1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

FDI và vai trò của nó trong việc phát triển kinh tế Việt Nam

36 642 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Fdi Và Vai Trò Của Nó Trong Việc Phát Triển Kinh Tế Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 250,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn kiện đại hội đảng IX của Đảng đã coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một thành phần kinh tế, là bộ phận cấu thành của nền kinh tế nhiều thành phần ở VIệt Nam

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Văn kiện đại hội đảng IX của Đảng đã coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

là một thành phần kinh tế, là bộ phận cấu thành của nền kinh tế nhiều thành phần ởVIệt Nam, được khuyến khích phát triển, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạtầng kinh tế - xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm và

đề ra nhiệm vụ cải thiện nhanh môi trường kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh vốnđầu tư nước ngoài

Đây là bước phát triển mới về quan điểm, nhận thức của Đảng ta so với cácđại hội trước về vai trò vị trí của đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI đối với chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam, thể hiện chủ trương nhất quán của Đảng ta làphát huy nội lực động thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh

tế thế giới để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững, kết hợp chặt chẽ giữa nộilực và ngoại lực để tạo thành nguồn lực tổng hợp cho công cuộc đổi mới và pháttriển của đất nước

Và thực tế ngày nay đã chứng minh rằng FDI trở thành một tất yếu kinh tếtrong điều kiện quốc tế hóa sản xuất và lưu thông Không có một quốc gia nào dùlớn hay nhỏ dù phát triển theo con đường TBCN hay XHCN lại không cần đếnnguồn vốn FDI và tất cả đều coi là một nguồn lực quan trọng cần khai thác để từngbước hòa nhập với cộng đồng quốc tế ngay cả quốc gia có tiềm lực kinh tế mạnhnhư Mỹ, Nhật Bản dưới tác động của cuộc cách mạng XHCN hiện nay cũng không

tự mình giải quyết các vấn đè kinh tế xã hội đã, đang và tiếp tục đặt ra Đặc biệt làViệt Nam, Việt nam đi lên từ đống tro tàn của chiến tranh, nền kinh tế thấp kém lạchậu đến nay ta từng bước tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa đẩy nhanh công cuộccông nghiệp hóa và hiện đại hóa Việt Nam cần phải có một nguồn vốn lớn và FDI

là một lựa chọn hợp lý hội tụ đầy đủ những yếu tố cần thiết giúp kinh tế ViệtNamnhanh chóng thoát khỏi lạc hậu tiến lên vững mạnh

Chính vì lý do đó việc tìm hiểu FDI trở nên rất quan trọng đặc biệt là đối vớisinh viên kinh tế những người đang và sẽ trực tiếp gánh vác trọng trách xây dựngkinh tế nước nhà trở nên một nền kinh tế giàu mạnh Nội dung trong bài tiểu luận sẽlàm rõ những vấn đề cơ bản nhất về FDI và vai trò của nó trong việc phát triển kinh

tế nước nhà

Trang 2

B- NỘI DUNG.

I.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN:

1.Khái quát về FDI:

a).Các khái niệm:

-Đầu tư: Là tập hợp các hoạt động bỏ vốn và sử dụng vốn theo một chươngtrình đã được hoạch định trong một khoảng thời gian tương đối dài nhằm thu dượclợi ích lớn hơn cho các nhà đầu tư và cho xã hội cho cộng đồng

-Đầu tư nước ngoài: Là việc các nhà đầu tư ở quốc gia này bỏ vốn vào cácquốc gia khác theo một chương trình đã được hoạch định ttrong một khoảng thờigian dài nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường và mang lại lợi ích lớn hơn cho nhàđầu tư và xã hội

-Đầu tư trực tiếp nước ngoài:(Foregin Direct Inventment-FDI) Là hoạt độngđầu tư do tổ chức kinh tế hay cá nhân nước ngoài tự mình hay tham gia bỏ vốn vớicác tổ chức kinh tế hay cá nhân của nước đầu tư trực tiếp quản lý và điềiu hành đốitượng bỏ vốn để thu lợi nhuận cho nhà đầu tư và cho xã hội

đổ vào các nước đang phát triển diễn ra dưới nhiều hình thức Mỗi hình thức có đặcđiểm, mục tiêu và định hướng thực hiện riêng, nhưng hoàn toàn giống nhau Để tiệnphân tích có thể sử dụng cách phân loại thông thường và tương đối đơn giản theođối tượng cho vay như sau:

+ Tài trợ phát triển chính thức (Offocial Development Finance ODF) Nguồnvốn này bao gồm: viện trợ phát triển chính thức (Official Dvelopment Assostonce-ODA) và các hình thức ODP khác Trong loại này có viện trợ song và đa phương.ODA chiếm tử trọng chủ yếu trong ODF

Trang 3

+ Tín dụng từ các ngân hàng thương mại.

+ Đầu tư nước ngoài trực tiếp ( Foregin Direct Invertment FDI ), viện trợ chokhông của các tổ chức phi chính phủ (NGOS) và một số nguồn tài trợ tư nhân khác

c).Tìm hiểu sâu hơn về lịch sử của FDI:

Các nghiên cứu về FDI đã được tiến hành sau Chiến tranh thế giới thứ hai,vào thập kỷ 60, 70 của thế kỷ XX Từ thập kỉ 1980 trở đi do thế giới đã diễn ranhững làn sóng FDI, nên có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này vớinhững lý thuyết và quan điểm khác nhau ở đây chúng tôi trình bày quan điểm chínhthống của hai tổ chức quốc tế đóng vai trò quan trọng đối với FDI là tổ chức hợp táckinh tế và phát triển – OECD và Tổ chức Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại vàphát triển – UNCTAD

Theo Báo cáo đầu tư thế giới năm 1999 của UNCTAD thì “ FDI là hoạt độngđầu tư bao gồm mối quan hệ dài hạn, phản ánh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dàicủa một thực thể thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư nước ngoài hoặc công ty

mẹ nước ngoài) đối với một doanh nhiệp thường trú ở một nền kinh tế khác với nềnkinh tế của nhà đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp liên doanhhoặc chi nhánh nước ngoài)”

