- Căn cứ vào mối quan hệ pháp lý trong hợp đồng bảo hiểm: bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó một bên cam đoan trả một khoản tiền nhất định phí bảo hiểm nhằm đảm bảo cho mình hoặc người thứ
Trang 1
NGUYÔN hoµi nam
Mét sè gi¶i ph¸p n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh tæng c«ng ty b¶o hiÓm b¶o viÖt
LuËn v¨n th¹c sÜ kinh tÕ
TP Hå ChÝ Minh - N¨m 2010
Trang 2
NGUYễN hoài nam
Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tổng công ty bảo hiểm bảo việt
Chuyên ngành: Kinh tế tài chính - Ngân hàng
Luận văn thạc sĩ kinh tế
Người hướng dẫn khoa học: PGS-TS Nguyễn ngọc định
TP Hồ Chí Minh - Năm 2010
Trang 3Lời cam đoan
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
Mở đầu
Chương 1: Cơ sở luận về bảo hiểm và năng lực cạnh tranh của công
ty bảo hiểm
1.1 Các lý luận chung về bảo hiểm
1.1.1 Định nghĩa bảo hiểm
1.1.2 Sự cần thiết của bảo hiểm
1.1.3 Vai trò và tác dụng của bảo hiểm
1.1.4 Cơ sở kỹ thuật quan trọng của bảo hiểm
1.1.5 Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của bảo hiểm
1.2 Năng lực cạnh tranh và các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh
của Doanh nghiệp bảo hiểm
1.2.1 Năng lực cạnh tranh
1.2.2 Đặc thù trong hoạt động kinh doanh của DNBH
1.2.3 Các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của DNBH
1.3 Kinh nghiệm phát triển ngành bảo hiểm ở các nước Châu Âu
Kết luận chương 1
Chương 2: Đánh giá năng lực cạnh tranh Tổng Công ty Bảo hiểm
Bảo Việt
2.1 Vài nét về tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm Bảo Việt và Tổng Công ty
Bảo hiểm Bảo Việt
2.1.1 Vài nét về tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm Bảo Việt
2.1.2 Vài nét về Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt
2.2 Tình hình kinh doanh của Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt
Trang 4Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh Tổng
Công ty Bảo hiểm Bảo Việt
3.1 Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh Tổng Công ty Bảo
hiểm Bảo Việt:
3.1.1 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
3.1.2 Tăng năng lực tài chính
3.1.3 ứng dụng công nghệ thông tin
3.1.4 Cải tiến sản phẩm, đa dạng hoá sản phẩm
3.1.5 Nâng cao chất lượng dịch vụ trong hoạt động BH
3.1.6 Phát triển kênh phân phối
3.1.7 Xây dựng thương hiệu và quảng bá hình ảnh
3.2 Kiến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà nước
3.3 Kiến nghị đối với Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam
Kết luận chương 3
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
1 Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm trên thế giới
2 Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm ở Việt Nam
3 Tổng quan thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam
Trang 5Đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn thầy PGS-TS Nguyễn Ngọc Định đe tận tình hướng dẫn cho tôi thực hiện đề tài này Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong khoa Tài chính Doanh Nghiệp, những người đe hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong thời gian qua
Tôi xin cam đoan đây là đề tài hoàn toàn do tôi tự nghiên cứu và xin chịu mọi trách nhiệm nếu có phát hiện gian dối
Trang 6
HHBH : HiÖp héi B¶o hiÓm
N§BH : Ng−êi ®−îc b¶o hiÓm
NTBH : NhËn t¸i b¶o hiÓm
PCCC : Phßng ch¸y ch÷a ch¸y
PNT : Phi nh©n thä
TNCN : Tai n¹n con ng−êi
TNDS : Tr¸ch nhiÖm d©n sù
Trang 7Bảng 1.1 Kết quả tung con xúc sắc
Bảng 2.1 Doanh thu phí bảo hiểm và thị phần
Bảng 2.2 Tỷ lệ bồi thường bảo hiểm
Bảng 2.3 Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm Bảng 2.4 Phí bảo hiểm theo từng nghiệp vụ
Bảng 2.5 Bồi thường bảo hiểm theo từng nghiệp vụ
Bảng 2.6 Tóm tắt điểm mạnh - yếu của đối thủ cạnh tranh Bảng 2.7 Sơ đồ SWOT
Bảng 2.8 Chỉ tiêu tài chính của 3 DNBH lớn nhất
Danh mục hình vẽ
Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức
Danh mục biểu đồ
Biểu đồ 2.1 Thị phần bảo hiểm
Trang 8Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động bảo hiểm ở Việt Nam đ có từ năm 1930 nhưng do đất nước bị chia cắt nên hoạt động bảo hiểm trước năm 1975 chỉ sôi động ở miền Nam, còn miền Bắc vẫn trong tình trạng còn sơ khai Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, thị trường bảo hiểm Việt Nam đ có sự phát triển mạnh mẽ nhưng vẫn còn là thị trường độc quyền với duy nhất Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam (nay là Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt)
Kể từ khi nghị định số 100/CP được Chính phủ ban hành ngày 18/12/1993 đ
đánh dấu một bước ngoặt trong quá trình phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam, nhiều DNBH lần lượt được thành lập và tạo ra sự cạnh tranh giữa các DNBH Hoạt
động kinh doanh bảo hiểm PNT đ có sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng lẫn chất lượng, tốc độ tăng trưởng bình quân phí bảo hiểm trong giai đoạn 2004 - 2009 đạt 24%/năm Tính đến năm 2009, doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ đ là 13.6 nghìn tỷ đồng với 27 DNBH hoạt động, trong đó có 2 doanh nghiệp nhà nước, 15 công ty cổ phần, 3 doanh nghiệp liên doanh và 7 doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó còn có sự góp mặt một số lượng lớn văn phòng đại diện của các tổ chức bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam cũng góp phần cải thiện môi trường đầu tư và tăng lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài khi đến làm ăn tại Việt Nam
Mặc dù thị trường bảo hiểm PNT chỉ bắt đầu có sự cạnh tranh từ năm 1994 (16 năm) nhưng mức độ cạnh tranh đ vô cùng gay gắt, các DNBH chủ yếu cạnh tranh nhau bằng hình thức giảm phí, tăng quyền lợi bảo hiểm, giành dịch vụ bằng thư tay mà ít chú trọng đến nâng cao chất lượng dịch vụ Điều này tất yếu dẫn đến tình trạng hầu hết các DNBH đều bị lỗ từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm và chỉ có li nhờ hoạt động đầu tư
Trước thực trạng thị trường bảo hiểm PNT như trên và cùng với quá trình
công tác tại Bảo Việt, tôi đ nghiên cứu và đưa ra một số giải pháp nâng cao năng
Trang 9lực cạnh tranh Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt nhằm giúp cho Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt ngày càng phát triển trong bối cảnh hội nhập ngày nay
2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài tập trung vào các vấn đề:
• Phân tích thực trạng thị trường bảo hiểm PNT Việt Nam và tình hình kinh doanh của Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt
• Đánh giá năng lực cạnh tranh của Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt cùng với việc phân tích đối thủ cạnh tranh
