Từ ngày 01/01/2007, mô hình quản lý thuế theo chức năng được mở rộng triển khai đến 64 tỉnh, thành phố trong cả nước, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc chuyển đổi hoàn toàn, s
Trang 3ĐTNT: Đối tượng nộp thuế
FDI: Foreign Direct Investment
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
GTGT: Giá trị gia tăng
KK-KKT: Kê khai kế toán thuế
UBND: Uỷ ban nhân dân
VAT: Thuế giá trị gia tăng
Trang 5Bảng 3 Kết quả thực hiện công tác thanh tra của 4 phòng thanh tra Cục
Bảng 5 Kết quả kiểm tra hồ sơ thuế tại trụ sở NNT 37
Trang 6Mục tiêu nghiên cứu của luận văn Trang 1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ………Trang 2 Phương pháp nghiên cứu ……… Trang 2 Kết cấu của luận văn ……… Trang 2
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ VÀ KIỂM TRA – THANH TRA THUẾ …… Trang 3 1.1 Một số lý luận cơ bản về thuế……… Trang 3
1.2.1 Khái niệm……… Trang 3 1.2.2 Bản chất ……… Trang 4 1.2.3 Chức năng ……… Trang 10 1.2.4 Phân loại ……… Trang 14
1.2 Lý luận cơ bản về thanh tra kiểm tra thuế ……… Trang 19
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm ……… Trang 19 1.2.2 Các nội dung cơ bản ……….Trang 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, THANH TRA THUẾ TẠI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH …… Trang 23
2.1 Khái quát chung về tình hình kinh tế - xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh………….…… Trang 23
2.1.1 Về tình hình phát triển kinh tế……….……… ……… ………… Trang 23 2.1.2 Về tình hình xã hội …… ……… Trang 25
2.2 Tổ chức công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục thuế Tp.Hồ Chí Minh……… Trang 26
2.2.1 Chức năm nhiệm vụ phòng Kiểm tra thuế……… Trang 28 2.2.2 Chức năm nhiệm vụ phòng Thanh tra thuế……… Trang 30
Trang 72.3.3 Hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế của Cục thuế Tp.HCM……… Trang 34
2.4 Đánh giá thực trạng kiểm tra, thanh tra thuế và quản lý thuế tại Cục thuế Tp.HCM…… Trang 43
2.4.1 Ưu điểm ……… Trang 43 2.4.2 Hạn chế …… Trang 45
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM TRA, THANH TRA THUẾ TẠI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Trang 51
3.1 Định hướng công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục thuế Tp.Hồ Chí Minh trong
thời gian tới Trang 51 3.2 Một số gợi ý giải pháp ………… Trang 52
3.2.1 Nhóm giải pháp ở tầm vĩ mô ……… Trang 52 3.2.2 Nhóm giải pháp cụ thể từ phía Cục thuế Tp.HCM…… Trang 56
Trang 8Lý do chọn đề tài
Công tác quản lý thuế theo cơ chế tự khai tự nộp đã và đang được ngành thuế Việt Nam áp dụng, trong đó thanh tra kiểm tra thuế là quan trọng nhất Năm 2006 là năm đầu tiên Việt Nam thực hiện cải cách công tác thanh tra thuế trên cơ sở thu thập
và phân tích thông tin, lựa chọn các đơn vị có dấu hiệu gian lận thuế để tiến hành kiểm tra, vừa không gây phiền hà cho các doanh nghiệp không vi phạm, vừa tránh lãng phí nguồn lực của cơ quan thuế Từ ngày 01/01/2007, mô hình quản lý thuế theo chức năng được mở rộng triển khai đến 64 tỉnh, thành phố trong cả nước, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc chuyển đổi hoàn toàn, sâu rộng sang mô hình quản lý thuế theo chức năng của ngành thuế Việt nam Việc chuyển từ mô hình quản
lý theo đối tượng với mục tiêu “số thu ngân sách” làm thước đo, sang mô hình quản lý theo chức năng với mục tiêu “tuân thủ” làm thước đo Theo đó, hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế được xác định là một nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu trong chương trình cải cách và hiện đại hoá ngành thuế trong giai đoạn hiện nay
Thanh tra kiểm tra thuế trong thời gian qua không chỉ có những đóng góp đáng
kể vào chống thất thu thuế mà còn đảm bảo công bằng, động viên đối với các chủ thể kinh tế phát huy nguồn lực của mình đẩy mạnh sản xuất, nâng cao năng suất lao động Tuy nhiên, tại Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh, công tác thanh tra kiểm tra thuế vẫn còn có những hạn chế đòi hỏi phải được nghiên cứu nhằm cải tiến, đổi mới và hoàn thiện hơn nữa để đáp ứng yêu cầu thực tiễn đang đặt ra Với sự đòi hỏi cấp thiết đó, tôi chọn đề tài: “HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THANH TRA KIỂM TRA THUẾ TẠI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” làm luận văn thạc sỹ kinh tế
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích: Hệ thống hoá và làm rõ những vấn
đề chung về công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục thuế Tp.HCM trong lộ trình cải cách và hiện đại hoá ngành thuế Qua đó, rút ra những ưu, nhược điểm, những vấn đề
Trang 9còn tồn tại cần phải tiếp tục hoàn thiện Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm thanh tra, kiểm tra của một số nước trên thế giới, cùng với lộ trình thực hiện chương trình cải cách từ đó đề xuất những giải pháp để hoàn thiện hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế phù hợp với chương trình cải cách của ngành thuế và thực tiễn tại Cục thuế Tp.HCM
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý thuyết và thực tiễn của việc tổ chức, thực hiện công tác kiểm tra thuế, thanh tra thuế ở Cục thuế Tp.HCM hiện nay Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra kiểm tra thuế góp phần đảm bảo công bằng, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thực hiện nghiêm các luật thuế và chống thất thu ngân sách Nhà nước
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp định tính
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về thuế và công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Chương 2: Thực trạng công tác thanh tra kiểm tra thuế tại Cục thuế Tp.HCM Chương 3: Các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác thanh tra kiểm
tra thuế tại Cục thuế Tp.HCM
Trang 10CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ VÀ KIỂM TRA – THANH TRA THUẾ
1.1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ
1.1.1 Khái niệm
Thuế gắn liền với sự tồn tại, phát triển của nhà nước và là một công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình Tùy vào bản chất của nhà nước và cách thức nhà nước sử dụng mà các nhà kinh
tế có quan điểm khác nhau về thuế
Theo khái niệm được sử dụng phổ biến, thuế là một khoản thu bắt buộc, không bồi hoàn trực tiếp của nhà nước đối với các tổ chức và cá nhân nhằm trang trải mọi chi phí vì lợi ích chung
Thứ nhất, thuế là một khoản thu không bồi hoàn Nộp thuế cho nhà nước không có nghĩa là cho nhà nước mượn tiền hay gửi tiền vào quỹ ngân sách nhà nước hoặc là mua một dịch vụ công Nộp thuế là một nghĩa vụ cơ bản nhất của công dân
Có một câu hỏi khá quan trọng, đó là nhà nước thu thuế để làm gì Nếu mọi người nộp thuế đều đi tìm câu trả lời thì họ sẽ nhận thấy rằng thực chất nộp thuế chính là một hình thức chuyển chi tiêu cá nhân thành chi tiêu công- chi tiêu vì lợi ích chung của toàn xã hội
Thứ hai, thuế là một khoản thu mang tính bắt buộc Để bảo đảm tập trung thuế trên phạm vi toàn xã hội, chính phủ phải cậy nhờ vào hệ thống pháp luật nên thuế thường được quy định dưới dạng văn bản luật hay pháp lệnh Tất nhiên, trốn thuế hay gian lận thuế đều bị coi là những hành vi phạm pháp và phải chịu xử phạt về hành chính hoặc hình sự
Thuế xây dựng trên nền tảng giá trị thặng dư do nền kinh tế tạo ra, tức là thuế gắn chặt với kinh tế Do đó thuế đem lại số thu to lớn và bền vững gấp bội so với các khoản thu khác của nhà nước, song ý nghĩa quan trọng hàm chứa ở đây là, cách duy nhất làm cho thuế ngày càng nhiều và ổn định chính là phát triển kinh tế Như vậy,
