Trong nghiên cứu này chúng tôi trình bày: Một số kết quả phân tích sự ña dạng trình tự ADNvùng D-loop ty thể, xác ñịnh sự lai tạp giữa hai loại bò có u và bò không có u ở quần thể bò H’m
Trang 1PHÂN TÍCH ĐA DẠNG TRÌNH TỰ ADN TY THỂ VÀ MỐI QUAN HỆ DI TRUYỀN CỦA BÒ H’MÔNG VỚI MỘT SỐ QUẦN THỂ BÒ KHÁC
Phạm Doãn Lân 1 , Nguyễn Trọng Bình 1 , Trần Xuân Hoàn 1 , Vũ Chí Cương 1 ,
Lê Đình Lương 2 và J.C Maillard 3
1
Phòng TN trọng ñiểm Công nghệ tế bào ñộng vật -Viện Chăn nuôi - Thụy phương - Từ Liêm - Hà Nội
2 Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia - Hà Nội
3 Giám ñốc CIRAD vùng Đông Nam Á
*
Tác giả liên hệ: Phạm Doãn Lân - Phòng Thí nghiệm trọng ñiểm Công nghệ tế bào ñộng vật
Tel: (04).2.166.147 / 0914 366 975; Fax: (04) 8 389.775; Email: pdlanvn@yahoo.com
ABSTRACT
Mitochondrial DNA sequence diversity and phylogenetic relationships of H’Mong
cattle to other cattle populations
H’mong cattle is an local breed with unclear origin To assess the mitochondrial DNA sequence diversity and phylogenetic relationship of H’mong cattle to various other cattle populations, we analyzed for partial (530bp) of mtDNA D-loop sequences of 26 H’mong cattle samples in conjunction with previous published sequences from Northeast Asian (Korea, Japan), Europe, Africa, India and American bison cattle The results showed that 14 haplotypes were observed in total of 26 analyzed cattle samples, indicating that the H’mong cattle population had a high diversity of mtDNA In phylogenetic analysis, the H’mong cattle
samples were clustered into two distinct genetic lineages: taurine (Bos taurus) and zebu (Bos
indicus) The H’mong zebu lineages are closely related to Indian zebu cattle and are clearly
separate from other cattle populations while the H’mong taurine lineages, Eropean, African, Japanese and Korean cattle clustered together These results suggested that H’mong taurin lineages are closely related to cattle of Northeast Asian and Europe
Keywords: Mitochondrial DNA diversity, phylogenetic relationship, Bos indicus, Bos taurus
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bò có vai trò chính trong sự phát triển của nền văn minh loài người và là một trong những loài vật nuôi thuần hoá có ý nghĩa kinh tế nhất Có hai phụ loài chính ñó là bò
không có u (Bos taurus) và bò có u (Bos indicus) ñều ñược cho là bắt nguồn từ bò rừng Châu Âu (Bos primigenius) ñã tồn tại từ cách ñây 8.000 - 10.000 năm và ñược thuần
hoá riêng biệt (Epstein, 1971; Epstein và Mason, 1984; Machugh và cs, 1997; Loftus
và cs, 1994)
Các giống bò hiện nay ñều là các biến thể của hai phụ loài Bos indicus và Bos taurus
Tính ña dạng về di truyền, nguồn gốc, sự bảo tồn và lợi ích của các giống bò này ñã ñược quan tâm nghiên cứu nhiều trên Thế giới
Bò H’mông hay bò Mèo là một giống bò ñịa phương ñặc trưng của tỉnh Hà Giang, chúng gắn liền với ñời sống và văn hoá của ñồng bào dân tộc H’mông Cùng với người
Trang 2H’mông, bò H’mông sinh sống bán cô lập ở ñộ cao cao trên 1.000 mét so với mặt nước biển do ñó chúng ít bị lai tạp bởi các giống bò khác Theo một số giả thiết cho rằng bò