• Trên cơ sở những phân tích đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt
3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài là phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với các phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp những số liệu thống kê, các bài báo cũng như các văn bản luật về bảo hiểm để đưa ra những giải pháp có tính thực tiễn
4 Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm có phần mở đầu, kết luận và 3 chương chính như sau:
• Chương 1: Cơ sở luận về BH và năng lực cạnh tranh của công ty bảo hiểm
• Chương 2: Đánh giá năng lực cạnh tranh Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt
• Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt
Trang 10Chương 1: Cơ sở luận về bảo hiểm
và năng lực cạnh tranh của công ty bảo hiểm
1.1 Các lý luận chung về bảo hiểm
1.1.1 Định nghĩa bảo hiểm:
Tùy theo góc độ xem xét về bảo hiểm của nhà nghiên cứu, nhiều định nghĩa
về bảo hiểm được đưa ra:
- Căn cứ vào cơ chế hoạt động bảo hiểm thì bảo hiểm là sự cộng đồng hóa các rủi ro
- Căn cứ vào mối quan hệ pháp lý trong hợp đồng bảo hiểm: bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó một bên cam đoan trả một khoản tiền nhất định (phí bảo hiểm) nhằm đảm bảo cho mình hoặc người thứ 3 trong thời hạn xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản tiền bồi thường của bên khác (nhà bảo hiểm) Nhà bảo hiểm chịu trách nhiệm toàn bộ rủi ro và bồi thường thiệt hại theo phương pháp thống kê
- Căn cứ vào mục đích bảo hiểm: là sự dự trữ vật chất từ số đông người nhằm
bù đắp, khắc phục tổn thất cho số ít người trong số đông người đó để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thường xuyên tiếp tục
Ta biết rằng để một ngành nghề phát triển mạnh thì ngành nghề đó phải cần thiết cho x hội, ngày nay bảo hiểm đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế mỗi quốc gia và nó trở thành vô cùng cần thiết
1.1.2 Sự cần thiết của bảo hiểm:
Với những tính chất ưu việt, bảo hiểm đ trở nên cần thiết cho mọi chế độ x hội:
- Bảo hiểm quy tụ số đông người tham gia trong đó số ít người gặp rủi ro bị tổn thất, và rủi ro này được hoán chuyển qua số đông người thông qua việc phân tán tổn thất Ngoài ra nó còn giảm thiểu rủi ro do tính được khá chính xác rủi ro xảy ra
Trang 11trong tương lai, mức độ chính xác càng cao thì mức độ bất trắc càng thấp dẫn đến rủi ro giảm
- Khi xảy ra tổn thất, nhà bảo hiểm phải bồi thường cho người gặp rủi ro, đây
là điều chắc chắn và theo ý muốn của nạn nhân
- Có hiệu quả tức khắc, có nghĩa là dù người tham gia bảo hiểm mới đóng phí nhưng họ luôn được đảm bảo bởi một số tiền của nhà bảo hiểm khi gặp rủi ro
Như vậy, dù con người luôn có sự chú ý, và có biện pháp ngăn ngừa, đề phòng rủi ro nhưng rủi ro vẫn luôn tồn tại, do đó bảo hiểm rất cần thiết để tránh né rủi ro
1.1.3 Vai trò và tác dụng của bảo hiểm:
Trong điều kiện kinh tế hàng hoá phát triển như ngày nay, nhu cầu bảo hiểm của con người ngày càng cao và đa dạng đ tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế x hội Bảo hiểm không chỉ có vai trò và tác dụng vô cùng quan trọng trên khía cạnh kinh tế – x hội
mà còn cả lĩnh vực tài chính tài chính:
1.1.3.1 Khía cạnh kinh tế - x hội:
1.1.3.1.1 Chuyển giao rủi ro:
Bảo hiểm vận hành giống như một cơ chế chuyển giao rủi ro, rủi ro từ một tổ chức hoặc cá nhân (bên chuyển giao rủi ro - người được bảo hiểm) được chuyển sang một tổ chức khác (bên nhận rủi ro - công ty bảo hiểm) thông qua hợp đồng
được ký kết giữa các bên Hậu quả của tổn thất do rủi ro gây ra sẽ được bên nhận chuyển giao gánh chịu theo thoả thuận Đổi lại, bên chuyển giao sẽ trả một khoản tiền nhất định cho bên chuyển giao rủi ro, gọi là phí bảo hiểm Như vậy, thông qua việc đóng phí bảo hiểm, người được bảo hiểm đ chuyển giao những hậu quả rủi ro
về tài chính sang cho công ty bảo hiểm
Trang 121.1.3.1.2 Dàn trải tổn thất:
Bảo hiểm có tác dụng dàn trải tổn thất tài chính của một số ít người cho số
đông người Thông qua bảo hiểm, từ số đông người tham gia bảo hiểm, mỗi người
đóng góp một khoản tiền nhỏ (phí bảo hiểm), đ tạo ra một khoản tiền lớn Nguồn tiền này được sử dụng để chi trả cho số ít người không may gặp rủi ro tổn thất về tài chính Như vậy, bảo hiểm đ thực hiện chức năng dàn trải tổn thất của số ít người cho nhiều người cùng gánh chịu thông qua đóng phí bảo hiểm
1.1.3.1.3 Giảm thiểu tổn thất hiệt hại:
Bảo hiểm là một ngành kinh doanh đặc biệt, kinh doanh sự rủi ro của người tham gia bảo hiểm Người tham gia bảo hiểm dù tốn tiền mua dịch vụ nhưng lại không mong muốn sử dụng dịch vụ Như vậy, khi tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm đ ý thức được rằng họ có thể gặp rủi ro bất cứ lúc nào và do đó họ sẽ luôn chú ý để tránh gặp rủi ro, giảm thiểu tổn thất cho bản thân họ
Đối với công ty bảo hiểm, nếu người được bảo hiểm gặp nhiều rủi ro thì công
ty bảo hiểm phải chi trả bồi thường nhiều, dẫn đến ảnh hưởng hiệu quả hoạt động kinh doanh Do đó, công ty bảo hiểm luôn chú ý đến việc giảm thiểu tổn thất thiệt hại của đối tượng bảo hiểm trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm bằng cách tăng cường các biện pháp phòng tránh cần thiết để bảo vệ đối tượng bảo hiểm, góp phần bảo đảm an toàn cho tính mạng, sức khỏe con người, của cải và vật chất của x hội Chẳng hạn như:
- Thực hiện hỗ trợ các công cụ phòng ngừa rủi ro và hạn chế tổn thất ở mức thấp nhất có thể: lắp các gương phản chiếu giao thông tại các khúc đường cong bị che tầm nhìn, xây dựng các đường lánh nạn, đánh giá rủi ro cơ sở được bảo hiểm và
đưa ra các khuyến cáo phòng tránh rủi ro …
- Giải quyết hậu quả kịp thời giúp người được bảo hiểm nhanh chóng ồn định kinh doanh và cuộc sống
Chỉ có thông qua bảo hiểm, hiệu quả của các biện pháp đề phòng hạn chế thiệt hại mới đạt được kết quả cao nhất, bởi lẽ các công ty bảo hiểm mới có khả
Trang 13năng về tài chính, có nhiều kinh nghiệm và chuyên môn, có đầy đủ số liệu thống kê
và nguyên nhân tổn thất
1.1.3.1.4 An tâm về mặt tinh thần:
Khi tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm đ chuyển phần rủi ro của mình sang công ty bảo hiểm nên đ giải toả nỗi lo lắng về những tổn thất có thể xảy ra đối với mình
Ví dụ, một nhân viên văn phòng độc thân có thu nhập 6 triệu đồng/tháng Hàng tháng người này chi tiêu hết 5 triệu đồng và chỉ tích lũy được 1 triệu đồng Người này suy nghĩ rằng nếu không may gặp phải rủi ro về bệnh tật hay tai nạn thì