Trang 11chăm lo cho sự hưng thịnh kinh tế cũng là chăm lo nguồn thu tương lai; và biện pháp giảm thuế để thúc đẩy sản xuất kinh doanh còn chứa đựng ý nghĩa đầu tư- đầu tư bằng thuế[6]
Hệ thống thuế gồm nhiều sắc thuế nhằm thực hiện nhiều mục tiêu Về kết cấu của một sắc thuế, tuy các loại thuế khác nhau, nhưng chúng đều có một kết cấu chung,
và thường được trình bày theo một trình tự thống nhất, gồm các yếu tố cấu thành chủ yếu như: Tên gọi, đối tượng nộp thuế (người nộp thuế), đối tượng tính thuế, thuế suất, chế độ giảm thuế và miễn thuế, tổ chức thực hiện (hành thu)
1.2.2 Bản chất:
Cho tới nay chưa xác định rõ vùng lãnh thổ nào trên trái đất khai sinh thuế, song một điều không thể phủ nhận là thuế gắn liền với sự tồn tại và phát triển của nhà nước Nói chính xác, thuế là một sản phẩm hay công cụ của nhà nước Khi một sắc thuế được ấn định, thu nhập được chuyển dịch từ dân chúng về phía chính phủ mà không có bất kỳ sự đối giá trực tiếp Đánh thuế là đặc quyền của nhà nước, đặc quyền này được quy định bằng luật pháp Nhưng không phải lúc nào quyền đánh thuế cũng được sử dụng theo mong muốn của dân chúng Do đó có thể xảy ra xung đột giữa chính phủ và những công dân của mình trong quá trình thu thuế[13]
Thuế luôn luôn gắn chặt với sự ra đời và phát triển của nhà nước Bản chất của Nhà nước quy định bản chất của thuế Về mặt lý luận, bản chất của nhà nước vốn mang tính giai cấp Không có một nhà nước phi giai cấp mà chỉ có nhà nước của giai cấp nào mà thôi Vì vậy, suy cho cùng bản chất thuế cũng mang tính giai cấp Có thể hiểu được điều này, thông qua nội dung cuộc nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đại biểu nhân dân địa phương tại Thanh Hoá, ngày 13-6-1957, như sau:
“…Trước kia phải nộp thuế, nay dân chủ cũng phải nộp thuế Trước ta nộp thuế là nộp cho Tây, chúng lấy mồ hôi nước mắt của nhân dân ta mà làm giàu cho
Trang 12chúng nó, để xây dựng bộ máy áp bức bóc lột đồng bào ta Nhưng nay ta đóng thuế là
để làm lợi cho ta
…
Tóm lại, muốn xây dựng nước nhà, Chính phủ phải có tiền, tiền đó do đồng bào góp lại Trước hết là đồng bào nông dân đông nhất, rồi đến công thương Nếu không có tiền thì Chính phủ không xây dựng được Vì vậy, đồng bào phải giúp Chính phủ, nghĩa là đồng bào phải nộp thuế”
- Hệ số huy động thuế và khả năng thụ thuế
Mặc dù, thuế được coi là công cụ chủ yếu để huy động tập trung nguồn lực tài chính cho nhà nước, nhưng không có nghĩa là nhà nước có thể quy định mức động viên thuế cao để tăng thu thuế bằng mọi giá, mà mức độ động viên thuế chỉ có một giới hạn nhất định Nếu nhà nước dùng quyền lực để tập trung quá mức phần thu nhập từ tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào cho ngân sách nhà nước, thì phần GDP còn lại dành cho các doanh nghiệp và cá nhân sẽ giảm xuống Đến một lúc nào đó, nếu họ nhận thấy rằng công sức bỏ vào kinh doanh, vào làm việc được bù đắp không thoả đáng thì họ sẽ nghỉ không kinh doanh hoặc chuyển sang kinh doanh ngầm và tìm mọi cách để trốn thuế Như vậy, có thể thấy rằng, khả năng thu thuế tối đa cho ngân sách nhà nước là khoản thu nhập mà các doanh nghiệp và người dân sẵn sàng giành ra để trả thuế mà không làm thay đổi mọi hoạt động vốn có của họ Đứng trên giác độ nền kinh
tế quốc dân, khả năng thu thuế của một quốc gia được phản ánh thông qua tỷ lệ phần trăm của GDP được động viên vào ngân sách nhà nước được gọi là hệ số huy động thuế
Hệ số huy động thuế không chỉ là cơ sở chính để tham khảo việc các quốc gia xây dựng chính sách thuế của họ mà còn là một dấu hiệu để so sánh mức độ huy động thuế giữa các quốc gia khác nhau Hệ số huy động thuế này bao nhiêu thì ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập sau thuế và gián tiếp đến mức tiêu dùng và mức sống
Trang 13của nhân dân Đó là điều mà các quốc gia cần cân nhắc Trong giai đoạn hội nhập quốc tế, hệ số huy động thuế có thể phản ảnh xu thế dịch chuyển dòng vốn, lao động giữa các quốc gia trên thế giới Vì vậy, để gia tăng sự phồn vinh trong cộng đồng dân
cư, tất cả các quốc gia xem thuế là nguồn thu chính, phải đưa ra một mức thuế hợp lý trong chính sách thuế của mình Độ lớn của hệ số huy động thuế vì thế trở thành một trong những dấu hiệu quan trọng để đánh giá việc hoàn thiện hơn của một nền kinh tế
Nếu gọi T là tổng số thuế có thể thu được vào Ngân sách Nhà nước thì hệ số
huy động thuế là: T/GDP
Khả năng thụ thuế là tỷ lệ tối đa từ thu nhập mà các doanh nghiệp và người dân sẵn sàng trích ra để trả thuế mà không làm thay đổi hoạt động vốn có của họ Đứng trên góc độ nền kinh tế quốc dân, khả năng thụ thuế của một đất nước cho thấy tỷ phần bình quân của thu nhập được thu dưới dạng thuế trong một quốc gia
Khả năng thụ thuế tuỳ thuộc vào bản chất và trạng thái kinh tế, truyền thống của mỗi quốc gia, sự hiểu biết và thái độ của dân chúng đối với các chương trình hành động của chính phủ và sức mạnh quyền lực của chính phủ Khả năng thụ thuế là một khái niệm lý thuyết Nó cho chúng ta thấy ranh giới phân chia hợp lý thu nhập xã hội giữa các chủ thể của nền kinh tế Nói chung, nó nhạy cảm như chính thuế vậy Nếu nhà nước động viên thuế chưa đạt giới hạn khả năng thụ thuế thì sự tập trung nguồn lực xã hội vào tay nhà nước chưa thật đầy đủ Nếu động viên vượt giới hạn thuế thì số thu cũng giảm sút, đấy là hình thức thất thu thuế[11]
- Chuyển thuế (tax shift) [11]
Khi một sắc thuế được áp dụng thì đối tượng chịu tác động đầu tiên là
người nộp thuế Người này có thể là các doanh nghiệp, người làm công ăn lương, Người này có thể chính mình gánh chịu sắc thuế, hoặc có thể chuyển gánh nặng thuế cho người khác Trong cả hai trường hợp có một loạt những hậu quả phụ thuộc chứa đựng ít nhiều ý nghĩa kinh tế Khi người trả thuế thứ nhất chịu gánh nặng thuế thì sự
Trang 14kiện này gây ảnh hưởng đến thu nhập sau thuế, và qua đó ảnh hưởng đến mức cầu về yếu tố sản xuất Nếu thuế được di chuyển sang người thứ hai, giá cả hàng hóa lên cao
và kéo theo sự sụt giảm tương ứng trong thu nhập khả dụng của họ Người thứ nhất có thể chuyển 100% gánh nặng thuế, chuyển một phần gánh nặng thuế hoặc không chuyển được thuế
Chuyển thuế chỉ được thực hiện khi có sự tiêu dùng xã hội về một sản phẩm nào đó Lúc này, người ta sẽ tìm mua sản phẩm dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của mình Tận dụng cơ hội đó, người sản xuất tính thuế thêm vào giá bán rồi bán sang người mua, thuế đã được chuyển đi
Giả sử có một loại hàng hóa đang được bán với giá 40.000 đồng khi nhà nước không đánh thuế Nay chính phủ ấn định thuế suất 4.000 đồng trên một sản phẩm, người có nghĩa vụ nộp thuế là người bán
Để có được doanh thu thuần vẫn là 40.000 đồng, người sản xuất giờ đây phải bán với giá 44.000 đồng, điều này làm đường cung dịch lên đúng bằng khoản
Đường cung sau khi đánh thuế
Giá do người tiêu
dùng trả sau khi
đánh thuế
Giá ban đầu
Giá doanh nghiệp
nhận sau khi nộp
thuế
O
Trang 15thuế Giá cân bằng mới tăng lên, nhưng không phải 4.000 đồng mà chỉ 1.600 đồng Như vậy, mặc dù các nhà lập pháp xác định doanh nghiệp là người trả thuế, song họ
đã chuyển vào người tiêu dùng được 1.600 đồng, còn họ chỉ phải chịu 2.400 đồng
