Nhu cầu năng lượng cho duy trì của bò liên quan mật thiết với khối lượng trao đổi của cơ thể và khác nhau phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như khối lượng cơ thể, giống hoặc kiểu gen, giới
Trang 1KẾT QUẢ KIỂM TRA NHU CẦU NĂNG LƯỢNG CHO DUY TRÌ CỦA BÒ SỮA LAI F2
(3/4 HF) VÀ F3 (7/8 HF) ĐANG VẮT SỮA NUÔI TẠI BA VÌ - HÀ NỘI
VÀ HÓC MÔN – TP HỒ CHÍ MINH
1 Lê Minh Lịnh, Nguyễn Văn Quân
Viện Chăn Nuôi; 1
Trung tâm Khuyến nông Quốc gia
Tóm tắt
Một thí nghiệm nhàm kiểm tra so sánh nhu cầu năng lượng cho duy trì của bò sữa lai F2 (3/4HF)
và F3 (7/8HF) đang vắt sữa nuôi tại Ba Vì – Hà Nội và Hóc Môn – TP Hồ Chí Minh với nhu cầu này trong thí nghiệm trao đổi đói đã được tiến hành trên 94 bò cái đang vắt sữa bao gồm 34 bò F2 (3/4HF) và
60 bò F3 (7/8HF) ở các giai đoạn vắt sữa khác nhau
Kết quả cho thấy: Nhu cầu năng lượng trao đổi cho duy trì của bò đang vắt sữa trong thực tế sản xuất giống F2 và F3 là 0,522 (MJ/ngày/Kg BW 0,75 ) và dao động trong khoảng hẹp 0,499 – 0,543 (MJ/ngày/Kg BW0,75) So với nhu cầu xác địng trong trao đổi đói: 0,4287 (MJ/ngày/Kg BW 0,75 ) là gần tương đương và rất gần với kết quả của các nghiên cứu gần đây
1 Đặt vấn đề
Xác định chính xác nhu cầu năng lượng của bò để từ đó lên khẩu phần ăn thích hợp cho
bò là điều hết sức quan trọng trong nghiên cứu dinh dưỡng cũng như trong thực tế chăn nuôi của các nông hộ Khẩu phần ăn hợp lý sẽ giúp việc lên kế hoạch thức ăn (có kế hoạch sản xuất, thu mua, dự trữ thức ăn) tại các thời điểm thích hợp làm giảm giá thành sản phẩm và tăng hiệu quả chăn nuôi
Hiện nay nước ta vẫn chưa có một hệ thống đầy đủ về nhu cầu dinh dưỡng trong chăn nuôi gia súc, gia cầm nói chung và trong chăn nuôi bò sữa nói riêng Ta vẫn phải dựa vào các hệ thống nhu cầu dinh dưỡng của các nước tiên tiến như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Úc… nơi mà khác xa chúng ta về khí hậu, giống, chế độ dinh dưỡng và phương thức chăn nuôi Vì vậy môt hệ thống hoàn chỉnh về nhu cầu dinh dưỡng cho gia súc gia cầm Việt Nam là một điều cấp bách trước mắt của các nhà nghiên cứu dinh dưỡng vật nuôi và đặc biệt là của các nông hộ chăn nuôi
Nhu cầu năng lượng trao đổi cho duy trì (MEm) chủ yếu được tính toán dựa trên các số liệu về trao đổi đói trong buồng trao đổi chất (nhiệt sản sinh ra lúc đói – Fasting Heat Production (FHP) Phương pháp này chỉ làm được đối với bê, bò không vắt sữa còn đối với bò vắt sữa thì khó có thể thực hiện được Nếu có làm thì cũng không thể chính xác
Nhu cầu năng lượng cho duy trì của bò liên quan mật thiết với khối lượng trao đổi của cơ thể và khác nhau phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như khối lượng cơ thể, giống hoặc kiểu gen, giới tính, tuổi, trạng thái sinh lý, vùng sinh thái Những nghiên cứu gần đây nhất về nhu cầu năng lượng trao đổi (ME) cho duy trì (MEm) của bò ở các nước nhiệt đới như Nhật (Lee và CS., 2003), Thái Lan (Odai và CS., 2005) đã chỉ ra rằng MEm của bò ở các nước này đều thấp hơn từ 16-17% so với MEm của bò ở các nước ôn đới như Anh (AFRC, 1993) và Pháp (INRA, 1989),