sẽ không có đủ tiền để chữa Bằng cách tham gia bảo hiểm sức khoẻ với mức 50 triệu đồng, người đó sẽ an tâm về mặt tinh thần, giải toả nỗi lo lắng của mình về những rủi ro thường trực có thể xảy ra
1.1.3.1.5 Kích thích tiết kiệm:
Bảo hiểm ra đời tạo ra một hình thức tiết kiệm linh hoạt, tác động đến tư duy của các cá nhân, hộ gia đình, chủ doanh nghiệp, góp phần hình thành nên một ý thức, thói quen về việc dành một phần thu nhập nhỏ bé hôm nay để có khoản thu nhập lớn trong tương lai Điều này thể hiện rõ nét nhất trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
động bảo hiểm là lĩnh vực thu hút lao động x hội không nhỏ
Không chỉ có vậy, thông qua đầu tư dưới nhiều hình thức, bảo hiểm còn gián tiếp tạo thêm nhiều việc làm cho các ngành khác của đất nước
Trang 141.1.3.2 Khía cạnh tài chính:
1.1.3.2.1 ổn định chi phí:
Khi tham gia bảo hiểm:
- Bảo hiểm giúp ổn định chi phí ngay cả khi gặp rủi ro tổn thất lớn
- Khi có rủi ro tổn thất phát sinh sẽ làm thiệt hại về của cải vật chất và chính bản thân con người Nhờ có bảo hiểm đ khắc phục hậu quả nói trên làm cho các quá trình sản xuất, sinh hoạt được tái lập lại cân bằng
Nhìn chung, trên phạm vi rộng toàn bộ nền kinh tế x hội bảo hiểm đóng vai trò như một công cụ an toàn và dự phòng đảm bảo hoạt động thường xuyên của mọi chủ thể Với vai trò đó, bảo hiểm thâm nhập sâu rộng vào mọi lĩnh vực của đời sống
đ phát huy tác dụng vốn có của mình là đảm bảo yên tâm về tinh thần, thúc đẩy ý thức đề phòng và hạn chế tổn thất
1.1.3.2.2 Là trung gian tài chính:
DNBH hoạt động theo nguyên tắc ứng trước phí bảo hiểm, số phí này rất lớn tạm thời nhàn rỗi sẽ được các nhà bảo hiểm đầu tư trở lại nền kinh tế Như vậy, bảo hiểm không chỉ đóng vai trò làm công cụ an toàn và dự phòng mà còn là một trung gian tài chính, tập trung và cung cấp vốn cho nền kinh tế
Tóm lại, với vai trò và tác dụng quan trọng đó, bảo hiểm trở thành một hoạt
động không thể thiếu trong bất kỳ nền kinh tế nào trên đường phát triển, thế nhưng sản phẩm bảo hiểm chỉ được thực hiện qua việc sử dụng phương pháp thống kê bởi các nhà bảo hiểm chuyên nghiệp, dựa trên cơ sở kỹ thuật của bảo hiểm
1.1.4 Cơ sở kỹ thuật quan trọng của bảo hiểm:
1.1.4.1 Quy luật số đông:
Quy luật này được nhà toán học Pascal (Pháp) nghiên cứu và chứng minh vào thế kỷ 17, sau đó nó được nghiên cứu tiếp và phát biểu thành “quy luật số đông” bởi nhà toán học Bernoulli vào thế kỷ 18 Theo quy luật này thì kết quả thu được của
Trang 15phép thử càng tiến dần đến xác suất lý thuyết của biến cố đang xem xét nếu số lần thực hiện phép thử càng lớn
Quy luật này đ được các nhà bảo hiểm áp dụng, đó là họ có thể làm chủ
được xác suất xảy ra rủi ro và những tổn thất của nó nếu có số đông người đủ lớn tham gia BH
Ví dụ: Tung con xúc sắc và tìm khả năng xuất hiện mặt 5 chấm Sau khi thực nghiệm với số lần tung con xúc sắc tăng dần, người ta thu được kết quả:
Bảng 1.1 Kết quả tung con xúc sắc
Số lần tung con xúc sắc Số lần xuất hiện mặt có
0,100 0,120 0,175 0,165
Điều đó cho thấy, khi số lần thử tăng lên, tần suất của biến cố cũng thay đổi nhưng nó tiến gần hơn đến xác suất lý thuyết xảy ra biến cố đó Xác suất lý thuyết xuất hiện mặt 5 chấm ở đây là 1/6 (xấp xỉ 0,1667)
Quy luật số đông là cơ sở khoa học quan trọng của bảo hiểm Quy luật này giúp cho các nhà bảo hiểm ước tính xác suất rủi ro nhận bảo hiểm nhằm tính phí và quản lý các quỹ dự phòng chi trả
Công ty bảo hiểm đảm bảo cho các sự cố ngẫu nhiên, nếu tính riêng từng trường hợp đơn lẻ có thể giống như một trò chơi may rủi Song tính trên một số lớn
đối tượng được bảo hiểm, công ty bảo hiểm có thể dự đoán được về khả năng xảy ra
sự cố ở mức độ tương đối chính xác Điều đó có nghĩa càng có nhiều người tham gia bảo hiểm với cùng một nhóm rủi ro, hiệu quả kinh doanh của công ty bảo hiểm sẽ càng ổn định Quy luật số đông chỉ đảm bảo khi:
Trang 16- Số lượng lớn các rủi ro và tổn thất tương tự: Việc quan sát phải tiến hành trên một số lượng lớn, đồng thời phải trên cơ sở phân nhóm rủi ro, phân nhóm đối tượng bảo hiểm theo những tiêu thức thích hợp Ví dụ: Để tính toán thiệt hại về thương tật thân thể con người do tai nạn, người ta quan sát trên một số lượng lớn các
vụ tai nạn xảy ra, gây thiệt hai cho sức khỏe con người và trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)
- Các rủi ro tổn thất phải độc lập: Tức là việc xảy ra hay không xảy ra của biến cố này không làm thay đổi khả năng xảy ra của biến cố khác và ngược lại Nếu không thỏa mn điều kiện này thì gọi là phụ thuộc nhau, khi đó các rủi ro có liên quan đến nhau được tính là một đơn vị rủi ro
1.1.4.2 Thống kê tần suất xảy ra rủi ro :
Thống kê cung cấp cho nhà bảo hiểm các con số rủi ro, tổn thất đ xảy ra trong quá khứ và giá trị của nó nhằm xác định được tần suất xảy ra rủi ro và giá phí trung bình một rủi ro Từ đó, nhà bảo hiểm biết được mức độ chi trả bảo hiểm và mức phí bảo hiểm cho phù hợp thực tế Trong quá trình hoạt động lâu dài, nhà bảo hiểm phải theo dõi thường xuyên sự biến động của các số liệu thống kê được nhằm hiệu chỉnh khi cần thiết phí bảo hiểm phải thu cho phù hợp với thực tế của diễn biến rủi ro tổn thất
Trên thực tế, nhất là ở các nước có thị trường bảo hiểm phát triển, việc tổ chức thống kê không thực hiện riêng lẻ bởi từng nhà bảo hiểm mà số liệu thống kê
sẽ được cung cấp bởi các tổ chức thống kê nghề nghiệp hoặc tổ chức thống kê chung của kinh tế – x hội Điều này làm cho con số thống kê càng chính xác hơn và đảm bảo sự thống nhất về mặt kỹ thuật giữa các nhà bảo hiểm trong cùng một thị trường
1.1.5 Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của bảo hiểm:
Bảo hiểm hoạt động trên bốn nguyên tắc cơ bản :
1.1.5.1 Tập hợp số lớn các rủi ro thuần:
Bảo hiểm là sự dự trữ vật chất từ số đông người để bù đắp cho số ít người gặp rủi ro và tổn thất, hay nói cách khác tổn thất của số ít người đ được phân tán qua
Trang 17nhiều người Nếu số đông người không đủ lớn thì tổn thất phân tán qua từng người
sẽ nặng, khó có thể chấp nhận được Về mặt toán học, quy luật số đông phải được triển khai trên một đám đông người đủ lớn, hoặc phải tập hợp được số lớn các rủi ro 1.1.5.2 Nguyên tắc trung thực tuyệt đối:
Đây là một trong hai nguyên tắc quan trọng nhất Khi hợp đồng bảo hiểm
được ký kết, người được bảo hiểm đóng phí bảo hiểm đầy đủ và nhà bảo hiểm cam kết bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra thì có thể xảy ra những rủi ro mới từ phía người bảo hiểm và người được bảo hiểm Đối với người được bảo hiểm, họ phải