Định nghĩa này có hai đặc trưng là quyền kiểm soát và lợi ích khống chế Vềquyền kiểm soát, hầu như đã đạt được sự nhất trí của các nhà nghiên cứu về FDI; vềlợi ích khống chế còn đang có những ý kiến khác nhau, nhưng hiện nay nhiều người

đã thừa nhận rằng một công ty nước ngoài có tỷ lệ sở hữu cổ phần tối thiểu 10% thì

có ảnh hưởng nhất định đến quyền kiểm soát doanh nghiệp, tác động đến chiến lượckinh doanh và quản trị doanh nghiệp

Quyền kiểm soát là đặc trưng tiêu biểu cua FDI so với các phương thức đầu

tư quốc tế khác Razin và cộng sự (1999) cho rằng, quyền kiểm soát làm cho cácnhà đầu tư trực tiếp nước ngoài có được một lợi thế về thông tin so với các nhà đầu

tư gián tiếp nước ngoài và những người gửi tiền tiết kiệm ở trong nước Vì vậy,nhiều TNC lớn trên thế giới chủ yếu thực hiện FDI ở các nước khác hơn là tham giaFDI; nhiều công ty thực hiện các dự án FDI với điều kiện giành được quyền kiểmsoát ít nhất là 51% cổ phần của doanh nghiệp; có công ty chỉ thực hiện hình thức100% sở hữu vốn và quyền kiểm soát

Trang 4

OCED đã xuất bản tài liệu Định nghĩa chuẩn của OECD về FDI, trong đó cóphân biệt ba khaí niệm: FDI,nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài và doanh nghiệp đầu tưtrực tiếp nước ngoài.

FDI phản ánh mục đích thu được lợi nhuận lâu dài của một thực thể thườngtrú ở một thực thể thường trú ỏ một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) tại một thựcthể thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư (doanh nghiệpđầu tư trực tiếp) FDI bao gồm mọi giao dịch ban đầu và các giao dịch vốn về saugiữa hai thực thể đó; cũng như giữa các doanh nghiệp liên doanh, kể cả hợp nhất vàkhông hợp nhất

Nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài là một cá nhân, một doanh nghiệp nhà nướchay doanh nghiệp tư nhân, một chính phủ, một nhóm các cá nhân có quan hệ vớinhau, một nhóm các doanh nghiệp hợp nhất và hoặc không phù hợp nhất có quan hệvới nhau, có một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp – một công ty con, một công ty liênkết hoặc một chi nhánh hoạt động ở một nước không phải là nước hoặc các nướcthường trú của nhà đầu tư

Doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài là một doanh nghiệp hợp nhấthoặc không, ở đó một nhà đầu tư nước ngoài sở hữu 10% trở lên cổ phần thôngthường của một doanh nghiệp; hoặc quyền biểu quyết của một doanh nghiệp hợpnhất, hoặc mức tương đương của một doanh nghiệp không hợp nhất Điều đó khôngđòi hỏi nhất thiết phải có sự kiểm soát tuyệt đối kinh doanh và quản trị doanhnghiệp của nhà đầu tư nước ngoài

Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam xác định: đầu tư trực tiếp nước ngoài làviệc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào

để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư nước ngoài tại ViệtNam Các tài sản này có thể là thiết bị, máy móc, nhà xưởng, công trình xây dựnghoặc giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kĩ thuật, quy trình công nghệ, dịch

vụ kỹ thuật Khái niệm nêu trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam chủ yếu đềcập đến xuất xứ của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, không đề cập trực tiếphai vấn đề cốt lõi của FDI là quyền kiểm soát và lợi ích khống chế

Hiệp định thương mại Việt nam – Hoa Kỳ xác định: đầu tư nước ngoài làmọi hình thức đầu tư trên lãnh thổ của một bên do các công dân hoặc công ty củabên kia sở hữu hoặc kiểm soát trực tiếp hay gián tiếp, thực hiện dưới các hình thức

Trang 5

như một công ty hay một doanh nghiệp; cổ phần cổ phiếu và hình thức góp vốnkhác, trái phiếu, giấy ghi nợ, các quyền theo hợp đồng, tài sản hữu tình và tài sản vôtình, quyền sở hữu trí tuệ…Khái niệm này gồm cả đầu tư trực tiếp và đầu tư giántiếp, mà không phân biệt sự khác nhau giữa hai loại đó.

2.Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn:

a).Đặc trưng của FDI:

- Thứ nhất, FDI gắn liền với việc di chuyển tiền và tài sản giữa các quốc gia.

FDI làm tăng lượng tiền và tài sản của nền kinh tế nước nhận đầu tư, làmgiảm lượng tiền và tài sản của nước đi đầu tư Tài sản ở đây bao gồm tài sản hữuhình (máy móc, thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu…), tài sản vô hình (sáng chế,nhãn hiêụ, bí quyết kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ năng quản lý) FDI không chỉ dichuyển vốn thuần túy, mà còn bao gồm chuyển giao công nghệ, cơ chế bảo hộquyền sở hữu của nhà đầu tư về các đối tượng sở hữu

- Thứ hai, FDI được tiến hành thông qua thành lập các doanh nghiệp mới, mua lại các chi nhánh, doanh nghiệp hiện có, hoặc tiến hành các hoạt động hợp nhất và chuyển nhượng doanh nghiệp.

Điều đó cho thấy hoạt động FDI có thể diễn ra theo nhiều hình thức vàphương thức đa dạng Một nước có thể khai thác tính đa dạng của các hình thức vàphương thức đầu tư để tăng cường thu hút vốn FDI từ nước ngoài Việc thành lập vàphát triển các thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường chứng khoán là điều kiệnthúc đẩy sự gia tăng nhanh chóng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

- Thứ ba, FDI là người chủ sở hữu hoàn toàn ( sở hữu 100% vốn đầu tư) hoặc đồng chủ sở hữu vốn với một tỷ lệ nhất định đủ mức khống chế và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động của doanh nghiệp.

