HCM VƯƠNG QUẾ ANH GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM Chuyên ngành: Kinh tế tài chí
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
VƯƠNG QUẾ ANH
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI
RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRƯƠNG QUANG THÔNG
TP HCM - 2010
Trang 21 Lý do chọn đề tài
Quản trị rủi ro tín dụng luôn là mối quan tâm hàng đầu không chỉ của bản thân các Ngân hàng thương mại mà còn là mối quan tâm của Ngân hàng Nhà nước Bởi lẻ, hoạt động tín dụng một mặt tạo ra thu nhập cho Ngân hàng, nhưng một mặt khác cũng chính nó gây ra rủi ro cho Ngân hàng Vì thế, nó thường xuyên nhận được sự chú ý đặc biệt trong quản trị Ngân hàng, vì việc quản trị Ngân hàng có hiệu quả hay không có ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công hay thất bại của một Ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước đã ban hành rất nhiều các văn bản quy định về vấn đề đảm bảo an toàn trong hoạt động Ngân hàng Tuy nhiên, tùy vào khả năng, trình độ của từng Ngân hàng mà mỗi Ngân hàng sẽ tuân thủ ở những mức độ khác nhau Rủi ro tín dụng xảy ra, nguyên nhân trước tiên thuộc về bản thân các Ngân hàng Bản thân các Ngân hàng trước nhất phải tự trang bị cho mình biện pháp, cách thức để sinh tồn trong môi trường cạnh tranh gay gắt
Một trong những biện pháp để quản trị rủi ro tín dụng mà Ngân hàng Nhà nước yêu cầu là phải thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo QĐ 493 để hạn chế và bù đắp khi có rủi ro tín dụng xảy ra NHNT đã tuân thủ yêu cầu của NHNN và thực hiện quy định này chặt chẽ Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cũng còn một số những vướng mắc khó khăn từ những quy định
của NHNN và của bản thân NHNT Do đó, tác giả đã chọn đề tài: “Giải pháp
hoàn thiện công tác phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam” cho luận văn của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 3biệt là rủi ro tín dụng, để từ đó nêu bật được tầm quan trọng của việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro trong vấn đề quản trị rủi ro tín dụng Đồng thời đề tài cũng nghiên cứu thực trạng công tác phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tại NHNT, những mặt làm được, những hạn chế, thiếu sót để từ đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện công tác phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi
ro
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là của đề tài là quy trình phân loại nợ và công tác trích lập dự phòng rủi ro tín dụng đang được áp dụng tại NHNT Việt Nam, thực hiện theo QĐ 493 của NHNN
Phạm vi nghiên cứu của luận văn chủ yếu là kết quả hoạt động của NHNT
VN giai đoạn từ 2006 đến nay Lý do của giới hạn phạm vi nghiên cứu là do QĐ
493 ra đời từ tháng 04/2005 và bắt đầu thể hiện rõ nét thông qua kết quả phân loại nợ từ năm 2006 Đặc biệt kể từ khi QĐ 493 được sửa đổi, bổ sung bởi QĐ 18/2007/QĐ-NHNN Đây cũng là giai đoạn mà NHNT triển khai quy trình phân loại nợ theo chuẩn mới
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận văn đã sử dụng phương pháp nghiên cứu: thống kê, phân tích, đánh giá, logic, tổng hợp … Đồng thời vận dụng các kiến thức của các môn học nghiệp vụ NHTM và những kinh nghiệm thực tiễn làm việc tại NHNT VN
Trang 4Luận văn trình bày sự cần thiết phải quản trị nghiệp vụ phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại NHNT VN Qua quá trình nghiên cứu, tác giả đưa
ra những điểm mới như sau:
- Đề tài đã nghiên cứu quy trình phân loại nợ cũng như các quy định của NHNT về kiểm tra, kiểm soát chất lượng tín dụng, phân tích đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong công tác phân loại nợ, nguyên nhân phát sinh nợ xấu , tình hình xử lý thu hồi nợ xấu và một số kinh nghiệm trong quá trình thu hồi nợ xấu trong thời gian qua
- Đưa ra nhiều kiến nghị, giải pháp nhằm để hoàn thiện công tác phân loại nợ, trong đó có giải pháp hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ mà NHNT đang chuẩn bị áp dụng
- Kết quả nghiên cứu này có thể áp dụng được tại NHNT vì đề tài nghiên cứu bám sát tình tình thực tế hoạt động của NHNT
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng, biểu, tài liệu tham khảo thì luận văn được chia thành 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại NHNT Việt Nam
Trang 5MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại……….……… ……… 5
1.1.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại ……….…… ………… 5
1.1.2 Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng……….……….6
1.1.2.1 Nguyên nhân khách quan……… …… 6
1.1.2.2 Nguyên nhân chủ quan……… ……….…7
1.1.3 Aûnh hưởng của rủi ro tín dụng ……….…… ……… 8
1.1.3.1 Aûnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng………….… … 8
1.1.3.2 Aûnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế ……… ………….……… 9
1.1.4 Đánh giá rủi ro tín dụng ……….….……….……….10
1.1.5 Biện pháp quản lý rủi ro tín dụng …… ……….……… ………10
1.1.5.1 Quản lý rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế …….………….… ……….11
1.1.5.2 Quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ… ……12
1.1.5.3 Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn ……….13
1.1.5.4 Quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng……… ……….14
1.2 Tổng quan về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại ……….….……… …… 15
1.2.1 Mục tiêu của phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng……… 15
1.2.2 Sự cần thiết phải phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng…….……….……… 15
1.2.3 Quy định phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo thông lệ Quốc tế ( IAS 39)……… ……… 16
1.2.3.1 Phương pháp chiết khấu luồng tiền……….……… ………16
1.2.3.2 Trích lập dự phòng theo phương pháp chiết khấu luồng tiền áp dụng lãi suất chiết khấu là lãi suất thực………18
Trang 61.3 Kinh nghiệm trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng của một số nước trên
thế giới……….……… ………21
1.3.1 Phương pháp trích lập dự phòng ở Anh……….……….……… 21
1.3.2 Phương pháp trích lập dự phòng ở Mỹ ……….……… ……….22
1.3.3 Phương pháp trích lập dự phòng ở Pháp ……… ……… 22
1.3.4 Bài học kinh nghiệm cho các ngân hàng thương mại Việt Nam………23
Kết luận chương 1 ……… ……….24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 2.1 Giới thiệu Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam ……… 25
2.1.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam ……… ……… 25
2.1.2 Tổng quan về hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010 ……… ……….……… 26
2.1.2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của NH TMCP Ngoại thương VN 26 2.1.2.2 Kết quả hoạt động tín dụng của NH TMCP Ngoại thương VN ……29
2.2 Thực trạng rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam ……….34
2.2.1 Thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam ……… ……….………34
2.2.2 Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương VN ………… 38
2.3 Thực trạng công tác phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại NH TMCP Ngoại thương Việt Nam ……… … ………42
2.3.1 Quy trình phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro ……….……… 42
2.3.1.1 Quy trình phân loại nợ theo phương pháp định lượng ( Điều 6) 42 2.3.1.2 Quy trình phân loại nợ theo phương pháp định tính ( Điều 7)… 44
Trang 72.3.2 Kết quả phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại NH
TMCP Ngoại thương VN ……….48
2.3.2.1 Tình hình phân loại nợ tại NH TMCP Ngoại thương VN…….……48
2.3.2.2 Tình hình trích lập dự phòng tại NH TMCP Ngọai thương VN.53 2.3.3 Đánh giá công tác phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro của NH TMCP Ngoại thương Việt Nam ……….54