đối đầu với rủi ro không được bồi thường hoặc nhà bảo hiểm mất khả năng chi trả khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Còn đối với nhà bảo hiểm, họ có thể gặp rủi ro người được bảo hiểm không khai báo chính xác hoặc rủi ro xảy ra là không khách quan Chính vì những lý do trên đ đòi hỏi cả hai bên tuân thủ nguyên tắc này 1.1.5.3 Nguyên tắc phân tán :
Theo nguyên tắc này thì “không để trứng trong cùng một giỏ mà phải phân tán ra”, việc phân tán rủi ro được thực hiện trên hai khía cạnh thời gian, đó là tránh
ký kết hợp đồng bảo hiểm trong cùng một thời điểm và không gian, nghĩa là triển khai nghiệp vụ bảo hiểm phải trên một phạm vi rộng
1.1.5.4 Nguyên tắc phân chia :
Bằng kỹ thuật phân chia đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm các nhà bảo hiểm đ tránh việc bảo hiểm cho một rủi ro có giá trị quá lớn mà chỉ đảm bảo một phần rủi
ro đó Bởi vì, nếu đảm bảo cho một rủi ro có giá trị quá lớn thì phí bảo hiểm thu
được sẽ không đủ bù đắp tổn thất khi rủi ro đó xảy ra
1.2 Năng lực cạnh tranh và các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm:
1.2.1 Năng lực cạnh tranh:
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo việc thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho
Trang 18việc tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời thực hiện được những mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra
Nếu một doanh nghiệp tham gia thị trường mà không có khả năng cạnh tranh hay khả năng cạnh tranh yếu hơn các đối thủ của nó thì sẽ rất khó khăn để tồn tại và phát triển được, quá trình duy trì sức mạnh của doanh nghiệp phải là quá trình lâu dài và liên tục Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là cơ sở để đảm bảo khả năng duy trì lâu dài sức mạnh cạnh tranh đó
1.2.2 Đặc thù trong hoạt động kinh doanh của DNBH:
1.2.2.1 Chu trình sản xuất ngược:
Ngành kinh doanh bảo hiểm không giống như các ngành sản xuất khác Khi một hợp đồng bảo hiểm đ được k ý kết, DNBH tiến hành thu phí trước của khách hàng Sau đó, bằng sự cam kết của mình thông qua hợp đồng bảo hiểm, các công ty
sẽ thực hiện trách nhiệm đối với khách hàng Như vậy, đối với các ngành sản xuất khác thì giá bán được tính trên sở giá thành sản phẩm trong khi đó phí bảo hiểm (giá bảo hiểm) chỉ là ước tính trên cơ sở thống kê các dữ liệu trong quá khứ, giá thành chỉ được xác định khi năm bảo hiểm kết thúc
1.2.2.2 Đối tượng kinh doanh đa dạng:
Khác với bảo hiểm x hội, bảo hiểm thương mại có đối tượng là tài sản, trách nhiệm dân sự và con người
Bảo hiểm tài sản là bảo hiểm giá trị tài sản có thực như bảo hiểm cao ốc văn phòng, bảo hiểm vật chất xe, bảo hiểm xây dung công trình …
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự là bảo hiểm trách nhiệm bồi thường của một chủ thể khi gây hại cho người thứ ba do hoạt động của mình gây ra Ví dụ như bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ se cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp kiểm toán, bảo hiểm trách nhiệm cho chủ sử dụng lao động…
Bảo hiểm con người có đối tượng là tính mạng, tình trạng sức khỏe con người như bảo hiểm tai nạn con người, bảo hiểm trợ cấp nằm viện phẫu thuật, bảo hiểm sức khỏe …
Trang 19Mỗi đối tượng bao gồm rất nhiều nghiệp vụ cụ thể Mỗi nghiệp vụ là một hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp bán sản phẩm ra thị trường và thu về phí bảo hiểm (giá bảo hiểm) Phí đó được tính toán trên cơ sở khoa học đảm bảo thu bù chi, làm nghĩa vụ đối với Nhà nước và có li cho doanh nghiệp
1.2.2.3 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm có vốn pháp định lớn:
Vốn pháp định theo luật qui định đối với công ty BH PNT là 300 tỷ đồng,
đây là con số rất lớn nhằm đảm bảo khả năng tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm vì kinh doanh bảo hiểm là kinh doanh rủi ro, công ty bảo hiểm thu phí từ NĐBH một khoản phí nhỏ nhưng cam kết bồi thường một số tiền lớn hơn rất nhiều
1.2.2.4 Dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm:
DNBH phải trích lập dự phòng nghiệp vụ từ phí bảo hiểm của từng nghiệp vụ
đối với phần trách nhiệm giữ lại của doanh nghiệp Bởi lẽ kinh doanh bảo hiểm sẽ có
sự tích lũy rủi ro nên cần phải trích lập dự phòng nghiệp vụ Dự phòng nghiệp vụ bao gồm dự phòng phí chưa được hưởng, dự phòng bồi thường cho các khiếu nại chưa giải quyết, dự phòng bồi thường cho các dao động lớn Quỹ dự phòng nghiệp
vụ càng lớn thể hiện năng lực bồi thường của doanh nghiệp càng cao, đồng thời doanh nghiệp có được nguồn vốn lớn để đầu tư sinh lời
1.2.2.5 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm gắn kết với hoạt động đầu tư:
Hoạt động đầu tư là một bộ phận trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm Hoạt
động đầu tư góp phần phát triển quỹ tài chính, tạo điều kiện mở rộng doanh nghiệp, tăng quỹ phúc lợi, vừa tăng thu nhập cho người lao động vừa góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, x hội
1.2.3 Các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của DNBH:
Trang 20thực hiện công việc kinh doanh của doanh nghiệp Đối với những công ty cổ phần, những tổng công ty lớn, ngoài ban giám đốc còn có hội đồng quản trị là đại diện cho các chủ sở hữu doanh nghiệp quyết định phương hướng kinh doanh của công ty Các thành viên của ban giám đốc có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nếu các thành viên có trình độ, kinh nghiệm và khả năng đánh giá, năng động, có mối quan hệ tốt với bên ngoài thì họ sẽ đem lại cho doanh nghiệp không chỉ những lợi ích trước mắt như: tăng doanh thu, tăng lợi nhuận mà còn uy tín lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp Đây mới là yếu tố quan trọng tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
- Đội ngũ cán bộ quản lý: Là những người quản lý chủ chốt có kinh nghiệm công tác, phong cách quản lý, khả năng ra quyết định, khả năng xây dựng ê kíp quản lý và hiểu biết sâu rộng lĩnh vực kinh doanh sẽ là một lợi thế quan trọng cho doanh nghiệp Người quản lý làm việc trực tiếp với nhân viên cấp dưới, với chuyên viên, vì vậy trình độ hiểu biết của họ sẽ giúp họ nảy sinh những ý tưởng mới, sáng tạo phù hợp với sự phát triển và trưởng thành của doanh nghiệp
- Công nhân viên trong doanh nghiệp: Chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào trình độ, kiến thức, khả năng, ý thức trách nhiệm của đội ngũ công nhân viên và trình độ tổ chức của doanh nghiệp
Bên cạnh đó doanh nghiệp cần phải xem xét thêm các vấn đề sau:
- Doanh nghiệp có chương trình kế hoạch toàn diện về nguồn nhân lực?
- Chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực như thế nào?