vàng Việt Nam có nguồn gốc từ bò có u Ấn Độ (Bos indicus) và bò vàng Trung Quốc không có u (Bos taurus) (Lê Viết Ly và cs, 1999) Tuy nhiên chưa có một bằng chứng
nào ở mức ñộ phân tử về sự lai tạp và nguồn gốc giữa hai dòng bò có u và bò không có
u ở bò Vàng Việt Nam nói chung và ở bò H’mông nói riêng ñược công bố
Trong nghiên cứu này chúng tôi trình bày: Một số kết quả phân tích sự ña dạng trình tự ADNvùng D-loop ty thể, xác ñịnh sự lai tạp giữa hai loại bò có u và bò không có u ở quần thể bò H’mông ñồng thời so sánh mối quan hệ di truyền giữa bò H’mông với một
số quần thể bò khác của Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Châu Phi, Châu Âu, và bò rừng
Mỹ (Bison bison)
Ậ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu
Hai mươi sáu cá thể bò H’mông ñược chọn ngẫu nhiên ở các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Xín Mần và Hoàng Su Phì của tỉnh Hà Giang Trình tự nucleotit vùng D-loop ty thể của các mẫu bò Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Châu Âu, Châu Phi bò rừng Châu
Mỹ ñược thu thập từ ngân hàng gen Quốc tế (GeneBank)
Tách chiết ADN và nhân ADN ñặc hiệu (PCR)
Quy trình tách chiết ADN hệ gen từ các mẫu mô tai của 26 cá thể bò H’mông ñược thực hiện theo bộ kít tách QIAamp của hãng Qiagen (Đức)
Vùng ADN D-loop ty thể có kích thước 990 bp ñược nhân ñặc hiệu bởi phản ứng PCR với cặp mồi ñặc hiệu có trình tự:
Mồi xuôi: 5’-ACTAGGCATTTTCAGTGCCTTGCTT-3’
Mồi ngược: 5’-CCCAAAGCTGAAGTTCTATTTAAACTA-3’
Phản ứng PCR ñược tiến hành trong tổng thể tích 50 µl bao gồm: Đệm PCR 1x, 1,5mM MgCl2, 200 µM mỗi loại dNTP (A,T,G,C), 0,2 µM mỗi loại mồi xuôi, mồi ngược và 50-100 ng ADN khuôn Phản ứng PCR ñược thực hiện theo các bước: Trước tiên ADN ñược biến tính ở 94oC trong 4 phút, tiếp theo ñó với 32 chu kỳ, mỗi chu kỳ ñược thực hiện ở ñiều kiện như sau: biến tính ở 92oC trong 1 phút, gắn mồi ở 55oC trong 1 phút, tổng hợp chuỗi ADN ở 72oC trong 1 phút 20 giây Cuối cùng kết thúc phản ứng ở 72oC trong 10 phút
Phản ứng giải trình tự
Sản phẩm PCR sau ñó ñược tinh sạch bằng bộ kít tinh sạch (QIAquick PCR
Trang 3Mix) của hãng Beckman Coulter và ñược tiến hành phân tích trên máy giải trình tự CEQ8000
Phân tích trình tự
Trình tự nucleôtit vùng D-loop ty thể của các mẫu bò H’mông ñược so sánh với trình
tự các mẫu bò của Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Châu Âu, Châu Phi, bò rừng Mỹ (Bos binson) và trình tự toàn bộ ADN ty thể của hai mẫu bò không có u và có u ñối chứng
với mã truy cập trên ngân hàng gen tương ứng là V00654 và NC-005971 sử dụng công
cụ CLUSTALW trong phần mềm BIOEDIT và DNAsp
Khoảng cách di truyền giữa các trình tự vùng D-loop ty thể của các nhóm bò ñược tính theo phương pháp của Tamura và Nei (1993) Cây quan hệ di truyền (phylogenetic tree) ñược xây dựng bằng phần mềm MEGA phiên bản 4.0 (Kuma và cs, 1994)
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Sự ña dạng trình tự ADN vùng D-loop ty thể
ADN ty thể là một dạng vật liệu di truyền nằm ở ngoài nhân ñược di truyền theo dòng