Doanh thu thuần trước khi đánh thuế: Diện tích OBEoQo Doanh thu thuần sau khi đánh thuế: Diện tích OCHQ1 Tổng thuế của nhà nước: Diện tích CAE1H
Mất mát trong thặng dư tiêu dùng: Diện tích GE1Eo Mất mát trong thặng dư của nhà sản xuất: Diện tích HGEo Tổng mất mát xã hội: Diện tích HE1Eo
Chuyển thuế thuận là loại chuyển thuế làm cho giá cả của một vật biến chuyển khỏi mức trước khi có thuế, theo chiều hướng tăng lên Nói cách khác, chuyển thuế thuận là loại thuế được chuyển từ người bán sang người mua
Chuyển thuế nghịch là loại chuyển thuế làm cho giá cả một vật biến chuyển xuống dưới mức trước khi có thuế, tức là người bán chịu thuế thay cho người mua
Chuyển thuế thuận phổ biến và hợp lý hơn Muốn biết thuế đã được chuyển thuận hay chuyển nghịch, chúng ta phải xác định được lúc đầu ai là người mà chính phủ đánh thuế Nếu khởi đầu, đánh thuế vào người bán, ta kết luận thuế đã thuận chuyển được một phần Nếu khởi đầu thuế đánh vào người mua chứ không phải người bán, ta nói thuế đã nghịch chuyển một lần
- Sơ lược về quá trình phát triển của thuế [2]
Trong khoảng thời gian dài của lịch sử từ đầu chế độ nô lệ đến đầu chế độ
tư bản, nhà nước sử dụng thuế thu được phục vụ chủ yếu cho mục đích phi kinh tế như xây thành lũy, đắp các tuyến phòng thủ, đúc vũ khí, nuôi binh lính, trả lương cho quan lại Có thể nói, nhà nước thời kỳ ấy không chi một khoản nào cho mục đích kinh tế Tác dụng duy nhất của thuế lúc này là công cụ tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước
để nuôi bộ máy của mình
Trang 16Khi xã hội loài người chuyển sang hình thái tư bản chủ nghĩa, kéo theo nó
là những biến đổi sâu sắc về kinh tế- xã hội, nhà nước nhận thức được vai trò quan trọng của mình trong việc điều hành nền kinh tế, từ đó ngày càng can thiệp nhiều hơn, mạnh mẽ hơn vào tiến trình kinh tế- xã hội của đất nước
Tất cả các hoạt động của nhà nước thời kỳ tư bản chủ nghĩa đòi hỏi một nguồn vật chất lớn hơn hẳn thời kỳ trước đây Nếu chỉ dựa vào các sắc thuế vốn có (thuế đánh vào ruộng đất, thuế đánh vào nhân thân, ) thì không đủ và kém công bằng, nên nhà nước mở rộng nguồn thu bằng cách đặt thêm nhiều sắc thuế nhằm vào nhiều đối tượng khác nhau Một hệ thống thuế với thuế suất đa dạng, linh hoạt hình thành Thuế trở nên tinh xảo, vừa mang lại một năng suất thu dồi dào, vừa thực hiện được mục tiêu kích thích tăng trưởng kinh tế
Khi quyền lực tối cao trong xã hội ngày càng được chuyển sang tay dân chúng (chế độ dân chủ) thì người đại diện của nhân dân là nhà nước càng phải quan tâm đến sự phát triển toàn diện của xã hội, đến khía cạnh công bằng xã hội, đến thất nghiệp, người già, trẻ em không nơi nương tựa, người mất khả năng tạo thu nhập
Để làm và cần thiết phải làm được việc ấy, nhà nước phải tìm cách trích bớt một phần thu nhập của những người giàu có hay của các công ty thông qua thuế TNCN và thuế thu nhập công ty, chuyển chúng vào ngân sách nhà nước để chi dùng cho các mục tiêu xã hội Ở đây thuế lại được xử lý một cách khôn khéo hơn Một mặt, thuế không hạn chế ý chí làm giàu của cá nhân- một động lực thúc đẩy xã hội phát triển; mặt khác, gia tăng lượng thu nhập quốc dân vào tay nhà nước; và cuối cùng vẫn giữ được tính nhân đạo và công bằng
Sự phát triển của thuế gắn liền với sự phát triển của xã hội Xã hội càng phát triển, thuế càng đa dạng, ý niệm về thuế ngày càng trở nên hết sức tự nhiên
Có thể nói bản chất của một nhà nước không thể hiện ra trong các tôn chỉ nhà nước đó đưa ra, mà nó thể hiện rất cụ thể qua việc sử dụng tiền thuế của nhà nước đó
Trang 17trong việc điều hành đất nước Việc đánh giá một nhà nước có thật sự do dân, vì dân hay không, chỉ có thể đoán chắc trong việc nhận định và đánh giá mục đích và hiệu quả của việc sử dụng tiền thuế mà người dân đóng góp
1.1.3 Chức năng[5]
Trong thế kỷ XX thì ý kiến phổ biến là thuế nên chủ yếu giữ vai trò tài trợ cho chính phủ nhưng cho đến nay thì thuế còn được sử dụng để đạt đến nhiều mục tiêu khác nhau Thông thường nhiều tác giả cho rằng thuế có hai chức năng chủ yếu đó là chức năng phân phối và phân phối lại và chức năng điều tiết kinh tế Một cách nhìn hơi khác- cũng tương đối hữu ích của một chuyên giả nổi tiếng về thuế của Mỹ là Richard A Musgrave cho rằng thuế có ba mục tiêu chính là phân phối các nguồn lực, tái phân phối thu nhập và ổn định nền kinh tế
Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là loại chức năng cơ bản, đặc
thù nhất mà tất cả các nước đều phải dựa vào đó Thông qua chức năng này các quỹ bằng tiền của Nhà nước được hình thành Đây chính là sức mạnh cơ sở vật chất bảo đảm cho sự hoạt động của và tồn tại của Nhà nước Khi bàn đến chức năng tài chính của Thuế, một số người thường đơn giản cho rằng: Thuế là phương tiện tạo nguồn thu nhập - theo nghĩa thông thường trưng thu tiền - đối với Nhà nước Điều đó không hoàn toàn chính xác, bởi vì Nhà nước có thể có tiền bằng nhiều cách khác nhau như: Yêu cầu ngân hàng trung ương mở rộng tín dụng, phát hành thêm tiền Nhưng việc
sử dụng những phương cách này đương nhiên phải được Nhà nước cân nhắc vì chúng chứa đựng những mầm mống của nguy cơ lạm phát Bởi vậy, ngoài việc phát hành tín dụng để đảm bảo nhu cầu chi tiêu, nhà nước có thể sử dụng Thuế một cách thường xuyên và lâu dài Mục tiêu thực sự của chính sách thuế, theo nhiều nhà kinh tế là “rút bớt sức mua khỏi những người đóng thuế, để những người đóng thuế từ bỏ sự kiểm soát đối với tài nguyên kinh tế và làm cho tài nguyên này thành khả dụng đối với Nhà nước”, theo giáo sư John Mikesell, sự chuyển dịch tài nguyên đó bao gồm sự chuyển dịch khả năng mua hàng giữa các nhóm người trong khu vực các doanh nghiệp và sự
Trang 18dịch chuyển quyền kiểm soát đối với khả năng mua hàng từ khu vực các doanh nghiệp sang tay nhà nước
Lịch sử đã cho thấy chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập có vị trí ngày càng tăng, nhất là vào thế kỷ XX, là thế kỷ được đặc trưng bởi sự tăng lên chưa từng có của thu nhập của nhà nước có nguồn gốc từ thuế Điều này được giải thích bởi
sự mở rộng các chức năng của nhà nước và việc thực hiện nhiều chính sách khác nhau, trong đó có việc can thiệp của nhà nước vào các quá trình kinh tế
Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế được nhà nước vận dụng dẫn đến kết quả là diễn ra quá trình “nhà nước hoá” một bộ phận GDP dưới hình thức tiền tệ; tạo điều kiện khách quan vô cùng cần thiết cho sự can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế Do đó, chính chức năng phân phối và phân phối lại, trong một chừng mực rất đáng kể, đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát huy tác dụng chức năng điều tiết kinh tế của Thuế
Chức năng điều tiết kinh tế của thuế Theo chức năng này, phải xem Thuế như
một tác nhân tích cực của quá trình tái phân phối và thông qua đó tác động đến quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp Chức năng này không tách rời khỏi chức năng phân phối và phân phối lại của thuế, mà hai chức năng đều có quan hệ tác động hỗ tư-ơng rất chặt chẽ Khi sử dụng thuế với mục đích huy động một bộ phận tổng sản phẩm trong nước (GDP) vào tay mình thì nhà nước đã đặt thuế vào thế tiếp cận với các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất
