1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định nhu cầu canxi và phốt pho dễ hấp thu của ngan Pháp và vịt CV Super M nuôi thịt trong điều kiện chăn nuôi tập trung

25 333 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 737,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định nhu cầu canxi và phốt pho dễ hấp thu của ngan Pháp và vịt CV Super M nuôi thịt trong điều kiện chăn nuôi tập trung Sầm Văn Hải, Trần Việt Phương Bộ môn Dinh dưỡng, Thức ăn Ch

Trang 1

Xác định nhu cầu canxi và phốt pho dễ hấp thu của ngan Pháp và vịt CV Super M nuôi thịt

trong điều kiện chăn nuôi tập trung

Sầm Văn Hải, Trần Việt Phương

Bộ môn Dinh dưỡng, Thức ăn Chăn nuôi và Đồng cỏ

Tóm tắt

Hai thí nghiệm đã được tiến hành nhằm xác định nhu cầu của ngan Pháp và vịt CV Super M nuôi thịt về canxi và phốt pho dễ hấp thu Thí nghiệm thứ nhất được thực hiện trên 702 ngan Pháp lai thương phẩm (R71 x R51) (351 mái và 351 trống) tại trang trại chăn nuôi ngan thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Thí nghiệm được bố trí theo kiểu thí nghiệm 2 nhân tố: Nhân tố 1 là mức canxi trong khẩu phần (có 3 mức: mức cao (1,1%; 1,0% và 0,95%); mức trung bình (1,0%; 0,90% và 0,85%) và mức thấp (0,90%; 0,80% và 0,75%) tương ứng với 3 giai đoạn sinh trưởng (từ 0-3 tuần tuổi (tt); từ 4-7 tt và từ 8 tt đến xuất chuồng) Nhân tố thứ hai là mức phốt pho dễ hấp thu, gồm 3 mức: mức cao (0,50%; 0,45% và 0,40%); mức trung bình (0,45%; 0,40% và 0,35%) và mức thấp (0,40%; 0,35% và 0,30%) tương ứng với các giai đoạn như trên Hệ số tiêu hóa phốt pho để tính tỷ lệ phốt pho hữu dụng được căn cứ theo khuyến cáo của INRA, (2004) Tổng số (3 x 3) 9 lô thí nghiệm, được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn, mỗi lô có 3 lần lặp lại Thí nghiệm thứ hai được thực hiện trên 720 vịt CV Super M (dòng M2) nuôi thịt (324 mái và 324 trống) tại trang trại chăn nuôi vịt thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội Thí nghiệm cũng được thiết kế theo kiểu thí nghiệm 2 nhân tố tương tự như thí nghiệm thứ nhất Nhân tố 1 là mức canxi khẩu phần, gồm 3 mức: mức cao (1,10% và 1,00%); mức trung bình (1,00% và 0,90%) và mức thấp (0,90% và 0,80%) tương ứng với

2 giai đoạn sinh trưởng (từ 0-2 tt và từ 3 tt đến xuất chuồng) Nhân tố 2 là mức phốt pho dễ hấp thu trong khẩu phần, gồm 3 mức: mức cao: (0,50% và 0,45%); mức trung bình (0,45% và 0,40%) và mức thấp (0,40% và 0,35%) tương ứng với 2 giai đoạn như trên, tổng số (3 x 3) 9 lô thí nghiệm, mỗi lô có 3 lần lặp lại, được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn Các kết quả của hai thí nghiệm cho thấy, Nhu cầu canxi của ngan Pháp nuôi thịt được biểu thị bằng tỷ lệ (%) trong thức ăn hỗn hợp 88% vật chất khô là: 1,10; 1,00 và 0,95% tương ứng với các giai đoạn sinh trưởng từ 0 đến 3 tuần tuổi; từ 4 đến 7 tt và từ 8 tt đến xuất chuồng Nhu cầu phốt pho dễ hấp thu của ngan Pháp nuôi thịt: 0,50%; 0,45% và 0,40%, tương ứng Đối với vịt CV Super M2 nuôi thịt, nhu cầu canxi là: 1,00 và 0,90% tương ứng với các giai đoạn sinh trưởng từ 0 – 2 tt và từ 3 tt đến xuất chuồng và nhu cầu phốt pho dễ hấp thu là: 0,45% và 0,40% tương ứng với các giai đoạn như trên Tỷ lệ Ca:Pdht trong thức ăn hỗn hợp tối ưu cho sinh trưởng, hiệu quả thức ăn và khoáng hoá xương của ngan Pháp và vịt CV Super M là 2,2/1