2.3.3.1 Kết quả đạt được ……….……….54
2.3.3.2 Hạn chế ……….……….56
2.3.3.3 Công tác quản lý và xử lý nợ có vấn đề ……….………57
2.3.3.4 Bài học kinh nghiệm về việc xử lý nợ xấu ……….……… 59
2.4 Hạn chế của QĐ 493 và QĐ sửa đổi 18 về phân loại nợ và trích lập dự phòng 2.4.1 Tỷ lệ trích lập dự phòng ……….…….……….…61
2.4.2 Tài sản đảm bảo ……….……… 61
2.4.3 Thời gian thử thách ……….……… 62
2.4.4 Thời gian áp dụng Điều 7 ……….……… …63
2.4.5 Trích lập dự phòng chung đối với các khoản bảo lãnh và chấp nhận thanh toán có ký quỹ ……… ……… 64
Kết luận chương 2 CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 3.1 Định hướng của NHNN VN về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng ……… ……… ……….66
3.2 Định hướng hoàn thiện công tác phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại NH TMCP Ngoại thương Việt Nam ………67
Trang 83.2.1 Định hướng chiến lược phát triển của NH TMCP Ngoại thương Việt
Nam đến năm 2015 ……….…68
3.2.2 Định hướng hoàn thiện công tác phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại NH TMCP Ngoại thương Việt Nam ……… ……….68
3.3 Giải pháp đối với Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam ……….……… ……69
3.3.1 Thành lập bộ phận quản trị rủi ro tín dụng ……… ………….…….… ……… 69
3.3.2 Xây dựng hệ thống văn bản pháp lý và quy trình nghiệp vụ ……… …….71
3.3.3 Chú trọng đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực ………… ……….72
3.3.4 Ứng dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ ……….73
3.3.5 Ứng dụng công nghệ ngân hàng trong công tác phân loại nợ …….……… 77
3.3.6 Tăng cường sự phối hợp và trao đổi thông tin giữa các bộ phận có liên quan ……….……….78
3.3.7 Tăng cường công tác kiểm tra và kiểm soát của bộ phận kiểm tra nội bộ ……… ………79
3.3.8 Soạn thảo cẩm nang về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng ……… 79
3.4 Giải pháp đối với Ngân hàng Nhà nước ……… ………….….80
3.4.1 Ban hành hệ thống văn bản pháp luật phù hợp ……….……… 81
3.4.2 Xây dựng và hoàn thiện h th ng thông tin ……… ……… 82
3.4.3 Đào tạo nguồn nhân lực ……… 82
3.5 Các giải pháp phối hợp khác ……… ………82
Trang 9CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại
Trong bất cứ hoạt động kinh doanh nào cũng tiềm ẩn những rủi ro Rủi ro được hiểu là những nguy cơ tiềm tàng có thể dẫn đến thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần Một trong những đặc tính của rủi ro là khó xác định ( có thể xảy ra hay không, xảy ra lúc nào và thiệt hại ở mức độ nào) Hoạt động Ngân hàng được đánh giá là một trong những hoạt động kinh doanh tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro cao Rủi ro hoạt động Ngân hàng được hiểu là những rủi ro có khả năng gây ra những tổn thất tài chính cho Ngân hàng, dẫn đến việc làm giảm năng lực kinh doanh và khả năng trả các khoản nợ, trong đó chủ yếu là các khoản tiền gửi
Trong các hoạt động nghiệp vụ tài sản có của Ngân hàng thì hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn nhất, và cũng là hoạt động mang lại doanh thu chủ yếu cho Ngân hàng Tuy nhiên, Ngân hàng phải đối mặt nhiều nhất là rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng: là loại rủi ro dẫn đến tổn thất tài sản trong trường hợp khách hàng vay vốn/ được cấp tín dụng không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ những cam kết nêu tại hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng
Hiểu theo nghĩa rộng, rủi ro tín dụng là tất cả những khả năng mà theo đó, Ngân hàng sẽ không thể thu hồi đầy đủ và đúng hạn các khoản tín dụng đã cấp Nói cách khác, rủi ro tín dụng là việc khách hàng không trả đầy đủ những khoản nợ đối với Ngân hàng theo đúng cam kết, dù với bất kỳ lý do gì Rủi ro tín dụng sẽ gây nên những thiệt hại đối với Ngân hàng, làm mất mác nguồn vốn và làm
Trang 10suy giảm khả năng chi trả và khả năng thanh toán các khoản nợ Vì thế, rủi ro trong hoạt động tín dụng luôn là mối quan tâm hàng đầu không chỉ của bản thân các Ngân hàng thương mại mà còn của NHNN trong việc điều hành quản lý chung toàn hệ thống Ngân hàng
1.1.2 Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng:
Loại rủi ro này có thể phát sinh do những nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan từ phía khách hàng và Ngân hàng
1.1.2.1 Nguyên nhân khách quan
Từ phía khách hàng: Rủi ro tín dụng phát sinh có thể do những nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan Về mặt chủ quan có thể do trình độ quản lý của khách hàng yếu kém dẫn đến sử dụng vốn vay kém hiệu quả, sử dụng vốn vay sai mục đích làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ hoặc cũng có thể do khách hàng thiếu thiện chí trong việc trả nợ, hoặc do tình hình tài chính yếu kém, thiếu minh bạch, các báo cáo mà khách hàng đưa cho Ngân hàng không trung thực, khách hàng cố ý che dấu sự yếu kém của mình nhằm mục đích rút được tiền của Ngân hàng Về mặt khách quan có thể do khách hàng gặp phải những thay đổi của môi trường kinh doanh không thể đo lường trước được, chẳng hạn như sự thay đổi về giá cả hay nhu cầu của thị trường, về môi trường pháp lý hay chính sách của Chính phủ khiến doanh nghiệp lâm vào cảnh khó khăn về tài chính không thể khắc phục được mặc dù có thiện chí nhưng cũng không có đủ khả năng trả nợ
Từ môi trường kinh tế vĩ mô: Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu sự tác động rất lớn từ sự biến động của môi trường kinh doanh không chỉ trong nước mà còn chịu ảnh hưởng từ nền kinh tế thế giới Khủng hoảng kinh tế xảy ra gây cho các doanh nghiệp rất nhiều khó khăn Bên cạnh đó là sự thay đổi chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ hay NHNN có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chẳng hạn như chính sách gia tăng dự trữ bắt
Trang 11buộc, tăng lãi suất, tăng tỷ giá… thì ngay lập tức sẽ ảnh hưởng đến các doanh nghiệp ở những mức độ nhiều ít khác nhau
1.1.2.2 Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất: thiếu thông tin Các Ngân hàng chưa xây dựng được kho dữ liệu thống kê về các chỉ tiêu tài chính của từng ngành nghề để làm cơ sở so sánh, đối chiếu với số liệu hiện tại của khách hàng Nếu Ngân hàng có đầy đủ thông tin về các chỉ số trung bình ngành, thì sẽ giúp việc đánh giá tình hình hoạt động cũng như khả năng tài chính của khách hàng chính xác hơn Việc thiếu thông tin trên đã gây không ít khó khăn cho Ngân hàng trong việc thẩm định hồ sơ vay của khách hàng, từ đó dẫn đến việc đưa ra quyết định cho vay không phù hợp, tiềm ẩn rủi ro tín dụng về sau
Thứ hai: quy trình thẩm định và ra quyết định cho vay chưa chặt chẽ cũng là nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng Quá trình xét duyệt cho vay nhiều nơi còn lỏng lẻo, chỉ một cán bộ tín dụng xem xét hồ sơ rồi trình lên trưởng phòng và giám đốc quyết định cho vay, như thế thì giám đốc được toàn quyền quyết định theo ý kiến chủ quan của mình, dễ phát sinh tiêu cực dẫn đến rủi ro Ngoài ra, các Ngân hàng còn thiếu các bộ phận chuyên trách để quản lý rủi ro, quản lý hạn mức tín dụng tối đa cho từng khách hàng thuộc từng ngành nghề khác nhau Vấn đề chỉ tiêu kế hoạch tín dụng cũng gây khó khăn, do phải chạy theo số lượng dư nợ mà đôi khi Ngân hàng cũng đã bỏ qua việc coi trọng chất lượng tín dụng
Thứ ba: yếu tố con người Con người đóng vai trò quyết định đến sự thành công hay thất bại của việc kinh doanh Trước tiên là vấn đề trình độ và năng lực của cán bộ Ngân hàng, do năng lực yếu kém nên đánh giá sai về năng lực của khách hàng vay cũng như đánh giá sai về hiệu quả phương án vay vốn của khách hàng, dẫn đến tình trạng khách hàng không trả được nợ vay Cán bộ Ngân hàng còn quá chủ quan tin tưởng vào khách hàng nên không thực hiện đúng theo quy trình giám sát khoản vay trước và sau khi cho vay, không phát hiện kịp thời các