Trang 20.401 MJ ME/kg W 0.75 (Nhật), 0.409 MJ ME/kg W 0.75 (Thái Lan) so với 0,48 MJ ME/kg W0.75 (Anh) và 0.489 MJ ME/kg W0.75 (Pháp) MEm của bò lai HF (0.409 MJ ME/kg W0.75) được xác định là cao hơn so với MEm của bò Brahman (0.334 MJ ME/kg W 0.75) và của bò địa phương (0.245 MJ ME/kg W 0.75) (Odai và CS., 2002) NRC (1996; 2001), đúc rút rằng MEm cho các giống bò hướng sữa thường cao hơn so với bò hướng thịt
Gần đây rất nhiều nghiên cứu cho thấy giá trị MEm và NEm cho bò sữa ngày nay cao hơn rất nhiều so với các tiêu chuẩn trước kia (Yan và cs (1997), Birnie (1999), Agnew và Yan (2000)….) ví dụ như Birnie (1999) báo cáo rằng: Nhiệt sản xuất lúc đói (FHP) hay NEm là 0,39 MJ/kg0,75 ở bò cái cạn sữa, không chửa được nuôi ở mức duy trì trước khi cho trao đổi đói FHP được tính trong nghiên cứu này cao hơn giá trị FHP đang sử dụng tại châu Âu và Bắc Mỹ (Van
Es, 1978; NRC, 1988; AFRC, 1990) khoảng 36% hay Agnew và Yan (2000)thấy: Giá trị trung bình MEm tính là 0.62 MJ/kg0,75 , cao hơn 27% so với giá trị cùa Van Es (1975) và cũng cao hơn 27% so với giá trị tính từ ARC (1980) Vì vậy việc việc áp dụng nhu cầu năng lượng cho duy trì
cũ ở bò sữa hiện không còn chính xác nữa và nhiều nước như UK, Hoa Kỳ và cả châu Âu đang hiệu chỉnh để có hệ thống mới Để có được và nhu cầu năng lượng cho duy trì cho bò sữa lai ở Việt Nam rất cần nghiên cứu nhu cầu năng lượng cho duy trì để từng bước hoàn chỉnh các nhu cầu năng lượng cho vật nuôi ở nước ta Vì các lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Kiểm tra nhu cầu năng lượng cho duy trì của bò sữa lai F2 (3/4HF) và F3 (7/8HF) đang vắt sữa nuôi tại Ba Vì – Hà Nội và Hóc Môn – TP Hồ Chí Minh” với mục tiêu xác định được chính xác nhu cầu năng lượng trao đổi cho duy trì (MEm) của bò lai F2 và F3 đang vắt sữa
2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1 Địa điểm, thời gian triển khai và đối tượng nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ tháng 5/2009 đến tháng 6/2010 tại Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì, xã Tản Lĩnh - Ba Vì – Hà Nội và xã Đông Thạnh – Hóc Môn – TP Hồ Chí Minh
Đề tài gồm 4 thí nghiệm nhỏ mỗi thí nghiệm được tiến hành trong 4 tuần theo dõi năng suất và chất lương sữa, loại và lượng thức ăn ăn vào và thay đổi khối lượng cơ thể cùa bò
Gia súc thí nghiệm: 94 bò cái đang vắt sữa bao gồm 34 bò F2 (3/4HF) và 60 bò F3 (7/8HF) ở các giai đoạn vắt sữa khác nhau
2.2 Các chỉ tiêu theo dõi trong thí nghiệm
- Loại và lượng thức ăn ăn vào (kg): Được xác định thông qua cân tổng lượng thức ăn cho ăn và lượng thức ăn thừa của từng loại thức ăn mỗi ngày của từng cá thể trong 28 ngày thí nghiệm, thực hiện lấy mẫu của tất cả các nguyên liệu có trong phẩu phần mỗi tuần một lần xấy khô và bảo quản Kết thúc thí nghiệm trộn đều các mẫu cùng loại gửi đi phân tích các chỉ tiêu vật chất khô, protein thô, xơ tan trong môi trường trung tính (NDF), giá trị năng lượng trao đổi
- Năng suất sữa (kg/con/ngày): Sữa của bò thí nghiệm cân hằng ngày 2 lần sớm, chiều Đến cuối kỳ thí nghiệm tính toán năng suất trung bình của từng con
Trang 3- Chất lượng sữa: Cứ 3 ngày lấy mẫu sữa đem phân tích chất lượng bằng máy phân tích sữa ECOMILK với các chỉ tiêu: % mỡ sữa, % protein sữa, % chất rắn không mỡ 2 lần trong ngày