1 Đặt vấn đề

Canxi và phốt pho là hai nguyên tố khoáng phổ biến nhất trong cơ thể động vật Canxi chiếm 1/3 tổng lượng khoáng và 1,5% khối lượng cơ thể gia cầm (Underwood, 1981; Klasing, 1998; Larbier & Leclercq, 1994), chúng cũng là những nguyên tố cần có trong khẩu phần thức ăn với số lượng lớn hơn nhiều so với các nguyên tố khác (Siebrits, 1993; Elaroussi và ctv, 1994) Trong cơ thể động vật, canxi và phốt pho không chỉ có mặt trong tất cả các tế bào sống mà còn trong các dịch gian bào (Underwood, 1981)

Chức năng sinh học quan trọng, có ý nghĩa sống còn của canxi và phốt pho đối với sinh trưởng, phát triển và cho năng suất của gia súc, gia cầm là tham gia vào quá trình khoáng hóa xương Bộ xương gia cầm chứa 98-99% canxi, phần lớn canxi xương ở dạng hydroxyapatit

Trang 2

[Ca10(PO4)6(OH)2], một số lượng nhỏ canxi phốt phát không kết tinh và canxi carbonate (Siebrits, 1993; Dudek, 1997; Klasing, 1998) Mặc dù chỉ có hàm lượng rất nhỏ trong dịch nội và ngoại bào, nhưng canxi có vai trò cực kỳ quan trọng đối với các hoạt động sống như tham gia vào quá trình vận mạch, đông máu, truyền các xung thần kinh, co cơ (Langemann, 1984; McDonald và cs, 1995; Dudek và cs, 1997; Weaver, 2001), tham gia điều hòa áp suất thẩm thấu màng tế bào (Dudek, 1997; McWatters, 1997) Phốt pho còn là thành phần của AND, ARN, của nhiều Co-enzyme và tham gia vào quá trình trao đổi năng lượng, protein và mỡ (Underwood, 1981)

Ở gia cầm nuôi thịt, canxi và phốt pho trong khẩu phần chủ yếu được sử dụng cho tạo xương Thiếu canxi và phốt pho trong thức ăn thường dẫn đến: giảm khả năng ăn vào, tăng chuyển hóa cơ bản, còi, loãng xương, giảm tốc độ sinh trưởng (Leeson và Summers, 2001) Bởi vậy, đáp ứng đủ nhu cầu canxi và phốt pho của gia cầm có ý nghĩa rất quan trọng Việc nghiên cứu xác định nhu cầu của gà về canxi và phốt pho đã được tiến hành từ hơn 75 năm qua (Driver

và cs, 2005), nhưng những nghiên cứu xác định nhu cầu canxi và phốt pho cho thủy cầm, đặc biệt là cho ngan và vịt còn rất hạn chế (Rush và cs, 2005) Đề tài này được tiến hành nhằm xác định nhu cầu của ngan Pháp và vịt CV Super M nuôi thịt về canxi và phốt pho dễ hấp thu trong điều kiện chăn nuôi tập trung ở Việt nam

2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

2.1 Vật liệu nghiên cứu

- Bảy trăm lẻ hai (702) ngan Pháp (R71 x R51) thương phẩm (351 mái và 351 trống) và

648 vịt CV Super M2 (324 mái và 324 trống) đã được sử dụng để khảo sát nhu cầu canxi và phốt pho dễ hấp thu của chúng Ngan và vịt thí nghiệm được đeo số cánh từng con, nuôi nhốt hoàn toàn trong chuồng (có chất độn chuồng) kiểu thông thoáng tự nhiên

- Thức ăn cho ngan và vịt thí nghiệm được sản xuất dưới dạng viên, được phối chế từ các

phát (CaHPO4), premix vitamin – khoáng và các axit amin tổng hợp

Trang 3

2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành thí nghiệm

- Thí nghiệm trên ngan Pháp nuôi thịt được tiến hành tại một trang trại chăn nuôi ngan thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam từ tháng 4 đến tháng 7 năm 2009

