4.1.1.2 Tăng cường cơ chế giám sát thông tin và áp dụng các biện pháp chế tàinghiêm khắc hơn...93 4.1.2 Nới lỏng biên độ giao dịch chứng khoán ...93 4.1.3 Tạo điều kiện pháp lý để thu hú
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA KẾ TOÁN TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH : TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
LỚP : TN06A2
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
ThS TRẦN THANH VŨ
TP.HỒ CHÍ MINH THÁNG 06/2010
Trang 2DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Giới thiệu kết cấu khóa luận 2
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH KỸ THUẬT 3
1.1 ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 3
1.1.1 Khái niệm về đầu tư chứng khoán 3
1.1.2 Rủi ro trong đầu tư chứng khoán 3
1.1.2.1 Khái niệm 3
1.1.2.2 Phân loại 4
1.1.2.3 Đa dạng hóa đầu tư để giảm thiểu rủi ro trong đầu tư chứng khoán 4
1.2 PHÂN TÍCH KỸ THUẬT 5
1.2.1 Khái niệm và các giả định trong phân tích kỹ thuật 5
1.2.1.1 Khái niệm 5
1.2.1.2 Các giả định trong phân tích kỹ thuật 6
1.2.2 Các lý thuyết cơ bản trong phân tích kỹ thuật 6
1.2.2.1 Lý thuyết Dow 6
1.2.2.2 Lý thuyết sóng Elliott 10
1.2.2.3 Dãy số Fibonacci 13
1.2.3 Các loại đồ thị 14
1.2.3.1 Đồ thị dạng đường 14
1.2.3.2 Đồ thị hình thanh 15
1.2.3.3 Đồ thị hình nến 17
1.2.4 Nội dung cơ bản về đường xu hướng 18
Trang 31.2.4.2 Đường xu hướng 19
1.2.4.3 Mức kháng cự và mức hỗ trợ 19
1.2.5 Các hình mẫu kỹ thuật 20
1.2.5.1 Mô hình đầu và vai 20
1.2.5.2 Mô hình đầu và vai ngược 21
1.2.5.3 Mô hình hai đỉnh và hai đáy 22
1.2.5.4 Mô hình ba đỉnh và ba đáy 24
1.2.5.5 Mẫu hình dạng tam giác đối xứng 25
1.2.5.6 Mẫu hình dạng tam giác hướng lên 27
1.2.5.7 Mẫu hình dạng tam giác hướng xuống 28
1.2.5.8 Mẫu hình cờ hiệu và cờ đuôi nheo 29
1.2.6 Các chỉ báo kỹ thuật 30
1.2.6.1 Đường trung bình trượt giản đơn (Simple Moving Average- SMA) 30
1.2.6.2 Dải biên độ biến động giá Bollinger 32
1.2.6.3 Chỉ số báo hiệu giá đảo chiều Parabolic SAR 33
1.2.6.4 Chỉ báo Directional Movement Index (DMI) and Average Directional Movement Index (ADX) 34
1.2.6.5 Chỉ số lưu lượng tiền (Money Flow Index - MFI) 36
1.2.6.6 Đường trung bình trượt hội tụ và phân kỳ (MACD) 37
1.2.6.7 Chỉ số sức mạnh tương đối (Relative Strength Index - RSI) 41
1.2.6.8 Chỉ số Stochastic chậm và nhanh 43
1.2.7 Tín hiệu nến Nhật Bản 45
1.2.7.1 Tín hiệu đơn lẻ 45
1.2.7.2 Tín hiệu đảo chiều 45
1.2.7.3 Tín hiệu củng cố 47
1.3 NGHIỆP VỤ TƯ VẤN ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 47
1.3.1 Khái niệm tư vấn đầu tư chứng khoán 47
1.3.2 Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán 47
1.3.2.1 Nguyên tắc tư vấn khách quan 47
Trang 41.3.2.3 Nguyên tắc tư vấn theo khả năng của khách hàng 48
1.3.2.4 Nguyên tắc thông tin hỗ trợ 48
1.3.3 Phân loại hoạt động tư vấn 48
1.3.3.1 Theo hình thức của hoạt động tư vấn 48
1.3.3.2 Theo mức độ ủy quyền của hoạt động tư vấn 48
1.3.3.3 Theo đối tượng của hoạt động tư vấn 49
1.3.4 Vai trò của nghiệp vụ tư vấn đầu tư 49
CHƯƠNG II: GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN 50
2.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA VNDIRECT 50
2.1.1 Giới thiệu về công ty 50
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của VNDirect 50
2.1.3 Sứ mệnh và tầm nhìn 52
2.1.4 Giá trị cốt lõi 52
2.2 CÁC SẢN PHẨM DỊCH VỤ CHÍNH CỦA CÔNG TY 52
2.2.1 Hoạt động môi giới – giao dịch chứng khoán 52
2.2.2 Hoạt động tư vấn doanh nghiệp và bảo lãnh phát hành 54
2.2.3 Hoạt động tự doanh 55
2.2.4 Hoạt động lưu ký chứng khoán 55
2.3 NGUỒN NHÂN LỰC 56
2.4 CƠ CẤU TỔ CHỨC 58
2.4.1 Sơ đồ tổ chức 58
2.4.2 Đại hội đồng cổ đông 58
2.4.3 Hội đồng quản trị 58
2.4.4 Ban kiểm soát 59
2.4.5 Các phòng ban 59
CHƯƠNG III: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG PHÂN TÍCH KỸ THUẬT TRONG NGHIỆP VỤ TƯ VẤN ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI 62
3.1 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA VNDIRECT 62
3.1.1 Doanh thu qua các năm 62
Trang 53.1.3 Vị thế của công ty so với các doanh nghiệp khác cùng ngành 64
3.2 TÌNH HÌNH ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 67
3.2.1 Thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian qua 67
3.2.1.1 Quy mô của thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2009 67
3.2.1.2 Diễn biến của thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2009 68
3.2.1.3 Phân tích kỹ thuật VNIndex và HNXIndex trong năm 2009 71
3.2.2 Xu hướng của thị trường hiện nay 77
3.1.2.1 Xu hướng của VNIndex năm 2010 77
3.1.2.2 Những ngành triển vọng 77
3.3 THỰC TRẠNG VỀ VIỆC ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KỸ THUẬT HIỆN NAY 77
3.3.1 Trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay 77
3.3.2 Tại công ty chứng khoán VNDirect chi nhánh TP.Hồ Chí Minh 78
3.3.2.1 Giai đoạn từ khi thành lập (tháng 04/2007) đến tháng 03/2009 78
3.3.2.2 Giai đoạn từ tháng 04/2009 đến nay 79
3.3.3 Quy trình phân tích chứng khoán tại VNDirect 80
3.3.3.1 Quy trình phân tích 80
3.3.3.2 Áp dụng quy trình phân tích kỹ thuật tại VNDirect để phân tích chứng khoán 85
3.4 NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG VIỆC ÁP DỤNG PHÂN TÍCH KỸ THUẬT TẠI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 89
3.4.1 Giá chứng khoán chưa phản ánh hết hành động của thị trường 89
3.4.2 Sự chậm trễ của các chỉ báo kỹ thuật 91
3.4.3 Sự áp dụng máy móc của người sử dụng ở Việt Nam 91
CHƯƠNG IV: NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ 87
4.1 KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM ĐỂ NÂNG CAO TÍNH HIỆU QUẢ CỦA PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH KỸ THUẬT 92 4.1.1 Các kiến nghị nhằm gia tăng minh bạch thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam .92