- Các chính sách, chế độ đi ngộ đối với cán bộ công nhân viên ra sao? 1.2.3.2 Khả năng tài chính của doanh nghiệp:
Là khả năng đảm bảo hoạt động, năng lực chi trả bồi thường của doanh nghiệp như nguồn vốn lưu động, biên khả năng thanh toán, quỹ dự phòng nghiệp vụ Doanh nghiệp có tiềm lực về tài chính sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng mạng lưới, đổi mới công nghệ, đầu tư trang thiết bị, thu hút nhân tài, đảm bảo
Trang 21nâng cao chất lượng, nâng cao sức mạnh cạnh tranh, củng cố vị trí của mình trên thị trường
1.2.3.3 ứng dụng công nghệ thông tin:
Trong ngành sản xuất vật chất, việc ứng dụng các máy móc thiết bị có ảnh hưởng một cách sâu sắc đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Còn đối với những ngành dịch vụ như bảo hiểm không sử dụng máy móc thiết bị nhưng việc ứng dụng công nghệ thông tin sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh
Việc ứng dụng công nghệ thông tin thể hiện năng lực cung cấp dịch vụ của mỗi doanh nghiệp Trong tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt và quy mô của doanh ngiệp ngày càng lớn thì càng đòi hỏi phải có một hệ thống công nghệ thông tin hiện đại nhằm phục vụ cho công việc quản lý, tiết giảm chi phí, và đưa ra các dịch vụ mới, cạnh tranh
1.2.3.4 Sản phẩm bảo hiểm:
Sản phẩm là đầu ra của doanh nghiệp, sản phẩm đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bởi vì nếu không có sản phẩm thì sẽ không có hoạt động kinh doanh Các sản phẩm trong bảo hiểm có đặc điểm là sản phẩm vô hình, các doanh nghiệp bảo hiểm phải đưa ra các sản phẩm đáp ứng với nhu cầu người sử dụng, được nhiều người sử dụng do đó giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mình
Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tốt là doanh nghiệp đ thực hiện đa dạng hoá sản phẩm Sản phẩm của doanh nghiệp không ngừng được hoàn thiện để
có thể theo kịp nhu cầu thị trường, đồng thời tiếp tục duy trì các loại sản phẩm hiện
đang là thế mạnh của doanh nghiệp
Tuy nhiên, đi đôi với việc đa dạng hoá sản phẩm, để đảm bảo đứng vững trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, doanh nghiệp phải thực hiện chiến lược trọng tâm hoá sản phẩm vào một loại sản phẩm có tính chiến lược nhằm cung cấp cho một tập hợp khách hàng mục tiêu hoặc thị trường mục tiêu Trong phạm vi này, doanh
Trang 22nghiệp có thể tập trung phục vụ khách hàng tốt hơn, nâng cao uy tín trước đối thủ cạnh tranh
1.2.3.5 Kênh phân phối:
Kênh phân phối là khâu cuối cùng trong quá trình kinh doanh nhằm tiêu thụ sản phẩm, đây là sự kết hợp hữu cơ giữa nhà sản xuất và những trung gian trong việc thực hiện tất cả các hoạt động nhằm đưa một hay một nhóm sản phẩm đến tay người tiêu dùng Đối với sản phẩm hữu hình, hệ thống phân phối bao gồm các phương tiện vật chất có thể rất lớn và khá tốn kém về tài chính như kho chứa hàng, phòng trưng bày, phương tiện chở hàng…Còn đối với sản phẩm vô hình, hệ thống phân phối đơn giản hơn do ít đòi hỏi phương tiện vật chất, mà chủ yếu là yếu tố con người
Một doanh nghiệp xây dựng được một hệ thống phân phối tốt sẽ thu hút nhiều người sử dụng dịch vụ của mình, giúp cho doanh nghiệp tăng doanh thu và cũng có nghĩa là xây dựng một nền móng vững chắc cho việc củng cố và phát triển nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Bên cạnh việc tổ chức một hệ thống kênh phân phối, doanh nghiệp đồng thời cũng cần mở rộng và đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ như quảng cáo, khuyến mại và các dịch vụ sau bán hàng Đây là một trong những chiến lược cạnh tranh phi giá cả gây ra sự chú ý và thu hút khách hàng một cách có hiệu quả
1.3 Kinh nghiệm phát triển ngành bảo hiểm ở các nước Châu Âu
Các nước thuộc Liên minh Châu Âu (EU) có lịch sử rất lâu đời về phát triển bảo hiểm Những đơn bảo hiểm đầu tiên được tìm thấy ở Châu Âu, và những nghiệp
vụ bảo hiểm đầu tiên cũng được ra đời ở đây Tính đến nay, qua nhiều bước phát triển thăng trầm, bảo hiểm đ khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế nhiều nước EU Để có được sự phát triển mạnh mẽ và vững chắc đó, vai trò của hệ thống pháp luật cùng các hoạt động quản lý Nhà nước đóng một vai trò rất quan trọng
Do các yếu tố lịch sử và truyền thống pháp lý khác nhau, ở Châu Âu tồn tại song song hệ thống pháp luật chung (Common Law) và hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Continental Law) Tuy nhiên, dù theo hệ thống pháp luật nào, các nước
Trang 23Châu Âu đều chú trọng xây dựng Luật bảo hiểm từ rất sớm Đến nay, với mục tiêu xây dựng một thị trường bảo hiểm chung, về cơ bản, các nước EU đ thống nhất các quy định pháp luật về quản lý, giám sát, cấp giấy phép cho các công ty bảo hiểm thông qua việc ban hành các chỉ thị về bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ mà tất cả các nước thành viên đều phải tuân thủ Nhìn chung, hoạt động bảo hiểm ở hầu hết các nước EU đều chịu sự điều chỉnh của Luật về doanh nghiệp bảo hiểm (hay Luật
về quản lý, giám sát bảo hiểm) và Luật về hợp đồng bảo hiểm Một số loại bảo hiểm
đặc thù như bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới, tái bảo hiểm thường được điều chỉnh bằng các văn bản luật riêng Trong các chừng mực khác nhau và tuỳ theo trường hợp cụ thể, các luật khác liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng, thương mại, lao động cũng có thể được dẫn chiếu
Các nước EU đều nhất trí rằng một thị trường cạnh tranh và ít có sự can thiệp của Nhà nước sẽ có lợi cho người tham gia bảo hiểm cũng như có lợi cho nền kinh
tế Tuy nhiên, nhận thức rõ tầm quan trọng của bảo hiểm đối với đời sống kinh tế - x hội và sự phát triển của mỗi quốc gia, ngay từ khi mới ra đời, hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở các nước EU đ chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước ở nhiều nước, cơ quan quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm trực thuộc các
bộ Tài chính, Kinh tế, Thương mại như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, ý hoặc Cơ quan quản lý Dịch vụ tài chính như Anh, có những nước dành cho cơ quan quản lý bảo hiểm vị trí độc lập và đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Thủ tướng (Đức) Mục tiêu hoạt động của các cơ quan quản lý bảo hiểm là bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm và đảm bảo sự phát triển lành mạnh của thị trường bảo hiểm Nguyên tắc hoạt động của các cơ quan này là “đầy đủ, khách quan, nhất quán và minh bạch” Tại hầu hết các nước EU, ngân sách dành cho cơ quan quản lý bảo hiểm được hình thành từ các khoản đóng góp của các doanh nghiệp bảo hiểm, rất ít nước phải dùng đến tài trợ của ngân sách Nhà nước
Tại các nước EU, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ có thể kinh doanh dưới những hình thức pháp lý nhất định và phải có tư cách pháp nhân Hình thức doanh nghiệp bảo hiểm ở các nước EU khá đa dạng về cơ cấu sở hữu và hình thức pháp lý Về cơ
Trang 24bản, loại hình phổ biến nhất là công ty cổ phần bảo hiểm, tiếp đó là các Hội (hay công ty) bảo hiểm tương hỗ và các chi nhánh của các công ty bảo hiểm nước ngoài Tuỳ theo quy định của pháp luật mỗi nước, hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn có thể tiến hành thông qua công ty bảo hiểm Nhà nước (ý, Bồ Đào Nha), Lloyd’s (Anh), hội hợp tác (Bỉ), các hội tiết kiệm (Thụy Điển) Theo quy định của các luật