- Thí nghiệm trên vịt CV Super M tại một trang trại chăn nuôi vịt siêu thịt thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2009

2.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm

2.3.1 Thí nghiệm trên ngan Pháp nuôi thịt

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hai nhân tố: (i) mức canxi (Ca) trong khẩu phần, gồm 3 mức: mức trung bình (1,00-0,90-0,85 %) (tương ứng với các giai đoạn sinh trưởng từ 0-3; 4-7 và 8-10 tt); mức cao (1,10-1,00-0,95 %) và mức thấp (0,90-0,80-0,75 %) tương ứng với các giai đoạn như trên và (ii) mức phốt pho dễ hấp thu (Pdht), gồm 3 mức: mức trung bình (0,45-0,40-0,35%); mức cao (0,50-0,45-0,40 %) và thấp (0,40-0,35-0,30%) tương ứng với các giai đoạn như trên

Bảng 1a Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên ngan Pháp nuôi thịt

Giai đoạn từ 0-3 tuần tuổi

Trang 4

Ghi chú: *Giá trị ME, protein thô và lysine th là kết quả nghiên cứu của thí nghiệm trước (2008): Lysine th:

lysine tiêu hóa; ME: Năng lượng trao đổi; Pdht: phốt pho dễ hấp thu; * khuyến cáo của hãng Grimaud Freres (2006)

Hàm lượng năng lượng (2850-2900-3000 kcal/kg), protein (20-18-16%) và lysine tiêu hóa (1,00-0,90-0,80%) trong khẩu phần của ngan ở các lô là như nhau Tổng số (3 x 3) 9 lô thí nghiệm, được bố trí theo phương pháp ngẫu nghiên hoàn toàn, mỗi lô có 3 lần lặp lại (đồng đều trống mái) Sơ đồ bố trí thí nghiệm được trình bày ở bảng 1a

2.2.2 Thí nghiệm trên vịt CV Super M nuôi thịt

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hai nhân tố: (i) mức canxi (Ca) trong khẩu phần, gồm 3 mức: mức trung bình (1,00-0,90%) (tương ứng với các giai đoạn sinh trưởng từ 0-2 và từ 3 tt đến xuất chuồng); mức cao (1,10-1,00 %) và mức thấp (0,90-0,80 %) tương ứng với các giai đoạn như trên và (ii) mức phốt pho dễ hấp thu (Pdht), gồm 3 mức : mức trung bình (0,45-0,40%); mức cao (0,50-0,45%) và thấp (0,40-0,35%) tương ứng với các giai đoạn như trên Hàm lượng năng lượng (2850-2950 kcal/kg), protein (20-17%) và lysine tiêu hóa (1,00-0,90%) trong khẩu phần của ngan ở các lô là như nhau Tổng số (3 x 3) 9 lô thí nghiệm, được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn, mỗi lô có 3 lần lặp lại (36 mái và 36 trống/lô) Sơ đồ bố trí thí nghiệm được trình bày ở bảng 1b

Bảng 1b Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên vịt CV Super M nuôi thịt

Giai đoạn từ 0-2 tuần tuổi

Ghi chú: *Giá trị ME, protein thô và lysine th là kết quả nghiên cứu của thí nghiệm trước (2008): Lysine th =

lysine tiêu hóa; ME: Năng lượng trao đổi; Pdht: phốt pho dễ hấp thu; * khuyến cáo của hãng Cherry Valley (2006)

Trang 5

2.2.3 Khẩu phần thức ăn và chế độ nuôi dưỡng

Trước khi phối hợp khẩu phần (KP), tất cả các nguyên liệu được sử dụng đều được lấy mẫu, phân tích xác định hàm lượng các chất dinh dưỡng chủ yếu như : ẩm (TCVN-4326-2001),

xơ thô (TCVN-4329-1993), mỡ thô (TCVN-4331-2001), protein thô (TCVN-4328-2001), canxi (TCVN-1526-1986), phốt pho (TCVN-1525-2001) và các axit amin (HPLC) Hàm lượng các axit amin tiêu hóa của các nguyên liệu được tính toán trên cơ sở sử dụng hệ số tiêu hóa của từng axit amin theo khuyến cáo của hãng AJINOMOTO cho gia cầm (Ajinomoto Animal Nutrition, 1998) Hàm lượng phốt pho dễ hấp thu của các nguyên liệu thức ăn được tính toán dựa trên cơ sở

sử dụng hệ số tiêu hóa phốt pho theo khuyến cáo của INRA (2004)