Nếu các nhà nước ở Liên xô và Đông Âu trước đây hầu như thụ động trong việc vận dụng chức năng điều tiết kinh tế của thuế, thì tại các nước tư bản công nghiệp phát triển và ngày nay kể cã tại các nước đang phát triển, chức năng điều tiết kinh tế ngày càng được chú ý và càng được tăng cường đáng kể
Tại các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển có hệ thống thuế ổn định, thuế tác động vào quá trình sản xuất các doanh nghiệp trên cả 3 yếu tố
mà chúng sử dụng: Sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Công nhân
Trang 19và người làm thuê, sau khi nhận được tiền lương sẽ chỉ dùng số tiền này cho việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ và nộp thuế Vào lúc này, thuế sẽ tác động đến quá trình sản xuất theo 3 hướng:
+ Thứ nhất, thuế sẽ ảnh hưởng đến mức độ và cơ cấu của tổng cầu, đồng thời thông qua cơ chế của mức cầu thị trường có thể thúc đẩy hoặc kiềm hãm sản xuất Điều này phụ thuộc rất lớn vào thu nhập mà người dân sử dụng- thông thường là dành toàn bộ cho tiêu dùng- và vì thế sự thay đổi mức đánh thuế vào tiêu dùng ngay lập tức tác động vào mức cầu và nói chung, ảnh hưởng đến tổng mức cầu có khả năng thanh toán được của nền kinh tế Nói một cách cụ thể hơn, ở đây thuế có hai tác dụng (Samuelson và Nordhaus, 1995):
* Đầu tiên, thuế làm giảm thu nhập của nhân dân Với việc làm nhỏ đi phần thu nhập có thể chi tiêu cho các hộ gia đình, thuế cao hơn có xu hướng làm cho các hộ gia đình giảm mức chi cho tiêu dùng của họ, do đó làm giảm mức cầu và GNP thực tế
* Ngoài ra, thuế còn có thể tác động đến mức cung sản phẩm Ví dụ: Vào năm 1981 do chính quyền Reagan đưa ra một số ưu đãi về thuế đánh vào thu nhập từ đầu tư kinh doanh mới nên các khoản đầu tư vào các ngành kinh doanh máy móc, nhà máy đã gia tăng
+ Thứ hai, mức độ đánh thuế trên thu nhập cũng ảnh hưởng đến việc xác định tiền lương, bởi vì khi tính toán tiền lương, giới chủ nhân và người làm thuê bao giờ cũng chú ý đến tiền thuế như là một yếu tố của tiền lương phải được xem xét tới
+ Thứ ba, thuế còn tác động đến việc mua sắm, sử dụng và phục hồi TSCĐ trong doanh nghiệp, thông qua các quy định của nhà nước về hình thành, sử dụng qũy khấu hao Như mọi người đều biết, TSCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, thường xuyên bị hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình cho đến khi không còn tác dụng nữa Sau đời phục vụ của mình, TSCĐ cần được phục hồi Việc phục hồi này được tiến
Trang 20hành bằng cách lập quỹ khấu hao, là một loại quỹ, được hình thành từ một bộ phận lợi tức không phải chịu thuế
Giữa hai chức năng phân phối và phân phối lại và chức năng điều tiết kinh tế của thuế tồn tại mối quan hệ chặt chẽ Mối quan hệ này- xét về bản chất- phản ánh sự thống nhất của hai mặt đối lập Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của chức năng điều tiết kinh tế Một khi các nguồn tài chính nhà nước tập trung được dưới dạng thuế gia tăng đáng kể thì lúc đó việc này lại tạo điều kiện khách quan để nhà nước tác động trên diện tích rộng và cả theo chiều sâu tới quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Ngược lại, việc điều tiết, sắp xếp sản xuất của nhà nước nhằm vào việc thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh kế lại tạo điều kiện để tăng thu nhập của các tầng lớp nhân dân và đây chính là cơ sở quan trọng để mở rộng phạm vi tác động của chức năng phân phối và phân phối lại Do đó, các chức năng của thuế, trước có quan hệ hỗ tương và tác động lẫn nhau
Sự thống nhất nội tại của các chức năng hoàn toàn không loại trừ các mâu thuẫn tồn tại giữa chúng, bởi lẽ mỗi chức năng phản ánh từng mặt nhất định của các quan hệ có tính chất thuế vẫn luôn luôn mâu thuẫn với nhau Chức năng phân phối và phân phối lại phản ánh các mối quan hệ giữa người nộp thuế và nhà nước, còn chức năng kinh tế lại phản ánh mối quan hệ giữa nhà nước hướng tới người nộp thuế Ngay trong chức năng phân phối và phân phối lại đã chứa đựng những mầm mống của sự phát triển mâu thuẫn giữa một bên là sự cần thiết mở rộng nguồn thu về thuế của nhà nước với một bên là sự phản kháng hoặc sự không hài lòng của các thành viên trong
xã hội khi nộp thuế
Mâu thuẫn của chức năng điều tiết kinh tế thể hiện ở chỗ: Nhu cầu thực tế của
sự can thiệp của nhà nước đối với quá trình sản xuất kinh doanh đụng chạm phải lợi ích kinh tế của từng nhà doanh nghiệp Trong khi hình thành và vận dụng một chính sách thuế, nhiều chính phủ thường hay mắc sai lầm: Không tôn trọng đầy đủ cả hai
Trang 21chức năng, thường xem trọng chức năng này hơn chức năng kia; điều này rõ ràng làm tổn hại đến chức năng còn lại và là nguyên nhân dẫn đến chính sách thuế thoát ly cơ
sở hiện thực về kinh tế- xã hội của đất nước Trên thực tế, lỗi lầm phổ biến nhất của các chính phủ là do cần phải bù đắp những thiếu hụt của ngân sách nên thường chú trọng tới chức năng phân phối và phân phối lại hơn là chức năng điều tiết kinh tế của thuế, điều này dẫn tới giảm nhẹ vai trò của thuế đối với hoạt động của doanh nghiệp,
từ đó ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống
1.1.4 Phân loại[2]
Để phục vụ cho việc xây dựng chính sách pháp luật thuế, phục vụ cho các mục tiêu quản lý hay nghiên cứu khác nhau cũng như quản lý các loại thuế được áp dụng cho từng đối tượng khác nhau để vừa phát huy tác dụng riêng của từng loại thuế, vừa
hổ trợ, bổ sung cho nhau nhằm thực hiện một cách tổng hợp các mục tiêu và vai trò của hệ thống pháp luật thuế và sử dụng hiệu quả công cụ thuế
Việc phân loại các loại thuế là cần thiết làm rõ thêm bản chất của từng loại thuế: Thu vào ai, thu bao nhiêu và thu như thế nào cho thích hợp Hiện nay, việc phân loại hình thức của thuế thường được chia ra như sau:
1.1.4.1 Phân loại theo tính chất có thể chuyển dịch về thuế giữa người nộp
thuế và người chịu thuế, phân thuế ra làm hai loại: Thuế trực thu và thuế gián thu
- Thuế gián thu:
+ Thuế gián thu là loại thuế được cộng vào giá, là một bộ phận cấu thành của giá cả hàng hóa như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế GTGT, thuế xuất nhập khẩu,
+ Bản chất kinh tế của thuế gián thu là người nộp thuế (tức là người bán hàng hóa và dịch vụ) có thể chuyển dịch số thuế phải nộp sang cho người mua hàng hóa, dịch vụ bằng cách cộng số thuế đó vào giá bán hàng hóa, dịch vụ Do đó, người nộp thuế không phải là người chịu thuế, mà người chịu thuế chính là người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ Thuế gián thu bảo đảm được sự tự lựa chọn của người chịu thuế
Trang 22đối với các loại hàng hóa, dịch vụ mà họ quyết định mua, bảo đảm được tính tự nguyện chịu thuế Người bán hàng sẽ thu thuế gián thu (thu hộ nhà nước) cùng với giá bán hàng hóa, sau đó nộp khoản thuế này vào ngân sách nhà nước (nộp thay cho người tiêu dùng)
+ Thuế gián thu tránh được quan hệ giữa người chịu thuế (người tiêu dùng) với cơ quan thuế nên dễ thu hơn thuế trực thu Thuế gián thu dễ điều chỉnh tăng hơn thuế trực thu và những người chịu thuế thường không cảm nhận được đầy đủ gánh nặng của loại thuế này Hiện nay trên thế giới có xu hướng coi trọng thuế gián thu hơn thuế trực thu vì nó có phạm vi thu rất rộng, đem lại số thu lớn cho ngân sách,
dễ thu, dễ quản lý, đồng thời chi phí phải bỏ ra để thu cũng thấp