- Trọng lượng bò (kg): Bò được cân trước khi vào thí nghiệm và sau khi kết thúc thí nghiệm bằng cân điện tử (model 200 weighing system của hãng Ruddweigh – Autralia Pty.Ltd)
- Giai đoạn vắt và thời gian mang thai cùa bò: Được xác định thông qua sổ theo dõi sinh sản đàn bò của chủ hộ
2.3 Phương pháp phân tích thành phần hoá học
Thành phần hoá học của các hỗn hợp thức ăn, các nguyên liệu có trong khẩu phần được phân tích tại phòng Phân tích thức ăn và sản phẩm chăn nuôi, Viện chăn nuôi Các phương pháp phân tích theo tiêu chuẩn TCVN4326 – 86, TCVN4328 – 2001, TCVN4331 – 2001, TCVN – 86
để phân tích tỷ nước ban đầu, protien thô, mỡ thô, xơ thô Hàm lượng NDF được xác định bằng phương pháp của Van Soest và Wine (1967)
Giá trị năng lượng trao đổi (ME) của thức ăn được xác định theo phương pháp của Wadeh (1981) và dựa vào bảng “ Thành phần và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc – gia cầm Việt Nam” của Viện Chăn nuôi (2001)
2.4 Các công thức tính và phương pháp xử lý số liệu
2.4.1 Các công thức tính
- Năng suất sữa tiêu chuẩn (4% mỡ): Được tính theo công thức của Gaines (1928 trích từ
NRC,2001)
Năng suất sữa (4% mỡ)(Kg/ngày) = Năng suất sữa thực tế (kg/ngày) X (0,4 +0,15 x %mỡ thực tế)
Thay đổi khối lượng (TĐKL) (kg/ngày) hằng ngày được tính bằng công thức:
TĐKL = Khối lượng sau thí nghiệm - Khối lượng trước thí nghiệm
Số ngày theo dõi Tổng năng lượng trao đổi (ME) ăn vào hằng ngày (MJ/ngày) đượng tính theo công thức:
ME ăn vào = ME1xDM1 + ME2xDM2 + ME3xDM3 +… + MExxDMx
Trong đó: ME x (MJ) là năng lượng trao đổi của loại thức ăn X
DM x (kg) là lượng vật chất khô ăn vào của loại thức ăn X
Nhu cầu năng lượng trao đổi cho tiết sữa (MEl) (MJ/ngày): Được tính theo John Moran (2005) dành cho bò lai HF vùng nhiệt đới ẩm
ME cho tiết sữa = 5.3 x Năng suất sữa( 4% mỡ)
Nhu cầu ME cho mang thai (MEp): Ở những tháng đầu tiên của quá trình mang thai thì nhu cầu năng lượng cho mang thai là không đáng kể khoảng 0.2 – 1MJ/ngày (Vũ Duy Giảng và
cs, 2008), nhưng 4 tháng cuối nhu cầu năng lượng lại khá cao Theo John Moran (2009) thì nhu cầu năng lượng cho mang thai của bốn tháng cuối được thể hiện trong bảng 1 dưới đây
Bảng 1 Nhu cầu năng lượng cho mang thai bốn tháng cuối của bò sữa
Trang 4Tháng mang thai MEp (MJ/ngày)
Nhu cầu năng lượng trao đổi cho thay đổi cơ thể (MEg): Cứ 1kg khối lượng cơ thể tăng thêm thì bò cần 44MJME còn bò giảm 1kg thì sẽ cung cấp 28MJME cho các quá trình khác (Target 10, 1999 trích từ Jonh Moran, 2005)
Nhu cầu năng lương trao đổi cho duy trì (MEm) (MJ/ ngày):
ME duy trì và vận động = ME ăn vào – (ME tiết sữa + ME tăng trọng + ME mang thai) Theo NRC (2001) nhu cầu ME cho vận động đối với bò nuôi nhốt trong các trại tương đương 8-10% ME cho duy trì và vận động
MEm = ME duy trì và vận động – (0,1 X ME duy trì và vận động)
Nhu cầu năng lượng trao đổi cho duy trì tính theo 1kg khối lượng trao đổi (MJ/ngày/Kg
BW0,75):
MEm của 1kg BW0,75
(MJ/ngày/Kg BW0,75) = MEm (MJ/ngày)/ BW0,75 (kg)
2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được tính toán trên bảng tính Excel 2007, xử lý bằng phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) trên phần mềm Minitab 14.0
3 Kết quả và thảo luận
