảng tiền tệ của các nước Đông Nam Á và các nước Đông Bắc Á

Tiếp theo tình hình lạm phát các năm từ 1999 đến 2003 đã diễn ra ở mức thấp và dấu hiệu thiểu phát kéo dài đến hết năm 2000 Qua số liệu thống kê cho thấy chỉ số giá tiêu dùng các tháng ở các năm 1999 - 2003 là rất thấp Như năm

1999, chỉ số này hầu như âm, chỉ có tháng 01 đạt 1,7%, tháng 02 đạt 1,9%, tháng

11 đạt 0,4%, tháng 12 đạt 0,5%; chỉ số giá tiêu dùng các tháng 03 đến tháng 07 năm 2000 cũng ở mức âm; chỉ số này ở các tháng 03 đến tháng 08 của năm 2003 cũng ở mức âm

Trang 39

Bảng 2.6 : Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm từ 1999-2003

Tháng trước = 100%

Tháng 01 101.7 100.4 100.3 101.1 100.9 Tháng 02 101.9 101.6 100.4 102.2 102.2 Tháng 03 99.3 98.9 99.3 99.2 99.4 Tháng 04 99.4 99.3 99.5 100.0 100.0 Tháng 05 99.6 99.4 99.8 100.3 99.9 Tháng 06 99.7 99.5 100.0 100.1 99.7 Tháng 07 99.6 99.4 99.8 99.9 99.7 Tháng 08 99.6 100.1 100.0 100.1 99.9 Tháng 09 99.4 99.8 100.5 100.2 100.1 Tháng 10 99.0 100.1 100.0 100.3 99.8 Tháng 11 100.4 100.9 100.2 100.3 100.6 Tháng 12 100.5 100.1 101.0 100.3 100.8Bình quân tháng 100.0 100.0 100.1 100.3 100.2

Nguồn: Tổng cục thống kê

Một số nguyên nhân gây ra tình hình thiểu phát giai đoạn năm 1999-2003:

- Do cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ diễn ra ở khu vực và trên thế giới làm cho nhu cầu tiêu thụ hàng hóa trên thị trường thế giới giảm đi Nhu cầu nhập khẩu hóa của nhiều nước giảm đáng kể làm cho xuất khẩu hàng hóa nước ta bị tác động, tồn đọng hàng hóa trong nước tăng lên, tiêu thụ hàng hóa trên thị trường trong nước tăng chậm và giá cả hàng hóa giảm Ngoài ra cuộc khủng hoảng này cũng ảnh hưởng không tốt tới FDI, du lịch và dịch vụ vào nước ta từ đó làm giảm nhu cầu hàng hóa

- Hàng hóa trên thị trường cũng tăng lên do sản xuất trong nước đi vào ổn định và các doanh nghiệp cũng chú trọng tới thị trường nội địa

- Giá cả một số mặt hàng trên thế giới giảm như gạo, thép, đường… tác động đến tình hình giá cả trong nước

Trang 40

Nhờ chính sách khuyến khích đầu tư trong nước, quan tâm tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển đã khơi thông nguồn lực đầu tư trong dân: Tổng vốn đầu tư phát triển năm 2002 tăng trên 20 nghìn tỷ so với năm 2001, riêng vốn đầu tư trong dân tăng tới 20.7% chiếm 25.3% trong tổng vốn đầu tư phát triển

Nhờ chính sách kích cầu tiêu dùng của Chính phủ đã làm cho tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội năm 2002 đạt trên 272 nghìn tỷ đồng, tăng 12.8% so với mức 10.2% của năm 2001 và 9.2% của năm 2000, là mức tăng cao nhất kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á

Bảng 2.7: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng giai đoạn 1997 – 2002

Năm Tổng mức (tỷ đồng) Tốc độ tăng (%)