+ Nhược điểm của thuế gián thu là tính lũy thoái của nó Vì thuế gián thu đánh như nhau trên cùng một loại hàng hóa, dịch vụ nên người giàu và người nghèo nếu tiêu dùng cùng một loại hàng hóa, dịch vụ và số lượng như nhau thì chịu thuế như nhau, nhưng thực chất tỷ lệ động viên thuế gián thu so với thu nhập thì người giàu chịu thuế thấp hơn người nghèo, người có thu nhập càng cao thì tỷ lệ nộp thuế gián thu càng cấp
- Thuế trực thu:
+ Thuế trực thu là loại thuế trực tiếp đánh vào thu nhập của các tổ chức và
cá nhân như thuế TNDN, thuế TNCN, thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, thuế đánh vào tài sản, thuế thu vào quà tặng, quà biếu, Bản chất của thuế trực thu là người nộp thuế đồng thời cũng là người chịu thuế Ưu điểm của thuế trực thu là động viên trực tiếp thu nhập của từng tổ chức và cá nhân có thu nhập, cho nên đảm bảo được tính công bằng xã hội hơn thuế gián thu, vì phần đóng góp về thuế thường phù hợp với khả năng của từng đối tượng, thu nhập cao thì nộp thuế nhiều, thu nhập thấp thì nộp thuế ít Thuế trực thu còn cho phép tính đến những yếu tố có tính độc lập với thu nhập của người nộp thuế như hoàn cảnh bản thân, tình trạng hôn nhân, hoàn cảnh gia đình, số người phải nuôi dưỡng, Nhưng thuế trực thu cũng có nhược điểm, đó là
Trang 23phần nào có hạn chế cố gắng tăng thu nhập của các đối tượng vì thu nhập càng cao thì phải nộp càng nhiều Thuế trực thu do người có thu nhập chịu thuế phải trả trực tiếp cho nhà nước nên họ cảm thấy được gánh nặng của thuế và có thể dẫn đến những phản ứng từ chối hoặc trốn lậu thuế Việc quản lý thuế trực thu cũng phức tạp và chi phí quản lý thường cao hơn thuế gián thu
1.1.4.2 Phân loại theo đối tượng đánh thuế: Theo cách phân loại này có:
- Thuế đánh vào hàng hóa như: Thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu, thuế TTĐB
- Thuế thu nhập như: Thuế TNDN, thuế TNCN
- Thuế tài sản như thuế nhà đất Ở Việt Nam hiện nay, Thuế Chuyển quyền
sử dụng đất đã được thay thế bằng thuế TNCN
1.1.5 Các nguyên tắc xây dựng hệ thống thuế[6]
Hệ thống thuế một quốc gia bao gồm nhiều sắc thuế và được xây dựng theo các nguyên tắc cơ bản sau đây:
1.1.5.1 Nguyên tắc minh bạch
- Về mặt xã hội, nguyên tắc minh bạch đòi hỏi các quy định về thuế phải rõ ràng và mang tính đại chúng nhằm ngăn ngừa hiện tượng lạm thu đối với người nộp thuế, ngăn ngừa hiện tượng tham ô biển thủ thuế của nhân viên thuế, đồng thời cho thấy thái độ tôn trọng người nộp thuế của Chính phủ Trong kinh doanh, thuế là một khoản chi phí (nghĩa vụ) nhưng đồng thời cũng có thể là một khoản ưu đãi (quyền lợi)
do đó, sự rõ ràng của Thuế giúp các chủ thể kinh doanh hoạch định chính xác mọi chi phí về thuế và đánh giá đầy đủ ưu đãi thuế Từ đó, họ yên tâm sản xuất kinh doanh và mạnh dạn bỏ vốn đầu tư lâu dài
- Nguyên tắc minh bạch thể hiện cụ thể qua các điểm sau:
+ Thuế phải được xây dựng theo một trình tự pháp lý nghiêm ngặt
Trang 24+ Nhà nước và các cơ quan hành thu phải tạo điều kiện để doanh nghiệp
và dân chúng thực hiện quyền được biết một cách minh bạch số tiền thuế phải nộp, thủ tục thu nộp thuế, ưu đãi về thuế,
+ Những quy định về thuế phải phổ thông và nhất quán; tính toán thuế phải đơn giản, dễ thực hiện và dễ kiểm tra
+ Thuế thu phải thuận tiện cho người nộp theo thời gian và không gian
1.1.5.2 Nguyên tắc hiệu quả
- Nguyên tắc này đòi hỏi việc xây dựng mỗi sắc thuế và hệ thống thuế phải
chú trọng đến hiệu quả kinh tế xã hội
- Một hệ thống thuế gọi là hiệu quả khi được phát huy tối đa mọi tác dụng Thuế là công cụ thuộc chính sách tài chính vĩ mô chứa đựng nhiều mục tiêu như tạo
số thu cho NSNN; tăng cường quản lý hoạt động kinh tế xã hội, điều chỉnh các hoạt động kinh tế vĩ mô theo hướng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn diện; tạo hành lang cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp; khuyến khích đầu tư và tiết kiệm bên trong nền kinh tế; điều tiết hợp lý thu nhập của doanh nghiệp và mọi tầng lớp dân cư Tính đa mục tiêu của hệ thống thuế không đòi hỏi mỗi sắc thuế phải được xây dựng theo hướng đa mục tiêu bởi như thế sẽ cồng kềnh và kém hiệu quả, mà cần phải chuyên biệt hoá mục tiêu cho từng sắc thuế
Hiệu quả của hệ thống thuế còn thể hiện thông qua chi phí hành thu thấp Chi phí này khác nhau ở mỗi sắc thuế Tiết kiệm chi phí hành thu thuế liên quan đến nhiều phương pháp hành thu Phương pháp tương đối tiết kiệm chi phí là để người nộp thuế
tự kê khai, tự tính và tự nộp thuế
Trên phương diện toàn bộ nền kinh tế, phải tính vào chi phí thu thuế những chi phí mà xã hội mất đi cho một đồng thuế thu vào NSNN Đó là chi phí về thời gian và công sức mà đối tượng nộp thuế phải bỏ ra để nghiên cứu thực thi thuế, là chi phí sắp xếp quá trình kinh doanh phù hợp với những quy định thuế mới Nguyên tắc hiệu quả
Trang 25yêu cầu đối xử thuế như một công cụ kinh tế nhằm tăng cường vai trò của thuế đối với các hoạt động kinh tế - xã hội
1.1.5.3 Nguyên tắc linh hoạt:
Một hệ thống thuế đòi hỏi thuế suất và số thu ngân sách từ thuế phải có thể điều chỉnh được ở từng thời kỳ nhằm thay đổi thu nhập khả dụng và tổng mức cầu[5]
Nguyên tắc linh hoạt đòi hỏi thuế gắn chặt hoạt động kinh tế, phản ánh thực
sự những thăng trầm kinh tế và những biến động chính trị, xã hội Tính linh hoạt thể hiện qua độ nổi và độ co giãn của thuế
Ngoài độ nổi và độ co giãn[11], nguyên tắc linh hoạt còn đòi hỏi khi đưa ra các quy định, pháp luật thuế phải tiên liệu mọi phát sinh hay thay đổi căn bản thuế, khi đó thuế sẽ đạt một độ ổn định trong một khoảng thời gian nhất định Như vậy chính sự linh hoạt của thuế làm cho những quy định về thuế ổn định Điều này không chỉ giúp nhà nước tiết kiệm chi phí hành thu mà còn giúp các doanh nghiệp tiết kiệm đáng kể thời gian và công sức cho việc thực thi thuế, giúp xây dựng kế hoạch kinh
doanh lâu dài
1.1.5.4 Nguyên tắc công bằng
Xuất phát từ quan điểm tái phân phối một cách hợp lý thu nhập xã hội, tức
là sự phân chia gánh nặng thuế ra phạm vi toàn xã hội theo khả năng tài chính của mỗi người nộp thuế Không phải thu thuế sao cho số tiền thuế nộp ở mỗi người là bằng nhau mà là thu thuế sao cho tổng số thuế phải nộp trên tổng thu nhập chịu thuế ở mỗi người là như nhau[11]
Trên phương diện kinh tế, nguyên tắc công bằng đòi hỏi thuế tái phân phối thu nhập xã hội theo khả năng tài chính của người chịu thuế Về mặt xã hội, đòi hỏi Thuế không được phân biệt đối xử đối tượng nộp thuế, thuế phải góp phần tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các DN Nguyên tắc thuế công bằng có liên quan đến nguyên tắc thuế trung lập Nguyên tắc trung lập đòi hỏi nhà nước không được nhân cơ hội đánh thuế để làm thay đổi tương quan thu nhập giữa các DN hoặc tình
Trang 26trạng kinh tế của mỗi công dân Thuế chỉ nên làm số thu nhập thường xuyên của tư nhân giảm xuống, rồi đến khi chi tiêu, nhà nước hoàn trả lại cho cá nhân bằng lợi ích của các dịch vụ do chính phủ cung cấp
Không chỉ hành thu thuế sao cho công bằng, mà ngay cả động viên bao nhiêu phần trăm GDP qua thuế cũng là một vấn đề thuộc lĩnh vực công bằng Nếu nhà nước thu thuế vượt quá khả năng thu thuế của doanh nghiệp và dân cư (là tỷ lệ tối đa
từ thu nhập doanh nghiệp và người dân sẵn sàng trích ra để trả thuế mà không làm thay đổi hoạt động vốn có của họ) thì không những chi phí để thu một đồng thuế sẽ vượt quá lợi ích do một đồng thuế mang lại mà còn gây căng thẳng trong phân chia thu nhập giữa khu vực tư và khu vực công
1.2 Lý luận cơ bản về thanh tra, kiểm tra thuế