Tỷ lệ sở hữu vốn khống chế này từ 10% trở lên trong tổng số vốn của doanhnghiệp do luật pháp từng nước quy định Đây là yếu tố quyết định đến tính chất trựctiếp của nhà đầu tư nước ngoài trong việc đưa ra các quyết định đầu tư và quản trịdoanh nghiệp Chính vì có sự thay đổi cơ bản về hình thức sở hữu trong FDI nêncần có thể chỉ bảo hộ quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài rõ ràng và chặt chẽthì mới tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn Việc bảo đảm tỷ lệ sở hữu ở mức khốngchế còn là cơ sở để các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trở thành những chinhánh của các công ty của nước đầu tư Đây là yếu tố làm tăng tính chất toàn cầu

Trang 6

của mạng lưới các công ty đi đầu tư và tạo cơ sở để các công ty đó thực hiện hoạtđộng chu chuyển vốn, hàng hóa trong nội bộ công ty, tránh được hàng rào thuếquan, tiết kiệm chi phí giao dịch Đặc trưng này là cơ sở để phân biệt sự khác nhaugiữa FDI với hoạt động thương mại, gia công quốc tế.

Đặc trưng này làm cho các khoản lợi nhuận thu được từ FDI lớn hơn nhiều

so với thương mại quốc tế

- Thứ tư, FDI chủ yếu là hoạt động đầu tư của tư nhân với mục tiêu cơ bản thu lợi nhuận ( trừ một số doanh nghiệp nhà nước và một ít đầu tư của chính phủ).

Hoạt động FDI diễn ra khi có thị trường đầu tư có khả năng tạo lợi nhuậncao, nghĩa là có chênh lệch về tỷ suất lợi nhuận cao, nghĩa là có chênh lệch về tỷsuất lợi nhuận đầu tư do tính quy luật cân bằng giữa cung và cầu về vốn đầu tư vàchi phí Điều này phân biệt FDI và ODA Các khoản ODA của các chính phủ gắnvới những cam kết và rằng buộc chặt chẽ giữa các nước viện trợ và nước nhận việntrợ, chịu sự chi phối đáng kể bởi quan hệ chính trị giữa hai nước

Khi đó, FDI ít có khả năng xảy ra tình trạng này vì chủ yếu là đầu tư dodoanh nghiệp tự chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động đầu tư và kinh doanh, đượctính toán kỹ trước khi quyết định đầu tư Đồng thời, hoạt động FDI khác với vay tíndụng thương mại theo lãi suất thị trường với những cam kết và thế chấp hết sứcnghiêm ngặt

- Thứ năm, FDI bảo đảm cho nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài tham gia kiểm soát, điều hành quá trình đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp.

Việc điều hành và trực tiếp ra quyết định đầu tư là điều kiện để nhà đầu tưthực hiện được chiến lựơc kinh doanh của họ một cách chủ động và tối ưu Tuynhiên, trên thực tế thường nảy sinh khoảng lệch giữa mục tiêu thu hút vốn đầu tưcủa chính phủ với chiến lược kinh doanh của nhà đầu tư, vì trong một số trườnghợp, mục tiêu của chính phủ không phù hợp với chiến lược kinh doanh của nhà đầutư

Đặc trưng này đòi hỏi chính phủ tiếp nhận đầu tư chủ động quy hoạch pháttriển các ngành, các vùng và có các chính sách hấp dẫn phù hợp với từng ngành,lĩnh vực để thu hút FDI

Trang 7

- Thứ sáu, đầu tư nước ngoài chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia thực hiện.

Đây là những tập đoàn có hệ thống các chi nhánh sản xuất ở nước ngoài, cótiềm lực lớn về vốn, công nghệ các nhãn hiệu sản phẩm có uy tín có danh tiếng lớntrên toàn cầu, tính năng động cao, đội ngũ các nhà quản lý có trình độ cao, có khảnăng điều hành các hoạt động sản xuất phân phối trên toàn cầu, có năng lực cạnhtranh cao Các nước đang phát triển và các doanh nghiệp của họ có thể tiếp cận từcác công ty xuyên quốc gia thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp để thu hút nguồnvốn lớn, công nghệ nguồn, đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn cao, cảithiện năng lực cạnh tranh và năng động hóa các quan hệ giao dịch Bên nước tiếpnhận ngoài mục tiêu thu hút vốn đầu tư từ nhà đầu tư nước ngoài còn có mục tiêutiếp nhận kiến thức và kỹ năng quản lý Kỹ năng quản lý là loại tài sản vô hình cực

kỳ quan trọng đối với các nước có nền kinh tế chuyển đổi sang nền kinh tế thịtrường; khía cạnh này tăng thêm tính chất đa phương diện của hoạt động đầu tư trựctiếp nước ngoài Các công ty đa quốc gia thường thuộc các nước công nghiệp pháttriển, do đó dòng vốn đầu tư trực tiếp ban đầu xuất phát từ các nước công nghiệp vàtạo nên những xu hướng chính trong hoạt động FDI Các nước đang phát triển khi

đã đạt đến trình độ phát triển nhất định, tích lũy được vốn, ngoại hối có thể và cầnphải khuyến khích doanh nghiệp của nước đó đầu tư ra nước ngoài để tham giangày càng nhiều vào thị trường đầu tư thế giới