Trang 64.1.1.2 Tăng cường cơ chế giám sát thông tin và áp dụng các biện pháp chế tài
nghiêm khắc hơn 93
4.1.2 Nới lỏng biên độ giao dịch chứng khoán 93
4.1.3 Tạo điều kiện pháp lý để thu hút các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp 4.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ NGHIỆP VỤ TƯ VẤN ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VNDIRECT 94
4.2.1 Hoàn thiện nguồn nhân lực 94
4.2.2 Quy trình hóa hoạt động tư vấn trực tiếp cho khách hàng 94
4.3 GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG PHÂN TÍCH KỸ THUẬT TRONG NGHIỆP VỤ TƯ VẤN ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VNDIRECT CHI NHÁNH TP HỒ CHÍ MINH 95
4.3.1 Trình tự các bước ứng dụng phân tích kỹ thuật 95
4.3.2 Khai thác công cụ Explorer của phần mềm Metastock để lọc cổ phiếu tiềm năng 96
4.3.2.1 Thành phần cấu tạo công thức cho Explorer 97
4.3.2.2 Xây dựng mô hình cho The Explorer và cách ứng dụng 97
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 7Bảng 2.1: Cơ cấu nhân sự của VNDirect 56
Bảng 3.1: Cơ cấu Doanh thu thuần của công ty năm 2007, 2008 và 2009: 62
Bảng 3.2: Lợi nhuận gộp từ hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2007 - 2009 63
Bảng 3.3 Tỷ trọng chi phí hoạt động trên doanh thu thuần năm 2007-2009 64
Bảng 3.4: Bảng thống kê vốn điều lệ của một số công ty chứng khoán 65
Bảng 3.5: Bảng kết quả hoạt động kinh doanh so với các công ty cùng ngành 65
Bảng 3.6 : Quy mô giao dịch của TTCK Việt Nam năm 2006-2009 68
Bảng 3.7 : Các ngưỡng kháng cự của VNIndex 75
Bảng 3.8 : Các ngưỡng kháng cự của HNXIndex 76
Trang 8Hình 1.1: Mẫu hình cơ bản của sóng Elliott 10
Hình 1.2: Mẫu hình chi tiết của sóng Elliott 11
Hình 1.3 : Dùng tỷ lệ Fibonacci xác định mức hỗ trợ và kháng cự cho VNIndex 14
Hình 1.4 : Đồ thị dạng đường 15
Hình 1.5: Ý nghĩa của mỗi thanh 16
Hình 1.6 : Đồ thị dạng thanh 16
Hình 1.7: Ý nghĩa của mỗi cây nến 17
Hình 1.8 : Đồ thị dạng nến 18
Hình 1.9: Đường xu hướng tăng và giảm 19
Hình 1.10 : Mô hình đầu và vai 20
Hình 1.11 : Mô hình đầu và vai ngược 22
Hình 1.12 : Mô hình hai đỉnh 23
Hình 1.13: Mô hình hai đáy 23
Hình 1.14 : Mô hình ba đỉnh 24
Hình 1.15 : Mô hình ba đáy 25
Hình 1.16: Mẫu hình dạng tam giác đối xứng 26
Hình 1.17: Cách xác định giá mục tiêu 26
Hình 1.18: Mẫu hình dạng tam giác hướng lên 27
Hình 1.19: Mẫu hình dạng tam giác hướng xuống 28
Hình 1.20: Mẫu hình cờ hiệu 29
Hình 1.21: Mẫu hình cờ đuôi nheo 29
Hình 1.22: Đường SMA 5 ngày của cổ phiếu REE 30
Hình 1.23: SMA cho tín hiệu mua 31
Hình 1.24: SMA cho tín hiệu bán 31
Hình 1.25: Dải Bollinger của cổ phiếu KDC 32
Hình 1.26: Chỉ báo PSAR của cổ phiếu REE 33
Hình 1.27 : Chỉ báo DMI của cổ phiếu STB 34
Trang 9Hình 1.29: Cách sử dụng chỉ báo ADX 36
Hình 1.30 : Chỉ báo MFI của cổ phiếu ITA 37
Hình 1.31: Chỉ báo MACD 38
Hình 1.32: MACD và sự giao cắt của đường trung bình giá 39
Hình 1.33: Biểu đồ MACD 39
Hình 1.34: Sự phân kỳ xác nhận xu hướng tăng 40
Hình 1.35: Sự phân kỳ xác nhận xu hướng giảm 41
Hình 1.36: Chỉ số RSI của cổ phiếu HAP 42
Hình 1.37: Sự phân kỳ của RSI 42
Hình 1.38: Chỉ báo Stochastic 43
Hình 1.39: Sử dụng sự phân kỳ của Stochastic để xác định tín hiệu mua bán 44
Hình 3.1 : Các giai đoạn phát triển của thị trường trong năm 2009 68
Hình 3.2 : Mô hình vai – đầu – vai ( Đồ thị ngày) 71
Hình 3.3: Xác nhận giá mục tiêu mô hình vai –đầu – vai của VNIndex 72
Hình 3.4 : Kênh xu thế tăng giá dài hạn (Đồ thị tuần) 73
Hình 3.5 : Diễn biến sóng Elliott trong năm 2009 (Đồ thị ngày) 73
Hình 3.6 : Kháng cự theo Fibonacci Retracement (Đồ thị tuần) 74
Hình 3.7 : Kênh xu thế tăng giá dài hạn HNXIndex (Đồ thị tuần) 75
Hình 3.8 : Kháng cự theo Fibonacci Retracement HNXIndex (Đồ thị tuần) 76
Hình 3.9: Đồ thị VNIndex ngày 31/0 3/2010 85
Hình 3.10: Đồ thị tổng hợp các chỉ báo kỹ thuật của VNIndex tháng 03/2010 86
Hình 3.11: Đồ thị VNIndex ngày 10/05/2010 87
Hình 3.12: Đồ thị tổng hợp các chỉ báo kỹ thuật của VNIndex ngày 10/05/2010 88
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thị trường chứng khoán Việt Nam được hình thành và hoạt động hơn 9 năm, giaodịch mua bán chứng khoán diễn ra sôi động Mặc dù cũng có những lúc trầm lắng nhưnggần đây thị trường đã có bước phục hồi, dần trở thành một trong những kênh đầu tư
được công chúng quan tâm Tuy nhiên vẫn tồn tại sự thiếu hụt lớn về kiến thức chứng
khoán của giới đầu tư Việt Nam Hầu hết nhà đầu tư Việt Nam còn mang nặng tínhnghiệp dư, họ giao dịch cổ phiếu chủ yếu dựa vào những tin đồn, không có một chiến
lược, tiêu chí đầu tư cụ thể nào nên họ thường chịu những khoản thua lỗ lớn Vì vậy,
việc phát triển nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán tại các công ty chứng khoán để giúp
nhà đầu tư thực hiện đầu tư chuyên nghiệp hơn, qua đó giúp thị trường chứng khoán
phát triển một cách ổn định là một yêu cầu tất yếu và cấp thiết
Vấn đề đặt ra hiện nay đó là, với lượng hàng hóa trên thị trường chứng khoán ngàycàng nhiều, làm sao các nhân viên tư vấn có thể bao quát hết toàn bộ thị trường để từ đó
có thể đưa ra những lời tư vấn có độ chính xác cao Nếu nhân viên tư vấn chỉ theo dõithị trường và sử dụng phương pháp phân tích cơ bản để phân tích thì điều này là chưa đủ
Nhưng nếu họ biết kết hợp với phương pháp phân tích kỹ thuật thì việc bao quát toàn bộ
thị trường để tư vấn hiệu quả là hoàn toàn có thể
Với đề tài “ Ứng dụng phân tích kỹ thuật trong nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán tại công ty cổ phần chứng khoán VNDirect chi nhánh TP Hồ Chí Minh”, Tôi
mong muốn góp một phần nhỏ làm tăng hiệu quả của nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứngkhoán tại công ty cổ phần chứng khoán VNDirect chi nhánh Tp Hồ Chí Minh