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm:
1.2.1.1 Kiểm tra
Kiểm tra thuế là hoạt động xem xét tình hình thực tế, đánh giá của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự quản lý trong việc thực hiện pháp luật về thuế, phí và lệ phí (gọi chung là thuế) [8] để có thể nhận xét đánh giá ưu nhược điểm nhằm nâng cao hiệu lực của thuế hơn nữa[2]
Kiểm tra yêu cầu:
- Mức độ thấp hơn thanh tra: Kiểm tra với thời gian ngắn, kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế
- Thời gian tiến hành ngắn: Thường là 5 ngày
- Nội dung và phương pháp đơn giản: Kiểm tra tờ khai thuế tháng, quý, năm theo phương pháp thủ công ví dụ như so sánh, đối chiếu dữ liệu trên tờ khai thuế với dữ liệu trên hệ thống máy tính của cơ quan thuế, kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ khai thuế, đối chiếu số liệu giữa các trang của từng tờ khai và giữa các tờ khai khác
Trang 27nhau, Phạm vi hẹp, thực hiện kiểm tra theo chuyên đề đã có kế hoạch lập ra sẵn Kiểm tra những vấn đề hiện tại, dễ nhận biết mà không cần đòi hỏi các biện pháp nghiệp vụ để xác minh tài liệu, chứng cứ mà vẫn có những kết luận, đánh giá đúng đắn, chính xác Trong quá trình kiểm tra nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng thì phải kiến nghị tổ chức thanh tra
- Phần kết thúc phải có nhận xét, đánh giá rút kinh nghiệm
Phải có thưởng phạt nghiêm minh, những trường hợp vi phạm pháp lệnh thuế đến mức độ phải xử lý thì kiến nghị với cơ quan thẩm quyền, nếu nghiêm trọng thì kiến nghị tổ chức thanh tra[2]
1.2.1.2 Thanh tra
Thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền,
là hoạt động kiểm soát thực tế đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự quản lý trong việc thực hiện pháp luật về thuế nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu điểm khuyết điểm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế, phòng ngừa và xử lý các vi phạm pháp luật thuế [12]
Thanh tra yêu cầu:
- Mức độ cao hơn kiểm tra: Thanh tra từng năm, thanh tra từng sắc thuế hoặc thanh tra toàn diện ĐTNT
- Nội dung và phạm vi rộng hơn: Thanh tra những vấn đề phức tạp, các hành vi thuộc về quá khứ gây nên những nhận định không giống nhau, thanh tra nhiều năm, tất cã các sắc thuế
- Thời gian dài hơn kiểm tra: 30 ngày
Trang 28- Nội dung và phương pháp phức tạp hơn: Ví dụ phương pháp phân tích,
so sánh, thu thập và đối chiếu chéo thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như hải quan,
bộ thương mại, nhà cung cấp lớn của ĐTNT
- Ngoài kết luận thanh tra, đoàn thanh tra còn có thể kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật
Thanh tra, kiểm tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan thuế các cấp, là quá trình sử dụng các nghiệp vụ điều tra, phân tích đánh giá việc thực hiện chấp hành chính sách thuế của các tổ chức, cá nhân nộp thuế, các cán bộ công chức ngành [14] Như vậy, giữa thanh tra và kiểm tra có những điểm giống nhau như: cùng là chức năng quản lý của cơ quan Nhà nước và có cùng mục đích là phát huy nhân tố tích cực, hạn chế nhân tố tiêu cực nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa: mặt khác giữa thanh tra, kiểm tra đều phải tôn trọng tính thực tế khách quan của sự việc, công tác phân tích đánh giá phải đảm bảo tính trung thực…Tuy nhiên, giữa thanh tra
và kiểm tra cũng có sự khác nhau về quy mô và tích chất phức tạp của sự việc dẫn tới việc thay đổi về phương pháp, thời gian và con người khi tổ chức thanh tra hay kiểm tra Sự khác nhau trước tiên xuất phát từ yêu cầu công việc: Tuỳ theo tính chất phức tạp của từng sự việc cụ thể, đối tượng bị thanh kiểm tra, số lượng và phạm vi, những vấn đề cần phải làm rõ mà tổ chức cuộc thanh tra hay cuộc kiểm tra
1.2.2 Các nội dung cơ bản của thanh tra- kiểm tra thuế:
Với sự phát triển không ngừng của ĐTNT về số lượng, hình thức và quy
mô hoạt động trong khi số lượng nhân sự và các nguồn lực khác của cơ quan thuế không thể phát triển tương ứng Từ đó đòi hỏi cơ quan thuế phải đổi mới cơ chế quản
lý từ cơ chế quản lý thuế chuyên quản sang cơ chế tự khai tự nộp[17]
Quản lý thuế theo cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế là phương thức quản lý thu thuế tiên tiến, hiện đại đang được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng Theo cơ chế
Trang 29này thì các tổ chức, cá nhận nộp thuế căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ
kê khai của mình và căn cứ vào các quy định của pháp luật về nghĩa vụ thuế tự tính ra
số thuế phải nộp ngân sách Nhà nước, từ đó tự kê khai và tự thực hiện nghĩa vụ nộp
số thuế đã kê khai vào ngân sách nhà nước theo đúng thời hạn qui định của pháp luật
Tổ chức, cá nhân nộp thuế chịu trách nhiệm về kết quả của việc tính thuế,
kê khai thuế của mình trước pháp luật
Để hỗ trợ các tổ chức, cá nhận nộp thuế hiểu và nắm vững các quy định của pháp luật thuế từ đó thực hiện tốt nghĩa vụ kê khai nộp thuế, cơ quan thuế phải tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến và giải đáp các vướng mắc về chính sách chế
độ thuế mà các tổ chức, cá nhân nộp thuế thường gặp phải trong quá trình kê khai nộp thuế
Cơ quan thuế không can thiệp vào quá trình kê khai, nộp thuế của tổ chức,
cá nhân kinh doanh, nhưng cơ quan thuế sẽ tiến hành thanh tra, kiểm tra và áp dụng các biện pháp xử phạt, cưỡng chế theo luật định đối với những trường hợp có hành vi
vi phạm pháp luật về thuế như không kê khai, không nộp thuế, trốn thuế, gian lậu về thuế Thanh kiểm tra thuế là chức năng quan trọng nhất trong công tác quản lý thuế theo cơ chế tự khai tự nộp
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương này, Luận văn đã hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản về thuế và thanh tra kiểm tra thuế, đưa ra các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của công tác thanh tra kiểm tra thuế Đó là các khái niệm, bản chất, chức năng, phân loại và các nguyên tắc xây dựng hệ thống thuế Đề cập tới sự cần thiết phải thanh tra kiểm tra thuế và những nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro trong công tác thanh tra kiểm tra thuế
Chương 1 này đã giúp chúng ta khái quát được toàn bộ cơ sở lý thuyết và là nền tảng cho việc phát triển nội dung ở các chương tiếp theo của toàn luận văn
Trang 30CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, THANH TRA THUẾ TẠI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 Khái quát chung về tình hình kinh tế - xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh 2.1.1 Về tình hình phát triển kinh tế
GDP của Thành phố Hồ Chí Minh tăng dần qua các năm, và luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong GDP cả nước (năm 2009 đạt 134,112 tỷ đồng, bằng 107,9% so với năm 2008, chiếm 20% cả nước; quy mô GDP năm 2008 bằng 110,65% so với năm 2007, chiếm 19,6% cả nước) GDP bình quân giai đoạn 2005 – 2009 đạt 111.826
Nguồn: Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của Thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ 2006-2009 là 10,8%; trong đó ngành dịch vụ tăng trưởng cả thời kỳ là 12,45%, đóng góp 52,6% cho tăng trưởng Ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng sau ngành dành
vụ với 9,2% trong thời kỳ 2006-2009 và ngành nông nghiệp là 5,1%[18]