Trang 12khoản tiền vay được sử dụng sai mục đích, quá tin tưởng vào tài sản thế chấp, bảo lãnh, coi đó là vật đảm bảo chắc chắn cho sự thu hồi cả gốc và lãi tiền vay Ngoài
ra, rủi ro tín dụng còn xảy ra do cán bộ Ngân hàng mất phẩm chất đạo đức, cố ý làm trái quy định của NHNN về xét duyệt cho vay, móc nối với khách hàng để làm những chuyện phi pháp
Tóm lại, rủi ro tín dụng phát sinh do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng cho dù từ nguyên nhân nào đi nữa thì việc này cũng ảnh hưởng, gây rất nhiều khó khăn, trước mắt là cho bản thân Ngân hàng và nếu tổn thất nhiều thì cũng sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế
1.1.3 Aûnh hưởng của rủi ro tín dụng
1.1.3.1 Aûnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Với chức năng trung gian tín dụng, nguồn vốn cho vay của Ngân hàng chủ yếu từ nguồn vốn huy động tiền nhàn rỗi trong dân cư Vì thế, khi rủi ro tín dụng xảy ra, đồng nghĩa Ngân hàng không thu hồi được số tiền đã cho vay, cả gốc và lãi, trong khi Ngân hàng bắt buộc phải hoàn trả vốn gốc và tiền lãi cho các khoản tiền đã huy động, điều này làm mất cân đối trong việc thu chi, ảnh hưởng xấu đến khả năng thanh khoản của Ngân hàng Tùy theo khoản tiền cho vay không thể thu hồi nhiều hay ít mà nó ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản đến mức độ nào, làm cho năng lực tài chính của Ngân hàng sụt giảm, và chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu sẽ làm ảnh hưởng đến uy tín và khả năng cạnh tranh của Ngân hàng mà đặc biệt là trong giai đoạn cạnh tranh khốc liệt như hiện nay Nếu Ngân hàng có trích lập dự phòng rủi ro tín dụng thì rủi ro sẽ làm gia tăng dự phòng, gia tăng chi phí hoạt động, làm giảm lợi nhuận , hoạt động kinh doanh của Ngân hàng kém hiệu quả Nếu rủi ro gây ra thất thoát quá lớn có khả năng dẫn Ngân hàng đến thua lỗ hoặc đưa đến bờ vực phá sản nếu không có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời
1.1.3.2 Aûnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế
Trang 13Ngân hàng là doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh tiền tệ và cung cấp sản phẩm dịch vụ, phục vụ khách hàng cá nhân, doanh nghiệp, và mọi thành phần kinh tế Ngân hàng hoạt động kinh doanh chủ yếu dựa vào uy tín, khả năng tài chính của mình và là nơi đáng tin cậy để khách hàng “ gửi trọn niềm tin” Khách hàng đến với Ngân hàng do có niềm tin vào sự an toàn của Ngân hàng, bất kể là khách hàng gửi tiền, vay tiền hay sử dụng các dịch vụ khác của Ngân hàng Vì thế, khi Ngân hàng gặp phải rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng mà có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của Ngân hàng sẽ làm cho niềm tin của khách hàng về Ngân hàng đó bị lung lay, khách hàng sẽ lập tức đến rút tiền gửi để bảo toàn vốn của mình, và tâm lý bất an sẽ lây lan đến nhiều người, khách hàng sẽ ồ ạt đến rút tiền gửi làm cho Ngân hàng đang gặp khó khăn về thanh khoản càng khó khăn hơn, điều này càng làm cho khách hàng hoang mang lo sợ, tình hình càng trở nên trầm trọng hơn, đời sống của người dân bị xáo trộn, mọi người không thể yên tâm làm việc, gây mất trật tự xã hội Đặc biệt, không chỉ khách hàng của một Ngân hàng có rủi ro mất niềm tin vào Ngân hàng, mà lúc này sẽ có ảnh hưởng dây chuyền đến tất cả khách hàng của các Ngân hàng khác, và như thế cả hệ thống Ngân hàng đều rơi vào tình trạng khó khăn chung, gây khủng hoảng kinh tế
Ngoài ra, Ngân hàng còn là nơi cung cấp vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ phục vụ hoạt động kinh doanh của doanh nhgiệp Khi Ngân hàng gặp khó khăn, ngừng hoạt động sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp thiếu vốn sẽ thu hẹp sản xuất, chi phí sản xuất gia tăng do phải tìm nguồn vốn giá cao khác, gia tăng giá thành sản phẩm, đời sống công nhân lao động không được đảm bảo Tác động đó ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế, làm nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định
Trang 14Bên cạnh đó, rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới vì ngày nay nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế giới
Tóm lại, rủi ro là điều không ai muốn xảy ra, bất kể đó là loại rủi ro gì, nhưng thực tế rủi ro vẫn xảy ra, cho dù là nguyên nhân khách quan hay chủ quan nó cũng gây ra những thiệt hại cho cả Ngân hàng lẫn khách hàng và cho cả nền kinh tế nói chung Thiệt hại nhiều hay ít tùy thuộc vào mức độ rủi ro, rủi ro càng nhiều, thiệt hại càng ít và ngược lại Do đó, vấn đề kiểm soát rủi ro tín dụng luôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu không chỉ của bản thân từng Ngân hàng mà còn là nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước
1.1.4 Đánh giá rủi ro tín dụng
Để đánh giá rủi ro tín dụng, người ta dựa trên các chỉ tiêu cơ bản sau:
Tỷ lệ nợ quá hạn = Dư nợ quá hạn
Tổng dư nợ cho vay
Tỷ lệ nợ xấu = Tổng dư nợ cho vay Dư nợ xấu
Tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu càng cao thì rủi ro tín dụng càng cao, hệ số này đo lường mức độ rủi ro hoạt động tín dụng của Ngân hàng
Hệ số rủi ro tín dụng = tổng dư nợ cho vay
tổng tài sản Có
Hệ số này phản ánh tỷ trọng của khoản mục tín dụng trong tổng tài sản Có, khoản mục tín dụng trong tài sản Có càng lớn thì lợi nhuận càng cao nhưng đồng thời rủi ro tín dụng cũng sẽ gia tăng
1.1.5 Biện pháp quản lý rủi ro tín dụng
1.1.5.1 Quản lý rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế
Trang 15Trong bối cảnh hội nhập với nền kinh tế thế giới thì việc tiếp cận với các chuẩn mực quốc tế là điều tất yếu Hiện nay các nước đang áp dụng IAS 39 hay Basel II Basel II là hiệp ước quốc tế về tiêu chuẩn an toàn vốn, tăng cường quản trị toàn cầu hóa tài chính cũng như việc khai thác tối đa tiềm năng lợi nhuận và hạn chế rủi ro
Mục tiêu của Basel II là nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống Ngân hàng quốc tế; tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các Ngân hàng hoạt động trên bình diện quốc tế; đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong quản lý rủi ro
Hiệp ước này bao gồm một loạt các chuẩn mực giám sát nhằm hoàn thiện các kỹ thuật quản trị rủi ro và được cấu trúc theo 3 trụ cột
Trụ cột thứ nhất: yêu cầu vốn tối thiểu Một ngân hàng được xem là đủ vốn khi có tỷ lệ thỏa đáng về vốn ( CAR) tối thiểu bằng 8%
CAR = tài sản có rủi ro quy đổi ( RWA) Vốn Ngân hàng
Các ngân hàng cần phải duy trì một lượng vốn đủ lớn để trang trải cho các hoạt động chịu rủi ro của mình, bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động
Rủi ro thị trường gồm rủi ro thị trường chung và rủi ro thị trường cụ thể Rủi ro thị trường chung đề cập đến những thay đổi về giá trị thị trường do có sự biến động lớn trên thị trường Rủi ro thị trường cụ thể là những thay đổi về giá trị một loại tài sản nhất định do ảnh hưởng của tỷ giá, lãi suất, ngoại hối, chứng khoán…
Rủi ro hoạt động, Basel II định nghĩa là rủi ro xảy ra tổn thất do các qui trình, hệ thống hay nhân viên trong nội bộ ngân hàng vận hành không tốt hoặc do
Trang 16các nguyên nhân khách quan bên ngoài Đây là một trong những rủi ro trầm trọng mà ngân hàng thường phải đối mặt trong quá trình hoạt động
Trụ cột thứ hai: liên quan tới việc hoạch định chính sách Ngân hàng
Trụ cột này tập trung vào việc xây dựng hệ thống quản lý rủi ro Quy trình kiểm soát trong Basel II không chỉ để đảm bảo rằng ngân hàng có đủ vốn để giải quyết tất cả các rủi ro trong hoạt động kinh doanh mà còn khuyến khích ngân hàng phát triển và sử dụng các kỹ thuật quản lý rủi ro tốt hơn