về doanh nghiệp bảo hiểm, một công ty không được phép kinh doanh đồng thời cả bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ
Tại tất cả các nước EU, một tổ chức nhất thiết phải có giấy phép mới được kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm Giấy phép này có giá trị trong toàn bộ EU và
được cấp cho từng loại nghiệp vụ bảo hiểm cụ thể (bao gồm cả nội dung kinh doanh bảo hiểm và kinh doanh tái bảo hiểm) Thông thường, giấy phép kinh doanh bảo hiểm được cấp vô thời hạn Việc cấp giấy giấy phép kinh doanh bảo hiểm ở các nước EU chỉ căn cứ vào các yêu cầu về tài chính, pháp lý, kế toán, kỹ thuật, nhân sự theo nguyên tắc thận trọng mà không phụ thuộc vào nhu cầu của nền kinh tế Thời hạn xét cấp giấy phép được quy định là 6 tháng kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ Trong các điều kiện cấp giấy phép, điều kiện về tài chính được đặt lên hàng đầu Tại tất cả các nước EU, doanh nghiệp phải đáp ứng các yêu cầu về vốn pháp định, tuỳ thuộc vào loại nghiệp vụ Tuy nhiên, số vốn pháp định nói trên sẽ được tăng lên do các yếu
tố lạm phát và sự phát triển của thị trường Ngoài ra, số vốn cổ phần đ đóng không
được thấp hơn vốn pháp định và không thấp hơn 20 - 50% số vốn điều lệ của công
ty Các nước cũng quy định mức yêu cầu ký quỹ tương đương 25% vốn pháp định
Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ đáp ứng các yêu cầu về biên khả năng thanh toán và trích lập đủ các khoản sự phòng nghiệp vụ cho toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, từ nhiều năm nay, các nước EU đ từ bỏ việc
áp dụng chế độ tái bảo hiểm bắt buộc cho một tổ chức do Chính phủ chỉ định Trừ các loại hình bảo hiểm bắt buộc, các bên tham gia bảo hiểm có toàn quyền thoả thuận các điều kiện của hợp đồng bảo hiểm, cũng như ấn định mức phí bảo hiểm thích hợp
Trang 25Hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm được EU kiểm soát khá chặt chẽ Pháp luật các nước đều có sự phân định các loại tài sản mà một doanh nghiệp bảo hiểm có thể dùng để đầu tư, bao gồm: các quỹ dự phòng nghiệp vụ để chi trả các khiếu nại cho người được bảo hiểm và các tài sản dùng để thanh toán cho các chủ nợ khác Do có các tính chất khác nhau, mỗi loại tài sản phải tuân theo các quy định riêng về đầu tư Nguyên tắc của hoạt động đầu tư mà các doanh nghiệp đều phải tuân thủ là “đa dạng hoá, phân tán rủi ro và đảm bảo tính thanh khoản cao” nhằm đáp ứng các yêu cầu về độ an toàn và khả năng sinh lời Mặc dù có mức độ tự
do hoá cao, các nước EU vẫn chú trọng yêu cầu “nội địa hoá tài sản đầu tư”, theo
đó, các tài sản tạo thành biên khả năng thanh toán phải được cất giữ lại một nước
EU, nơi có hoạt động kinh doanh bảo hiểm Theo định kỳ, doanh nghiệp bảo hiểm phải báo cáo cho cơ quan quản lý bảo hiểm về cơ cấu tài sản và biến động trong danh mục đầu tư của mình
Do những đặc thù riêng, hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm được kiểm soát chặt chẽ hơn qua việc quản lý các thoả thuận tái bảo hiểm của các công ty nhượng tái và hoạt động tái bảo hiểm của công ty bảo hiểm gốc trong nước Các nước đều áp dụng những biện pháp cần thiết để đảm bảo rằng các công ty nhận tái bảo hiểm là các công ty có uy tín trên thị trường và có năng lực tài chính tốt, đảm bảo đáp ứng các trách nhiệm phát sinh theo hợp đồng tái bảo hiểm
Tất cả các nước EU đều duy trì ít nhất một loại bảo hiểm bắt buộc Đó là bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới đối với người thứ ba Ngoài ra, ở một số nước, bảo hiểm trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người làm công, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cũng là bắt buộc Thông thường, phí bảo hiểm bắt buộc chịu sự kiểm soát của cơ quan quản lý bảo hiểm
Việc học hỏi kinh nghiệm phát triển ở những nước có nền bảo hiểm phát triển như các nước EU là rất cần thiết Để ngành bảo hiểm Việt Nam có được những bước tiến vững chắc, quá trình nghiên cứu sẽ đòi hỏi nhiều thời gian và công sức, cũng như việc áp dụng sẽ phải rất linh hoạt
Trang 26Kết luận chương 1:
Phần cơ sở lý luận của đề tài được đề cập các vấn đề:
- Các lý luận chung về bảo hiểm: bảo hiểm đóng một vai trò rất quan trọng trong cuộc sống con người, đây là phương thức tốt nhất để tránh né rủi ro Bảo hiểm
được phát triển dựa trên hai cơ sở kỹ thuật và bốn nguyên tắc hoạt động
- Năng lực cạnh tranh, đặc thù của DNBH trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm và các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm
- Kinh nghiệm phát triển ngành bảo hiểm ở các nước Châu Âu
Mục đích của chương này nhằm đưa ra những cơ sở lý luận chung về bảo hiểm và năng lực cạnh tranh của DNBH Nó là cơ sở cho việc phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Bảo hiểm Bảo Việt ở chương 2 và từ đó đề ra các biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Bảo hiểm Bảo Việt tại nội dung chương 3
Trang 27
Chương 2: đánh giá năng lực cạnh tranh tổng công ty bảo hiểm bảo việt
2.1 Vài nét về Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm Bảo Việt và Tổng Công ty bảo hiểm Bảo Việt:
2.1.1 Vài nét về Tập đoàn Tài chính - Bảo hiểm Bảo Việt
Tiền thân của Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm Bảo Việt là Công ty bảo hiểm Việt Nam được thành lập theo quyết định số 179/CP ngày 17/12/1964 của Thủ tướng Chính phủ Công ty chính thức đi vào hoạt động từ 15 tháng 1 năm 1965 Ngày đầu hoạt động, Bảo Việt chỉ có trụ sở chính tại Hà Nội và một chi nhánh tại Hải Phòng Hoạt động của công ty chỉ trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hoá xuất - nhập khẩu, bảo hiểm tàu biển Doanh thu của công ty tại thời điểm này chỉ đạt 800.000
đồng với tổng tài sản là 900.000 đồng Trong giai đoạn từ 1964 đến 1975, Bảo Việt chỉ phục vụ một số khách hàng là các đơn vị kinh tế nhà nước kinh doanh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, vận tải tàu biển thuộc Miền Bắc
Năm 1975, sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước được thống nhất, Bảo Việt đ bắt đầu phát triển mạng lưới kinh doanh của mình ra các tỉnh phía nam Trong giai đoạn này, thương hiệu “Bảo Việt” đ được biết đến như một DNBH Nhà nước lớn nhất và duy nhất trên toàn lnh thổ Việt Nam Tuy nhiên, qui mô kinh doanh của Công ty vẫn rất nhỏ bé, doanh thu bảo hiểm chỉ đạt 5,6 triệu đồng, tổng tài sản đạt 10 triệu đồng Họat động của Công ty cũng vẫn chỉ hạn chế trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hải
Từ năm 1976 đến năm 1989, Bảo Việt đ triển khai mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ trên khắp cả nước Song song với mở rộng mạng lưới kinh doanh, Bảo Việt bắt đầu đa dạng hoá các loại hình dịch vụ bảo hiểm như bảo hiểm hàng không, bảo hiểm con người, bảo hiểm tàu sông, tàu cá, bảo hiểm xe cơ giới
Năm 1989 Công ty bảo hiểm Việt Nam được Chính phủ chuyển đổi thành Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam Tổng doanh thu của Bảo Việt tại thời điểm đ đạt