Về mặt lịch sử FDI ban đầu do các Công ty xuyên quốc gia của các nướcchính quốc để khai thác nguyên liệu, thị trường tiêu thụ và nguồn lao động rẻ …củacác nước thuộc địa Do đó, khái niệm FDI chủ yếu được sử dụng để chỉ sự vận độngcủa vốn từ các nước chính quốc sang các nước thuộc địa; từ các nước công nghiệpphát triển sang các nước đang phát triển Sau đó, xuất hiện các hoạt động đầu tư lẫnnhau giữa các nước đang phát triển với nhau và tiếp đó là dòng vốn di chuyển từnước đang phát triển ra nước ngoài, kể cả sang các nước công nghiệp phát triển đểkhai thác tính không hoàn hảo của thị trường Hai dòng di chuyển vốn vào và ra nàykhác nhau về chiều hướng vận động và tác động của chúng đến nền kinh tế của cácnước đầu tư và các nước nhận đầu tư Do đó, đòi hỏi phải có cách ứng xử về mặtchính sách để điều chỉnh và quản lý dòng vận động của vốn đầu tư

Trang 8

b) Lợi ích của vốn nước ngoài đối với việc phát triển kinh tế của các nước

đang phát triển trong đó có Việt Nam:

Thứ nhất: là tạo công ăn việc làm Đây là tác động kép song song với tạo

công ăn việc làm là tăng thêm thu nhập cho người lao động, và cho đất nước, làmtăng GNP của các quốc gia giải quyết nạn thất nghiệp và kéo theo hậu quả của nó

Thứ hai: Tác dụng chuyển giao khoa học kĩ thuật, lợi ích quan trọng thứ hai

mà đầu tư nước ngoài có thể mang lại là kĩ thuật công nghệ hiện đại, kĩ xảo chuyênmôn, bí quyết và trình độ quản lý tiên tiến cũng như năng lực thị trường của cácnước đi trước xét về lâu dài đây chính là lợi ích căn bản đối với các nước tiếp cậnvốn trong đó có Việt Nam

Thứ ba: Lợi ích về vốn và ngoại tệ Lợi ích này dưới dạng tổng quát hơn,

chính là lợi ích tăng trưởng của đất nước Xét riêng về vốn, ngoại tệ, nguồn lực huyđộng từ bên ngoài có những tác dụng căn bản sau:

- Rút ngắn thời gian tích lũy vốn ban đầu cho công nghiệp hóa – hiện đại hóađất nước

- Tạo ra những cơ sở xuất khẩu cho đất nước trong tương lai

- Thu một phần lợi nhuận của các công ty nước ngoài

- Thu ngoại tệ từ các hoạt động du lịch, dịch vụ,…

c).Vai trò của FDI đối với việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Vai trò của FDI đối với việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xãhội chủ nghĩa ở nước ta có thể xem xét dưới những góc độ sau:

-Thứ nhất,FDI tạo ra cơ hội cũng như thách thức với sự phát triển bền vững.

Ngày nay, phát triển bền vững đang là mục tiêu quan trọng của các quốc giatrên toàn thế giới Phát triển bền vững được hiểu là sự tăng trưởng kinh tế đi liềnvới cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiên tiến bộ và côngbằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “Chủ động

hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng

cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủnghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo

vệ môi trường”

Trang 9

Việt Nam là một quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên và có lực lượnglao động đồi dào, song các yếu tố về vốn, trình độ cũng như tay nghề của lực lượnglao động còn rất nhiều hạn chế, khoa học - công nghệ đã tụt hậu khá xa so với cácnước phát triển Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định vai trò quan trọngcủa việc thu hút FDI và đề ra nhiều giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư, tạođiều kiện thuân lợi để thu hút FDI, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu pháttriển kinh tế-xã hội Việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa ở Việt Nam về bản chất, là một kiểu tổ chức và phát triển nền kinh tế - xã hộivừa dựa trên nguyên tắc, quy luật của nền kinh tế thị trường và nguyên tắc, mục tiêucủa chủ nghĩa xã hội Định hướng này không chỉ đòi hỏi nền kinh tế tăng trưởng ởmức độ cao, mà còn đòi hỏi phải xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và côngminh; trong đó phát triển nguồn nhân lực và phát triển xã hội bền vững được coi làtrọng tâm.

Ngày 29/12/1987, Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 2 đã thông qua Luật đầu

tư nước ngoài tại Việt Nam Đây là đạo luật đầu tiên được xây dựng theo cơ chế củanền kinh tế thị trường và cũng là đạo luật đầu tiên thể hiện đường lối mở cửa, hộinhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Kể từ năm 1988 đến nay FDI đã tác động đến

cả chiều rộng và chiều sâu của quá trình tăng trưởng kinh tế Việt Nam

Đầu tư nước ngoài đã góp phần quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấukinh tế của Việt Nam Do đầu tư chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, đầu

tư nước ngoài đã góp phần nâng cao tỷ trọng giá trị công nghiệp và dịch vụ trongtổng sản phẩm xã hội Mặt khác, nhiều ngành sản xuất quan trọng đối với sự pháttriển của đất nước đã ra đời như sản xuất xi măng; lắp ráp, sản xuất xe máy, ôtô,viễn thống quốc tế, thăm dò và khai thác dầu khí …

Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng thu hút và giải quyết việclàm cho một lực lượng lớn lao động, đến năm 2004 ước tính khoảng gần 850 ngànlao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp FDI Lao động trong các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được làm quen với phong cách và kỷ luật lao độngmới, trình độ tay nghề từng bước được nâng cao phù hợp với yêu cầu của từngdoanh nghiệp Cũng cần lưu ý rằng, đội ngũ lao động trong các doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài, khi đã đạt được trình độ kỹ thuật và năng lực quản lý sẽ trởthành nguồn lực chủ yếu phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước

Trang 10

Có thể nói hoạt động đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trong những năm qua đã

có những đóng góp quan trọng, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng với tố độ cao, làmthay đổi cơ cấu kinh tế theo chiều hướng tích cực và nâng cao trình độ công nghệchung của các ngành kinh tế

-Thứ hai, đầu tư nước ngoài tạo cho Việt Nam chủ động hội nhập với các nền kinh tế khu vực và thế giới.