Nguồn: Tổng cục thống kê

Với những biện phát kích cầu như trên, một chuyển biến quan trọng được ghi nhận trong năm 2002 là nền kinh tế đã chuyển từ thiểu phát liên tục và kéo

dài sang lạm phát nhẹ, CPI tăng 4%, vừa đủ để kích thích đầu tư, tăng trưởng làm

cho nền kinh tế ấm lên (tăng trưởng kinh tế đạt 7.04% hoàn thành mục tiêu 7 7.3% mà Quốc hội đã đề ra cho năm 2002) Với việc kiểm soát được tỷ lệ lạm phát, việc giải quyết công ăn việc làm cũng đạt thành tích đáng kể: tỷ lệ thất

Ngày đăng: 18/05/2015, 04:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1:Chỉ số giá bán lẻ giai đoạn 1976 – 1980 (năm trước bằng 100%) - Giải pháp để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.1 Chỉ số giá bán lẻ giai đoạn 1976 – 1980 (năm trước bằng 100%) (Trang 32)
Bảng 2.4. Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát giai đoạn 1986-1989 - Giải pháp để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.4. Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát giai đoạn 1986-1989 (Trang 34)
Bảng 2.5: Tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ lạm phát ở nước ta giai đoạn 1991 – 1996                                                                                 ẹụn vũ tớnh: % - Giải pháp để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.5 Tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ lạm phát ở nước ta giai đoạn 1991 – 1996 ẹụn vũ tớnh: % (Trang 37)
Bảng 2.6  : Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm từ 1999-2003 - Giải pháp để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.6 : Chỉ số giá tiêu dùng các tháng trong năm từ 1999-2003 (Trang 39)
Bảng 2.8: Tốc độ tăng giá tiêu dùng qua các quý giai đoạn 1996 – 2006 - Giải pháp để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.8 Tốc độ tăng giá tiêu dùng qua các quý giai đoạn 1996 – 2006 (Trang 42)
Bảng 2.9: Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế – xã hội chủ yếu năm 2004 - Giải pháp để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.9 Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế – xã hội chủ yếu năm 2004 (Trang 43)
Bảng 2.10: Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế – xã hội chủ yếu năm 2006 - Giải pháp để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.10 Tình hình thực hiện một số chỉ tiêu kinh tế – xã hội chủ yếu năm 2006 (Trang 44)
Đồ thị 2.1: Lạm phát giai đo n 1995-2007, tính theo ch  s  giá tiêu dùng tháng 12 - Giải pháp để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
th ị 2.1: Lạm phát giai đo n 1995-2007, tính theo ch s giá tiêu dùng tháng 12 (Trang 45)
Đồ thị 2.2: Diễn biến lạm phát từ năm 2003 – 2006 - Giải pháp để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
th ị 2.2: Diễn biến lạm phát từ năm 2003 – 2006 (Trang 46)
Bảng 2.12: Lạm phát và tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1996 – 2008 (%) - Giải pháp để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.12 Lạm phát và tăng trưởng kinh tế giai đoạn 1996 – 2008 (%) (Trang 52)
Bảng 2.13: Tỷ lệ lạm phát và tăng trưởng kinh tế trung bình các giai đoạn (%) - Giải pháp để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.13 Tỷ lệ lạm phát và tăng trưởng kinh tế trung bình các giai đoạn (%) (Trang 54)
Bảng 2.14: Lạm phát, thất nghiệp giai đoạn 1996 – 2008 (%) - Giải pháp để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.14 Lạm phát, thất nghiệp giai đoạn 1996 – 2008 (%) (Trang 56)
Bảng 2.17: Một số chủ số xếp hạng của Việt Nam theo đánh giá của WFE so với - Giải pháp để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.17 Một số chủ số xếp hạng của Việt Nam theo đánh giá của WFE so với (Trang 63)
Bảng 2.18 : Giá xăng dầu thế giới và Việt Nam từ tháng 3/2005-11/2008 - Giải pháp để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Bảng 2.18 Giá xăng dầu thế giới và Việt Nam từ tháng 3/2005-11/2008 (Trang 66)
Hình 2.1 : Nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam 1976 – 2008 theo hai hướng - Giải pháp để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Hình 2.1 Nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam 1976 – 2008 theo hai hướng (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w