Trang 28con số 78 tỷ đồng, tổng tài sản đạt 73 tỷ đồng, lợi nhuận thu được là 6,6 tỷ đồng Nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải truyền thống chỉ chiếm 65% tổng doanh thu bảo hiểm gốc Các nghiệp vụ khác như bảo hiểm con người, xe cơ giới đ chiếm khoảng 25% tổng doanh thu
Năm 1992, thương hiệu Bảo Việt lần đầu tiên xuất hiện với hình thức một pháp nhân kinh doanh trên thị trường quốc tế Bảo Việt đ thành lập Công ty đại lý bảo hiểm BAVINA (viết tắt của cụm từ “Bảo Hiểm Việt Nam”) tại Vương Quốc Anh, nơi có thị trường kinh doanh bảo hiểm phát triển nhất trên thế giới, góp phần quảng bá thương hiệu của Bảo Việt ra thị trường quốc tế
Năm 1993, Bảo Việt cùng với Công ty Inchicap (Hồng Kong) thành lập công
ty liên doanh môi giới bảo hiểm đầu tiên tại Việt Nam lấy tên là Inchinbrok Đây là một bước đi quan trọng nhằm thu hút dịch vụ bảo hiểm từ các nhà đầu tư nước ngoài khi mà họ có tập quán sử dụng môi giới bảo hiểm
Năm 1994, một Công ty thành viên của Bảo Việt ở thành phố Hồ Chí Minh
đ được tách ra để thành lập Công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh)
Năm 1995, Bảo Việt cùng 7 cổ đông khác thành lập Công ty bảo hiểm Nhà Rồng (gọi tắt là Bảo Long) với vốn điều lệ là 24 tỷ đồng, trong đó Bảo Việt là cổ
đông lớn nhất với vốn góp là 27%
Năm 1996, Bảo Việt cùng các đối tác của Anh và Nhật thành lập Công ty liên doanh bảo hiểm đầu tiên của Việt Nam – Công ty liên doanh Bảo hiểm Quốc tế VIA (Vietnam International Assurance) Cũng trong năm 1996, Công ty bảo hiểm nhân thọ Việt Nam trực thuộc Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam được thành lập theo quyết định số 568/TC/QĐ/TCCB của bộ trưởng Bộ Tài Chính Đây là công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ở Việt Nam, thể hiện vai trò tiên phong của Bảo Việt trên thị trường bảo hiểm Việt Nam Bảo Việt được Chính phủ xếp hạng là “Doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt”, là một trong 25 doanh nghiệp nhà nước lớn nhất tại Việt Nam
Trang 29Với nguồn tài chính mạnh mẽ thu được từ doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ
và phi nhân thọ đ thực sự làm thay đổi vị thế của Bảo Việt trên thị trường đầu tư tài chính Nguồn vốn có thể sử dụng cho đầu tư của Bảo Việt tăng lên nhanh chóng với tốc độ 25% tới 30% hằng năm Đây là điều kiện thuận lợi để bảo hiểm tiếp tục phát triển thành một tập đoàn tài chính đa ngành
Năm 1999, trước triển vọng của sự hình thành thị trường vốn, thị trường chứng khoán tại Việt Nam, Bảo Việt đ bỏ vốn thành lập Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt (Công ty chứng khoán đầu tiên ở Việt Nam) với vốn điều lệ 43 tỷ
đồng, trong đó Bảo Việt góp 80%, 20% còn lại do các thể nhân là cán bộ công nhân viên của Bảo Việt đóng góp
Năm 2000, Bảo Việt thành lập Trung tâm đầu tư Bảo Việt nhằm nâng cao tính chuyên môn hoá, chuyên nghiệp hoá trong hoạt động đầu tư tài chính của Bảo Việt Doanh thu đầu tư tài chính của Bảo Việt năm 2004 đ đạt 460 tỷ đồng, tổng nguồn vốn đầu tư đ đạt 6.500 tỷ đồng Bảo Việt đ tham gia đầu tư vào 29 dự án
đầu tư trong nhiều lĩnh vực như ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ giải trí, khách sạn, sản xuất kinh doanh Việc Bảo Việt tham gia đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp này
đ thể hiện chủ trương phát triển đa dạng hoạt động kinh doanh gián tiếp thông qua các doanh nghiệp khác, qua đó, nâng cao vị thế của Bảo Việt đối với hoạt động của nền kinh tế quốc dân
Theo chiến lược của Chính phủ, Bảo Việt sẽ được xây dựng thành một Tập
đoàn tài chính đa ngành sau năm 2005 Để thực hiện chiến lược này, Bảo Việt đ thực hiện những thay đổi mang tính chất đột phá về cơ cấu tổ chức:
Ngày 1/1/2004, Bảo hiểm Nhân thọ Việt Nam (tên giao dịch là Bảo Việt Nhân thọ) được thành lập và chính thức đi vào hoạt động, là đơn vị hạch toán độc lập trực thuộc Bảo Việt Bảo Việt Nhân Thọ có hơn 60 công ty trực thuộc, chuyên kinh doanh dịch vụ bảo hiểm nhân thọ
Ngày 1/7/2004, Bảo Việt cũng đ tách hoạt động Bảo hiểm Phi Nhân thọ thành một đơn vị hạch toán độc lập với tên gọi là Bảo hiểm Việt Nam (tên giao dịch
Trang 30là Bảo Việt Việt Nam) Bảo Việt Việt Nam có 64 Công ty trực thuộc chuyên kinh doanh dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ
Năm 2005, Trung tâm đầu tư Bảo Việt được chuyển đổi thành Công ty Quản
lý Quỹ đầu tư Chứng khoán Bảo Việt hạch toán độc lập nhằm nâng quy mô và chuyên biệt hoá đầu tư
Ngày 28/11/2005, Thủ tướng Chính phủ đ ký Quyết định số 310/QĐ/2005/TTgCP thí điểm thành lập Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm Bảo Việt
và Bảo Việt đ chính thức trở thành Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm đầu tiên tại Việt Nam kinh doanh đa ngành, trong đó ngành nghề kinh doanh chủ yếu là kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, ngân hàng và đầu tư tài chính, có trình độ kinh doanh và sức cạnh tranh quốc tế
Ngày 31/5/2007, Bảo Việt thực hiện thành công IPO, chính thức phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng Vốn điều lệ của Tập đoàn Bảo Việt là 5.730 tỷ đồng, trong đó Bộ Tài chính nắm giữ 77,54% Bảo Việt có hai cổ đông chiến lược là Tập
đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) sở hữu 3,56% và Tập đoàn Bảo hiểm HSBC Châu á - Thái Bình Dương nắm giữ 10%
Ngày 11/12/2008 Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Bảo Việt được thành lập với vốn điều lệ 1.500 tỷ đồng, trong đó Tập đoàn Bảo Việt nắm giữ 52% Việc thành lập ngân hàng Bảo Việt góp phần hình thành thế chân kiềng vững chắc giữa bảo hiểm - ngân hàng - chứng khoán, tạo nên sức mạnh tổng hợp, đảm bảo cho sự phát triển bền vững, toàn diện cho toàn hệ thống của Tập đoàn Bảo Việt
16/6/2009 cổ phiếu của tập đoàn Bảo Việt chính thức được niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán Thành Phố Hồ Chí Minh với m BVH
Tháng 9/2009, số cổ phần của cổ đông Vinashin được chuyển giao cho Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC)
Tháng 1/2010 Bảo Việt hoàn tất việc phát hành riêng lẻ 53,7 triệu cổ phiếu cho cổ đông chiến lược Tập đoàn Bảo hiểm HSBC Châu á - Thái Bình Dương, nâng
Trang 31tỷ lệ nắm giữ cổ phần lên 18%, đồng thời vốn đều lệ của Bảo Việt cũng tăng lên thành 6.267 tỷ đồng
2.1.2 Vài nét về Tổng Công ty Bảo Hiểm Bảo Việt
Tiền thân của Tổng Công ty Bảo Hiểm Bảo Việt là Tổng Công ty Bảo Hiểm Việt Nam (tên giao dịch Bảo Việt Việt Nam) được tách ra thành một đơn vị hạch toán độc lập từ Bảo Việt vào ngày 1/7/2004 chuyên hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ, từng bước thực hiện lộ trình của Chính phủ nhằm xây dựng Bảo Việt thành một tập đoàn tài chính đa ngành Bảo Việt Việt Nam là công ty có tiềm lực tài chính mạnh nhất trong tất cả các công ty bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam với vốn điều
lệ 900 tỷ đồng, quỹ dự phòng nghiệp vụ tính đến 31/12/2006, và hệ thống 65 công
ty trực thuộc tại 64 tỉnh thành
Ngày 23/11/2007 Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam được thành lập lại và đổi tên thành Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt với vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng, bao gồm