Khu vực hóa và toàn cầu hóa là những xu hướng tất yếu mà mọi nền kinh tếđều bị cuốn hút vào Tuy nhiên, tùy thuộc và trình độ phát triển kinh tế và các nhân

tố khác mà mỗi nước có chủ trương riêng trong hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thờitác động đến tiến trình đó Với chủ trương Việt Nam là bạn đối tác tin cậy của cácnước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế vàkhu vực, Việt Nam đã tạo ra thế và lực mới trên trường quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình đưa nền kinh tế nước ta hội nhập vớikhu vực thông qua việc gia nhập ASEAN, thực hiện AFTA và hướng tới xây dựngcộng động ASEAN-AC; đồng thời mở rộng quan hệ song phương và đa phương vớicác tổ chức quốc tế, tổ chức hợp tác khu vực, các quốc gia, chủ yếu và thương mại

và đầu tư Đặc biệt Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên chính thức thứ 150của tổ chức thương mại thế giới WTO vào tháng 01/2007 Việc phát triển khu vựckinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đảm bảo cho hội nhập kinh tế đạt hiệu quả cao.Thông qua FDI, các Công ty nước ngoài, nhất là các chi nhánh của Công ty xuyênquốc gia có mặt tại Việt Nam đã góp phần vào tăng trưởng kinh tế, mở rộng xuấtkhẩu, nâng cao năng lực tiếp cận thị trường và năng lực cạnh tranh của hàng hóa,dịch vụ trên thị trường thế giới

-Thứ ba, đầu tư nước ngoài tạo ra những điều kiện thuận lợi và thách thức đối với việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ.

Nền kinh tế độc lập tự chủ được hiểu là nền kinh tế có trình độ phát triển đủđiều kiện không bị lệ thuộc vào nước khác Thực tiễn cho thấy, muốn giữ được độclập tự chủ nhất thiết phải có hai điều kiện: Có đường lối, chính sách phù hợp vớiđiều kiện cụ thể của đất nước trong xu thế toàn cầu hóa và có thực lực kinh tế đủmạnh

Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ không có nghĩa là đối lập với vấn đề hộinhập kinh tế quốc tế Mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc tế là tạo thêm nguồn lực,

Trang 11

tạo thành sức mạnh tổng hợp nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thựchiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Như vậy, việc xâydựng nền kinh tế độc lập tự chủ không đối lập với việc mở rộng quan hệ kinh tế đốingoại mà lại là điều kiện quan trọng để nước ta chủ động hội nhập kinh tế quốc tế,tạo khả năng đón bắt thời cơ do toàn cầu hóa và khu vực hóa đem lại, kết hợp ngoạilực với nội lực thành nguồn lực tổng hợp để phát triển nhanh đất nước.

Trong thế giới hiện tại, FDI là một trong những công cụ quan trọng thúc đẩyquá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Các quốc gia tiếp nhận FDI có điều kiện tăng vốn đầu tư, tăng năng lực sảnxuất, giải quyết việc làm, đẩy nhanh quá trình đổi mới thiết bị, tiếp thu công nghệhiện đại và nâng cao trình độ quản lý, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, mởrộng quan hệ giao lưu, hợp tác kinh tế quốc tế Thông qua đó, kết hợp với phát huynội lực, các quốc gia tiếp nhận đầu tư nhanh chóng xây dựng một nền kinh tế vữngmạnh, tạo thế và lực cho việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

d).Sự phát triển nhận thức và quan điểm về đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Một khó khăn lớn của hầu hết các nước đang phát triển trong giai đoạn đầuphát triển là thiếu vốn đầu tư Đây là yếu tố quyết định để các nước có thể đầynhanh tốc độ phát triển kinh tế, cải thiện đời sống vật chất của nhân dân ở các nướcđang phát triển thường có nguồn lao động và tài nguyên thiên nhiên chưa sử dụnghết hoặc không được sử dụng vì thiếu các điều kiện vật chất của quá trình lao độngsản xuất Bản thân các nước đang phát triển lại ít có khả năng tự tích lũy vì năngxuất lao động thấp, sản xuất hầu như không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trongnước Trong hoàn cảnh như vậy, nguồn vốn từ bên ngoài sẽ có ý nghĩa quan trọngđối với bước phát triển ban đầu của các nước này Đặc biệt là trong xu thế quốc tếhóa đời sống kinh tế thế giới hiện nay, các nước đang phát bị đặt trong tình huốngphải tạo được tốc độ phát triển nhanh để đuổi kịp và từng bước hội nhập với nềnkinh tế thế giới, nguy cơ tụt hậu không cho phép các nước đang phát triển đượcchậm chễ hay có cách lựa chọn nào khác Trong điều kiện trên thế giới có nhiềuquốc gia có nhu cầu đầu tư ra nước ngoài thì các nước đang phát triển có cơ hộitranh thủ nguồn vốn và kỹ thuật của nước ngoài để phát triển kinh tế Thực tế chothấy quốc gia nào biết thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn nước ngoài sẽ tạo

ra bộ mặt phát triển nhanh chóng của nền kinh tế

Trang 12

Ngoài những đặc điểm chung của một quốc gia đang phát triển Việt Nam còn

có những nét đặc thù riêng của một đất nước đã phải trải qua nhiều năm chiến tranh

ác liệt Nền kinh tế sau chiến tranh đã bị tàn phá nặng nề lại vấp phải những sai lầmnghiệm trọng trong quản lý và điều hành cả trên tầm vĩ mô và vi mô, nên đã rơi vàokhủng hoảng nghiệm trọng Một nền kinh tế què quặt, nghèo nàn, lạc hậu: Đời sốngcủa đại đa số nhân dân khó khăn thiếu thốn là gánh nặng không thể vượt qua được