3.1 Thành phần hóa học và giá trị năng lương trao đổi (ME) của các loại thức ăn sử dụng trong thí nghiệm
Việc xác định được loại và thành phần hoá học, giá trị dinh dưỡng của từng loại thức ăn
là cơ sở rất quan trọng để tính toán tổng số năng lượng mà bò thu nhận trong một ngày Thành phần hóa học và giá trị năng lương trao đổi (ME) của các loại thức ăn sử dụng trong thí nghiệm
được trình bày trong bảng 2
Từ bảng 2 cho thấy nguyên liệu thức ăn được sử dụng ở các địa điểm thí nghiệm là khá phong phú tuỳ theo từng vùng và từng mùa Các loại thức ăn khác nhau thì thành phần hoá học cũng như giá trị dinh dưỡng là hoàn toàn không giống nhau và có biên độ giao động rất lớn đặc biệt là trong các loại thức ăn tinh Ta so sánh các mẫu thức ăn cùng loại cũng thấy có sự khác nhau về thành phần hoá học và giá trị ME Ví dụ như rơm khô Hóc Môn có vật chất khô (92,02%), xơ tan trong môi trường trung tính (NDF) (72,08%), tro thô(14,16%DM) và ME (7,16MJ/kgDM) cao hơn rơm khô Ba Vì với các số liệu lần lượt là 90,04, 68,93, 11,59 và 6,97 nhưng rơm khô Hóc Môn lại có protein thô (5,05%DM) thấp hơn đáng kể so với rơm khô Ba Vì (6,48%DM) Ở các hộ khác nhau thì loại thức ăn và cách thức cho ăn cũng khác nhau như đềulà thức ăn tinh nhưng nhà Tân có VCK (82,8%)và ME (11,47MJ/kgDM) cao nhất sau đó tới nhà
Trang 5Lưu VCK (54.3%)và ME (11,15MJ/kgDM) và thấp nhất là nhà Thành VCK (51,2%)và ME
(10,65 MJ/kgDM)
Bảng 2 Thành phần hoá học và Năng lượng trao đổi (ME) cùa các loại thức ăn sử dụng trong
thí nghiệm
(%)
Protein thô (%DM)
Xơ thô (%DM)
NDF (%)
Tro thô (%DM)
ME (MJ/kgDM)
Cỏ tự nhiên Hóc Môn 16,55 13,11 35,79 70,83 8,75 8,5
Rơm Khô Hóc Môn 92,02 5,05 30,85 72,08 14,16 7,16
Thức ăn tinh nông hộ
Thức ăn tinh nông hộ
Thức ăn tinh nông hộ
Thành phần hoá học của cỏ voi trong thí nghiệm này có sự khác biệt khi ta so sánh cỏ voi
Vũ Chí Cương và cs (2009) đã phân tích Trong khi VCK và NDF của cỏ voi trong thí nghiệm này cao hơn lần lượt là 20,2%, 69,39% so với 14,89% và 67,34% thì tỉ lệ protein thô lại thấp hơn 5,49% so với 7,83% Đồng thời cũng thấy sự khác biệt của rơm ủ 4% ure với rơm ủ 4% ure cùa
Vũ Chí Cương và cs (2008) trong thành phần như VCK 69,4% so với 68,11% hay NDF 71,41%
so với 69,05%
3.2 Vật chất khô ăn vào, năng suất sữa và sự thay đổi khối lượng cơ thể của bò thí nghiệm
Lượng vật chất khô, năng suất sữa tiêu chuẩn và sự thay đổi khối lượng cơ thể hằng ngày của của các giống bò ở các giai đoạn tiết sữa khác nhau đượng trình bày cụ thể trong bảng 3 Từ bảng 3 cho thấy lượng vật chất khô mà bò thu nhận trong ngày giảm dần theo theo giai đoạn tiết
Trang 6sữa ở bò lai F2 từ 13,1 kg/ngày trong đầu chu kỳ vẳt sữa giảm xuống còn 12,3 kg/ngày vào giữa chu kỳ và thấp nhất ở cuối chu kì 11,7 kg/ngày Trong khi đó lượng vật chất khô ăn và khá ổn định đối với bò F3 dao động trong khoảng 12,8 – 13 kg/ngày Khi ta so sánh lượng thu nhận VCK của 2 giống bò F2 và F3 trong cùng giai đoạn vắt sữa thì thấy có rất ít sự khác biệt xét về mặt thống kê Nếu ta xem xét sự thu nhận vật chất khô của bò trên kía cạnh % khối lượng cơ thể thì cả hai giống đều cùng có xu hướng giảm dần khi càng cuối chu kỳ vắt sữa nhưng ở bò F2 giảm mạnh hơn (từ 3,00%KLCT đầu chu kỳ xuống còn 2,45%KLCT) so với bò F3 (2,92-2,55%) Khả năng thu nhận VCK của bò trong thí nghiêm này là thấp hơn kết quả chưa công bố của Đinh Văn Tuyền và cs (2009) trên bò F2 và F3 ăn khẩu phần TMR (3,11%KLCT)