66 công ty trực thuộc tại 64 tỉnh thành trên toàn quốc
Về cơ cấu tổ chức, Bảo hiểm Bảo Việt hiện có 01 Tổng Giám đốc và 03 Phó Tổng Giám đốc Trụ sở chính tại 35 Hai Bà Trưng, Hà Nội có 23 phòng chức năng, chia làm 4 khối là khối quản lý hoạt động, khối quản lý kênh phân phối, khối kinh doanh trực tiếp và khối quản lý nghiệp vụ Các phòng đều được cơ cấu theo hướng chức năng nhiệm vụ rõ ràng, trong đó các khối quản lý, kinh doanh được cấu trúc theo hướng chuyên môn hóa các loại hình nghiệp Bảo hểm Bảo Việt hiện có 66 công ty thành viên tại 64 tỉnh, thành phố trên toàn quốc, mỗi công ty thành viên đều
có Giám đốc và Phó giám đốc đảm nhiệm điều hành họat động của từng đơn vị
Trang 32Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức
Bộ máy điều hành doanh nghiệp của Bảo Việt gồm những lnh đạo giàu kinh nghiệm quản lý, điều hành, có trình độ cao về bảo hiểm và quản trị doanh nghiệp,
am hiểu thị trường trong và ngoài nước
Đội ngũ cán bộ của Bảo hiểm Bảo Việt luôn được đánh giá là đội ngũ có trình độ, giàu kinh nghiệm và được đào tạo cơ bản
2.2 Tình hình kinh doanh của Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt:
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra vào năm 2008 và ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng trong năm 2009 đ làm cho nền kinh tế x hội Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề Nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh phải phá sản hoặc hoạt động giảm sút, cầm chừng Không ít khách hàng truyền thống của DNBH không có tiền đóng phí bảo hiểm mặc dù nhu cầu bảo hiểm không hề giảm thậm chí tăng lên như ngành vận tải biển, vận tải hàng không, than khoáng sản Tuy nhiên, nhờ hàng loạt các giải pháp kích cầu của Chính phủ như cho vay hỗ trợ li xuất, đẩy mạnh đầu tư công, giảm thuế VAT, thuế trước bạ cho một số mặt hàng, giảm và gin thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn thuế thu nhập cá nhân 6 tháng đầu năm 2009 đ giúp cho ngành bảo hiểm có tốc độ tăngtrưởng rất ấn tượng: Năm 2007 tăng trưởng 31.01%,
Trang 33năm 2008 tăng trưởng 30.23% và 25.32% cho năm 2009 Tính đến năm 2009 doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường đ đạt 13,644 tỷ đồng
Bảng 2.1 Doanh thu phí bảo hiểm và thị phần
Doanh thu phớ bảo hiểm (triệu ủồng)
Thị phần (%)
Nguồn: Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam
Bảo Việt hiện vẫn là DNBH lớn nhất, có doanh thu phí bảo hiểm vượt trội hơn so với các DNBH khác Năm 2007 doanh thu phí bảo hiểm của Bảo Việt là
Trang 342,601 tỷ đồng, năm 2007 tăng lên 3,320 tỷ đồng và tăng thành 3,676 tỷ đồng trong năm 2009 Tốc độ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm bình quân hàng năm của Bảo Việt đạt 18% Về thị phần bảo hiểm, mặc dù thị phần bảo hiểm của Bảo Việt vẫn cao hơn hẳn so với các DNBH còn lại nhưng do mức độ cạnh tranh càng ngày càng gay gắt và số lượng các công ty bảo hiểm tăng lên nên thị phần của Bảo Việt có chiều hướng giảm Cụ thể, năm 2007 Bảo Việt chiếm 31.12% thị phần, tỷ lệ này giảm xuống còn 30.49% vào năm 2007 và giảm còn 26.95% trong năm 2009
THỊ PHẦN BẢO HIỂM NĂM 2009
Bảo Việt 26.95%
Bảo Minh 13.37%
PVI 20.30%
PJICO 9.51%
Cỏc DNBH cũn lại 29.87%
Về chi bồi thường, chi bồi thường của Bảo Việt trong năm 2007 là 1,303 tỷ
đồng, năm 2008 tăng lên 1,594 tỷ đồng và năm 2009 là 1,624 tỷ đồng Mặc dù tốc
độ chi bồi thường của Bảo Việt tăng khá cao (năm 2008 tăng 22.34%, năm 2009 tăng 19.02%) nhưng tỷ lệ bồi thường trên doanh thu lại giảm từ 50.09% (năm 2007) xuống còn 48.02% (năm 2008) và chỉ còn 44.19% cho năm 2009 Đây là tín hiệu tốt trong bối cảnh tỷ lệ chi bồi thường của toàn thị trường trong xu thế tăng Để đạt
được thành quả trên, Bảo Việt đ kiên quyết không nhận bảo hiểm cho những rủi ro xấu như ngành sản xuất gỗ, bảo hiểm thân tàu cho những tàu có tuổi thọ trên 25 tuổi; hạn chế và nhận bảo hiểm có sự lựa chọn cho những ngành có rủi ro cao như dệt may, giày da, sản xuất sơn, các khu nghỉ mát ven biển
Trang 35Bảng 2.2 Tỷ lệ bồi thường bảo hiểm
Chi bồi thường (triệu ủồng) Tỷ lệ bồi thường (%) STT Doanh
2007 li 49.8 tỷ đồng, năm 2008 li 78.7 tỷ đồng) Trong năm 2008 chỉ có 8 doanh nghiệp kinh doanh có li từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, hầu hết các doanh nghiệp đều bị lỗ và chỉ có li nhờ hoạt động đầu tư tài chính Nguyên nhân của sự
Trang 36trái ngược này là các DNBH muốn tăng thị phần bảo hiểm của mình lên nhanh đ giảm phí bảo hiểm dưới mức chuẩn, tăng chi phí hoạt động kinh doanh và bồi thường cho khách hàng khá dễ di nhằm thu hút khách hàng nên việc các DNBH bị
lỗ là điều khó tránh khỏi Nếu xét về tỷ xuất lợi nhuận trước thuế trên vốn chủ sở hữu thì Bảo Việt đạt 18% năm 2007 và 18.33% trong năm 2008
Trang 37Bảng 2.3 Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Đơn vị: Triệu đồng
Vốn chủ sở hữu Lợi nhuận Hoạt ủộng KDBH Lợi nhuận trước thuế Tỷ suất lợi nhuận/Vốn
chủ sở hữu STT Doanh
nghiệp
Năm thành lập
Trang 38Vốn chủ sở hữu Lợi nhuận Hoạt ñộng KDBH Lợi nhuận trước thuế Tỷ suất lợi nhuận/Vốn
chủ sở hữu STT Doanh
nghiệp
Năm thành lập
Trang 39Về cơ cấu sản phẩm của Bảo Việt, hai nghiệp vụ có tỷ trọng vượt trội là bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người và bảo hiểm xe cơ giới chiếm đến 57.63% (năm 2007), năm 2008 giảm còn 52.50% và tăng lên 55.73% trong năm 2009 Đây cũng
là hai nghiệp vụ có sự cạnh tranh gay gắt do tiềm năng lớn Chiếm tỷ trọng lớn tiếp theo là các nghiệp vụ bảo hiểm thân tàu và TNDS chủ tàu, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển, bảo hiểm cháy nổ và mọi rủi ro tài sản khác, bảo hiểm xây dựng lắp đặt
Bảng 2.4 phí bảo hiểm theo từng nghiệp vụ
Phớ bảo hiểm (triệu ủồng) Tỷ trọng (%) Nghiệp vụ
BH Chỏy nổ & MRR tài sản khỏc 176,474 277,090 134,018 6.78 8.35 3.65
BH Giỏn ủoạn kinh doanh 8,482 8,622 9,399 0.33 0.26 0.26
BH Thõn tàu và TNDS chủ tàu 251,049 403,854 458,612 9.65 12.16 12.47
Trang 40Bảng 2.5 bồi thường bảo hiểm theo từng nghiệp vụ
Bồi thường bảo hiểm (triệu ủồng) Tỷ lệ bồi thường (%) Nghiệp vụ
BH Chỏy nổ & MRR tài sản khỏc 171,164 68,264 88,193 96.99 24.64 65.81
BH Thõn tàu và TNDS chủ tàu 172,744 222,793 241,459 68.81 55.17 52.65
đạt 4,375 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 32.07% tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường Với ưu thế nhiều tiềm năng, ít phải đào tạo và đầu tư, dễ giành giật khách hàng, các DNBH muốn tăng thị phần bảo hiểm nhanh thường chọn nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới thông qua biện pháp hạ phí bảo hiểm so với đối thủ cạnh tranh để thu hút khách hàng đang tham gia bảo hiểm từ các DNBH khác Việc giảm phí quá thấp dẫn đến tỷ lệ bồi thường cao đến mức báo động: năm 2007 tỷ lệ chi bồi thường
là 48.15%, năm 2008 tăng lên thành 57.48% và giảm còn 47.71% vào năm 2009 Nguyên nhân của tỷ lệ chi bồi thường năm 2008 tăng đột biến là do tình trạng ngập úng tại Hà Nội vào cuối tháng 10 năm 2008 Trước tình hình đó, 16 thành viên của Hiệp Hội Bảo Hiểm đ ký thỏa thuận nâng mức phí bảo hiểm tiêu chuẩn nhằm đảm bảo hiệu quả kinh doanh Tuy nhiên, việc làm trên đ phải dừng lại do bị quy là vi phạm luật cạnh tranh