Các khẩu phần thức ăn được phối hợp bằng việc sử dụng phần mềm xây dựng khẩu phần tối ưu của Mỹ (Brill), đảm bảo sự thay đổi không đáng kể về tỷ lệ của các nguyên liệu có nguồn gốc hữu cơ trong các khẩu phần, nhưng hàm lượng canxi và phốt pho được điều chỉnh trên cơ sở tăng giảm tỷ lệ bột đá (CaCO3) và dicanxi phốt phát (CaHPO4) (các bảng 2a, 2b và 2c) Các khẩu phần đều được bổ sung premix vitamin-khoáng có tỷ lệ và thành phần như nhau để đảm bảo hàm lượng vitamin D3 trong khẩu phần là như nhau

2.2.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thu thập số liệu

- Ngan và vịt thí nghiệm được cân vào lúc 1 ngày tuổi và vào các thời điểm chuyển tiếp giữa các giai đoạn sinh trưởng để khảo sát sự thay đổi khối lượng cơ thể và tốc độ sinh trưởng

- Thức ăn cho vào được cân hàng ngày, thức ăn thừa được cân hàng tuần để khảo sát lượng thức ăn ăn vào hàng ngày, tiêu tốn và chi phí thức ăn/kg tăng trọng

- Khi được 10 tuần tuổi (đối với ngan) và 7 tuần tuổi (đối với vịt), mỗi lô chọn 6 con đồng đều trống mái (1 trống và 1 mái/lần lặp lại) có khối lượng trung bình để giết mổ, lấy xương ống chân (xương chày-tibia) (loại bỏ da, cơ, gân, mỡ, sau đó sấy khô) để phân tích xác định hàm lượng khoáng tổng số để đánh giá mức độ tích lũy canxi và phốt pho trong xương

e = Ảnh hưởng của sai số

Các kết quả thí nghiệm trình bày trong các bảng số liệu là giá trị trung bình ± sai số chuẩn của số trung bình (SEM) Student - T-Test được sử dụng để so sánh các giá trị trung bình

Trang 6

với độ tin cậy 95% Các giá trị trung bình được coi là khác nhau có ý nghĩa thống kê khi giá trị P nhỏ hơn 0,05

Trang 7

3 Kết quả và thảo luận

3.1 Ảnh hưởng của mức canxi và phốt pho trong khẩu phần đến sinh trưởng và hiệu quả

sử dụng thức ăn của ngan Pháp và vịt CV Super M nuôi thịt

Bảng 3 Ảnh hưởng của mức canxi và phốt pho trong khẩu phần đến diễn biến khối lượng cơ thể

của ngan Pháp và vịt CV Super M nuôi thịt

Ghi chú: tt = tuần tuổi, Ca-th = mức canxi thấp; Ca-tb = mức canxi trung bình; Ca-c = mức canxi cao; P-th =

mức phốt pho thấp; P-tb = mức phốt pho trung bình; P-c = mức phốt pho cao; các giá trị trung bình ở các hàng trong cùng một cột có các chữ cái khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê

Các số liệu ở bảng 3 cho thấy, có sự khác biệt rất rõ về sự biến đổi khối lượng cơ thể của ngan Pháp và vịt CV Super M đối với việc tăng hàm lượng canxi và phốt pho trong khẩu phần Nhóm ngan được ăn khẩu phần có mức Ca và phốt pho dễ hấp thu (Pdht) cao có khối lượng cơ thể cao hơn so với nhóm ngan được ăn khẩu phần có mức Ca và Pdht thấp và trung bình Mức độ

Trang 8

sai khác này rất rõ rệt vào thời điểm 3 và 7 tt (P < 0,05) Ở vịt CV Super M, nhóm vịt được ăn khẩu phần có mức Ca và Pdht trung bình có khối lượng cơ thể lúc 2, 3 và 7 tt vượt trội hơn cả so với các nhóm khác Mức độ sai khác rõ rệt quan sát thấy vào các thời điểm lúc 2 và 7 tt (P