Trụ cột thứ ba: các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường Trong đó nhấn mạnh đến việc công bố các loại thông tin về rủi ro, dự trữ, vốn
Tóm lại, quá trình phát triển của Basel và những hiệp ước mà tổ chức này đưa ra yêu cầu các NHTM ngày càng hoạt động một cách minh bạch hơn, đảm bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro hơn và như thế sẽ giảm thiểu được rủi
ro
NHNN và các NHTM VN cũng đang từng bước áp dụng các chuẩn mực của Basel II Về phía các NHTM VN, Basel II đã có ảnh hưởng lớn trong việc nâng cao năng lực quản trị điều hành, nhất là năng lực quản lý rủi ro Bên cạnh việc tuân thủ các quy định bắt buộc của NHNN, thì các NHTM cũng đang rất nỗ lực để hoàn thiện hơn nữa hệ thống quản trị rủi ro của Ngân hàng mình cho phù hợp với điều kiện hoạt động cụ thể của mỗi Ngân hàng và từng bước tiếp cận với các chuẩn mực của basel II
1.1.5.2 Quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ
Việc xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả là yêu cầu cấp thiết để đảm bảo hoạt động Ngân hàng được an toàn, hạn chế rủi ro, từ đó tăng cường khả năng cạnh tranh của các Ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập
Trang 17Hệ thống kiểm soát nội bộ là tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ và cơ cấu của TCTD được xây dựng phù hợp với hướng dẫn của NHNN và được tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đặt ra
Mục đích tối thiểu được đặt ra đối với hệ thống kiểm soát nội bộ là:
- Hiệu quả và an toàn trong hoạt động
- Bảo đảm hệ thống thông tin tài chính và thông tin quản lý trung thực, hợp lí, đầy đủ và kịp thời
- Bảo đảm tuân thủ pháp luật và các quy chế, quy trình, quy định nội bộ Hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ của TCTD phải được kiểm toán nội bộ, tổ chức kiểm toán độc lập đánh giá định kỳ
Kiểm toán nội bộ thực hiện rà soát, đánh giá độc lập, khách quan đối với hệ thống kiểm soát nội bộ, đánh giá độc lập về tính thích hợp và sự tuân thủ quy định, chính sách nội bộ, thủ tục, quy trình đã được thiết lập trong TCTD; đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của các hệ thống, quy trình, quy định, góp phần bảo đảm TCTD hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật
1.1.5.3 Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn
Hiện nay, NHNN đã ban hành nhiều văn bản quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các TCTD Theo đó, các TCTD cần phải tuân thủ quy định các tỷ lệ bảo đảm an toàn về:
+ Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
+ Giới hạn tín dụng
+ Tỷ lệ khả năng chi trả
+ Giới hạn góp vốn, mua cổ phần
+ Tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động
Các TCTD phải đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu ( CAR) ở mức 9% ( là tỷ lệ giữa vốn tự có và tổng tài sản Có đã nhân với hệ số rủi ro) là phù hợp với
Trang 18chuẩn mực quốc tế ( Basel II quy định 8%), đồng thời thông tư cũng quy định hệ số rủi ro ở các mức 0%, 20%, 50%, 100%, 150%,250% Quy định mới này yêu cầu các TCTD giám sát chặt chẽ hơn danh mục tài sản Có để đảm bảo tỷ lệ vốn tối thiểu theo quy định của NHNN và cũng để giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng Đặc biệt đối với các khoản cho vay để đầu tư chứng khoán; cho vay các công ty chứng khoán; các khoản cho vay nhằm mục đích kinh doanh bất động sản được quy định hệ số rủi ro 250% ( hệ số rủi ro cao nhất) Việc nâng cao hệ số rủi ro như hiện nay làm cho các TCTD khó khăn trong việc đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, do đó đòi hỏi TCTD phải có giải pháp kinh doanh hợp lý và hiệu quả Đồng thời cũng quy định cụ thể mức giới hạn tín dụng cấp cho một khách hàng hoặc một nhóm khách hàng liên quan căn cứ vào tỷ lệ phần trăm trên vốn tự có của ngân hàng Đặc biệt là các khoản cấp tín dụng với mục đích kinh doanh chứng khoán bị hạn chế nhiều Cụ thể, yêu cầu TCTD không được cho vay không có bảo đảm để đầu tư, kinh doanh chứng khoán hay không được cấp tín dụng cho công ty trực thuộc là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán… Các TCTD tuân thủ theo những quy định trên sẽ hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng
1.1.5.4 Quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng
Một trong những yêu cầu của hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng là việc TCTD phải thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro Phân loại nợ nhằm xếp một khoản nợ vào một nhóm nhất định dựa trên việc đánh giá về khả năng thu hồi khoản nợ ấy, và trích lập dự phòng theo tỉ lệ quy định Khoản dự phòng này được hạch toán vào chi phí hoạt động
Nói chung, để hạn chế rủi ro tín dụng có ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế xã hội, NHNN đã đề ra rất nhiều biện pháp kiểm soát rủi ro, chủ yếu yêu cầu các TCTD tự giác trong việc kiểm soát hoạt động của mình Tuy nhiên, rủi
Trang 19ro là việc ngoài ý muốn, nằm ngoài khả năng kiểm soát, do đó để hạn chế thiệt hại, các TCTD phải thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro
1.2 Tổng quan về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng thương mại
1.2.1 Mục tiêu của phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Phân loại nợ là quá trình Ngân hàng xem xét lại danh mục các khoản nợ và phân chia chúng thành các mục hoặc các nhóm khác nhau dựa trên mức độ rủi
ro hoặc các đặc điểm liên quan khác nhau của những khoản nợ đó Quá trình liên tục xem xét và phân loại nợ sẽ giúp cho Ngân hàng theo dõi được chất lượng của các danh mục nợ và có những hành động khắc phục kịp thời như trích lập dự phòng để đối phó với tình hình xấu đi của các khoản nợ Xét về mặt kế toán, nợ là xấu và những dự phòng cần thiết cần được trích lập nếu như Ngân hàng không thu lại được một phần hay toàn bộ số tiền khi đáo hạn ( bao gồm cả gốc và lãi) theo những điều khoản của hợp đồng vay Các nhà quản lý Ngân hàng phải đánh giá được những tổn thất tín dụng đối với các khoản cho vay, đây là quá trình đòi hỏi sự đánh giá đúng đắn vì kết quả của phân loại nợ sẽ ngược lại với mục tiêu lợi nhuận của Ngân hàng vì số tiền trích lập dự phòng sẽ hạch toán vào chi phí của Ngân hàng, do đó trích lập dự phòng càng nhiều thì lợi nhuận càng giảm và ngược lại
1.2.2 Sự cần thiết phải phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của TCTD
Luật TCTD đã quy định: TCTD phải dự phòng rủi ro trong hoạt động ngân hàng Việc phân loại tài sản “có”, mức trích lập, phương pháp lập và sử dụng
Trang 20khoản dự phòng để xử lý các rủi ro trong hoạt động ngân hàng do NHNN quy định
Do đó, trước tiên các TCTD cần tuân thủ các quy định của NHNN, nghĩa là phải trích lập các khoản dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động quá trình hoạt động Trong đó, rủi ro tín dụng là chủ yếu, xuất hiện thường xuyên và gây
ra tổn thất nhiều nhất Vì thế, việc trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng là điều cần thiết nhằm đảm bảo hoạt động của các TCTD được an toàn và hiệu quả
Mặc khác, ngành ngân hàng Việt Nam đang từng bước hội nhập sâu với các thông lệ quốc tế Đối với các nước phát triển, họ cho rằng bản chất của tín dụng là luôn có rủi ro, do vậy ngay khi phát sinh cho vay hay cam kết cho vay là lập tức tiến hành trích lập dự phòng ngay, khoản này có thể được lập khi các khoản nợ có dấu hiệu suy giảm hay chưa suy giảm Việc trích lập đã được các nước áp dụng từ lâu và là một trong những chỉ tiêu đánh giá mức độ an toàn và hiệu quả hoạt động ngân hàng
Quy định về việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng được ban hành nhằm nâng cao công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các TCTD, chấn chỉnh hoạt động tín dụng và làm trong sạch hóa tình hình tài chính, giúp các ngân hàng chủ động hơn trong việc xử lý nợ tồn đọng, nâng cao năng lực tài chính và sức cạnh tranh của các TCTD Việt Nam