2 Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu những lý luận cơ bản về phân tích kỹ thuật và thực trạng ứngdụng phân tích kỹ thuật trong đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán ViệtNam Từ đó làm cơ sở để đề ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện thị trườngchứng khoán Việt Nam nói chung và nâng cao vai trò của phân tích kỹ thuật đối vớinghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán
Nội dung khóa luận được nghiên cứu bằng phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp
Trang 113 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận này là thực trạng ứng dụng phân tích kỹ thuật
trong nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán hiện nay tại công ty cổ phần chứng khoánVNDirect chi nhánh Tp Hồ Chí Minh và tính khả thi của phương pháp phân tích kỹthuật trên thị trường chứng khoán Việt Nam
4 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung của khóa luận này đề cập đến một số chỉ báo kỹ thuật thông dụng Số liệuphân tích chủ yếu được lấy từ năm 2008 đến nay
5 Giới thiệu kết cấu khóa luận
Ngoài lời mở đầu, các danh mục, kết luận, khóa luận được thực hiện với 4 chương
như sau:
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH KỸ THUẬT TRONG
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN VÀ NGHIỆP VỤ
TƯ VẤN ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
CHƯƠNG II : GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
CHỨNG KHOÁN VNDIRECT
CHƯƠNG III : PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG PHÂN TÍCH KỸ
THUẬT TRONG NGHIỆP VỤ TƯ VẤN ĐẦU TƯ CHỨNGKHOÁN TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VNDIRECT
CHƯƠNG IV : NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ
Trang 12CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH KỸ THUẬT
TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN VÀ NGHIỆP VỤ
TƯ VẤN ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
1.1 ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1.1 Khái niệm về đầu tư chứng khoán
Đầu tư theo nghĩa rộng nhất là “ sự hy sinh tiền của hôm nay để đổi lấy tiền của tươnglai ” Như vậy, đầu tư chứng khoán tức là đầu tư tiền của vào chứng khoán với mục đích
thu về tiền của lớn hơn trong tương lai
Thu nhập đầu tư chứng khoán được cấu thành từ:
- Phần thu nhập được chia định kỳ, gọi là cổ tức đối với cổ phiếu, hay trái tức đốivới trái phiếu;
- Phần thu nhập chênh lệch giá lúc mua vào và lúc bán
Tùy theo mục đích đầu tư, có những nhà đầu dài hạn và những nhà đầu tư ngắn hạn
Nhà đầu tư dài hạn nhắm tới khoản thu nhập từ cổ tức, và kỳ vọng về sự tăng giá của
chứng khoán mà họ sở hữu Còn nhà đầu ngắn hạn mua đi, bán lại chứng khoán với
phương châm “mua rẻ, bán đắt” nhắm tới khoản chênh lệch giữa giá bán và giá mua, và
tất nhiên cũng hưởng cổ tức hoặc trái tức trong khoản thời gian từ lúc mua cho đến lúcbán chúng khoán
1.1.2 Rủi ro trong đầu tư chứng khoán
1.1.2.1 Khái niệm
Rủi ro trong đầu tư chứng khoán là sự dao động của lợi nhuận trong đầu tư chứng
khoán Dao động càng cao thì lợi nhuận càng cao và ngược lại
Với những đặc điểm riêng biệt của định chế tài chính bậc cao, thị trường chứngkhoán có những tính chất nội tại trong cơ chế hoạt động như tính gián tiếp của loại hình
đầu tư; tính trung gian trong hoạt động mua bán chứng khoán; tính tương đối trong việcđánh giá chất lượng chứng khoán; tính phong phú, đa dạng của các hình thức mua bán
chứng khoán; tính nhanh chóng, tức thì của các giao dịch chứng khoán; tính nhạy cảm
và dễ lan tỏa của các xu hướng và tâm lý mua bán Tất cả những lý do trên đã tạo ra mức
Trang 13rủi ro đầu tư trên thị trường chứng khoán cao hơn nhiều so với hoạt động trên thị trườnghàng hóa, dịch vụ thông thường khác.
1.1.2.2 Phân loại
Rủi ro trong đầu tư chứng khoán bao gồm hai loại: Rủi ro hệ thống và rủi ro không
hệ thống
Rủi ro hệ thống hay còn gọi là rủi ro thị trường là loại rủi ro có thể xảy ra dưới
những tác nhân của nền kinh tế vĩ mô trong nước và trên thế giới Rủi ro hệ thống baogồm các loại sau: rủi ro về biến động chính trị, rủi ro từ sự thay đổi các chính sách kinh
tế - tài chính của nhà nước, rủi ro do thay đổi những quy định pháp luật, rủi ro do lạmphát hay thiểu phát, rủi ro do thay đổi lãi suất và tỷ giá hối đoái, rủi ro do chiến tranhhay thiên tai Những rủi ro này vượt tầm kiểm soát của nhà đầu tư chứng khoán lẫndoanh nghiệp hay cơ quan phát hành chứng khoán
Rủi ro không hệ thống hay còn gọi là rủi ro riêng của doanh nghiệp phản ánh rủi ro
riêng biệt của doanh nghiệp, độc lập với rủi ro thị trường Rủi ro không hệ thống bắtnguồn từ chiến lược đầu tư, trình độ quản lý, chiến lược về sản phẩm và tiếp thị sảnphẩm của doanh ngiệp Đối với nhà đầu tư chứng khoán, rủi ro không hệ thống còn xuấtphát từ chiến lược đầu tư chứng khoán và các quyết định mua hay bán chứng khoán củahọ
Rủi ro hệ thống là rủi ro của nền kinh tế vĩ mô nên không thể giảm thiểu hẳn được, do
đó chỉ có thể giảm bớt phần nào bằng những dự đoán hợp lý trong đầu tư Rủi ro không
hệ thống có thể giảm thiểu đến mức tối đa bằng sự đa dạng hóa đầu tư thông qua danhmục đầu tư
1.1.2.3 Đa dạng hóa đầu tư để giảm thiểu rủi ro trong đầu tư chứng khoán
Đa dạng hóa đầu tư chứng khoán thông qua danh mục đầu tư tức là đầu tư vào
nhiều loại chứng khoán khác nhau do nhiều doanh nghiệp và tổ chưc khác nhau pháthành Khái niệm đa dạng hóa đầu tư để giảm thiểu rủi ro bắt đầu từ khái niệm “đừng baogiờ đặt tất cả các quả trứng có được vào chung một cái giỏ” Như vậy, khi đầu tư vàocác chứng khoán khác nhau, khoản thiệt hại do sự mất giá chứng khoán này sẽ được bù
đắp bởi khoản lãi do sự tăng giá của các chứng khoán khác Bằng cách này, nhà đầu tư
Trang 14chứng khoán có thể giảm thiểu tối đa rủi ro không hệ thống, tuy nhiên vẫn không tránhkhỏi rủi ro hệ thống.