<0,05) Các số liệu ở bảng 3 cũng cho thấy có ảnh hưởng tương tác rõ rệt giữa hàm lượng Ca và Pdht khẩu đối với vịt CV Super M, theo đó khối lượng cơ thể cao nhất ở các giai đoạn 2, 3 và 7 tt thấy ở nhóm vịt được ăn khẩu phần có hàm lượng Ca và Pdht trung bình Khác với vịt CV Super

M, ảnh hưởng tương tác này ở ngan Pháp chỉ rõ rệt ở giai đoạn 3 tt, khối lượng cơ thể cao nhất vào thời điểm này thấy ở nhóm ngan được ăn KP có hàm lượng Ca và Pdht cao

Các số liệu về tăng trọng (g/con/ngày) ở các bảng 4a và 4b phản ánh rất rõ đáp ứng của ngan Pháp và vịt CV Super M về tốc độ sinh trưởng đối với hàm lượng Ca và Pdht trong khẩu phần Đối với ngan Pháp, ở giai đoạn ngan con (0-3 tt) tăng trọng của ngan tăng rất rõ rệt cùng với sự tăng hàm lượng canxi khẩu phần Tăng trọng (trung bình trống mái) của ngan ở các lô được ăn KP có mức Ca cao cao hơn so với các lô được ăn khẩu phần có mức Ca trung bình 6,2%

và cao hơn so với các lô được ăn KP có mức Ca thấp 12,3% (P <0,001) Trong giai đoạn ngan dò (4-7 tt), tốc độ sinh trưởng của ngan cũng có xu hướng tương tự, nhưng sự chênh lệch giữa nhóm cao so với nhóm trung bình và thấp không lớn (1,3-3,4 %)

Bảng 4a Ảnh hưởng của mức canxi và phốt pho trong khẩu phần đến tăng trọng của ngan Pháp

Trang 9

Ghi chú: T = trống; M = mái; TB = trung bình trống mái; tt = tuần tuổi, Ca-th = mức canxi thấp; Ca-tb =

mức canxi trung bình; Ca-c = mức canxi cao; P-th = mức phốt pho thấp; P-tb = mức phốt pho trung bình; P-c

= mức phốt pho cao; các giá trị trung bình ở các hàng trong cùng một cột có các chữ cái khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê

Tăng hàm lượng phốt pho trong khẩu phần đã làm tăng tốc độ sinh trưởng của ngan trống

và mái trong hầu hết các giai đoạn sinh trưởng Tuy nhiên, đáp ứng của ngan đối với sự tăng giảm hàm lượng phốt pho trong khẩu phần không mạnh và rõ như đối với mức canxi

Các số liệu ở các bảng 4a và 4b phản ánh một xu thế đáp ứng khác ở vịt CV Super M so với ngan Pháp Tăng hàm lượng Ca và Pdht trong khẩu phần khoảng 10% (từ mức thấp lên mức trung bình) đã là tăng tốc độ sinh trưởng của vịt ở hầu hết các giai đoạn sinh trưởng, nhưng khi tiếp tục tăng từ mức trung bình lên mức cao, không thấy có sự tăng tương ứng của tốc độ sinh trưởng

Các số liệu ở các bảng 4a và 4b cũng cho thấy, có ảnh hưởng tương tác giữa mức Ca và Pdht trong khẩu phần đối với sinh trưởng của ngan Pháp và vịt CV Super M nuôi thịt

Bảng 4b Ảnh hưởng của mức canxi và phốt pho trong khẩu phần đến tăng trọng của ngan Pháp

Trang 10

Ghi chú:T = trống; M = mái; TB = trung bình trống mái; tt = tuần tuổi, Ca-th = mức canxi thấp; Ca-tb =

mức canxi trung bình; Ca-c = mức canxi cao; P-th = mức phốt pho thấp; P-tb = mức phốt pho trung bình; P-c

= mức phốt pho cao; các giá trị trung bình ở các hàng trong cùng một cột có các chữ cái khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê

Khi khảo sát mối quan hệ tương tác này chúng tôi thấy, đối với ngan Pháp, nhìn chung trong các giai đoạn sinh trưởng, tốc độ sinh trưởng đạt cao nhất ở nhóm ngan được ăn KP có mức Ca và phốt pho cao Đối với vịt CV Super M, tốc độ sinh trưởng cao nhất thấy ở nhóm vịt được ăn KP có mức Ca và Pdht trung bình (P < 0,05) Điều đó cho thấy, ngan Pháp nhậy cảm hơn so với vịt CV Super M về hàm lượng Ca và Pdht khẩu phần