mẹ Chúng có tỷ lệ ñột biến cao hơn 5-10 lần so với hệ gen trong nhân, ñặc biệt vùng kiểm soát D-loop (displacement loop) có tỷ lệ thay ñổi rất cao do ñó thường ñược sử dụng trong các nghiên cứu về phân loại và nguồn gốc tiến hoá của các loài
Tiến hành giải trình tự ADN vùng D-loop ty thể của các mẫu bò H’mông chúng tôi thu ñược ñoạn trình tự nuclêôtit có ñộ dài 530 bp (base pair) trên ñộ dài 990 bp của sản phẩm PCR Đoạn trình tự này có vị trí từ nuclêôtit 15813 ñến 16343 của toàn bộ trình
tự ADN ty thể ñược công bố bởi Anderson và cộng sự (1982) với mã truy nhập trên ngân hàng gen Quốc tế là V00654
So sánh và phân tích trình tự D-loop ty thể của 67 mẫu bò bao gồm: H’mông (26 mẫu); Hàn Quốc (4 mẫu bò vàng); Nhật Bản (9 mẫu bò ñen), Ấn Độ (6 mẫu gồm các giống Harianna, Sahiwal, Tharparkar); Châu Phi (8 mẫu gồm các giống: Butana, Fulani, Kenana và N’Dama); Châu Âu (12 mẫu gồm các giống: Aberdeen Angus, Charolais, Friesian, Here ford, Jersey và Simantal) và 2 mẫu ñối chứng của bò có u và không có
u, kết quả cho thấy xuất hiện 39 kiểu di truyền ñơn ty thể (haplotype) và có 50 ñiểm ña hình (polymorphic site) trên toàn bộ ñoạn trình tự ADN ñược phân tích (530 bp) Trong số 26 mẫu bò H’mông ñược phân tích thì có 14 kiểu di truyền ty thể ñược xác ñịnh, kết quả ñược trình bày ở Hình 1
Trang 4Hình 1: Sai ña dạng trình tự vùng D-loop ty thể của 67 mẫu bò phân tích Ký hiệu của
các mẫu ñược thể hiện ở cột thứ nhất: EU (Châu Âu); AF (Châu Phi); JP (Nhật Bản);
KR (Hàn Quốc); VN (Viêt Nam); IN (Ấn Độ) V00654 và NC005971- tương ứng là
trình tự ADN ty thể chuẩn của mẫu bò không có u (B s taurus) và bò có u (Bos
indicus) Ký hiệu (-) chỉ sự tương ñồng giữa các nuclêôtit, (*) mất hoặc thêm
nuclêôtit
Qua hình 1 cho thấy trình tự ADN vùng D-loop ty thể ở bò H’mông ñược tách biệt
thành hai nhóm: nhóm H’mông 1 với các mẫu từ VN1 ñến VN9 có trình tự của dòng
bò không có u (Bos taurus); nhóm H’mông 2 với các mẫu từ VN10 ñến VN14 có trình
tự của dòng bò có u (Bos indicus) Trong số 26 mẫu bò H’mông ñược phân tích ngẫu
nhiên Kết quả cho thấy, có 14 mẫu thuộc dòng bò có u và 12 mẫu thuộc dòng bò
không có u (Hình 2) Điều ñó cho thấy rằng tính ña dạng ADN ty thể của quần thể bò
H’mông là tương ñối cao
Khoảng cách và mối quan hệ di truyền
Khoảng cách di truyền trung bình giữa các quần thể bò ñược ước lượng dựa trên
phương pháp của Tamura-Nei Kết quả ñược thể hiện ở Bảng 1
Trang 5[1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8]
[1] Châu Âu 0,000
[2] Châu Phi 0,008 0,000
[4] Nhật Bản 0,007 0,013 0,065 0,000
[8] Bò rừng
Mỹ
Qua Bảng 1 cho thấy, khoảng cách di truyền giữa bò rừng Mỹ và các quần thể bò khác (Châu Âu, Châu Phi, Ấn Độ, Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản) ñều lớn hơn 0,1 Trong
khi ñó, khoảng cách di truyền giữa bò Ấn Độ, H’mông 2 (thuộc dòng bò có u) và các
quần thể bò thuộc dòng không có u (Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Châu Phi,
H’mông1) lớn hơn 0,05 Khoảng cách di truyền giữa quần thể bò Châu Âu, Châu Phi,
Nhật Bản, Hàn Quốc và H’mông 1 dao ñộng trong khoảng 0,007–0,013 Khoảng cách
di truyền giữa nhóm bò H’Mông 1 và bò có u Ấn Độ là 0,004
Cây phân loài di truyền ở hình 2 cho thấy quần thể bò H’mông nhóm 1 và Châu Âu,