Đối với nhà đầu tư chứng khoán quốc tế, rủi ro hệ thống vẫn có thể giảm thiểuđược nếu đầu tư vào chứng khoán ở các nước khác nhau Một danh mục đầu tư của nhà
chứng khoán quốc tế bao gồm nhiều loại chứng khoán khác nhau, được giao dịch trênnhững thị trường chứng khoán khác nhau
Tóm lại, dù có đa dạng hóa đầu tư, thì cũng chỉ giảm thiểu rủi ro chứ không thểloại trừ tất cả rủi ro trong đầu tư chứng khoán Vậy, rủi ro tồn tại “tự nhiên”, gắn liền vớitồn tại của chứng khoán Không thể hoàn toàn không có rủi ro, chỉ có rủi ro cao hay thấp
mà thôi Đây cũng chính là điều tạo nên sự cuốn hút của thị trường chứng khoán và bản
thân chứng khoán
1.2 PHÂN TÍCH KỸ THUẬT
1.2.1 Khái niệm và các giả định trong phân tích kỹ thuật
1.2.1.1 Khái niệm
Một số định nghĩa đã được đưa ra về phân tích kỹ thuật :
- Theo Edward và Magee thì: “Phân tích kỹ thuật là môn khoa học của sự ghi
nhận lại, thường là dưới dạng đồ thị, những hoạt động giao dịch diễn ra trong quá khứgây lên những thay đổi về giá, khối lượng giao dịch,… của một chứng khoán bất kỳ hayvới chung toàn bộ thị trường và sau đó sẽ dựa trên “bức tranh về quá khứ” đó để suyluận ra xu thế có thể xảy ra trong tương lai”
- Còn theo Steven B Achelis, tác giả của cuốn sách “Technical Analysis from
A to Z” thì: “Phân tích kỹ thuật là việc nghiên cứu giá, với công cụ cơ bản là biểu đồ,
nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư”
- Và theo tôi thì: “Phân tích kỹ thuật là việc nghiên cứu biểu đồ thể hiện các dữ liệu về giá, khối lượng giao dịch của chứng khoán trong quá khứ để dự báo xu hướng giá chứng khoán trong tương lai”
Trang 151.2.1.3 Các giả định trong phân tích kỹ thuật
Có 3 giả định làm cơ sở cho việc tiếp cận phân tích kỹ thuật:
ð Biến động thị trường phản ánh tất cả.
Đây có thể coi là nền tảng của phân tích kỹ thuật ác nhà phân tích kỹ thuật cho
rằng bất cứ yếu tố nào có khả năng ảnh hưởng đến giá như tâm lý, chính trị hay các yếu
tố tài chính của doanh nghiệp, tổ chức… đều được phản ánh rõ trong giá thị trường
Giá dịch chuyển theo xu thế chung
Khái niệm về xu thế là khái niệm vô cùng quan trọng trong phân tích kỹ thuật.Theo giả định này thì giá không dịch chuyển hoàn toàn ngẫu nhiên mà nó biến độngtheo một xu thế trong một khoảng thời gian nhất định
Lịch sử sẽ tự lặp lại.
Phần lớn nội dung của phân tích kỹ thuật và việc nghiên cứu biến động thị
trường đều phải nhằm vào nghiên cứu tâm lý con người Chẳng hạn như những mô hình
giá, những mô hình này đã được xác định và chứng minh từ hơn 100 năm nay, chúnggiống như những bức tranh về đồ thị biến động giá Những bức tranh này chỉ ra tâm lýcủa thị trường đang là lên giá hay xuống giá Việc áp dụng những mô hình này đã pháthuy hiệu quả trong quá khứ và được giả định rằng sẽ vẫn tiếp tục có hiệu quả trong
tương lai bởi chúng dựa trên phân tích nghiên cứu tâm lý con người mà tâm lý con
người thì thường không thay đổi.
1.2.2 Các lý thuyết cơ bản trong phân tích kỹ thuật
1.2.2.1 Lý thuyết Dow
Lý thuyết Dow ra đời từ những nghiên cứu của Charles Henry Dow –người được
xem là cha đẻ của trường phái phân tích kỹ thuật Đây được coi là lý thuyết lâu đời nhất
và cũng là phương pháp được biết đến nhiều nhất về việc xác định các xu hướng chínhtrên thị trường chứng khoán Nó là cơ sở đầu tiên cho mọi nghiên cứu kĩ thuật trên thị
trường
Trang 16Lý thuyết có 6 nguyên lý quan trọng sau:
Nguyên lý 1: Chỉ số bình quân thị trường phản ánh tất cả.
- Chỉ số bình quân thị trường phản ánh những hoạt động có liên kết với nhau củanhiều nhà đầu tư gồm những người có kinh nghiệm dự đoán thị trường giỏi nhất, cónhững thông tin tốt nhất về xu hướng và tất cả những gì có thể ảnh hưởng đến cung vàcầu của các loại chứng khoán Thậm chí cả những thiên tai hay thảm họa không dự tính
được thì ngay khi xảy ra chúng đã được thị trường phản ánh ngay vào giá của các loại
chứng khoán
Nguyên lý 2: Thị trường có 3 khuynh hướng.
- Xu thế cấp 1( xu thế chính): là những biến động tăng hoặc giảm với quy mô lớn,
thường kéo dài từ 1 năm đến vài năm gây ra sự biến động đến 20% giá CP
- Xu thế cấp 2 là những điều chỉnh có tác động làm gián đoạn quá trình vận độngcủa giá theo xu thế cấp 1 Thường thì những biến động trung gian này kéo dài từ 3 tuần
đến nhiều tháng Chúng sẽ kéo ngược lại khoản 1/3 đến 2/3 mức tăng (hay giảm tùy loại
thị trường) của giá theo xu thế cấp 1
- Xu thế cấp 3: Đây là những dao động trong thời gian ngắn (dài tối đa 3 tuần,thường chỉ dưới 6 ngày) mà theo như thuyết Dow đã nói đến, bản thân chúng khôngthực sự có ý nghĩa nhưng chúng góp phần tạo nên các xu thế trung gian
Nguyên lý 3: Những đường xu hướng chỉ ra sự chuyển dịch.
Đối với xu thế tăng giá: có 3 thời kì.
- Thời kì đầu tiên là quá trình “tích tụ”, trong quá trình này, những nhà đầu tư cótầm nhìn xa sẽ tiến hành xem xét các doanh nghiệp, có thể vào thời kì này doanh nghiệp
đang suy thoái nhưng nhóm nhà đầu tư này nhận thấy khả năng doanh ngiệp có thể
chuyển biến tình hình thành tăng trưởng nhanh chóng, có thể giá cổ phiếu của nó sẽ tăngtrong thời gian tới Đây cũng là thời điểm mà cổ phiếu này đang được chào bán rất nhiềubởi những nhóm nhà đầu tư đang có tâm lý rất chán nản và lo lắng về tình trạng củanhững cổ phiếu mà họ nắm giữ Công chúng hoàn toàn cảm thấy thất vọng khi tham gia
Trang 17vào thị trường chứng khoán bởi họ thấy lượng tiền đã đầu tư của họ đang giảm giá trị
nhanh chóng và có nguy cơ còn giảm nữa, vì vậy mà họ muốn thoát ra khỏi thị trường
Tuy nhiên có thể nhận thấy một điều vào cuối giai đoạn thứ nhất này là trong hoạt độngcủa công ty và trong những biến động trên thị trường đã có những biến chuyển tuy mớichỉ ở mức hạn chế, bắt đầu xuất hiện những đợt tăng giá nhỏ
- Thời kỳ thứ 2 là thời kỳ của sự tăng trưởng khá vững chắc Hoạt động củadoanh ngiệp đang theo dõi gia tăng mạnh cùng với những khởi sắc trong nội bộ doanhnghiệp và doanh thu của nó cũng tăng dần và bắt đầu thu hút các mối quan tâm trên thị
trường Đây chính là thời kì mang lại nhiều lợi nhuận cho các nhà kinh doanh chứngkhoán theo trường phái phân tích kỹ thuật
- Thời kì thứ 3, trong thời kì này thị trường tăng trưởng nóng Công chúng rất háohức với từng biến động của thị trường Tất cả các thông tin tài chính của doanh nghiệp
đưa ra đều rất tốt, giá chứng khoán tăng cao ngoài sức tưởng tượng Vào cuối thời kì thứ
3, người ta có thể thấy nạn đầu cơ tràn lan, khối lượng giao dịch vẫn tiếp tục tăng, sốlượng cổ phiếu có giá thấp nhưng không có giá trị đầu tư cũng gia tăng và cả những đợt
phát hành trái phiếu cũng ít dần đi
Đối với xu thế giảm giá: có 3 thời kì.