Bảng 3 Vật chất khô ăn vào, năng suất sữa và sự thay đổi khối lượng cơ thể của bò thí nghiệm
Giai đoạn vắt sữa Đầu chu kỳ Giữa chu kỳ Cuối chu kỳ
VCK ăn vào
(kg/ngày)
13,1
±0,26
12,8
±0,31 -
12,3
±0,342
13,0
±0,40 -
11,7
±0,33
12,8±
0,271 - VCK thu nhận
Năng suất sữa tiêu
chuẩn 4% mỡ
(kg/ngày)
17,3
±0,59
15,7
±0,48 0,06
14,3
±0,864
15,3
±0,61 0,06
9,2
±0,17
10,5
±0,484 - Khối lượng cơ thể
thay đổi (kg/ngày)
-0,27
±0,040
-0,18
±0,062 -
-0,13
±0,074
-0,10
±0,065 -
0,19
±0,027
0,25
±0,0247 -
Qua bảng 3 cho biết rằng năng suất sữa tiêu chuẩn 4% mỡ cùa cả hai giồng bò ¾ và 7/8
HF cũng giảm dần theo thời gian vắt sữa điều này hoàn toàn đúng với sinh lý tiết sữa của chúng
Ta cũng thấy biên độ dao động trong năng suất sữa của bò ¾ (từ 17,3 kg/ngày dầu chu kỳ xuống còn 9,2 kg/ngày vào cuối chu kỳ) lớn hơn bò 7/8HF tuy đầu chu kỳ thấp hơn(15,7kg/ngày) nhưng cuối chu kỳ lại cao hơn (10,5kg/ngày) Nếu so sánh thống kê năng suất sữa của hai giống
bò trong cùng giai đoạn vắt sữa với mức ý nghĩa P<0,05 thì không có sự khác nhau
Nhìn chung năng suất sữa tiêu chuẩn cùa bò trong thí nghiệm này cao hơn kết quả của Phạm Văn Giới và cs (2005) theo dõi trên bò lai có cùng tỷ lệ máu HF với năng sữa đạt đỉnh cao nhất 15,55kg/ngày Điều này đạt được là do trong những năm gần đây các hộ chăn nuôi bò sữa
đã có nhiều tiến bộ trong chăm sóc cũng như nuôi dưỡng
Trong bảng 3 ta cũng thấy rằng sự thay đổi khối lượng cơ thể trung bình hằng ngày của
bò ở các giai đoạn của chu kỳ vắt sữa khác nhau là không giống nhau Cụ thể bò giảm cân rất nhiều ở đầu chu kỳ 0,27kg/ngày với F2 và 0,18kg/ngày với F3 sau đó giữa chu kỳ giảm ít hơn cuối cùng vào cuối chu kỳ thì bò lại tăng khối lượng ở F2 là 0,19kg/ngày F3 là 0,25kg/ngày Cuối chu kỳ vắt sữa bò tăng cân phần lớn là do sự phất triển mạnh mẽ trong các tháng cuối của
Trang 7bào thai Khi ta so sánh sự thay đổi khối lượng của 2 giống bò ¾ và 7/8HF trong cùng giai đoạn vắt sữa cũng thấy có sự sai khác nhưng không đáng kể
3.3 Tổng năng lượng ăn vào và các nhu cầu năng lượng cho tiết sữa, cho mang thai và cho thay đỗi khối lượng của bò thí nghiệm
Tổng năng lượng trao đổi (ME) mà vật nuôi ăn vào trong ngày phụ thuộc vào loại và lượng thức ăn mà chúng thu nhận được trong ngày đó Dựa vào khối lượng cân được và số liệu phân tích chúng tôi đã tính toán được ME ăn vào của bò và trình bày trong bảng 4 Từ bảng 4 ta thấy rằng lượng ME ăn vào của bò F2 giảm dần từ 138,1MJ/ngày đầu chu kỳ xuống chỉ còn 119,4MJ/ngày ở cuối chu kỳ nhưng bò F3 lại không theo quy luật như vậy mà đầu và cuối chu
ky thì tương đương nhau khoảng 131MJ/ngày còn cao nhất lại rơi vào giữa chu kỳ 136,3MJ/ngày Có sự khác biệt đáng kể khi so sánh thống kê lượng ME ăn vào của 2 giống bò trong cùng cùng 1 giai đoạn Cụ thể đầu chu kỳ F2 có ME ăn vào (138,1 MJ/ngày) cao hơn F3 (130,7 MJ/ngày) nhưng giữa chu kỳ thì ME ăn vào của F2 125,5 lại thấp hơn F3 136,3 đáng kể với p<0,05, còn cuối chu kỳ thì không có khác biệt lớn