Châu Phi, Hàn Quốc, Nhật Bản ñều thuộc dòng bò không có u và có mối quan hệ gần
nhau ñồng thời chúng tách biệt so với bò có u Ấn Độ và bò rừng Mỹ Trong khi ñó
nhóm bò H’mông 2 có mối quan hệ di truyền rất gần với quần thể bò có u Ấn Độ
Mặc dù kết quả tính khoảng cách di truyền trên Bảng 1 cho thấy, giữa nhóm bò
H’mông 1 và bò Châu Âu, Hàn Quốc, Nhật Bản có mối quan hệ di truyền gần nhau
hơn so với nhóm bò Châu Phi tương ứng là (0,007-0,01) và (0,012) nhưng ở cây phân
loài di truyền (Hình 2) không cho thấy có sự tách biệt hẳn giữa các nhóm bò Châu Phi
và H’mông 1, Châu Âu, Hàn Quốc và Nhật Bản
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi giống với kết quả nghiên cứu của Kim và cs (2003),
khi nghiên cứu mối quan hệ di truyền của một số giống bò của Hàn Quốc cũng không
cho thấy sự tách biệt giữa bò Hàn Quốc, Châu Âu và Châu Phi Trong khi ñó, Mannen
và cs (1998) khi nghiên cứu nguồn gốc của giống bò ñen Nhật Bản (B taurus) dựa
trên phân tích trình tự ADN ty thể ñã cho thấy sự tách biệt giữa bò Châu Âu với bò
Châu Phi Trong ñó, một số cá thể bò ñen của Nhật Bản có mối quan hệ di truyền gần
gũi với bò của Châu Âu
Ngoài ra, một số nghiên cứu khác cũng ñã cho rằng hầu hết các giống bò ngày nay có
nguồn
gốc thuần hoá từ 3 khu vực khác nhau: Khu vực Tây Á là nguồn gốc của bò có u (Bos
indicus) bao gồm các giống bò có u Ấn Độ hiện nay, vùng Cận Đông và Châu Phi là
nguồn gốc của bò không có u -Bos taurus (Bradley và cs, 1996; Loftus và cs, 1994;
Troy và cs, 2001) Cho dù các giống bò Châu Phi hiện nay chúng có ñặc ñiểm hình
thái là dạng trung gian của hai phụ loài Bos indicus và Bos taurus tuy nhiên nguồn gốc
xuất hiện ban ñầu ở Châu Phi ñược cho là bò Bos taurus
Trang 6Hìn 2: Cây quan hệ di truyền của 67 m9u bò ở Việt Nam (VN), Hàn Quốc (KR), Nhật Bản (JP), >n Độ (IN), Châu Âu (EU), Châu phi (AF), 5 mẫu bò rừng Châu Mỹ (Bison)
và 2 mẫu bò có u và không có u ñối chứng tương ứng là V00654, NC00597
Theo tác giả Phillips (1961) và Payne (1995) thì các giống bò bản ñịa của Trung Quốc
JP U87635
KR AF409056
JP U87639
JP U87637 VN8
JP U87634 Bos taurusV00654 VN22
VN5 VN13
JP U87640
EU L27716
JP U87650
EU L27734
EU L27735
KR AF409055
EU L27718
EU L27727
EU L27725
KR AF409057
EU L27713 VN23 VN19 VN1 VN15
EU L27724
AF L27730
AF L27728
AF L27721 VN11
KR AF409054
AF L27714 VN4 VN20
IN L27723 VN18
IN L27722
IN L27736
IN L27733 Bos indicusNC005971 VN2
VN43 VN6 VN9 VN10 VN16 VN26 Bison U12946 Bison U12936 Bison U12959
0 00
0 0 1
0 02
0 0 3
0 04 0.05
0 0 6
Bò không u
Bos taurus
Bò có u
Bos indicus
Bò rừng Mỹ
Bison bison
Trang 7tập trung ở phía Bắc với tỷ lệ 81,8-100% ở các giống và ñược cho là do du nhập từ Mông Cổ trong khoảng thời gian giữa 3766-3122 năm trước Công Nguyên Trong khi
ñó bò không có u chủ yếu tập trung ở phía Nam Trung Quốc với tỷ lệ 63,3-100% ở các giống
KẾT LUẬN
Qua phân tích sai khác trình tự ADN vùng D-loop ty thể trên quần thể bò H’mông cho thấy tính ña dạng di truyền ADN ty thể là tương ñối cao
Quần thể bò H’mông có nguồn gốc từ sự lai tạp của hai dòng bò không có u (Bs taurus) và có u (Bos indicus), tỷ lệ bò có u chiếm 53,8%