- Thời kỳ đầu tiên là thời kỳ “phân bổ” Trong thời kỳ này những nhà đầu tư cótầm nhìn xa đều nhận thấy rằng doanh thu (và các chỉ số kinh doanh nói chung) củanhững công ty mà họ đang nắm giữ cổ phiếu đều đang đạt mức cao không bình thường
và họ bắt đầu muốn bán cổ phiếu của những công ty này Khối lượng giao dịch vẫn rấtcao mặc dù đã có những dấu hiệu của xu hướng giảm, công chúng vẫn rất hưng phấn
nhưng cũng bắt đầu có dấu hiệu lo lắng và cũng không còn nhiều kỳ vọng kiếm lợi
nhuận
- Thời kỳ thứ hai được gọi là thời kỳ "hỗn loạn" Số lượng người mua bắt đầugiảm dần và những người bán bắt đầu trở lên vội vã bán đi những cổ phiếu mình đangnắm giữ Xu thế giảm giá bắt đầu tăng mạnh làm đồ thị giá gần như dốc thẳng xuống và
Trang 18khối lượng giao dịch đạt đến mức đỉnh điểm Giai đoạn này thể hiện tâm lý chán nản củamột bộ phận nhà đầu tư Thông tin về các doanh nghiệp ngày càng xấu đi.
- Thời kỳ thứ ba là thời kì bán bắt buộc, xu thế đi xuống trên thị trường đã yếudần, các cổ phiếu đều giảm đến mức thấp nhất Những cổ phiếu có chất lượng cao hầu
như không được giao dịch vì những người sở hữu chúng đều muốn nắm giữ đến cùng
Nguyên lý 4: Chỉ sử dụng mức giá đóng cửa để nghiên cứu.
- Các mức biến động giá trong ngày ít được quan tâm, chỉ những sự thay đổitrong các mức giá đóng cửa hàng ngày mới phản ánh cách nhìn tổng hợp của tất cảnhững người tham gia vào thị trường
Nguyên lý 5: Hai đường chỉ số bình quân phải cùng xác nhận xu thế của thị trường.
Đây là câu hỏi thường được đặt ra và khó trả lời nhất đối với hệ thống lý thuyết
Dow Tuy nhiên từ khi được đưa ra cho đến nay nó đã được thời gian chứng minh tính
đúng đắn và nó vẫn được vận dụng cho đến ngày nay và bất kì một ai đã xem xét những
số liệu ghi lại thì đều không thể có ý kiến phản đối với nguyên lý này Còn với những
người ít quan tâm hay bỏ qua nguyên lý này thì trong thực tế kinh doanh đã và sẽ phải
nhiều lần cảm thấy tiếc nuối
Nguyên lý 6: Mối quan hệ giá và khối lượng tạo ra nền tảng cơ bản.
Mối quan hệ cơ bản là khối lượng tăng khi giá phục hồi và thu hẹp khi giá giảm.Nếu khối lượng trở nên ứ đọng khi giá tăng và gia tăng khi giá giảm, cảnh báo rằng xu
hướng chính sớm bị đảo ngược
Trang 191.2.2.2 Lý thuyết sóng Elliott
Lý thuyết sóng Elliott được ông Ralph Nelson Elliott (1871-1948) nghiên cứu vàphát triển, đây là một trong những công cụ phân tích kỹ thuật mà một số nhà đầu tưchứng khoán dùng để phân tích những xu hướng giá trong các thị trường tài chính.Theo ông Elliott thì sự thay đổi của giá cả sẽ tạo ra những cơn sóng Trong mộtmẫu hình sóng cơ bản sẽ có 5 sóng chủ và 3 điều chỉnh Trong 5 chủ, có 3 sóng có cùng
khuynh hướng tăng là sóng 1,3 và 5 – được gọi là “sóng đẩy” Trong khi đó, sóng 2, 4
có khuynh hướng giảm, được gọi là sóng “hiệu chỉnh” Sau khi 5 sóng chủ đầy đủ thì 3
sóng điều chỉnh sẽ bắt đầu và được ký hiệu bởi các ký tự a, b, c
Hình 1.1: Mẫu hình cơ bản của sóng Elliott
Trong mỗi con sóng như vậy lại có những con sóng nhỏ hơn và cũng tuân theoqui luật của lý thuyết sóng Elliot
Trang 20Hình 1.2: Mẫu hình chi tiết của sóng Elliott
Sóng chủ số 1: Đợt sóng đầu tiên này là có điểm xuất phát từ thị truờng suy
thoái và còn yếu, do đó sóng 1 ít khi được nhận biết ngay từ đầu Lúc này thông tin cơbản về các công ty niêm yết vẫn đang là thông tin tiêu cực Khối lượng giao dịch có tăngchút ít theo chiều hướng giá tăng Tuy vậy việc tăng này là không đáng kể Do đó nhiềunhà phân tích kỹ thuật không nhận ra sự có mặt của đợt sóng số 1 này
Sóng chủ số 2: Sóng chủ 2 sẽ điều chỉnh sóng 1, nhưng điểm thấp nhất của sóng
2 không bao giờ vượt qua điểm xuất phát đầu tiên của sóng 1 Tin tức dành cho thị
trường vẫn chưa khả quan Khối lượng giao dịch sẽ ít hơn đợt sóng 1 Giá sẽ được điều
chỉnh giảm và thuờng nằm trong khoảng 0.382 đến 0.618 của mức cao nhất của sóng 1
Sóng chủ số 3: Thông thường đây là sóng lớn nhất và mạnh mẽ nhất của xu
hướng lên giá Ngay đầu sóng 3, thị trường vẫn còn nhận những thông tin tiêu cực vì vậy
có nhiều nhà đầu tư không kịp chuẩn bị để mua vào Khi sóng 3 đang ở lưng chừng, thị
trường bắt đầu nhận những thông tin cơ bản tích cực Mặc dù có những đợt điều chỉnh
nho nhỏ trong lòng của sóng 3, giá của sóng 3 tăng lên với tốc độ khá nhanh Điểm caonhất của sóng 3 thường cao hơn điểm cao nhất của sóng 1 với tỷ lệ 1,618:1
Trang 21Sóng chủ số 4: Sóng 4 thường sẽ điều chỉnh sóng 3 ở mức 0.382 – 0.618 của
sóng 3 Khối lượng giao dịch của sóng 4 thấp hơn của sóng 3 Việc nhận biết điểm dừngcủa sóng 4 là một trong những khó khăn của các nhà phân tích kỹ thuật trường phái sóngElliot
Sóng chủ số 5: Thông tin tích cực tràn lan khắp thị trường Khối lượng giao
dịch của sóng 5 khá lớn , tuy vậy thông thường vẫn nhỏ hơn sóng 3 Điều đáng nói lànhững nhà đầu tư “không chuyên nghiệp” thường mua vào ở những điểm gần cuối sóng
5 Vào cuối con sóng 5, thị trường nhanh chóng chuyển hướng
Sóng điều chỉnh A: Trong thời gian diễn ra sóng A, thông tin cơ bản vẫn đang
rất lạc quan Mặc dù giá xuống, nhưng phần đông các nhà đầu tư vẫn cho rằng thị trường
đang trong xu thế tăng Khối lượng giao dịch tăng trưởng khá đều đặn theo con sóng A
Sóng điều chỉnh B: Giá tăng trở lại và với mức cao hơn so với điểm cuối sóng
A Khối lượng giao dịch của sóng B thường thấp hơn của sóng A Vào lúc này, những
thông tin cơ bản của các công ty không có những điểm tích cực mới, thế nhưng cũngchưa chuyển hẳn qua tiêu cực
Sóng điều chỉnh C: Giá có khuynh hướng giảm nhanh hơn các đợt sóng trước.