Từ những đáp ứng trên của ngan Pháp và vịt CV Super M về tốc độ sinh trưởng đối với mức canxi và phốt pho khẩu phần, có thể rút ra nhận xét rằng, yêu cầu Ca và phốt pho của giống vịt siêu thịt CV Super M và đặc biệt là ngan Pháp là khá cao so với một số khuyến cáo về nhu cầu Ca và phốt pho cho gà broiler và cho vịt Bắc Kinh

Mức khuyến cáo của NRC (1994) về mức Ca trong khẩu phần cho vịt Bắc kinh là 0,65% cho giai đoạn từ 0-2 tt và 0,6% cho giai đoạn từ 3-7 tt Những công trình nghiên cứu trên thuỷ cầm từ những năm 1970 của thế kỷ 20 trở về trước đều cho thấy nhu cầu của vịt và ngan về Ca

và phốt pho rất thấp Dean và cs (1967) khi nghiên cứu trên vịt Bắc kinh từ 1-28 ngày tuổi cho thấy nhu cầu Ca cho sinh trưởng cao nhất là 0,56% Một nghiên cứu trên ngan của Leclercq và cs (1979) cho thấy, nhu cầu phốt pho dễ hấp thu để đạt tốc độ sinh trưởng tối đa của ngan là: 3,66g; 2,49g và 1,79g/kg tương ứng với các giai đoạn 0-3; 3-6 và 6-10 tt

Một số nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng, mức khuyến cáo về nhu cầu Ca của các nghiên cứu trước đây cũng như của NRC (1994) là rất thấp và không còn phù hợp với tốc độ sinh trưởng của các giống thuỷ cầm hiện nay Rush và cs (2005) đã thông báo, nhu cầu Ca cho sinh trưởng tối đa của vịt Bắc Kinh là 0,95% (cao hơn so với khuyến cáo của NRC (1994) 1,5 lần Rodehutscord và cs (2006) khi so sánh hiệu quả sử dụng phốt pho khẩu phần của gà broiler, vịt Bắc Kinh, gà tây và cút cho thấy, hiệu quả sử dụng phốt pho thức ăn của vịt thấp hơn rất nhiều so với gà và cút Điều đó có nghĩa là để đáp ứng nhu cầu phốt pho của vịt và ngan cần lưu ý đến hiệu quả sử dụng phốt pho trong thức ăn của chúng

Trang 11

Tuy nhiên, để có thể rút ra những kết luận về nhu cầu Ca và phốt pho cho ngan và vịt trong nghiên cứu này cần phải căn cứ vào hiệu quả sử dụng thức ăn (bảng 5a và 5b)

Các số liệu ở các bảng 5a cho thấy, đối với ngan Pháp, ngoại trừ giai đoạn ngan con (0-3 tt) còn ở hầu hết các giai đoạn sinh trưởng, lượng thức ăn ăn vào của ngan không chịu ảnh hưởng bởi hàm lượng Ca và phốt pho trong khẩu phần và cũng không có quan hệ tương tác giữa mức

Ca và phốt pho khẩu phần đối với khả năng tiêu thụ thức ăn của ngan Đối với vịt CV Super M, không thấy có sự sai khác về khả năng ăn vào của vịt ở các lô được ăn khẩu phần có các mức canxi và phốt pho khác nhau (P > 0,05), và cũng không thấy có ảnh hưởng tương tác giữa hàm lượng canxi và phốt pho trong khẩu phần đối với khả năng tiêu thụ thức ăn của vịt (P > 0,05) Mức tiêu tốn và chi phí thức ăn/kg tăng trọng của ngan Pháp được ăn khẩu phần có mức canxi cao là 1,36 kg (giai đoạn từ 0-3 tt) và 2,60 kg (giai đoạn 0-10 tt) thấp hơn so với các nhóm ngan được ăn khẩu phần có mức Ca trung bình và thấp từ 3 đến 6 % Chi phí thức ăn cho ngan ở nhóm này cũng thấp hơn so với hai nhóm còn lại từ 4-5% Sự khác biệt này rất rõ rệt trong giai đoạn trước 3 tuần tuổi