1.2.3 Quy định phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo thông lệ Quốc tế ( IAS 39)
1.2.3.1 Phương pháp chiết khấu luồng tiền
Chiết khấu luồng tiền là một phương pháp sử dụng để phân tích luồng tiền thu được trong tương lai và đưa các luồng tiền đó về giá trị hiện tại theo một tỷ lệ chiết khấu nhất định Để đánh giá mức độ tổn thất của một khoản cho vay, người
ta sẽ so sánh giá trị hiện tại của các dòng tiền sẽ thu hồi được trong tương lai liên
Trang 21quan đến khoản vay và phần chênh lệch này với giá trị đầu tư ban đầu của dự án chênh lệch dương sẽ là cơ sở xác định cơ hội đầu tư
Cơ sở lý luận của phương pháp: phương pháp chiết khấu luồng tiền được xây dựng trên cơ sở tính thời gian của tiền tệ, 1 đồng tiền hôm nay sẽ có giá trị lớn hơn 1 đồng tiền của ngày mai
Công thức chiết khấu luồng tiền:
CF1 CF2 CFn
PV = + + … +
(1+r)1 (1+r)2 (1+r)n Trong đó:
CFn: luồng tiền ước tính thu được trong năm thứ n
r : tỷ lệ chiết khấu Tỷ lệ chiết khấu là lãi suất bình quân gia quyền của các hợp đồng tín dụng còn dư nợ tại thời điểm hiện tại
Phương pháp chiết khấu luồng tiền được sử dụng để xác định giá trị hiện tại của các luồng tiền ước tính thu được trong tương lai của Ngân hàng từ các khoản cho vay đối với một khách hàng (luồng tiền bao gồm cả gốc, lãi và giá trị ước tính có thể thu hồi từ tài sản bảo đảm), với lãi suất chiết khấu chính là lãi suất thực tế của các hợp đồng tín dụng
Giá trị hiện tại của luồng tiền ước tính này sẽ được so sánh với tổng dư nợ vay tại thời điểm đánh giá để xác định mức tổn thất ước tính Chênh lệch âm giữa giá trị hiện tại với tổng dư nợ vay tại thời điểm đánh giá chính là tổn thất ước tính của khoản vay và là mức dự phòng cần phải trích lập cho các khoản cho vay đối với khách hàng đó
Việc chiết khấu luồng tiền được thực hiện riêng cho từng loại hợp đồng (ngắn hạn hoặc trung/dài hạn) và từng loại tiền tệ (VNĐ hoặc ngoại tệ), do đó luồng tiền sẽ được phân loại về 4 nhóm sau:
Trang 22- Vay ngắn hạn bằng VNĐ
- Vay ngắn hạn bằng ngoại tệ
- Vay trung dài hạn bằng VNĐ
- Vay trung dài hạn bằng ngoại tệ
Lý do để thực hiện chiết khấu riêng cho các luồng tiền trên vì với mỗi nhóm có thể có các mức lãi suất khác nhau và/hoặc nguồn trả nợ khác nhau
1.2.3.2 Trích lập dự phòng theo phương pháp chiết khấu luồng tiền áp dụng lãi suất chiết khấu là lãi suất thực:
Dự phòng rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế: chỉ bao gồm dự phòng cụ thể được xác định đối với các khoản nợ thuộc đối tượng cần phải được trích lập dự phòng, căn cứ vào dấu hiệu rủi ro do Ngân hàng đánh giá Dự phòng cụ thể bao gồm dự phòng xét riêng cho từng khoản nợ và dự phòng cụ thể khi đánh giá theo nhóm các khoản nợ có cùng đặc điểm rủi ro tín dụng
Các khách hàng được phân loại vào nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) không phải là đối tượng được trích lập dự phòng cụ thể nhưng sẽ được tiếp tục xem xét khả năng giảm giá trị khi đánh giá theo nhóm
Các khách hàng được phân loại vào nhóm 2, 3, 4 và 5 sẽ phải lập dự phòng cụ thể Dự phòng cụ thể sẽ được xác định là phần chênh lệch giữa giá trị ghi sổ và giá trị hiện tại của các dòng tiền ước tính thu được trong tương lai áp dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền sử dụng lãi suất thực Dòng tiền ước tính thu hồi từ tài sản bảo đảm cũng được xem xét khi xác định dòng tiền để chiết khấu Các khách hàng được phân loại vào nhóm 2 đến nhóm 5 sẽ không phải tiếp tục xem xét khả năng giảm giá trị theo nhóm
Cách xác định dự phòng:
Luồng tiền ước tính thu hồi từ gốc và lãi vay:
Luồng tiền ước tính ở đâysẽ được xác định dựa trên lịch trả nợ và theo ước tính của cán bộ tín dụng đối với từng khoản vay của từng khách hàng căn cứ vào
Trang 23tình hình kinh doanh, lưu chuyển tiền tệ, thiện chí trả nợ của khách hàng Việc
xác định luồng tiền trả nợ của khách hàng do đó đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc của
cán bộ tín dụng đối với hoạt động kinh doanh của khách hàng
Việc ước tính luồng tiền thu được được xác định bằng luồng tiền trên hợp
đồng tín dụng (100% - % lỗ ước tính) % lỗ ước tính được xác định trên cơ sở
điểm của khách hàng trên hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ như sau:
Xếp loại Nhóm nợ Tỷ lệ lỗ ước tính đề xuất (*)AAA
Nhóm 1
0%
AA 0%
A 0% BBB
(*) Khi áp dụng các tỷ lệ lỗ ước tính trên, cần chú ý các điểm sau:
Tỷ lệ lỗ ước tính áp dụng cho 1 khách hàng cụ thể có thể thấp hơn mức đề
xuất ở trên trong trường hợp cán bộ tín dụng có đầy đủ thông tin tương đối chắc
chắn chứng minh rằng tỷ lệ lỗ thực tế xảy ra sẽ thấp hơn do khách hàng có các
nguồn trả nợ khác tương đối chắc chắn Ví dụ:
- Khách hàng sắp thu được một khoản nợ khó đòi lớn
- Khách hàng sắp nhận được các khoản trợ cấp của Chính phủ hoặc
của công ty mẹ
- Khách hàng sắp được đầu tư bổ sung vốn
Trang 24Tỷ lệ lỗ ước tính áp dụng cho một khách hàng cụ thể cũng có thể lớn hơn mức đề xuất ở trên trong trường hợp cán bộ tín dụng có đầy đủ thông tin tương đối chắc chắn để khẳng định khách hàng sẽ gặp nhiều khó khăn trong thời gian tới
Trong các trường hợp khác, cán bộ tín dụng phải áp dụng tỷ lệ lỗ ước tính trong khoảng đề xuất ở trên Giá trị chính xác của tỷ lệ lỗ ước tính phụ thuộc vào từng khách hàng cụ thể căn cứ vào hiểu biết, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng đối với khách hàng đó, thực tế trả nợ của khách hàng trong quá khứ và các ước tính luồng tiền trong tương lai
Dòng tiền ước tính thu hồi từ tài sản bảo đảm:
Giá trị ước tính có thể thu hồi được từ tài sản bảo đảm sẽ được cộng vào kỳ cuối cùng của dòng tiền
Ví dụ: Khoản vay ngắn hạn có kỳ hạn trả nợ cuối cùng vào quý 4 năm
2009 với:
- Gốc: 300 triệu đồng
- Lãi: 10 triệu đồng
- Giá trị ước tính có thể thu hồi được từ tài sản đảm bảo là 700 triệu Như vậy, dòng tiền ước tính thu hồi của quý 4 năm 2009 cho khoản vay ngắn hạn sẽ là: 1.010 triệu VNĐ
Trên cơ sở các yếu tố trên đây đã xác định, thực hiện chiết khấu dòng
tiền để xác định giá trị hiện tại của khoản vay (PV)
Dự phòng rủi ro được xác định bằng phương pháp chiết khấu luồng tiền như sau:
Mức trích lập dự phòng cần thiết lúc này sẽ được xác định bằng:
Dự phòng cần trích lập = giá trị hiện tại của khoản vay ( PV) – tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm đánh giá
Trang 251.3 Kinh nghiệm trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng của một số nước trên thế giới
Tại nhiều nước trên thế giới, ngân hàng Trung ương hoặc cơ quan giám sát chỉ đưa ra những nguyên tắc chung, quy định mức sàn trong phân loại nợ và trích lập dự phòng Căn cứ trên những nguyên tắc này, các ngân hàng cụ thể hóa các nguyên tắc để xây dựng chính sách riêng cho mình phù hợp với quy mô và tính chất hoạt động của từng ngân hàng Do vậy chính sách trích lập dự phòng của các ngân hàng khác nhau ở từng quốc gia cũng có nhiều điểm khác nhau dù vẫn phản ánh những nội dung của các nguyên tắc chung
1.3.1 Phương pháp trích lập dự phòng ở Anh
Tại Anh, Cơ quan giám sát không đề ra chính sách chung mà từng ngân hàng quy định chính sách phân loại nợ và trích lập dự phòng phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về kế toán ( IAS 39) với mục tiêu là phân loại nợ và trích lập dự phòng phản ánh đúng chất lượng tín dụng và khả năng tổn thất mà ngân hàng gặp phải trên cơ sở phân tích tình trạng lưu chuyển tiền tệ của khách hàng Các khoản dự phòng được trích lập bất cứ khi nào khi có thông tin về sự giảm sút chất lượng các khoản vay