Khối luợng giao dịch tăng Sóng C thường lớn như sóng A Điểm thấp nhất của sóng C
ít nhất bằng điểm thấp nhất của sóng A nhân với 1.618
Trang 221.2.2.3 Dãy số Fibonacci
Dãy Fibonacci: Dãy số do một nhà toán học người Ý tên là Leonardo Fibonacci
(1175-1250) công bố năm 1202, là dãy vô hạn các số tự nhiên bắt đầu bằng hai phần tử
0 và 1, các phần tử sau đó được thiết lập theo quy tắc mỗi phần tử luôn bằng tổng hai phần tử trước nó Công thức truy hồi của dãy Fibonacci là:
Kết quả dãy Fibonacci= 0, 1, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34, 55, 89, 144, 233, 377, 610,…
Và đặc biệt là cứ lấy số lớn chia cho số bé hơn một bậc, ví dụ 89/55 ta sẽ được
1.618 Lấy số nhỏ chia cho số lớn hơn 1 bậc, ví dụ 21/34 ta sẽ được 0.618 Lấy số nhỏchia cho số lớn hơn 2 bậc, ví dụ 13/34 ta sẽ được 0.382
Mặc dù Ralph Nelson Elliot khẳng định là ông nghiên cứu và phát minh ra lýthuyết sóng trước khi biết Fibonacci nhưng những con số trùng hợp đến kỳ lạ: 5 sóngchủ, 3 sóng điều chỉnh, 89 sóng chủ, 55 sóng điều chỉnh cũng như tỷ lệ của các con sóngluôn chung quanh các tỷ lệ 0.618, 1.618, 0.382 Do đó có giả thuyết khác là ông Elliot
đã ứng dụng những con số Fibonacci vào lý thuyết của mình Chính vì thế mà dãy số
Fibonacci được coi là thuật toán cơ bản trong lý thuyết sóng Elliot
Trang 23Thông thường 1 cổ phiếu lên hoặc xuống sẽ dừng lại tại những mức hỗ trợ hoặc
những thông tin cơ bản
Tạo ra một đồ thị đường bằng cách xác định điểm đóng cửa của mỗi giao dịch trên
đồ thị, sau đó nối các điểm này lại với nhau thành một đường
Trang 24Hình 1.4 : Đồ thị dạng đường
1.2.3.2 Đồ thị hình thanh
Đồ thị này được sử dụng phổ biến ở các nước phương Tây, đồ thị thanh cung
cấp nhiều thông tin hơn đồ thị đường Trong khi đồ thị đường chỉ liệt kê giá đóng cửacủa mỗi giao dịch, thì đồ thị thanh cho chúng ta thấy giá đóng cửa, mở cửa, cao nhất,thấp nhất trong mỗi thời điểm
Đồ thị thanh được tạo thành bằng cách liên kết các thanh ngang qua đồ thị Mỗi
thanh thể hiện một thời điểm giao dịch Để tạo ra một thanh, ta liệt kê ra giá cao nhất vàgiá thấp nhất rồi nối chúng lại bằng một đường thẳng đứng Tiếp theo ta xác định giá mởcửa ở bên trái của đường thẳng đứng vừa vẽ và nối điểm đó tới đường thẳng đứng bằngmột đường ngang Cuối cùng xác định điểm giá đóng cửa phía bên phải của đường thẳng
đứng và nối điểm đó tới đường thẳng đứng bằng một đường ngang
Trang 25Hình 1.5: Ý nghĩa của mỗi thanh
Hình 1.6 : Đồ thị dạng thanh
Trang 261.2.3.3 Đồ thị hình nến
Đồ thị cây nến cung cấp cùng thông tin như đồ thị thanh nhưng có một chút
khác trong cấu trúc Phân tích kỹ thuật thường sử dụng đồ thị cây nến thay vì đồ thịthanh vì nó dễ dàng quan sát và nhận ra nhiều hình thức giao dịch
Đồ thị cây nến được tạo ra bằng cách xác định chuỗi các cây nến xuất hiện trên
đồ thị Mỗi một cây nến thể hiện một giai đoạn giao dịch Để tạo ra một cây nến, ta định
vị giá cao nhất và giá thấp nhất của một giai đoạn giao dịch và nối chúng bằng một
đường thẳng đứng Đường này gọi là bóng của cây nến Tiếp theo giá mở cửa bằng cách
vẽ một đường ngang cắt qua đường thẳng đứng hoặc bóng Sau đó định vị giá đóng cửabằng cách vẽ một đường ngang khác cắt đường thẳng đứng Cuối cùng ta lấp đầy khuvực giữa giá mở cửa và giá đóng cửa Khu vực này gọi là thân của cây nến
Hình 1.7: Ý nghĩa của mỗi cây nến
Trang 27Hình 1.8 : Đồ thị dạng nến
1.2.4 Nội dung cơ bản về đường xu hướng
1.2.4.1 Định nghĩa về xu hướng
Xu hướng là chiều hướng của thị trường, con đường mà thị trường đang dịch
chuyển Nhưng thị trường không dịch chuyển theo một đường thẳng trong bất kỳ chiều
hướng nào Dịch chuyển của thị trường được đặc trưng bởi một chuỗi các đường zig zag
Mỗi đường zig zag này tương đồng với một chuỗi các sóng liên tục với các đỉnh và đáykhá rõ ràng Chiều hướng của những đỉnh và đáy này cấu thành nên xu hướng của thị
trường Những đỉnh và đáy này dịch chuyển lên, xuống hoặc đi ngang, điều đó nói cho
chúng ta xu hướng của thị trường
Một xu hướng tăng được định nghĩa là một chuỗi những đỉnh và đáy cao hơn liên tục
Ngược lại, một xu hướng giảm là một chuỗi các đỉnh và đáy thấp hơn liên tục Các đỉnh
và đáy nằm ngang sẽ xác định một xu hướng đi ngang
Trang 28Đường xu hướng tăng
1.2.4.2 Đường xu hướng
Đường xu hướng là một trong những công cụ kỹ thuật đơn giản nhất, nhưng cũng
là một trong những công cụ giá trị nhất Một đường xu hướng tăng là một đường thẳng
được vẽ hướng lên phía phải và được nối từ các đáy của thị trường tăng Đường xuhướng giảm được vẽ theo hướng xuống sang phải và được nối từ những đỉnh cao nhất
của thị trường giảm
Hình 1.9: Đường xu hướng tăng và giảm
1.2.4.3 Mức kháng cự và mức hỗ trợ
Ngưỡng kháng cự và ngưỡng hỗ trợ là những công cụ cơ bản của các nhà đầu tư
nhằm định ra các vùng giá mà tại đó thị trường chứng khoán bắt đầu đảo chiều
Mức kháng cự là điểm mà tại đó người mua nắm quyền kiểm soát giá và ngăn
chúng tăng thêm
Tại mức kháng cự, số lượng người bán sẽ đủ lớn để giành quyền kiểm soát từ
người mua Mỗi khi giá lên một mức cao mới và sau đó hạ xuống, những người bán bỏ
lỡ đỉnh giá lần trước sẽ có xu hướng bán cổ phiếu khi giá quay lại được mức đó Lo ngại
về việc bỏ lỡ cơ hội lần thứ hai, họ có thể tham gia vào thị trường với số lượng đủ lớn áp