Ở thí nghiệm trên vịt CV Super M, nhóm vịt được ăn khẩu phần có mức Ca trung bình có mức tiêu tốn và chi phí thức ăn thấp nhất và sai khác có ý nghĩa thống kê đối với hai nhóm còn lại (P <0,05)

Các số liệu ở bảng 5b cũng cho thấy, tăng mức Pdht trong khẩu phần đã cải thiện hiệu quả chuyển hoá thức ăn ở ngan Pháp Mức chi phí và tiêu tốn thức ăn thấp nhất thấy ở nhóm ngan được ăn khẩu phần có hàm lượng phốt pho cao Ở vịt CV Super M, mức tiêu tốn và chi phí thức

ăn thấp nhất thấy ở nhóm vịt được ăn khẩu phần có mức Pdht trung bình (P < 0,05)

Bảng 5a Ảnh hưởng của mức canxi và phốt pho trong khẩu phần đến khả năng tiêu thụ thức ăn

của ngan Pháp và vịt CV Super M nuôi thịt

Trang 12

Ghi chú: tt = tuần tuổi, Ca-th = mức canxi thấp; Ca-tb = mức canxi trung bình; Ca-c = mức canxi cao; P-th =

mức phốt pho thấp; P-tb = mức phốt pho trung bình; P-c = mức phốt pho cao; các giá trị trung bình ở các hàng trong cùng một cột có các chữ cái khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê

Ở Việt Nam, nguồn thức ăn chứa Ca rất sẵn có và rẻ nên chi phí thức ăn phụ thuộc vào hiệu quả chuyển hóa thức ăn nhiều hơn là giá của nguyên liệu chứa nhiều Ca trong KP So với

Ca, phốt pho là thành phần dinh dưỡng tương đối đắt nên chi phí thức ăn không chỉ phụ thuộc vào hiệu quả chuyển hóa thức ăn mà còn phụ thuộc vào giá tiền của một đơn vị (khối lượng hoặc

tỷ lệ) phốt pho trong KP

Khi khảo sát quan hệ tương tác giữa mức Ca và phốt pho khẩu phần đối với hiệu quả sử dụng thức ăn của ngan Pháp và vịt CV Super M nuôi thịt, chúng tôi thấy, đối với ngan Pháp, nhìn chung, hiệu quả thức ăn tốt nhất (được thể hiện ở mức tiêu tốn và chi phí thức ăn/kg tăng trọng) thấy ở nhóm ngan được ăn khẩu phần có mức Ca và phốt pho cao Mức tiêu tốn thức ăn (tính trung bình trong cả giai đoạn thí nghiệm từ 0-10 tt) là 2,46 kg thấp hơn so với các nhóm còn lại từ 4,3 – 9,3% (P = 0,000) và mức chi phí thức ăn là 14,6 nghìn đồng/kg tăng trọng, thấp hơn so với các nhóm còn lại từ 3,3 – 8,2 %

Bảng 5b Ảnh hưởng của mức canxi và phốt pho trong khẩu phần đến hiệu quả sử dụng thức ăn