Sau khi vượt qua được khủng hoảng, nền kinh tế Việt Nam bước vào giaiđoạn ổn định và phát triển (từ năm 1991-2000).Cũng lại nhờ vào nguồn lực bênngoài, thông qua vay nợ, viện trợ và hợp tác đầu tư ( trong thời kỳ 1991-1995-vốnFDI là 4,205 tỷ USD, so với 15,695 tỷ USD tổng vốn đầu tư toàn bộ nền kinh tế,vốn FDI chiếm 26,8%), cùng với khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả nguồnlực trong nước chúng ta đã tạo ra được một bước phát triển đầu tiên khá vữngchắc.Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn này là 8,2% và nhờ có sự tăng trưởngkinh tế mà đã tăng được tỷ lệ tích lũy lên gần 20% GDP vào năm 1995 Thực tiễntrên đây là kết quả của những thay đổi trong nhận thức và quan điểm của chúng ta

về đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư nước ngoài là một hoạt động kinh tế đối ngoại, vì vậy nó bị chi phốitrước hết bởi đường lối phát triển kinh tế nói chung và chính sách kinh tế đối ngoạinói riêng

Sự thay đổi tư duy kinh tế đối ngoại ở Việt Nam chủ yếu nảy sinh từ tìnhhình thực tiễn mới diễn ra từ những năm 80 gắn liền với quá trình đổi mới tư duykinh tế nói chung Điểm mốc thời gian đánh dấu sự thay đổi này là năm 1986, nămdiễn ra Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 6, Đại hội của đường lối đổi mớitoàn diện đời sống kinh tế xã hội

Sau Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IV, với chính sách đổi mớitoàn diện đất nước chúng ta đã đánh giá cao vai trò rất to lớn của các quan hệ kinh

tế quốc tế nói chung và đầu tư nước ngoài nói riêng Đảng cộng sản Việt Nam vàChính phủ cũng hiểu rằng, trong điều kiện nền kinh tế còn ở tình trạng lạc hậu, nếumuốn phát triển nhanh thì phải biết lợi dụng vốn và kỹ thuật của các cường quốccông nghiệp và nếu có phải trả (học phí) để có được trình độ kỹ thuật công nghệcao, trình độ quản lý tiên tiến thì cũng phải và nên làm

Trang 13

Trên cơ sở những quan điểm đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam đưa ra.Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã đựơc soạn thảo và ban hành vào tháng12/1987 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt ra đời phù hợp với xu hướng của sự hợptác nhiều mặt, nhiều chiều, tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trên cơ sở bìnhđẳng và cùng có lợi Việt nam cũng như các quốc gia đang phát triển khác đang rấtcần thu hút vốn và kỹ thuật –công nghệ của các nước tiên tiến trên thế giới.Nhưngchúng ta cũng hiểu rằng hoạt động này còn đang diễn ra một cuộc cạnh tranh gaygắt giữa các nước và các khu vực trên thế giới, hơn nữa chúng ta lại là nước nhậpcuộc sau và môi trường đầu tư trong nước chưa được thuận lợi Vì vậy Luật đầu tưnước ngòai của chúng ta đã thể hiện tính cởi mở cao, hấp dẫn, tạo ra những lợi thế

so sánh trong cuộc cạnh tranh quyêt liệt này

Lần thứ hai sửa đổi, bổ sung Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đượcQuốc hội nước CHXHCNVN thông qua ngày 23/12/1992 Rõ ràng là qua quá trìnhthực hiện, chúng ta mới hiểu biết nhiều hơn về đầu tư nước ngoài và cũng khẳngđịnh được nhận thức trước đây của chúng ta về vấn đề này Vì vậy lần sửa đổi bổsung này chúng ta hoàn chỉnh thêm một bước bộ Luật đầu tư nước ngoài tại ViệtNam

Trên cơ sở nhận thức ngày càng đúng về hoạt động ĐTNN, chúng ta đã cóquan điểm rõ ràng về thu hút và sử dụng nguồn lực bên ngoài để phục vụ cho sựnghiệp CNH-HĐH nền kinh tế Chúng ta coi nguồn lực trong nước là quyết định,nguồn lực bên ngoài là quan trọng đối với sự phát triển lâu dài của nên kinh tế.Chúng ta chủ trương, đồng thời với việc tận dụng triệt để mọi thế mạnh và nguồnlực trong nước, cũng cần tạo mọi điều kiện thuận lợi để khai có hiệu quả nguồn lựcbên ngoài

3.Đánh giá chung:

Từ sự phân tích trên, có thể kết luận rằng việc tiếp nhận vốn phát triển từnước ngoài là lợi thế hiển nhiên mà thời đại tạo ra cho các nước đi sau Dù những gì

có khả năng gây ra bất lợi (xét thuần túy liên quan đến kinh tế) thì đây vẫn là một

xu hướng khách quan, một sự lựa chọn cho phép các nước nghèo thoát khỏi tìnhtrạng lạc hậu, để gia nhập nhanh hơn vào quỹ đạo phát triển hiện đại (Vốn nướcngoài và chiến lược phát triển kinh tế ở Việt Nam- Nhà xuất bản chính trị Quốc gia– Lê Văn Châu)

Trang 14

II.THỰC TRẠNG VỀ VAI TRÒ CỦA KHU VỰC KINH TẾ CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI.

1.Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam từ 1988 đến nay: a)Vốn đầu tư:

Vốn đầu tư là một nguyên nhân quan trọng trong gia tăng và phân hóa thunhập của các nhóm dân cư ở các vùng Khi phân tích khả năng đầu tư của từng vùngđối với sự phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, các nhà kinh tế đều thừa nhậnnhững vùng kinh tế phát triển mạnh là vùng thu hút đầu tư cao nhất Vùng kinh tếtrọng điểm phía Nam là một minh chứng cho nhận định trên Không ai có thể phủnhận vai trò của vốn đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là những nước tăngtrưởng kinh tế dựa chủ yếu vào nguồn vốn như nước ta

FDI/GDP 14% 15% 17.7% 24.3% 24.3% 27.1% 28.1% 28.3%

FDI/GDP 29% 27.6% 29.6% 31.1% 32.1% 33.7% 35.3% 35.5% Bảng1:Tỉ lệ vốn FDI/GDP đơn vị phần trăm (nguồn tổng cục thống kê)