đảo số lượng người mua, và do đó, kéo giá xuống Kết quả là một đợt điều chỉnh như
vậy củng cố thêm quan điểm của thị trường cho rằng mức giá trên là mức chặn, khôngcho giá thị trường vượt qua nó và thiết lập tại đó một mức kháng cự
Đường xu hướng giảm
Trang 29Mức hỗ trợ là mức giá mà tại đó số người mua tham gia vào thị trường đủ lớn để
áp đảo số lượng người bán
Khi giá xuống chạm một mức thấp mới, rồi lại hồi phục trở lại, những ngườimua thấy tiếc rẻ vì đã không mua được chứng khoán khi giá chạm đáy lần đầu tiên này
sẽ có xu hướng mua vào nếu giá lại xuống đến điểm này một lần nữa Lo ngại trước việc
bỏ lỡ cơ hội lần thứ hai, nhiều người mua sẽ gia nhập thị trường, tạo ra lực cầu đủ lớn để
áp đảo số người bán Kết quả là giá lại bị đẩy lên, càng củng cố thêm quan điểm cho
rằng giá không thể nào xuống dưới mức này được Vô hình chung, tại điểm mốc nàyhình thành nên một mức chặn dưới, đó chính là mức hỗ trợ
1.2.5 Các mẫu hình kỹ thuật
1.2.5.1 Mô hình đầu và vai
Là một hình mẫu kỹ thuật hết sức phổ biến đối với những nhà đầu tư vì nó làmột hình mẫu kỹ thuật đáng tin cậy nhất, nó là dấu hiệu quan trọng đánh dấu sự đảochiều của xu thế biến động giá chứng khoán từ xu thế tăng giá chuyển thành xu thế giảmgiá
Hình 1.10 : Mô hình đầu và vai
Trang 30Theo hình 1.10 ta thấy :
- Xu hướng trước đó là xu hướng tăng
- Một vai trái hình thành ở khối lượng giao dịch lớn hơn ( điểm A ) và sau đógiảm xuống tới điểm B
- Một sự hồi phục tới đỉnh mới nhưng ở khối lượng giao dịch nhỏ hơn ( điểm C)
- Một sự giảm xuống dưới mức đỉnh trước đó và đạt tới mức đáy (điểm D)
- Sự phục hồi lần thứ 3 – điểm E - ở khối lượng giao dịch nhỏ hơn đáng kể làmcho sự phục hồi này không thể đạt đến đỉnh trước đó ( điểm C)
- Một sự kết thúc ở dưới đường viền cổ
- Sự dịch chuyển ngược tới đường viền cổ (G) theo sau bởi các mức thấp mới
- Mẫu hình này thường dùng thời gian từ 4-12 tuần
- Xác định mục tiêu giá: Lấy khoảng cách dọc từ đỉnh đầu tới đường viền cổ, sau
đó chiếu khoảng cách này từ điểm mà tại đó đường viền cổ bị bẽ gãy
1.2.5.2 Mô hình đầu và vai ngược
Mô hình đầu vai ngược là mô hình đánh dấu sự đảo chiều của xu thế biến độnggiá chứng khoán từ xu thế giảm giá chuyển thành xu thế tăng giá
Theo hình 1.11 ta thấy:
- Xu hướng trước đó là xu hướng giảm
- Một vai trái hình thành ở khối lượng giao dịch lớn hơn ( điểm A ) và sau đó
tăng lên lại điểm B
- Một sự sụt giảm xuống đáy mới ở khối lượng giao dịch nhỏ hơn ( điểm C)
- Một sự hồi phục trên mức đáy trước đó (điểm A) và đạt tới mức đỉnh (điểm D)
- Sự sụt giảm lần thứ 3 – điểm E - ở khối lượng giao dịch nhỏ hơn đáng kể làmcho sự sụt giảm vẫn nằm cao hơn mức đáy trước đó ( điểm C)
- Một sự hồi phục vượt qua đường viền cổ
- Sự sụt giảm đụng tới đường viền cổ ( điểm G)và bật lên lại đạt những mức caomới
- Mẫu hình này thường dùng thời gian từ 4-12 tuần
Trang 31- Xác định mục tiêu giá: Lấy khoảng cách dọc từ đáy đầu tới đường viền cổ, sau
đó tịnh tiến khoảng cách này từ điểm mà tại đó đường viền cổ bị bẽ gãy
Hình 1.11 : Mô hình đầu và vai ngược
1.2.5.3 Mô hình hai đỉnh và hai đáy
Mô hình hai đỉnh
Mô hình hai đỉnh hình thành khi đường biểu diễn sự biến động của giá chứngkhoán hình thành hai đỉnh trên biểu đồ Mô hình này chỉ hoàn thiện khi giá chứng khoán
rơi xuống thấp hơn điểm dưới cùng của đáy toàn mô hình Mô hình hai dỉnh là mô hình
thể hiện sự đảo ngược của xu hướng tăng giá chứng khoán.Mô hình rất hay thường gặp
và rất dễ nhận ra
Xác định mục tiêu giá: Lấy khoảng cách dọc từ đỉnh tới đường viền cổ, sau đó
chiếu khoảng cách này từ điểm mà tại đó đường viền cổ bị bẽ gãy
G
Trang 32Hình 1.12 : Mô hình hai đỉnh
Mô hình hai đáy
Mô hình hai đáy hình thành khi giá tạo thành hai điểm đáy liên tiếp trên cùng một
đồ thị Mô hình này chỉ hoàn thiện khi giá tăng vượt qua qua đường viền cổ sau khi đã
chạm đến đáy thứ hai Mô hình hai đáy là thời kỳ chuyển đổi xu thế giảm giá thành xuthế tăng giá, nó mang tính đảo chiều
Hình 1.13: Mô hình hai đáy
Trang 33Để có thể nhận diện chính xác mô hình, nhà đầu tư nên chú ý đến một số vấn đề:đáy thứ hai không nên xuống vượt quá đáy thứ nhất; khoảng thời gian giữa hai đáy cũng
là một dấu hiệu quan trọng, thời gian càng dài thì độ chính xác càng cao, ít nhất phải làmột tháng và có thể kéo dài nhiều tháng
Xác định mục tiêu giá: Lấy khoảng cách dọc từ đáy tới đường vòng cổ, sau đó
tịnh tiến khoảng cách này từ điểm mà tại đó đường vòng cổ bị bẽ gãy.
1.2.5.4 Mô hình ba đỉnh và ba đáy
Mô hình ba đỉnh
Như hình 1.14 thì mô hình này có ba đỉnh có độ cao gần bằng nhau Một đỉnh
trong bộ ba xuất hiện khi giá chứng khoán đang ở trong giai đoạn tăng giá, sự tăng giálên tới mức kháng cự của mô hình sau đó giá chứng khoán giảm xuống mức hỗ trợ của
mô hình, sau đó xuất hiện sự tăng giá trở lại nhưng chỉ đạt đến mức kháng cự ngangbằng với mức kháng cự của mô hình và lại giảm xuống, sự tăng giá trở lại mức kháng cựthứ ba trước khi giá chứng khoán bị giảm một cách nhanh chóng xuống dưới mức hỗ trợcủa mô hình
Hình 1.14 : Mô hình ba đỉnh
Trang 34Mô hình ba đỉnh là một hình mẫu dạng đảo chiều của thị trường nó đánh dấu mộtthời kỳ chuyển tiếp giữa một xu thế tăng giá và một xu thế giảm giá Điều kiện đầu tiêncủa mô hình đó là phải được bắt đầu bằng một xu thế tăng giá.