của ngan Pháp và vịt CV Super M nuôi thịt

Ngày đăng: 18/05/2015, 01:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1a. Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên ngan Pháp nuôi thịt. - Xác định nhu cầu canxi và phốt pho dễ hấp thu của ngan Pháp và vịt CV Super M nuôi thịt trong điều kiện chăn nuôi tập trung
Bảng 1a. Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên ngan Pháp nuôi thịt (Trang 3)
Bảng 1b. Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên vịt CV Super M nuôi thịt. - Xác định nhu cầu canxi và phốt pho dễ hấp thu của ngan Pháp và vịt CV Super M nuôi thịt trong điều kiện chăn nuôi tập trung
Bảng 1b. Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên vịt CV Super M nuôi thịt (Trang 4)
Bảng 3. Ảnh hưởng của mức canxi và phốt pho trong khẩu phần đến diễn biến khối lượng cơ thể - Xác định nhu cầu canxi và phốt pho dễ hấp thu của ngan Pháp và vịt CV Super M nuôi thịt trong điều kiện chăn nuôi tập trung
Bảng 3. Ảnh hưởng của mức canxi và phốt pho trong khẩu phần đến diễn biến khối lượng cơ thể (Trang 7)
Bảng 4a. Ảnh hưởng của mức canxi và phốt pho trong khẩu phần đến tăng trọng của ngan Pháp - Xác định nhu cầu canxi và phốt pho dễ hấp thu của ngan Pháp và vịt CV Super M nuôi thịt trong điều kiện chăn nuôi tập trung
Bảng 4a. Ảnh hưởng của mức canxi và phốt pho trong khẩu phần đến tăng trọng của ngan Pháp (Trang 8)
Bảng 4b. Ảnh hưởng của mức canxi và phốt pho trong khẩu phần đến tăng trọng của ngan Pháp - Xác định nhu cầu canxi và phốt pho dễ hấp thu của ngan Pháp và vịt CV Super M nuôi thịt trong điều kiện chăn nuôi tập trung
Bảng 4b. Ảnh hưởng của mức canxi và phốt pho trong khẩu phần đến tăng trọng của ngan Pháp (Trang 9)
Bảng 5a. Ảnh hưởng của mức canxi và phốt pho trong khẩu phần đến khả năng tiêu thụ thức ăn - Xác định nhu cầu canxi và phốt pho dễ hấp thu của ngan Pháp và vịt CV Super M nuôi thịt trong điều kiện chăn nuôi tập trung
Bảng 5a. Ảnh hưởng của mức canxi và phốt pho trong khẩu phần đến khả năng tiêu thụ thức ăn (Trang 11)
Bảng 5b. Ảnh hưởng của mức canxi và phốt pho trong khẩu phần đến hiệu quả sử dụng thức ăn - Xác định nhu cầu canxi và phốt pho dễ hấp thu của ngan Pháp và vịt CV Super M nuôi thịt trong điều kiện chăn nuôi tập trung
Bảng 5b. Ảnh hưởng của mức canxi và phốt pho trong khẩu phần đến hiệu quả sử dụng thức ăn (Trang 12)
Bảng 6. Ảnh hưởng của mức canxi và phốt pho trong khẩu phần đến hàm lượng khoáng tổng số - Xác định nhu cầu canxi và phốt pho dễ hấp thu của ngan Pháp và vịt CV Super M nuôi thịt trong điều kiện chăn nuôi tập trung
Bảng 6. Ảnh hưởng của mức canxi và phốt pho trong khẩu phần đến hàm lượng khoáng tổng số (Trang 14)
Bảng 2b. Khẩu phần thức ăn cho ngan thí nghiệm giai đoạn 4-7 tt. (%) - Xác định nhu cầu canxi và phốt pho dễ hấp thu của ngan Pháp và vịt CV Super M nuôi thịt trong điều kiện chăn nuôi tập trung
Bảng 2b. Khẩu phần thức ăn cho ngan thí nghiệm giai đoạn 4-7 tt. (%) (Trang 20)
Bảng 2c. Khẩu phần thức ăn cho ngan thí nghiệm giai đoạn 8-10 tt. (%) - Xác định nhu cầu canxi và phốt pho dễ hấp thu của ngan Pháp và vịt CV Super M nuôi thịt trong điều kiện chăn nuôi tập trung
Bảng 2c. Khẩu phần thức ăn cho ngan thí nghiệm giai đoạn 8-10 tt. (%) (Trang 21)
Bảng 2a. Khẩu phần thức ăn cho vịt CV Super M giai đoạn từ 0 đến 2 tt (%). - Xác định nhu cầu canxi và phốt pho dễ hấp thu của ngan Pháp và vịt CV Super M nuôi thịt trong điều kiện chăn nuôi tập trung
Bảng 2a. Khẩu phần thức ăn cho vịt CV Super M giai đoạn từ 0 đến 2 tt (%) (Trang 22)
Bảng 2b. Khẩu phần thức ăn cho vịt CV Super M giai đoạn từ 2 tt đến xuất chuồng (%). - Xác định nhu cầu canxi và phốt pho dễ hấp thu của ngan Pháp và vịt CV Super M nuôi thịt trong điều kiện chăn nuôi tập trung
Bảng 2b. Khẩu phần thức ăn cho vịt CV Super M giai đoạn từ 2 tt đến xuất chuồng (%) (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w