Dòng bò không có u ở quần thể bò H’mông có mối quan hệ di truyền gần với bò không
u của Hàn Quốc, Nhật Bản (có nguồn gốc du nhập từ bò không u phía Bắc Trung Quốc) và Châu Âu, trong khi ñó dòng bò có u có mối quan hệ di truyền gần gũi với bò
có u Ấn Độ
Kết quả nghiên cứu ñã bước ñầu cung cấp bằng chứng ở mức ñộ phân tử cho thấy phù
hợp với nhận ñịnh rằng bò Vàng Việt Nam có nguồn gốc từ bò có u Ấn Độ (Bos
indicus) và bò Vàng Trung Quốc không có u (Bos taurus)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Lê Viết Ly., Hoàng Kim Giao., Mai Văn Sánh., Võ Văn Sự., Lê Minh Sắt, (1999) Chuyên khảo bảo tồn nguồn gen vật nuôi ở Việt Nam Tập I: Phần gia súc Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà nội
Anderson, S., de Bruiji, M H., Coulson, A R., Eperon, I C., Sanger, F., and Young, I g, (1982) Complete sequence of bovine mitochondrial DNA Conserved features of the mammalian mitochondrial genome J Mol Boil 156, pp 683-717
Bradley, D G., Machugh, D E., Cunningham, P and Loftus, R T, (1996) Mitochondrial diversity and the origins of African and European cattle Poc Natl Acad Sci USA 93,
pp 5131-5135
Epstein, H., (1971) The origin of domestic animals of Africa Aficana Publishing Corporation, New York Vol.1, pp 185-555
Epstein, H., and Mason, I L, (1984) Evolution of domesticated animal Edited by I L Mason Long man, New York, pp.6-27
Kim, K I., Lee, J H., Lee, S S and Yang, Y H, (2003) Phylogenetic relationships of Northeast Asian cattle to other cattle populations determined using mitochondrial DNA D-Loop sequence polymorphism Biochem Gentic 41, pp 91-98
Kuma, S., Tamura, K and Nei, M, (1994) Molecular evolutionary genetic analysis software for microcomputers Comput.Appl.Biosci 10, pp 189-191
Loftus, R T., Machugh, D E.,Bradley, D G., Sharp, P M and Cunnigham, P, (1994) Evidence for two independent domestications of cattle Proc.Natl Acad Sci USA 91, pp.2757-2761
Trang 8Machugh, D E., Shriver, M D., Loftus, R T.,Cunningham, P and Bradley, D G (1997) Microsatellite DNA variation and the evolution, domestication and phylogeography of
Mannen, H., Tsuji, S., Loftus, R T and Bradley, D G, (1998) Mitochondrial ADN variation
and evolution of Japanese black cattle (Bos taurus) Genetic 150, pp 1169-1175
Payne WJA, (1995) Diffusion of cattle throughout of Asia in tropical cattle: origins, breeds and breeding policy Black well Sciences Ltd., Oxford, pp 15-22
Phillips W, (1961) World distribution of the major types of cattle J Heredity 86, pp 248-249 Tamura, K., and Nei, M, (1993) Estimation of the number of nucleotide substitutions in the control region of mitochondrial DNA in humans and chimpanzees Mol Biol Evol 10,
pp 512-526
Troy, C S., Machugh, D.E., Balley, J F., Magee, D A., Loftus, R T., Cunnigham, P., Chamberlain, A T., Sykes, B C., and Bradley, D G, (2001) Genetic evidence for Near-Eastern origins of European cattle Nature 410, pp 1088-1091
Xin Cai., Hong Chen., Chuzhao Lei., Shan Wang., Kai Xue and Bao Zhang, (2006) mtDNA diversity and genetic lineages of eighteen cattle breeds from Bos Taurus and Bos indicus in China Genetica, DOI 10.1007/s10709-006-9129-y