Mô hình ba đáy
Hình 1.15 : Mô hình ba đáy
Mô hình ba đáy thể hiện sự đảo chiều từ xu thế giảm giá sang xu thế tăng giá Môhình này rất dễ nhầm lẫn với nhiều hình mẫu kỹ thuật khác cho nên để ứng dụng môhình này một cách có hiệu quả cao nhất trong quá trình đầu tư, ta nên chờ đợi một dấuhiệu phá vỡ đường viền cổ
1.2.5.5 Mẫu hình dạng tam giác đối xứng
- Mẫu hình dạng tam giác đối xứng thể hiện một sự tạm dừng xu hướng đã tồntại sau đó xu hướng hiện tại sẽ được phục hồi Trong hình 1.16, tam giác đối xứng bắt
đầu tại điểm 1, đó là nơi củng cố xu hướng lên bắt đầu Giá sẽ kéo ngược trở lại xuốngđiểm 2 và sau đó phục hồi đến điểm 3 Tuy nhiên, điểm 3 thấp hơn điểm 1 Đường xuhướng phía trên được vẽ bằng cách nối điểm 1 với điểm 3 Sau đó giá được kéo trở lại
xuống điểm 4, điểm 4 cao hơn điểm 2 Đường xu hướng phía dưới được vẽ bằng cách
Trang 35nối điểm 2 và điểm 4 Bây giờ mẫu hình tam giác đối xứng có bốn điểm ( 1, 2, 3 và 4) và
hai đường xu hướng hội tụ
Hình 1.16: Mẫu hình dạng tam giác đối xứng
- Thời gian cho việc hoàn tất mẫu hình này đó là tại thời điểm hai đường xu
hướng cắt nhau ( thường kéo dài từ một đến ba tháng) Giá sẽ phá vỡ xu hướng trước đó
ở giữa 2/3 đến 3/4 khoảng cách từ cạnh đáy đến đỉnh của tam giác
- Khối lượng giao dịch sẽ giảm khi giá dịch chuyển hẹp trong phạm vi tam giác
Nhưng khối lượng sẽ tăng lên đột biến tại mức giá bứt phá đường xu hướng để hoàn
thành mẫu hình
Hình 1.17: Cách xác định giá mục tiêu
Trang 36- Giá mục tiêu được xác định bằng cách đo độ cao của đáy AB và chiếu đoạnthẳng này từ điểm phá vỡ C Hoặc là bằng cách từ điểm A kẻ một đường song song vớicạnh thấp hơn của hình tam giác.
1.2.5.6 Mẫu hình dạng tam giác hướng lên
- Các tam giác hướng lên và hướng xuống là các biến thể của tam giác đốixứng Trong mẫu hình tam giác hướng lên, có đường xu hướng phía trên nằm ngang và
đường xu hướng bên dưới dốc lên Mẫu hình này cho thấy người mua lớn hơn người bán
Nó được xem là mẫu hình đầu cơ giá lên
Hình 1.18: Mẫu hình dạng tam giác hướng lên
- Mẫu hình này hoàn thành khi đường phía trên bị phá vỡ, tại mức giá bứt phánày có sự gia tăng đột biến về khối lượng giao dịch Đường nằm ngang phía trên sẽ giữvai trò là đường hỗ trợ cho xu hướng tiếp theo sau khi bị phá vỡ Khối lượng có xu
hướng tăng nhẹ khi giá tiến gần với đường phía trên va2 thấp hơn khi giá ở gần đườngphía dưới
- Giá mục tiêu tối thiểu đạt được bằng cách đo độ cao của tam giác (AB) vàchiếu khoảng cách đó thẳng lên từ điểm bị phá vỡ C
Trang 371.2.5.7 Mẫu hình dạng tam giác hướng xuống
- Mẫu hình tam giác hướng xuống là hình ảnh phản chiếu của mẫu hình tam giác
hướng lên, nó được xem là mẫu hình đầu cơ giá xuống Trong mẫu hình có đường phía
trên dốc xuống và đường phía dưới nằm ngang
Hình 1.19: Mẫu hình dạng tam giác hướng xuống
- Mẫu hình này hoàn tất tại một mức giá thấp hơn đường nằm ngang phía dướivới một khối lượng giao dịch tăng cao Trong mẫu hình này, khối lượng giao dịch lớn
hơn ở biên dưới và thấp hơn ở biên trên
- Giá mục tiêu được xác định bằng cách đo độ cao của tam giác (AB) và chiếuxuống từ điểm bị phá vỡ C
1.2.5.8 Mẫu hình cờ hiệu và cờ đuôi nheo
Các mẫu hình cờ hiệu và cờ đuôi nheo khá phổ biến Chúng thường được xemxét cùng với nhau vì chúng thường xuất hiện như nhau Dạng cờ hiệu và cờ đuôi nheocho thấy sự tạm dừng ngắn trong xu hướng chính của thị trường
Nhìn vào hình 1.20 và 1.21 ta thấy:
- Cả hai mẫu hình đều có sự dịch chuyển giá trước đó trên một dường gần như làmột đường thẳng (gọi là cột cờ) ở một khối lượng giao dịch lớn
Trang 38- Sau đó giá sẽ tạm dừng trong khoảng từ 1 đến 3 tuần với một khối lượng giaodịch khá nhỏ.
- Xu hướng tiếp tục ở mức khối lượng giao dịch lớn
- Mẫu hình cờ hiệu giống một hình bình hành nhỏ có độ dốc ngược với xu
hướng trước đó
- Mẫu hình cờ đuôi nheo giống như mẫu hình tam giác đối xứng nhỏ
- Cả hai mẫu hình này có kỳ hạn tương đối ngắn và sẽ hoàn tất trong vòng 1 đến
3 tuần
Hình 1.20: Mẫu hình cờ hiệu
Hình 1.21: Mẫu hình đuôi nheo
Trang 391.2.6 Các chỉ báo kỹ thuật
1.2.6.1 Đường trung bình trượt giản đơn (Simple Moving Average- SMA)
SMA được xem là công cụ phân tích kỹ thuật phổ biến và được nhiều người tin
dùng nhất SMA được sử dụng phần lớn vào việc nhận biết hướng đi của xu hướng
đường giá Nhưng đôi khi cũng được sử dụng để phát hiện những tín hiệu mua và bán
Ví dụ: Giả sử rằng giá trị 5 ngày giao dịch gần nhất lần lượt là 49, 49.1, 50.5,49.8, 50.5 Giá trị của SMA(5) = (49 +49.1 +50.5 +49.8 +50.5)/5 = 49.8, giá trị SMAthấp hơn giá đóng cửa gần nhất là 50.5 Vì thế SMA đóng vai trò là mức giá hỗ trợ cho
đường giá
Hình 1.22: Đường SMA 5 ngày của cổ phiếu REE
Tín hiệu mua: tín hiệu mua xảy ra khi đường ngắn hạn vượt lên đường dài hạn.
- Đường Giá vượt lên đường SMA20
- Đường Giá vượt lên đường SMA50
- Đường SMA20 vượt lên SMA50 (tín hiệu dài hạn xác định xu hướng tăngtrong dài hạn)
- Đường Giá vượt lên đường SMA20 và đường SMA20 vượt lên SMA50 (xu
hướng tăng giá thể hiện rõ khi 3 đường chạm nhau và hướng lên)
Trang 40Hình 1.23: SMA cho tín hiệu mua
Tín hiệu bán: Tín hiệu bán xảy ra khi đường ngắn hạn xuống lên đường dài hạn.
- Đường Giá vượt xuống đường SMA20
- Đường Giá vượt xuống đường SMA50
- Đường SMA20 vượt xuống SMA50 (tín hiệu dài hạn xác định xu hướng giảmtrong dài hạn)
- Đường Giá vượt xuống đường SMA20 và đường SMA20 vượt xuống SMA50
(xu hướng giảm giá thể hiện rõ khi 3 đường chạm nhau và hướng xuống)
Hình 1.24: SMA cho tín hiệu bán