Các khoản dự phòng chung thường chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng dự phòng và phải được trích lập cho những khoản vay đã bị giảm sút hoặc có dấu hiệu giảm sút về chất lượng Thông thường việc suy xét này dựa vào kinh nghiệm quá khứ và các thông tin có được ở hiện tại
Trong thực tế các ngân hàng cố gắng lượng hóa và dự báo các khả năng có thể xảy ra trong tương lai để xây dựng chính sách trích lập dự phòng theo hướng
“mở” nhằm tạo điều kiện bù đắp cho các tổn thất có thể xảy ra trong suốt thời gian tồn tại của khoản tín dụng
1.3.2 Phương pháp trích lập dự phòng ở Mỹ
Trang 26Theo các chuẩn mực kế toán tại Mỹ: không công nhận các khoản tổn thất trước khi cho rằng chúng có thể đã xảy ra, kể cả khi dựa vào kinh nghiệm quá khứ để có thể cho rằng các khoản tổn thất sẽ phát sinh trong tương lai
Tuy nhiên, các ngân hàng Mỹ trích lập dự phòng để bù đắp cho các khoản tổn thất tín dụng dự tính hiện có dù cho tổn thất này phụ thuộc nhiều vào đánh giá chủ quan của các ngân hàng Bộ phận thanh tra thường căn cứ vào hệ thống quản lý và phương pháp đo lường rủi ro tín dụng của các ngân hàng và thực hiện đánh giá danh mục cho vay và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ của danh mục đó Nếu nhận thấy số dự phòng cho các khoản tổn thất tín dụng này thấp hơn mức phù hợp, ngân hàng này sẽ phải trích lập thêm dự phòng
1.3.3 Phương pháp trích lập dự phòng ở Pháp
Các ngân hàng ở Pháp luôn dự phòng rủi ro cho tất cả các khoản tín dụng Các chuẩn mực rủi ro đo lường rủi ro tín dụng theo hướng luôn tồn tại rủi ro trong các khoản cấp tín dụng, cho dù khoản vay đó có suy giảm hay chưa suy giảm khả năng thanh toán Vì vậy việc trích lập dự phòng được thực hiện ngay từ khi khoản cho vay được bắt đầu và ước tính được cho các tổn thất có thể xảy ra trong dài hạn Tỷ lệ trích lập tăng dần với khả năng suy giảm của khoản nợ Mức trích lập khởi tạo tối thiểu là 5% chênh lệch giữa giá trị khoản nợ và tài sản bảo đảm
Như vậy việc trích lập dự phòng rủi ro tại các nước có điểm chung là đều dự phòng cho những rủi ro có thể xảy đến trong tương lai Chính điều này góp phần hạn chế những tổn thất của ngân hàng từ việc cấp tín dụng và đảm bảo an toàn cho hoạt động của các ngân hàng Phương pháp này thường được thực hiện ở các quốc gia phát triển, có thị trường tài chính vững mạnh và hệ thống thông tin tín dụng chuẩn xác
1.3.4 Bài học kinh nghiệm cho các ngân hàng thương mại Việt Nam
Các tiêu chí phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro mà các nước đang áp dụng khá rõ ràng, vấn đề còn lại là các ngân hàng thương mại tại Việt Nam phải
Trang 27theo thông lệ quốc tế và ứng dụng việc trích lập vào thực tiễn Điều này đòi hỏi các NHTM phải vận dụng đúng tinh thần QĐ 493, đồng thời cũng phải học hỏi cách thức và tiêu chí trong đánh giá chất lượng nợ và có những ứng xử khác nhau về xử lý nợ Trong vận dụng cần sáng tạo hơn, minh bạch hơn khi đánh giá vấn đề nợ suy thoái hoặc nợ có dấu hiệu nghi ngờ, lựa chọn thời điểm thích hợp để trích lập ngay cả khi nợ chưa suy thoái cũng là một cách làm cần học hỏi
Tuy nhiên, kinh nghiệm của các nước trên đây nằm ở những khu vực có thị trường tài chính vững mạnh, không nên áp dụng cứng nhắc vào tình hình Việt Nam vì có thể làm sai biệt cấu trúc nợ, tỷ lệ an toàn trong hoạt động theo các quy định mà Basel II đưa ra do không phù hợp với các nước đang phát triển
Trang 28Kết luận chương 1
Chương 1 đã trình bày một số vấn đề về lý luận cơ bản, các nghiệp vụ ngân hàng và các loại rủi ro trong quá trình hoạt động Theo đó, rủi ro tín dụng là vấn đề đáng quan tâm nhất vì hoạt động tín dụng chiếm hơn tỷ trọng lớn nhất và là hoạt động nghiệp vụ mang lại doanh thu lớn nhất cho Ngân hàng Do đó, cần thiết phải thực hiện phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, đó là công việc tất yếu mà các Ngân hàng phải làm để giảm thiểu tổn thất khi có rủi ro xảy
ra
Chương 1 cũng đã đề cập đến QĐ 493 và QĐ 18 sửa đổi bổ sung của NHNN quy định về việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng Đây là quy định bắt buộc các Ngân hàng phải thực hiện, đồng thời cũng là kim chỉ nam hướng dẫn các NHTM thực hiện để đảm bảo an toàn trong quá trình hoạt động của mình
Trang 29CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG PHÂN LOẠI NỢ VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
2.1 Giới thiệu Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
2.1.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
- Tên đầy đủ bằng tiếng Việt: Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam;
- Tên giao dịch: Vietcombank;
- Tên viết tắt: VCB
- Vốn điều lệ ( đến ngày 31/12/2010): 13.223 tri u đồng
VCB được thành lập vào ngày 01/04/1963 theo Quyết định số 115/CP của hội đồng Chính phủ VCB luôn giữ vai trò chủ lực,và là ngân hàng chuyên doanh đối ngoại đầu tiên và duy nhất của Việt Nam lúc bấy giờ, được đánh giá là ngân hàng có uy tín nhất trong các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bao gồm: cho vay tài trợ xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, quản lý vốn ngoại tệ gửi tại các Ngân hàng nước ngoài… Ngoài ra VCB còn tham mưu cho Ban lãnh đạo NHNN về các chính sách quản lý ngoại tệ, vàng bạc, quản lý quỹ ngoại tệ của Nhà nước và về quan hệ với Ngân hàng Trung ương các nước, các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế
Ngày 21/09/1996, Thống đốc NHNN đã ký quyết định số 286/QĐ-NH về việc thành lập lại VCB theo mô hình tổng công ty 90,91 được quy định tại quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 07/03/1994 của thủ tướng Chính phủ và VCB đã chính thức chuyển đổi sang mô hình ngân hàng thương mại quốc doanh với lĩnh vực hoạt động đa dạng, mở rộng ra ngoài phạm vi tài trợ thương mại và ngoại hối truyền thống, phát triển xây dựng mảng ngân hàng bán lẻ và doanh nghiệp
Trang 30Trải qua 48 năm xây dựng và trưởng thành, VCB đã phát triển và lớn mạnh theo mô hình ngân hàng đa năng với quy mô và phạm vi hoạt động cả trong nước và nước ngoài, cụ thể bao gồm: 1 Hội sở chính, 1 Sở giao dịch, 80 chi nhánh, 248 phòng giao dịch, 01 trung tâm đào tạo, 03 công ty con trong nước, 01 công ty tài chính ở HongKong, 04 công ty liên doanh, với đội ngũ cán bộ h n 11.000 người Bên cạnh lĩnh vực tài chính ngân hàng, VCB còn tham gia góp vốn, liên doanh liên kết với các đơn vị trong và ngoài nước trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau như lĩnh vực tài chính-ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, bất động sản, quỹ đầu tư… Tính đến thời điểm 31/12/2010, VCB có tổng tài sản khoảng 307 nghìn tỷ đồng, và là Ngân hàng có tổng tích sản lớn nhất Việt Nam
Thực hiện chủ trương đổi mới sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp Nhà nước, năm 2007, VCB đã thực hiện thành công cổ phần hoá theo chỉ đạo của Thủ tướng chính phủ tại Quyết định số 230/2005/QĐ-TTg ngày 21/09/2005 về việc thí điểm cổ phần hóa VCB Việt Nam
Ngày 02/06/2008, VCB Việt Nam đã chính thức đi vào hoạt động theo mô hình công ty cổ phần với tên gọi Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103024468 do Sở Kế hoạch đầu tư TP Hà Nội cấp
2.1.2 Tổng quan về hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010
2.1.2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của NH TMCP Ngoại thương VN
Trong bối cảnh cạnh tranh giữa các Ngân hàng ngày càng gay gắt, tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn, tuy nhiên kết quả mà VCB đạt được trong những năm qua không nhỏ, đó là do sự nỗ lực, phấn đấu của toàn thể VCB để xứng đáng là Ngân hàng hàng đầu vì Việt Nam thịnh vượng
Trang 31Bảng 2.1 Tổng hợp hoạt động kinh doanh từ 2005 – 2010