Bảng 4 Tổng năng lượng ăn vào và các nhu cầu năng lượng cho tiết sữa, cho mang thai và cho
thay đổi khối lượng của bò thí nghiệm
Giai đoạn vắt sữa Đầu chu kỳ Giữa chu kỳ Cuối chu kỳ
(MJ/ngày)
138,1
±2,54
130,7
±3,02 0,049
125,5
±3,38
136,3
±3,38 0,038
119,4
±4,06
131
±2,58 0,073 Nhu cầu ME tiết sữa
(MJ/ngày)
91,5
±3,14
83,4
±2,57 0,061
76
±4,59
80,9
±3,23 -
48,7
±0,90
55,9
±2,56 - Nhu cầu ME cho
Nhu cầu ME cho thay
đổi khối lượng
(MJ/ngày)
-7,3
±1,36
-7,1
±1,85 -
-3,5
±2,60
-1,7
±2,24 -
8,5
±1,15
10,6
±1,07 - Tổng nhu cầu ME
cho sinh sản va sản
xuất (MJ/ngày)
84,1
±2,54
76,3
±2,55 0,041
72,6
±2,73
79,4
±3,11 -
57,7
±1,11
68,2
±2,50 0,082
Nhu cầu năng lượng cho tiết sữa của bò phụ thuộc vào năng suất và chất lượng sữa mà con bò đó tiết ra (John Moran, 2009) Dựa vào 2 yếu tố trên ta có thể ước tính được nhu cầu năng lượng cho tiết sữa của chúng Nhìn vào bảng 4 ta thấy rằng nhu cầu năng lượng trao đổi cho tiết sữa của cả F2 và F3 điều giảm dần nhưng với mức biến động khác nhau bò 3/4HF giảm nhiều hơn từ 91,5(MJ/ngày) đầu chu kỳ xuống chỉ còn 48,7(MJ/ngày) trong khi đó bò 7/8HF giảm ít
Trang 8hơn từ 83,4(MJ/ngày) xuống còn 55,9(MJ/ngày) Nhu cầu năng lượng cho tiết sữa của cả hai giống bò này là tương tự nhau nếu ở trong cùng một giai đoạn vắt sữa
Về nhu cầu năng lượng trao đổi cho mang thai và cho thay đổi khối lượng cơ thể có liên quan mật thiết với tháng sinh trưởng phát triển của bào thai và thay đổi khối lượng cơ thể hằng ngày của bò Nhìn vào bảng 4 ta cũng thấy rằng nhu cầu năng lượng cho thay đổi khối lượng cơ thể của hai giống bò trong cùng giai đoạn là tương tự nhau không có sai khác mang ý nghĩa thống kê Ở 2 giai đoạn đầu và giữa chu kỳ do giảm khối lượng nên khối lượng giảm sẽ cung cấp khoảng 1.,7 -7,3(MJ/ngày) phục vụ cho các nhu cầu khác của bò ví dụ như tiết sữa Còn cuối chu
kỳ vắt sữa bò tăng khối lượng nên hằng ngày cần khoảng 8,5 - 10MJ
Tổng các nhu cầu năng lượng trao đổi cho tiết sữa, cho mang thai và cho thay đổi khối lượng sẽ là nhu cầu năng lượng cho sinh sản và sản xuất Nhìn vào bảng 4 ta cũng thấy rằng tổng nhu cầu năng lượng cho sinh sản và sản xuất của bò 3/4HF giảm dần từ đầu 84,1(MJ/ngày) cho đến cuối 57,7(MJ/ngày) chu kỳ vắt sữa Đối với bò 7/8HF thì tổng nhu cầu năng lượng hằng ngày cho sinh sản và sản xuất lại cao nhất vào giữa chu kỳ 79,4 MJ sau đó là đầu chu kỳ 76,3 MJ
và thấp nhất ở cuối chu kỳ tiết sữa 68,2MJ Bảng 4 cũng cho biết vào đầu và cuối chu kỳ có sự khác biệt đáng kể về nhu cầu năng lượng hằng ngày cho sinh sản và sản xuất giữa 2 giống bò cụ thể ở đầu chu kỳ tiết sữa thì tổng nhu cầu này của bò F2 (84,1(MJ/ngày)) cao hơn so với F3 (76,3 (MJ/ngày)) (với p = 0,041<0,05) Còn ở giữa và cuối chu kỳ thì không có sự khác biệt xét về mặt thống kê
3.4 Khối lượng cơ thể và nhu cầu năng lượng cho duy trì của bò thí nghiệm
Khối lượng cơ thể là một trong những nhân tố quyết định đến nhu cầu năng lượng cho duy trì của vật nuôi (Vũ Duy Giảng và cs, 2008) Vì vậy để xác định được nhu cầu năng lượng cho duy trì điều đầu tiên ta phải quan tâm đó là khối lượng cơ thể Trong bảng 5 cho thấy khối lượng cơ thể và khối lượng trao đổi của bò thí nghiệm dao động rất ít trong giai đoạn đầu và giữa chu kỳ vắt sữa nhưng lại tăng khá cao cao ở cuối chu kỳ một phần là do sự phát triển của thai với khối lượng F2, F3 lần lượt là 477,7kg và 501,6kg hay 102,1(kg0.75