Cơ cấu kinh tế theo ngành của Thành phố Hồ Chí Minh có sự dịch chuyển theo hướng tăng tỷ trọng ngành dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp chỉ còn 1,3% trong năm 2009, và ngành công nghiệp – xây dựng giảm xuống từ 46,2% năm 2008 xuống 43,9% năm 2009, trong khi tỷ trọng ngành dịch vụ tăng từ 52,5% năm 2008 lên đến 54,8% năm 2009
Theo UBND Thành phố Hồ Chí Minh, khu vực kinh tế ngoài nhà nước phát triển mạnh cả về số lượng và quy mô, giữ vị trí quan trọng (mặc dù chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ song năm 2009 vẫn chiếm 49,3% trong cơ cấu
Trang 31GDP) góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động hiệu quả hơn (tỷ trọng khu vực này trong cơ cấu GDP năm 2006 là 22,1% tăng lên 23,3% trong năm 2009)
Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng và đóng góp vào tăng trưởng của các ngành
- Công nghiệp – xây dựng 10,5 11,2 8,9 6,3
- Công nghiệp – xây dựng 47,7 46,3 46,2 43,9
3 Cơ cấu GDP theo thành
Nguồn: Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Tình hình thu ngân sách Nhà nước và địa phương của Thành phố Hồ Chí Minh tăng lên đáng kể Theo UBND Thành phố, năm 2008 thu ngân sách Nhà nước ở TP HCM đạt 122.530 tỷ đồng thì năm 2009 tăng lên đến 128,477 tỷ đồng Thu ngân sách địa phương cũng tăng lên từ 32.413,1 tỷ đồng vào năm 2008 đến 45,604.4 tỷ đồng vào
năm 2009
Từ nhiều năm nay, TP Hồ Chí Minh luôn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển nói chung của cả nước, trong đó có lĩnh vực kinh tế Chỉ tính riêng giai đoạn
Trang 322006-2010, thành phố đóng góp hơn 20% GDP cả nước, hơn 30% ngân sách quốc gia, gần 30% giá trị sản xuất công nghiệp, 30% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ, 40% kim ngạch xuất nhập khẩu Chỉ tính riêng lĩnh vực tài chính - ngân hàng, thành phố có mạng lưới thương mại cổ phần năng động hoạt động trên toàn quốc, chiếm 30% tổng
dư nợ cho vay và vốn huy động của các ngân hàng cả nước Nếu cộng thêm số vốn trên thị trường chứng khoán và số vốn huy động của thị trường bảo hiểm thì tổng tài sản tài chính của TP Hồ Chí Minh chiếm gần 50% tổng tài sản tài chính của cả nước
2.1.2 Về tình hình xã hội
Đánh giá về tình hình xã hội Tp.HCM trong những năm qua, có thể xem xét trên một số tiêu chí cơ bản sau:
Một là, về quy mô dân số phân bố không đều giữa khu vực thành phố và ngoại
ô Theo số liệu thống kê năm 2009, 83,32% dân cư tập trung ở khu vực thành thị Ngay cả trong các quận nội ô, sự phân bố dân cư cũng không đồng đều Trong khi các quận 3, 4, 5 hay 10, 11 có mật độ lên tới trên 40.000 người/km² thì các quận 2, 9, 12 chỉ khoảng 2.000 tới 6.000 người/km Số dân trung bình năm 2008 khoảng 6,924 nghìn người và năm 2009 tăng lên đến 7,168 nghìn người Tỷ lệ hộ nghèo: theo tiêu chuẩn 6 triệu đồng/người/năm, năm 2008 là 0.3% và năm 2009 là 0.15%; theo tiêu chuẩn 12 triệu đồng/người/năm, năm 2008 là 12.0% và năm 2009 là 8.0% cho thấy đời sống của người dân ngày được nâng lên[42]
Hai là, vấn đề việc làm và giải quyết việc làm, năm 2008 đã giới thiệu được 177,8 nghìn người và năm 2009 là 289,6 nghìn người Trong đó, số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động năm 2008 chiếm 5.4% và năm 2009 chiếm 5.3%
Ba là, tình hình phát triển về y tế, giáo dục ngày càng được nâng cao cả về số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên; học sinh; y sĩ; bác sĩ;
Nhìn chung, tình hình xã hội Tp.HCM trong 2 năm qua luôn ổn định, ít có sự biến động, đời sống của người dân ngày càng được nâng lên cả về vật chất và tinh thần, trình độ dân trí ngày càng được nâng cao; tình hình trật tự an toàn xã hội được
Trang 33giữ vững Điều này tạo nên những thuận lợi cho công tác quản lý thuế nói chung và công tác thanh tra, kiểm tra thuế nói riêng
2.2 Tổ chức công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục thuế TP.Hồ Chí Minh
Cục thuế Tp.HCM có nhiệm vụ thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về thu thuế, phí, lệ phí và thu khác trên địa bàn và thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật Để thực hiện việc thanh tra/kiểm tra thuế, Cục thuế Tp.HCM hiện
có 04 phòng kiểm tra thuế (tổng số 149 cán bộ công chức: trình độ trên đại học: 07 công chức, trình độ đại học: 140 công chức, trình độ cao đẳng: 02 công chức) và 72 đội kiểm tra thuế tại 24 chi cục thuế quận/huyện (tổng số 1107 cán bộ công chức, trình độ trên đại học: 13 công chức, trình độ đại học: 906 công chức, trình độ cao đẳng: 46 công chức, trình độ trung cấp: 132 công chức) Việc thanh tra/kiểm tra thuế hiện nay được thực hiện theo Luật Quản lý thuế, Thông tư 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thi hành Nghị định 85/NĐ.CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế; quy trình kiểm tra thuế ban hành kèm theo Quyết định số 528/NĐ.TCT ngày 29/5/2008 của Tổng Cục Thuế[3]
Trang 34Do chuyển một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh có quy mô vừa và nhỏ từ Cục thuế về cho các chi cục thuế quản lý, dẫn đến số lượng các doanh nghiệp do chi cục thuế quản lý tăng lên đáng kể Đội kiểm tra thuế của các phòng, các chi cục thuế được hình thành phần lớn từ lực lượng của các phòng, các đội quản lý doanh nghiệp và các đội quản lý hộ kinh doanh cá thể trước đây
Phòng kiểm tra nội bộ P.QL thuế thu nhập cá nhân
Phòng kiểm tra thuế số 1
Phòng kiểm tra thuế số 2
Phòng kiểm tra thuế số 3
Phòng kiểm tra thuế số 4
Phòng Thanh tra thuế số 2 Phòng Thanh tra thuế số 3 Phòng Thanh tra thuế số 4
Phòng tin học
Trang 35Công tác thanh tra thuế cũng được tổ chức theo Luật Quản lý thuế Các phòng Thanh tra lập kế hoạch thanh tra các đối tượng quản lý ngay từ đầu năm để thanh tra các trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế do phòng kiểm tra, các chi cục thuế chuyển đến; thanh/kiểm tra các trường hợp cổ phần hóa, sáp nhập, giải thể, chuyển đổi doanh nghiệp, …; giải quyết các trường hợp theo đơn thư tố cáo hoặc theo yêu cầu của Lãnh đạo Cục thuế, Tổng cục thuế Ngoài ra, phòng thanh tra còn thực hiện thêm nhiệm vụ: tiếp dân, tổng hợp giải quyết đơn thư tố cáo trốn thuế, phối hợp với các ban ngành giám định tư pháp về thuế, tổng hợp báo cáo công tác thanh tra, tham mưu cho Lãnh đạo cục Thuế chỉ đạo công tác thanh tra
2.2.1 Chức năng, nhiệm vụ phòng Kiểm tra thuế[15]
Phòng Kiểm tra thuế có trách nhiệm thực hiện kiểm tra, giám sát kê khai thuế, chịu trách nhiệm thực hiện dự toán thu đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý trực tiếp của Cục Thuế
Trang 36- Tổ chức kiểm tra việc thực hiện chính sách pháp luật về thuế tại trụ sở của người nộp thuế, kiểm tra các tổ chức được ủy nhiệm thu thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế;
- Kiểm tra hồ sơ đề nghị hoàn thuế, hồ sơ miễn thuế, giảm thuế thuộc diện kiểm tra trước của người nộp thuế trình Lãnh đạo Cục ra quyết định hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế;
- Ấn định thuế đối với các trường hợp người nộp thuế khai thuế không đủ căn
cứ, không đúng thực tế phát sinh mà người nộp thuế không giải trình được
- Chuyển các trường hợp kê khai thuế có dấu hiệu trốn lậu thuế và các hồ sơ, tài liệu liên quan cho bộ phận thanh tra để tiến hành thanh tra thuế khi có đủ điều kiện
tổ chức thanh tra thuế;
- Kiểm tra các trường hợp người nộp thuế sáp nhập, giải thể, phá sản, ngừng kê khai, bỏ trốn, mất tích, chuyển đổi hình thức sở hữu hoặc tổ chức sắp xếp lại doanh nghiệp, cổ phần hoá doanh nghiệp