Thu nhập lãi thuần 3.310 3.816 4.004 6.622 6.498 8.188
Thu nhập ngoài lãi
Lợi nhuận trước thuế 1.760 3.877 3.148 3.589 5.004 5.479
Lợi nhuận sau thuế 1.290 2.861 2.389 2.727 3.944 4.235
Tỷ suất LNST/VCSH 15.32% 25.46% 17.6% 18.28% 23.47% 20.48%Tỷ suất LNST/Tổng
Trang 32Năm 2008, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước những thách thức lớn Đợt rét đậm, rét hại diễn ra trên diện rộng và kéo dài, sự bùng nổ của dịch bệnh heo tai xanh, dịch cúm gia cầm…đã gây khó khăn cho nền kinh tế, nhất là đối với nông nghiệp và đời sống xã hội Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2008 chỉ đạt 6,23%, thấp nhất trong mấy năm gần đây Tỷ lệ lạm phát trong năm 2008 ở mức 22,97%, tăng cao so với năm 2007 Thâm hụt cán cân thương mại bằng 27,8% kim ngạch xuất khẩu Bên cạnh đó, yếu tố đầu cơ đã dẫn đến lượng hàng hóa nhập khẩu quá nhu cầu thực tế và giá cả hàng hóa tăng cao, đặc biệt ở các mặt hàng quan trọng như xăng dầu, gạo, phân bón, thép và xi măng Tình hình thị trường tài chính tiền tệ cũng trải qua những giai đoạn khó khăn và có diễn biến phức tạp Thị trường chứng khoán năm 2008 sụt giảm 73%, trong khi thị trường bất động sản sau thời gian sốt nóng đã giảm mạnh và có dấu hiệu đóng băng với số lượng giao dịch ít Giá vàng và tỷ giá USD biến động thất thường, khó khăn trong công tác dự báo
Với mục tiêu kiềm chế lạm phát và giữ ổn định thị trường tiền tệ, trong 6 tháng đầu năm 2008, NHNN đã thắt chặt chính sách tiền tệ thông qua các giải pháp như nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tăng lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu để hạn chế tăng trưởng tín dụng Đồng thời, NHNN liên tục hút tiền từ lưu thông về thông qua hoạt động thị trường mở, phát hành tín phiếu bắt buộc NHNN khống chế chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng ngành ngân hàng trong năm 2008 không vượt quá 30%, chỉ đạo hệ thống các TCTD kiểm soát chặt chẽ cho vay kinh doanh bất động sản, chứng khoán và tiêu dùng… Từ tháng 05/2008, NHNN chuyển sang điều hành công cụ lãi suất cơ bản thay đổi từ lãi suất mang tính tham khảo đối với các TCTD sang lãi suất phản ánh cung cầu thị trường làm
cơ sở để các TCTD xác định lãi suất huy động và cho vay đối với nền kinh tế
Trong bối cảnh khó khăn trên, VCB đã nổ lực hoàn thành hầu hết các chỉ tiêu kinh doanh, giữ được nhịp độ tăng trưởng ổn định, và duy trì vị trí là một
Trang 33trong những NHTM hoạt động hiệu quả nhất Điều này được thể hiện ở sự phát triển vững mạnh, ổn định của cả 3 nhóm chỉ tiêu về tài sản, thu nhập và khả năng
sinh lời Trong giai đoạn 2006 – 2008, tổng tài sản và nguồn vốn chủ sở hữu của VCB tăng trưởng đều với tốc độ bình quân lần lượt là 17,7%/năm và 18,6%/năm Năm 2007 đ n 2009, tổng tài sản của VCB tăng lần lượt 18,1%/năm,12,53%/năm, 15%/n m Đến 31/12/2010, tổng tài sản đạt khoảng 307 nghìn tỷ đồng, tăng 20,35% so với cuối năm 2009 Về chất lượng tài sản, hệ số an toàn vốn CAR của VCB luôn lớn hơn qui định của NHNN là 8% VCB luôn thực hiện đầy đủ việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo qui định Về thu nhập, tổng thu nhập từ hoạt động kinh doanh tăng bình quân 28,69%/năm Trong đó thu nhập ngoài lãi thuần tăng nhanh, đạt 35,47%/năm Như vậy, ngoài nguồn thu truyền thống là thu nhập lãi thuần, các mảng dịch vụ ngân hàng đã đem lại nguồn thu tăng trưởng cao và ổn định cho VCB Về khả năng sinh lời, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước chi phí dự phòng rủi ro tăng đều đặn, bình quân đạt 24,34%/năm Đặc biệt l i nhu n t hoạt động kinh doanh trước chi phí dự phòng rủi ro của VCB năm 2008,2010 tăng mạnh, hơn 40,35% Tuy nhiên n m 2008 do chi phí dự phòng rủi ro cũng tăng mạnh nên lợi nhuận sau thuế tăng không đáng kể so với năm 2007, nh ng n m 2010 l i nhu n sau thu t ng 8% so v i n m 2009 và t ng
g n g p đơi so v i n m 2008
Cho dù trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn hay thuận lợi, VCB luôn nỗ lực, phấn đấu hoàn thành mục tiêu, kế hoạch đề ra Năm 2008 đánh dấu bước tiến quan trọng của VCB với việc chính thức chuyển mình thành Ngân hàng thương mại cổ phần có vốn điều lệ và tổng tích sản lớn nhất Việt Nam, và đây cũng là cột mốc quan trọng cho những thành công tiếp theo của VCB
2.1.2.2 Kết quả hoạt động tín dụng của NH TMCP Ngoại thương Việt Nam
Hoạt động tín dụng là một trong hai hoạt động nghiệp vụ chính của Ngân hàng (huy động tiền gửi và cho vay), lợi nhuận của nghiệp vụ tín dụng đóng góp
Trang 34phần lớn vào tổng lợi nhuận của Ngân hàng Giai đoạn 2006-2010, là giai đoạn nền kinh tế gặp nhiều khó khăn kèm theo sự gia tăng nhanh chóng của các Ngân hàng cổ phần dẫn đến sự cạnh tranh rất mạnh mẽ giữa các Ngân hàng th ng
m i Trong hoàn cảnh đó, VCB cố gắng thích nghi và đạt được kết quả rất khả quan Ở bảng số 2.2, giá trị tổng tài sản tăng trưởng liên tục qua các năm, tăng khoảng từ 12% đến 24%, chứng tỏ quy mô hoạt động của Ngân hàng ngày càng phát triển Tính đến thời điểm 31/12/2010, giá trị tổng tài sản lên đđến 307 nghìn tỷ đồng
Bảng 2.2 : Tổng tài sản và dư nợ tín dụng giai đoạn 2005- 2010
Nguồn: Báo cáo thường niên của NHTMCP Ngoại thương Việt Nam từ 2005-2010
Nghiệp vụ cho vay là hoạt động sử dụng vốn chính trong tổng tài sản có, và là hoạt động đem lại nguồn lợi nhuận chính cho Ngân hàng, vì thế dư nợ tín dụng sẽ tăng cùng với sự gia tăng tổng tài sản Bảng số liệu trên cho thấy dư nợ cho vay tăng trưởng đều qua các năm và luôn chiếm tỷ lệ rất cao trong tổng giá trị tài sản Tốc độ tăng trưởng tín dụng trung bình 24%, cao hơn tốc độ tăng trưởng tổng tài sản (trung bình khoảng 17%) Đặc biệt năm 2007, tăng trưởng tín dụng là 45%, đạt 97.631 tỷ đồng, đến giai đ an 2008 - 2010, thực hiện theo chủ trương của NHNN kiềm chế lạm phát, VCB đã kiên quyết thực hiện chủ trương
Trang 35kiềm chế tăng trưởng tín dụng, cụ thể là năm 2008, VCB đã 2 lần điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng từ 29,2% xuống 27% và xuống còn 15%, đạt 112.793 tỷ đồng, năm 2009 là 25% đạt 141.621 tỷ đồng, n m 2010 là 24,84% đ t 176.813 t
đ ng Tỷ lệ dư nợ tín dụng luôn chiếm trên 40% trong tổng giá trị tài sản, và đặc biệt từ năm 2007 đến nay tỷ lệ này chiếm đến trên 50% Biểu đồ 2.1 sẽ minh họa điều này
Biểu đồ 2.1 : Sự tăng trưởng của dư nợ tín dụng và tổng tài sản giai đoạn 2005-2010
Từ một Ngân hàng chuyên doanh đầu tiên tại Việt Nam chuyên phục vụ cho hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và kinh tế đối ngoại, VCB đã phát triển thành Ngân hàng đa năng cung cấp nhiều loại dịch vụ đa dạng cho các doanh nghiệp, cá nhân hoạt động trong mọi lĩnh vực, ngành nghề phù hợp với định hướng phát triển chung của nhà nước Với khách hàng là tổ chức VCB thực hiện phát triển đa dạng thành phần kinh tế ( DN nhà nước, DN cổ phần, DN có vốn đầu tư nước ngoài), và đặc biệt nhóm khách hàng là các DN SME ( DN vừa và nhỏ) đã được NHNT chú ý đến và định hướng mở rộng đối tượng này từ năm
2006
0 50000 100000
Trang 36Đối tượng đầu tư chủ yếu của VCB vẫn là các doanh nghiệp quốc doanh, tập trung vào các ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước như bưu chính viễn thông, điện lực, than, xăng dầu, xây dựng… Bên cạnh đó, Ngân hàng cũng mở rộng đầu
tư sang khu vực kinh tế ngoài quốc doanh bao gồm các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tập trung ở các khu chế xuất, khu công nghiệp, đồng thời cũng không thể bỏ qua mảng khách hàng là doanh nghiệp vừa và nhỏ với tiềm năng lớn và các khách hàng cá nhân vay trung dài hạn tiêu dùng
N n kinh t th tr ng nhi u thành ph n khuy n khích nhi u ng i tham gia
s n xu t kinh doanh, các doanh nghi p v a và nh ngày càng gia t ng và ho t