) và 105,8(kg0.75) Khi so sánh khối lượng sống cũng như khối lượng trao đổi của bò 3/4HF và 7/8HF cùng giai đoạn vắt sữa thì không thấy sự sai khác đáng kể
Bảng 5 Khối lượng cơ thể và nhu cầu năng lượng cho duy trì của bò thí nghiệm
Giai đoạn tiết sữa Đầu chu kỳ Giữa chu kỳ Cuối chu kỳ
Khối lượng cơ thể (kg) 437,5
±11,9
438,6
±15,7 -
436,0
±13,2
445,9
±17,1 -
477,7
±24,1
501,6
±12,6 - Khối lượng trao đổi
(kg0.75)
95,6
±1,95
95,7
±2,55 -
95,3
±2,14
96,9
±2,77 -
102,1
±3,86
105,8
±2,00 -
ME cho duy trì và hoạt
động (MJ/ngày)
54,4
±1,36
54,4
±1,52 -
52,9
±2,22
57,0
±1,92 -
61,7
±3,52
62,8
±1,52 -
Trang 9ề nhu cầu năng lượng trao đổi cho duy trì hằng ngày thể hiện ở bảng 5 của có xu hướng biến đổi khác nhau giữa 2 giống bò trong thí nghiệm Trong khi bò F2 có nhu cầu năng lượng cho duy trì lớn nhất ở cuối chu kỳ (55,5(MJ/ngày) hay 0,543(MJ/ngày/Kg BW0,75)) sau đó đến đầu chu kỳ và thấp nhất ở giữa (47,6(MJ/ngày) 0,499(MJ/ngày/Kg BW0,75
)) thì F3 lại có nhu cầu năng lượng cho duy trì tăng dần từ đầu chu kỳ (49,0(MJ/ngày) hay 0,511(MJ/ngày/Kg BW0,75
)) đến cuối chu kỳ (56,5(MJ/ngày) hay 0,533(MJ/ngày/Kg BW0,75)) Khi so sánh nhu cầu năng lượng trao đổi cho duy trì giữa bò 3/4HF và bò 7/8HF trong cùng giai đoạn vắt sữa thì thấy hầu như không có sự sai khác đáng kể Và khi so sánh nhu cầu năng lượng trao đổi cho duy trì giữa các giai đoạn vắt sữa khác nhau trong cùng một giống bò cũng không có sự khác biệt lớn Tóm lại nhu cầu năng lượng trao đổi cho duy trì ở bò F2 và F3 đang vắt sữa nằm trong khoảng 0,499 – 0,543 (MJ/ngày/Kg
BW0,75), trung bình 0,522 (MJ/ngày/Kg BW0,75) Kết quả này tương tự với John Moran (2005) khi xác định cùng phương pháp trên bò lai HF đang vắt sữa với các tỷ lệ máu khác nhau (0,51 MJ/ngày/Kg BW0,75) Nhưng lại thấp hơn rất nhiều khi so sánh với Vũ Chí Cương cà cs (2009) xác định trên bò tơ lỡ 3/4HF (0,594 MJ/ngày/Kg BW0,75) bằng phương pháp Bomb calorimeter
Sự khác nhau này một phần là do phương pháp thí nghiệm nhưng phần lớn là do giai đoạn sinh trưởng và khối lượng cơ thể của bò Có rất nhiều nghiên cứu trước đây cho rằng nhu cầu năng lượng ở bê là cao hơn bò có khối lượng lớn tính theo 1 kg khối lượng trao đổi
4 Kết luận và đề nghị
4.1 Kết luận
Nguyên liệu thức ăn sử dụng trong thí nghiệm là khá đa dạng gồm hơn 19 loại thức ăn với các thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng khác nhau
Lượng VCK ăn vào của bò thí nghiệm dao động trong khoảng 11,7 – 13,1kg nhưng tỷ lệ thu nhân thức ăn tinh theo khối lượng cơ thể lai khá thấp chỉ từ 2,45 -3%khối lượng cơ thể và không có sai khác đáng kể nào giữa bò F2 và F3 trong cùng giai đoạn vắt sữa
Năng suất sữa tiêu chuẩn 4% mỡ của cả hai giống trong toàn bộ chu kỳ là khá cao nằm trong khoảng 9,2- 17,3kg/ngày và không có sự khác biệt giữa bò ¾HF và 7/8HF trong cùng giai đoạn vắt sữa
Tổng ME ăn vào của bò thí nghiệm đạt 119,4 – 138,1 MJ/ngày đồng thời có sự sai khác đáng kể giữa F2 và F3 ở đầu và giữa chu kỳ
Nhu cầu năng lượng cho tiết sữa của bò thí nghiệm giảm dần từ đầu đến cuối chu kỳ và giữa 2 giống bò trong cùng giai đoạn vắt sữa là tương tự nhau