- Thực hiện công tác kiểm tra, đối chiếu xác minh hoá đơn và trả lời kết quả xác minh hoá đơn theo qui định; xử lý và kiến nghị xử lý vi phạm về quản lý và sử dụng hoá đơn thuế, sai phạm về thuế theo kết quả xác minh hoá đơn thuế; tổ chức kiểm tra việc chấp hành các quy định về quản lý, sử dụng biên lai, ấn chỉ thuế của người nộp thuế và của tổ chức, cá nhân được cơ quan thuế uỷ quyền thu thuế, phí, lệ phí;
- Xử lý và kiến nghị xử lý những trường hợp người nộp thuế có hành vi vi phạm pháp luật về thuế phát hiện được thông qua kiểm tra;
- Cung cấp các thông tin điều chỉnh về nghĩa vụ thuế của người nộp thuế cho
bộ phận chức năng có liên quan;
- Nhận dự toán thu ngân sách thuộc các đối tượng Cục Thuế trực tiếp quản lý; trực tiếp chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện dự toán thu đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý của Cục Thuế;
Trang 37- Tổng hợp, phân tích, đánh giá, báo cáo kết quả thực hiện công tác kiểm tra, giám sát kê khai thuế trên địa bàn; nghiên cứu đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát kê khai thuế;
- Biên soạn tài liệu và tham gia đào tạo cán bộ, công chức thuế thuộc lĩnh vực được giao;
- Thực hiện việc bảo quản và lưu trữ hồ sơ nghiệp vụ, tài liệu và các văn bản pháp quy của Nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý của Phòng theo quy định;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Cục trưởng Cục Thuế giao
2.2.2 Chức năng, nhiệm vụ phòng Thanh tra thuế[16]
Giúp Cục trưởng Cục thuế triển khai thực hiện công tác thanh tra thuế: việc chấp hành pháp luật thuế, giải quyết tố cáo hành vi trốn lậu thuế, gian lận thuế thuộc phạm vi Cục Thuế quản lý Nhiệm vụ cụ thể:
- Xây dựng chương trình, kế hoạch thanh tra thuế hàng năm; Tiếp nhận yêu cầu
và hồ sơ đề nghị thanh tra người nộp thuế của Phòng Kiểm tra thuế và các Chi cục Thuế chuyển đến;
- Tổ chức thu thập thông tin liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế thuộc đối tượng thanh tra;
- Tổ chức thực hiện công tác thanh tra thuế theo chương trình kế hoạch thanh tra của Cục Thuế; thanh tra các trường hợp do phòng Kiểm tra thuế, các Chi cục đề nghị và chuyển hồ sơ; hoặc theo yêu cầu của cơ quan thuế cấp trên và cơ quan nhà
Trang 38- Tổ chức hoạt động tiếp dân tại trụ sở cơ quan thuế để nắm bắt, xem xét, giải quyết những thông tin phản ánh về các hành vi vi phạm chính sách, pháp luật thuế của người nộp thuế;
- Thanh tra xác minh, giải quyết các tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật thuế của người nộp thuế; đề xuất ý kiến đối với các hồ sơ tố cáo về thuế không thuộc thẩm quyền của Cục Thuế chuyển cho cơ quan cấp trên và các cơ quan khác có liên quan giải quyết;
- Thực hiện giám định về thuế theo trưng cầu giám định của cơ quan tiến hành
tố tụng ở địa phương hoặc theo phân công của Tổng cục Thuế;
- Cung cấp thông tin, kết luận sau thanh tra cho các bộ phận chức năng có liên quan để phối hợp quản lý thuế;
- Tổng hợp, báo cáo, đánh giá chất lượng công tác thanh tra thuế, tổng hợp kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến người nộp thuế trong phạm vi toàn Cục thuế; nghiên cứu đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác thanh tra thuế;
- Biên soạn tài liệu và tham gia đào tạo cán bộ, công chức thuế thuộc lĩnh vực được giao;
- Thực hiện việc bảo quản và lưu trữ hồ sơ nghiệp vụ, tài liệu và các văn bản pháp quy của Nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý của Phòng theo quy định;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Cục trưởng Cục thuế giao
2.3 Thực trạng công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục thuế Tp.HCM
2.3.1 Quy trình kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục thuế Tp.HCM
Nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế nâng cao năng lực của cơ quan thuế trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời ĐTNT có hành
vi vi phạm về gian lận thuế đồng thời từng bước nâng cao ý thức tuân thủ của doanh nghiệp trong việc chấp hành pháp luật thuế, Tổng Cục thuế đã ban hành quy trình
Trang 39thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp theo Quyết định số 528/QĐ-TCT ngày 29 tháng 5 năm 2008
Quy trình được xây dựng theo hướng quy định rõ trình tự công việc phải thực hiện và phân công, phân nhiệm rõ ràng, cụ thể việc thực hiện các bước trong quy trình của các bộ phận, cá nhân trong bộ máy quản lý thu thuế của Cục thuế và Chi cục thuế[27]:
Bước 1: Lập kế hoạch kiểm tra, thanh tra
+ Thu thập thông tin về doanh nghiệp tại Tổng cục thuế và Cục thuế địa phương
+ Lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra tại Tổng cục thuế và Cục thuế địa phương
+ Duyệt giao kế hoạch thanh tra, kiểm tra
+ Kế hoạch thanh tra, kiểm tra quý, tháng
+ Điều chỉnh kế hoạch năm
Bước 2: Tổ chức thực hiện phân tích sâu các doanh nghiệp trong kế hoạch thanh tra, kiểm tra (kiểm tra tại cơ quan thuế)
+ Công việc chuẩn bị thanh tra, kiểm tra: Tập hợp, phân tích thông tin chuyên sâu về doanh nghiệp; Kiểm tra tại cơ quan thuế; xác định nội dung, phạm vi
và hình thức kiểm tra tại cơ sở của doanh nghiệp
+ Thành lập đoàn (đội) thanh tra, kiểm tra
Bước 3: Kiểm tra, thanh tra cơ sở của doanh nghiệp theo quyết định
+ Ban hành quyết định thanh tra, kiểm tra
+ Thực hiện thanh tra, kiểm tra bằng việc xem xét số liệu và xác lập hồ sơ chứng lý
+ Xử lý kết quả thanh tra, kiểm tra
+ Báo cáo đánh giá kết quả cuộc thanh tra, kiểm tra
+ Lưu trữ hồ sơ
Trang 40+ Theo dõi việc thực hiện quyết định xử lý
Bước 4: Báo cáo thực hiện kế hoạch và kết quả kiểm tra, thanh tra
+ Lập báo cáo
+ Tổng hợp báo cáo
Qua thực tiễn áp dụng quy trình này, Cục thuế Tp.HCM đã góp phần nâng cao hiệu quả kiểm tra, thanh tra thuế do hạn chế được tình trạng thông đồng giữa đối tượng nộp thuế và cán bộ thuế, đồng thời phát hiện sai sót, vi phạm trong quá trình xử
lý nghiệp vụ Việc phân công, phân nhiệm rõ ràng cụ thể có tác dụng tạo nên sự chuyên môn hoá trong công việc và phù hợp với trình độ của từng cán bộ, tạo điều kiện cho việc kiểm tra và giám sát lẫn nhau giữa các bộ phận
2.3.2 Công tác xây dựng kế hoạch kiểm tra, thanh tra thuế của cục thuế Tp.HCM[27]
Kế hoạch Kiểm tra, thanh tra hàng năm do Cục thuế Tp.HCM xây dựng phải được báo cáo về Tổng cục thuế Hàng năm, Tổng cục thuế đã có hướng dẫn cụ thể tới Cục thuế các Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương về công tác xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm
Trong công tác kiểm tra, thanh tra, từ chỗ xây dựng kế hoạch đơn giản, hệ thống chỉ tiêu sơ sài, thiếu đánh giá nguồn nhân lực để phân bổ hợp lý đã tiến đến phương pháp xây dựng kế hoạch thanh tra khoa học dựa trên hệ thống các chỉ tiêu đánh giá độ rủi ro, mức độ tuân thủ pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế:
- Hoạt động kiểm tra, thanh tra đối tượng nộp thuế được tổ chức tập trung, thống nhất từ trung ương đến địa phương Kế hoạch kiểm tra, thanh tra hàng năm do Cục thuế Tp.HCM xây dựng phải được báo cáo về Tổng cục thuế để phê duyệt Đồng thời để tránh chồng chéo trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế Kế hoạch thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp thuế được xây dựng từ cấp cơ sở (Chi cục thuế) và có rà soát, đối chiếu để loại trừ đối tượng nộp thuế đã nằm trong kế hoạch thanh tra, kiểm tra của