đ ng r t hi u qu , là nh ng khách hàng ti m n ng c a Ngân hàng Do đó, trong
nh ng n m v a qua, VCB đã ch đđ ng tìm ki m, đđ y m nh cho vay khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, và các khách hàng cá nhân vay trung h n mua nhà, mua xe,… T l d n c a nhóm khách hàng này tăng liên tục, hi n nay kho ng h n 40% so v i t ng d n i u này cho th y VCB c ng đrất nhanh nh y trong vi c n m b t th tr ng, thay đđ i m c tiêu l a ch n khách hàng phù hợp tình hình kinh t , gi m b t cho vay khách hàng doanh nghi p nhà n c làm ăn không hi u qu , ti p c n đ i t ng khách hàng m i n ng động và kinh doanh có
hi u qu
V c c u cho vay theo k h n: d n cho vay ng n h n chi m t l cao h n trung, dài hạn, và tỷ lệ này ổn định qua nhiều năm, chiếm khoảng 53% - 57% so với tổng dư nợ
Bảng 2.3 : Cơ cấu dư nợ cho vay theo kỳ hạn và theo ngành kinh tế từ 2005 – 2010
Đơn vị tính: tỷ đồng
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010
I Phân theo kỳ hạn cho vay
Dư nợ cho vay ngắn hạn 34.663 37.887 51.678 59.344 73.706 94.715
Trang 37Tỷ lệ dư nợ ngắn hạn 57% 56% 53% 53% 52,05% 53,56%
Dư nợ cho vay trung dài hạn 26.380 29.856 45.854 53.449 67.914 82.098
II Phân theo ngành kinh tế
- Nông,lâm,ngư nghiệp 2.615 1.979 3.614 2.414 1.944 2.071
- Công nghiệp khai thác mỏ 1.215 1.734 9.271 8.176 8.831 11.454
- Công nghiệp chế biến 21.056 23.152 37.569 44.831 54.568 63.622
- Sản xuất, phân phối điện, khí đốt 1.347 2.424 5.112 4.734 8.125 14.158
- Xây dựng 3.474 3.982 6.351 7.552 11.144 10.479
- Thương nghiệp, sửa chữa đồ dùng
cá nhân và gia đình
16.201 17.484 18.560 24.990 35.928 38.862
- Ngành khác 15.135 16.988 17.154 20.096 21.077 36.167 Tổng dư nợ 61.043 67.743 97.631 112.793 141.621 176.813
Nguồn: Báo cáo thường niên của NHTMCP Ngoại thương Việt Nam từ 2005-2010
VCB duy trì tỷ lệ cho vay ngắn hạn và trung dài hạn tương đối ổn định, doanh thu từ các khoản cho vay ngắn hạn tuy không cao bằng trung dài hạn, nhưng đây vẫn là khoản cho vay chủ yếu vì những khoản cho vay này đáp ứng nhu cầu vốn lưu động để doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế, và cũng ít gây rủi ro cho Ngân hàng vì thời gian thu hồi nợ nhanh Tuy nhiên, VCB với lợi thế về nguồn vốn chủ sở hữu lớn nên cũng mạnh dạn đẩy mạnh cho vay đầu tư dự án, xây dựng nhà xưởng, góp phần giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp trong việc mở rộng sản xuất kinh doanh, đồng thời đây cũng là khoản cho vay đem lại thu nhập cao cho Ngân hàng
Năm 2009,2010 nền kinh tế đã có những chuyển biến tích cực, VCB tăng trưởng tín dụng có kiểm soát để nhằm kiềm chế lạm phát theo chủ trương chung của nhà nước, đồng thời vẫn duy trì cơ cấu dư nợ tín dụng ngắn hạn và trung dài hạn so với tổng dư nợ ở mức 55% và 45%, cơ cấu dư nợ theo tiền đồng và dư nợ theo ngoại tệ là 64% và 36%
Về cơ cấu dư nợ tín dụng theo ngành kinh tế: cơ cấu cho vay đã thể hiện sự hài hòa trong các lĩnh vực, phù hợp với chiến lược phát triển của nền kinh tế Hai
Trang 38nhóm lĩnh vực chính là sản xuất chế biến và thương mại dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu dư nợ
2.2 Thực trạng rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
2.2.1 Thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
Song song với tăng trưởng tín dụng đó là tình hình nợ xấu, các Ngân hàng luôn phải đối mặt với vấn đề này và không ngừng tăng cường công tác quản trị rủi ro tín dụng, nhưng mọi cố gắng cũng chỉ làm giảm thiểu tối đa rủi ro chứ không thể loại trừ hoàn toàn rủi ro tín dụng Bảng số liệu dưới đây sẽ phản ánh tình hình nợ xấu của VCB trong thời gian qua
Bảng 2.4: Tình hình nợ xấu của Vietcombank giai đoạn 2005-2010
Năm 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Nợ xấu 2.228 1.860 3.210 5.201 3.497 5.004
Tỷ lệ nợ xấu/
tổng dư nợ
3.65% 2.7% 3.2% 4.61% 2.47% 3.29%
Nguồn: Báo cáo thường niên của NHTMCP Ngoại thương Việt Nam từ 2005-2010
Năm 2005, NHNN đã ban hành Quyết định 493/QĐ-NHNN về phân loại nợ và trích lập dự phòng, với cách phân loại mới này làm tỷ lệ nợ xấu tăng đáng kể, việc phân loại nợ luôn được VCB tuân thủ và tiến hành theo các quy định sửa đổi chặt chẽ hơn của NHNN Đặc biệt năm 2007, việc trích lập dự phòng chung và dự phòng cụ thể được VCB thực hiện triệt để, trích lập đủ 100% số dự phòng cụ thể theo quy định Sau xử lý bằng dự phòng, VCB cũng rất tích cực xây dựng phương án thu hồi nợ sau khi xử lý, chỉ tính riêng năm 2007, thu từ các khoản nợ
đã xử lý bằng nguồn dự phòng là 392.8 tỷ đồng
Trang 39Bi u đ 2.2: Tình hình nợ xấu của Vietcombank giai đoạn 2005-2010
Nguyên nhân phát sinh nợ xấu
Do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới và sự tác động của chính sách thắt chặt tiền tệ, chống lạm phát trong nước, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam – khách hàng của Ngân hàng – gặp những khó khăn rất khắc nghiệt trong thời gian từ đầu năm 2008 Điều này dẫn đến tình hình nợ xấu ( NPL ) của các ngân hàng trở thành vấn đề nóng
Trong bối cảnh chung như thế, NPL của VCB còn nóng hơn do việc quản lý và xử lý NPL còn chưa có chính sách và tổ chức cần thiết và đủ mạnh Vì vậy, NPL của VCB bị ảnh hưởng cao hơn mức ảnh hưởng trực tiếp từ những tác động tiêu cực của kinh tế thế giới và trong nước Thực tế là NPL của VCB tăng mạnh từ 3.28% tại thời điểm tháng 02/2008 lên đến 6.25% tại thời điểm tháng 09/2008, tức tăng từ 3.241 tỷ đồng lên 6.171 tỷ đồng, mức kỉ lục trong hoạt động của VCB từ trước đến nay Trong thời gian cả năm 2008 đến tháng 04/2009, NPL của VCB luôn cao hơn mức cùng kì năm trước, đặt ra nhiệm vụ quản lý và xử lý NPL là rất cấp thiết
0 1000 2000 3000 4000 5000 6000
T đ ng
2005 2006 2007 2008 2009 2010
N m Tình hình n x u
N x u
Trang 40Trước tình hình đó, từ nửa cuối năm 2008, VCB đã chú trọng đẩy mạnh công tác quản lý và xử lý NPL Do đó, phần nào đã dần kiểm soát và ngăn chặn được đà tăng NPL Tỷ lệ NPL có xu hướng dịu bớt từ tháng 09/2008 đến nay Đến tháng 07/2009, NPL đã thấp hơn cùng kỳ năm trước cả về số dư và tỷ lệ Đến tháng 08/2009 tỷ lệ NPL còn là 3.97%, tuy nhiên con số này vẫn còn rất cao so với tỷ lệ NPL 3% do Đại hội cổ đông đã đề ra
Nợ xấu của VCB còn tồn đọng nhiều ở nhóm có khả năng mất vốn Nguyên nhân là do kết quả thu hồi nợ nhóm 5 còn hạn chế ( tỷ trọng nợ nhóm 5 thu hồi được chỉ đạt khoảng 30% tổng NPL thu hồi), thêm nữa công tác xử lý dự phòng rủi ro tín dụng còn chưa xử lý thích đáng nhằm giảm nợ xấu đưa ra ngoại bảng để tiếp tục thu đòi Trong năm 2009, số nợ xấu được xử lý bằng DPRR là rất
ít ( 53 tỷ đồng), số nợ DPRR thu hồi còn hạn chế ( 111 tỷ đồng), số dư nợ DPRR đến 31/08 là 3.305 tỷ đồng
Có hơn 30 chi nhánh có nợ xấu lớn, cần phải tập trung xử lý với mức độ cao nhất Có 19 chi nhánh có tỷ lệ nợ xấu > 3%, trong đó, các chi nhánh nợ xấu > 5% là Hải Phòng, Thái Bình, Xuân An, Cam Ranh, Vinh,Hà Nội, Huế, Cần Thơ, Sở giao dịch, Đồng Nai ( 10 chi nhánh) Các chi nhánh nợ xấu >3% là Thăng Long, Đà Nẵng, Tân Định, Hạ Long, Nam Sài Gòn, Ba Đình, Đắc Lắc, Hội sở chính ( 9 chi nhánh) Các chi nhánh có nợ xấu lớn ( >50 tỷ đồng) là Hải Dương, Bình Dương, Quy Nhơn, Gia Lai, Hồ Chí Minh
Nợ xấu đáng chú ý ở một số ngành kinh tế: khai thác, nuôi trồng thủy hải sản; khai khoáng; sản xuất sợi, dệt; khai thác, chế biến gỗ; sản xuất, cán thép…
Ngoài những nguyên nhân khách quan từ môi trường kinh tế nói chung bên ngoài, thì NPL phát sinh còn do nguyên nhân từ phía Ngân hàng
Thứ nhất, VCB chưa thành lập bộ phận quản lý rủi ro tín dụng độc lập Bộ
phận này phải tách biệt khỏi quy trình phê duyệt cấp tín dụng để đảm bảo tính khách quan trong công tác tín dụng Như đã đề cập ở phần trên, VCB có thành