ME cho duy trì
(MJ/ngày)
48,9
±1,22
49,0
±1,37 -
47,6
±2,00
51,3
±1,73 -
55,5
±3,17
56,5
±1,37 -
ME duy trì của 1 kg
KLTĐ (MJ/ngày/Kg
BW0,75)
0,511
±0,006
0,511
±0,004 -
0,499
±0,016
0,528
±0,009 0,092
0,543
±0,019
0,533
±0,007 -
Trang 10Nhu cầu năng lượng trao đổi cho thay đổi khối lượng cơ thể rất khác nhau ở các các giai đoạn tiết sữa nhưng lại không có sự sai khác có ý nghĩa gữa 2 giống bò trong cùng giai đoạn vắt sữa
Tổng nhu cầu năng lượng cho sinh sản và sản xuất của cả đàn bò theo dõi nằm trong khoảng 57,7 – 84,1MJ/ngày và có sự khác biệt lớn giữa F2 và F3 trong các giai đoạn đầu chu kỳ vắt sữa
Nhu cầu năng lượng trao đổi cho duy trì của bò đang vắt sữa trong thực tế sản xuất giống F2 và F3 là 0,522 (MJ/ngày/Kg BW0,75) và dao động trong khoảng hẹp 0,499 – 0,543 (MJ/ngày/Kg BW0,75)
4.2 Đề nghị
Đối với bò F2 và F3 đang vắt nuôi tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh nên áp dụng giá trị nhu cầu năng lượng trao đổi cho duy trì 0,522 (MJ/ngày/Kg BW0,75) trong việc lập khẩu phần ăn
Cần tiếp tục theo dõi thêm nhiều vùng miền khác nhau với số lượng cá thể lớn hơn để có
so sánh chính xác hơn
Tài liệu tham khảo
1 AFRC (1990) Techical Committee on Response to Nutrients, Report number 5, Nutrient requirements of
ruminant animals: Energy Nutrition abstracts and reviews (seires B) 60:729-804
2 AFRC (1993) Energy and protein requirement of ruminants An advisory manual prepared by the AFRC
Technical Committee on Responses to Nutrients CAB international, Wallingford, UK
3 Agnew R.E, Yan T and Gordon F.J.,1998 Nutrition of the high genetic merit dairy cow energy metabolism
studies In: Recent advances in animal nutrition,1998 Nottingham University Press, Nottingham,pp
181-208
4 ARC (1980) The Nutrient requirements of ruminant livestock, technical rewiew, CAB, Farnham Royal
5 Blaxter, K.L., 1962 The energy metabolism of ruminants Charles C Thomas, Springfield, IL
6 Ferguson, A.W and Otto, K.A., 1989 Managing condition in cows Pro Corwell Nutri Conf Feed Manuf Conf 75-78
7 Đinh Văn Tuyền, Nguyễn Hữu Lương, Nguyễn Viết Đôn, Đỗ Hữu Thành.,2009 Ảnh hưởng của chế độ và
phương thức nuôi dưỡng đến năng suất và hiệu quả kinh tế chăn nuôi bò sữa nông hộ trong mùa hè tại
Ba Vì Số liệu chưa công bố
8 Jonh Moran.,2005 Tropical dairy farming feeding management for small holder dairy farmers in the
humid tropics Landlinks Press 150 Oxford St (PO Box 1139) Collingwood VIC 3066Australia
9 Jonh Moran.,2009 Business management for tropical dairy farm Landlinks Press 150 Oxford St (PO Box
1139) Collingwood VIC 3066 Australia
10 Henrique, D.S., Vieira, R.A.M., Malafaia, A.M.M., Mancini, M.C and Goncalves, A.L., 2005 Estimation
of the total efficiency of metabolizable energy utilization for maintenance and growth by cattle in tropical condition
11 Maurice L Eastridge., 2002 Energy in the New Dairy NRC Published in Feedstuffs, July 8, 2002, pg 11
12 Moe, P.W., and H.F Tyrrell 1972 The net energy value of feeds for lactation J Dairy Sci 55:945-958
13 NRC (1988) Nutrient requirement of dairy cattle: 6th Revised Edition National Academy Press
Washington D.C