Theo cục đầu tư nước ngoài, dự kiến vốn FDI đăng kí ở Việt Nam giai đoạn

2006 đến 2010 khoảng 25 tỷ USD Đây là một con số dự đoán theo hướng thậntrọng Một số nhà nghiên cứu kinh tế ở Việt Nam và thế giới còn cho rằng con sốnày khả năng sẽ tăng lên 46 tỷ USD đăng ký và 29 tỷ thực hiện Việc gia tăngnguồn vốn FDI vào Việt Nam sẽ hứa hẹn tạo ra nhiều chỗ việc làm mới nhưng đòihỏi người lao động phải có chuyên môn kinh tế Như chúng ta đã biết, giai doạn2000-2004 FDI vào Việt Nam liên tục tăng kéo theo chỗ việc làm được tạo ra ngàycàng nhiều Nếu như năm 2000 mới chỉ là 407565 việc làm thì đến năm 2004 dã là

1044851 việc làm và do vậy suất đầu tư cho một chỗ cũng giảm mạnh do phần lớncác doanh nghiệp FDI đã đi vào giai đoạn sản xuất Trên cơ sở tính toán suất đầu tưcho một chỗ việc làm của khu vục kinh tế này và dự báo nguồn vốn FDI thực hiện

ta có thể dự báo chỗ việc làm cho khu vực kinh tế này tạo ra từ nay đến năm 2010như sau

Trang 15

Bảng 2:Dự đoán tỷ lệ vốn trên tỷ lệ lao động,vốn FDI tính theo triệu đồng(nguồn tạp chí kinh tế)

Theo tạp chí nghiên cứu kinh tế số 347 T4/2007: Tính từ đầu năm dến18/12/2006 cả nước có 797dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép với tổng vốnđăng kí 7,57 tỷ USD bình quân một dự án đạt 9,5 triệu USD lớn gấp đôi quy mô củanăm 2005, còn phần tăng vốn đạt 2,36 tỷ USD, với quy mô tăng vốn bình quân 4,9triệu USD/dự án so với 3,6 triệu USD/dự án trong năm 2005 kết quả này đã vượt xa

dự kiến ban đầu của kế hoach năm 2006 và vượt xa kỷ lục đã lập năm 1996 là 8,6 tỷUSD là kỷ lục trong gần 20 năm nay kể từ khi hình thành khu vực FDI tại việt nam.Đây là hiệu ứng của việc Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO bởinếu không có sự kiện này thì chưa chắc có đã có kết quả như vậy cho dù các nghànhcác địa phương các địa bàn trọng điểm có “trải thảm đỏ”mời gọi các nhà đầu tư như

đã làm mấy năm trước Và chính nhờ kết quả hiệu ứng này mà bộ kế hoạch đầu tưmới đây đã đưa ra dự báo khả năng 2007 có thể thu hút được trên 11 tỷ USD vốnFDI đăng kí mới và kết quả thu hut cả thời kì 2006-2010 có thể đạt lớn hơn 55 tỷUSD

Trong quan hệ hợp tác đầu tư, tính đến nay đã có trên 70 quốc gia và vunglãnh thổ có hoạt động đầu tư tại Việt Vam Việt Nam dã kí kết 46 hiệp định khuyếnkhích và bảo hộ đầu tư với hầu hết các nhà đầu tư lớn , đã có trên 100 tập đoàn kinh

tế xuyên quốc gia có mặt ở Việt Nam Tổng vốn đầu tư nước ngoài đang kí ở ViệtNam cho đến nay đã đạt 60 tỷ USD trong đó vốn thực hiện trên 30 tỷ USD Đầu tưcủa các nước công nghiệp như Mỹ, EU, ÚC và các công ty đa quốc gia-những đốitác có quy mô vốn lớn ,công nghệ nguồn và hịên đại lại chiếm một tỷ trọng khiêmtốn Tuy nhiên đã và đang có những thay đổi đáng chú ý ở thời kì 2001-2005, đặcbiệt là 2006 quy mô vốn FDI của Nhật, Mỹ, Trung Quốc tăng lên nhanh chóng và

có nhiều dự án to lớn do những tập đoàn đa quốc gia thực hiện.năm 2006 có 10 dự

án FDI được xem là nổi bật:

Trang 16

1.Dự án nhà máy thép tài khu công nghiệp phú mỹ 2 Bà Rịa Vũng Tàu 1,126

tỷ USD Dự án do Công ty Poscotaapj đoàn thép hàng đầu của Hàn Quốc đầu tư100% vốn, thời gian hoạt động là 48 năm được chia làm hai giai đoạn: giai đoạn 1đầu tư 340 triệu USD hoàn thành năm 2009 có công suất 700.000 tấn/năm ; giaiđoạn hai dự kiến công suất sẽ đạt 3 triệu tấn /năm sau khi hoàn thành nhà máy sẽtạo ra khoảng 10.000 việc làm mới

2.Dự án sản xuất linh kiện máy tính của công ty TNHH Intel Products ViệtNam 1 tỷ USD Tháng 11 Intel nâng tổng vốn đầu tư lên 1 tỷ USD trở thành dự ánlớn nhất từ trước tới nay của Mỹ vào Việt Nam Dự kiến khoảng 4000 lao động ViệtNam sẽ làm việc cho nhà máy này Đồng thời với việc tăng vốn đầu tư Intel cũngquyết định mở rộng diện tích nhà máy lên 150.000m Đây là nhà máy lớn nhất trong

hệ thống 7 cơ sở lắp ráp và kiểm tra chíp bán dẫn của Intel trên thế giới và dự kiến

đi vào hoạt động năm 2009

3.Dự án luyện cán thép tại khu công nghiệp Dung Quất – Quảng Ngãi 556triệu USD của công ty TNHH Tycoons-World Wile Steel VietNam (TWS) do công

ty TNHH Tycoons Steel International có trụ sở tại Thái Lan làm chủ đầu tư

4.Dự án khu đô thị Tây Hồ Tây 314 triệu USD

5.Dự án xây dựng khách sạn 5 sao ở Bà Rịa Vũng Tàu 300 triệu USD là dự

án 100% vốn của tập đoàn Winwost Investmet của Mỹ, dự án thời hạn 50 năm đượcmiễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong hai năm đầu và giảm 50% múc thuế trong 3năm tiếp theo

6.Dự án xây dựng nhà máy sản xuất linh kiện điện tử của tập đoàn Meiko

300 triệu USD do tập đoàn Meiko của Nhật Bản đầu tư 100% vốn tại khu côngnghiệp Phùng Xà – Hà Tây Dự kiến thu hút trên 7000 lao động và đạt doanh thu1,7 tỷ USD /năm

7.Dự án xây dựng cảng container 249 triệu USD

8.Dự án xây dựng khu đô thị An Khánh 211,9 triệu USD

9.Dự án chung cư quốc tế Booyu 171 triệu USD

10.Dự án cụm công nghiệp dệt may ITG Phong Phú 65,6 triệu USD

Theo tạp chí kinh tế qúy 1/2007 ước đạt 19,5% kế hoạch năm, bằng41,1%GDP trong đó :

-Nguồn vốn ngân sách nhà nước đạt 20,6% kế hoạch

Trang 17

-Vốn đầu tư tín dụng theo kế hoạch đạt 18% kế hoạch năm

-Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước đạt 19,4% kế hoạch

-Vốn đầu tư nước ngoài đạt 23% kế hoạch

Thu hút đầu tư nhà nước tiếp tục xu hướng phát triển, đạt 2,503 tỷ USD tăng22% so với quý 1/2006 trong đó vốn đầu tư đang kí mới là 2,071 tỷ USD với 196

dự án được cấp phép, vốn tăng thêm 432 triệu USD với 109 lượt dự án Vốn đầu tưnước ngoài thực hiện ước đạt 1,055 tỷ USD tăng 27% so với cùng kì năm trước

Trong tháng 4/2007 đã có 102 dự án được cấp phép với tổng số vốn đầu tưkhoảng 894 triệu USD cũng có thêm 25 lượt dự án tăng vốn với số vốn đầu tư tăngthêm 117 triệu USD Như vậy tính trong 4 tháng đầu năm 2007 đã có 3,515 tỷ USDvốn đầu tư tăng 54,7% so với cung kì năm ngoái trong đó có 298 dự án mới vớitổng vốn là 2,964 tỷ USD tăng 55% về lượng vốn và 134 lượt dự án tăng vốn vớitổng đầu tư 548,4 triệu USD tăng 52,9% so với cùng kì năm ngoái

Dẫn đầu về thu hút vốn đầu tư trong 4 tháng đầu năm là các địa phương BàRịa Vũng Tàu, Thừa Thiên Huế, Bình Dương ,Quảng Ngãi và thành phố Hồ ChíMinh Trong khi đó xét về nhà đầu tư thì Hàn Quốc dẫn đầu tiếp đó là Ấn

Độ ,Singapo Thái Lan và Mỹ Với kết quả đạt được của 4 tháng đầu năm có thể kìvọng năm 2007 việt nam sẽ đón nhận dòng vốn FDI vượt mức 12 tỷ USD và hướngtới con số 17 tỷ USD

b)Đầu tư FDI theo cơ cấu ngành:

Hầu hết các ngành kinh tế của Việt Nam đều có dự án đầu tư của các nướcthuộc khối APEC, trong đó tập trung nhiều nhất trong lĩnh vực công nghiệp và xâydựng , dịch vụ và nông lâm nghiệp trong tổng số vốn đăng ký thuộc loại các dự ánđầu tư nước ngoài được cấp phép năm 2006 thì công nghiệp và xây dựng chiếm tới68,4%, dịch vụ 30%

Trang 18

Số dự ánđược cấpphép

Số vốn đăng ký (nghìn USD)Tổng số Vốn pháp định

Theo UNCTAD hiện các nước phát triển tiếp nhận 72% vốn FDI của thế giớitrong ngành dịch vụ, các nước đang phát triển chiếm khoảng 25% Tuy nhiên xuhướng FDI tập trung cho khu vực dịch vụ hiện nay đã có nhũng thay đổi đáng kể sovới những năm 90 của thế kỉ trước ví như trong lĩnh vực dịch vụ thương mại và tàichính , năm 2002 lượng FDI thế giới vào 2 lĩnh vực này giảm từ 65% tong năm

1990 xuống 47% trong năm 2002 các ngành dịch vụ điền nước , viễn thông và kinhdoanh đang có xu thế nổi bật trong việc tiếp nhận FDI trong thời gian tư 1990 đến

2002 lượng FDI vào nghành năng lượng điện nói chung tăng 14 lần vào viễn thông

Ngày đăng: 08/04/2013, 07:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2:Dự đoán tỷ lệ vốn trên tỷ lệ lao động,vốn FDI tính theo triệu đồng (nguồn tạp chí kinh tế) - FDI và vai trò của nó trong việc phát triển kinh tế Việt  Nam
Bảng 2 Dự đoán tỷ lệ vốn trên tỷ lệ lao động,vốn FDI tính theo triệu đồng (nguồn tạp chí kinh tế) (Trang 15)
Bảng 3:Thống kê đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ 1/1 đến 18/12/2006                       (nguồn tổng cục thống kê) - FDI và vai trò của nó trong việc phát triển kinh tế Việt  Nam
Bảng 3 Thống kê đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ 1/1 đến 18/12/2006 (nguồn tổng cục thống kê) (Trang 18)
Bảng 4: So sánh thu hút đầu tư tại một số địa phương. - FDI và vai trò của nó trong việc phát triển kinh tế Việt  Nam
Bảng 4 So sánh thu hút đầu tư tại một số địa phương (Trang 20)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w