1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hệ số di truyền, tương quan di truyền, môi trường và kiểu hình giữa sản lượng sữa lứa 1, 2 và 3 của bò holstein friesian nuôi ở mộc châu và Tuyên Quang

8 545 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 164,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

hệ số di truyền, tương quan di truyền, môi trường và kiểu hình giữa sản lượng sữa lứa 1, 2 và 3 của bò Holstein Friesian nuôi ở Mộc Châu và Tuyên Quang Phạm Văn Giới, Nguyễn Văn Đức và

Trang 1

hệ số di truyền, tương quan di truyền, môi trường và kiểu hình giữa sản lượng sữa lứa 1, 2 và 3 của bò Holstein Friesian

nuôi ở Mộc Châu và Tuyên Quang Phạm Văn Giới, Nguyễn Văn Đức và Trần Trọng Thêm

Abstract Heritabilities, genetic, environmental and phenotypic

correlations among first, second and third lactation milk yield

on Holstein Friesian raising in Moc Chau and Tuyen Quang

The objectives of this study were to estimate heritabilities, genetic, environmental and phenotypic correlations of first, second and third lactation 305-day milk yield on Holstein Friesian cows raising in Moc Chau and Tuyen Quang The data were collected from 2000 to

2007, GLM in SAS software (1999) were used for basically statistical analysis and determining fixed effects Animal models in VCE5 were used for estimation of above genetic, environmental and phenotypic parameters

The heritabilities of first lactation milk yield varied from 0.449-0.545, of second lactation: 0.460-0.536 and of third lactation: 0.291-0.370; genetic correlations were strong and possitive: 0.823 between second and third lactation, 0.670 between first and third lactation and 0.649 between first and third lactation; environmental and phenotypic correlations were same directions but less strong comparing with genetic correlations: 0.551 between first and second lactations, 0.323 between second and third lactations and 0.060 between first and third lactations for environmental correlations and 0.604 between first and second lactations, 0.519 between second and third lactations and 0.291 between first and third lactations for phenotypic correlations These parameters could be used for selection and improvement of three first lactation 305-day milk yield on Holstein Friesian herds in Moc Chau and Tuyen Quang

Đặt vấn đề Nhu cầu tiêu dùng sữa tăng nhanh trong mấy năm gần đây ở nước ta, từ 486.000 tấn năm 2000 lên 845.000 tấn năm 2005 (Faostat, 2007) Sản lượng sữa tươi sản xuất tại nước ta cũng tăng nhanh, nhưng cũng chỉ đáp ứng khoảng 20-25%, phần còn lại phải nhập khẩu Hơn owxa, dân số Việt Nam đã lên tới trên 85 triệu người (TCTK, 2007), nhu cầu việc làm của cộng động cũng rất lớn Do vậy, phát triển chăn nuôi bò sữa để giảm bớt chi phí ngoại tệ nhập khẩu sữa và giải quyết việc làm cho cộng đồng là một trong những giải pháp thích hợp đối với điều kiện của nước ta

Từ 2001 đến 2004, Việt Nam đã nhập hơn 10.000 bò sữa HF thuần, đến nay đàn

bò sữa HF chủ yếu tập trung ở Mộc Châu và Yên Sơn Để chọn được đàn bò giống tốt cần đánh giá được các tham số di truyền của sản lượng sữa (SLS) giúp công tác chọn lọc

Trang 2

giống là yêu cầu thiết yếu nhất giúp cho sự phát triển thành công ngành chăn nuôi bò sữa của nước ta Để được góp phần vào chiến lược phát triển ngành chăn nuôi bò sữa HF

thành công tại 2 khu vực trên và miền Bắc nước ta, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu hệ số di truyền, tương quan di truyền, môi trường và kiểu hình giữa sản lượng sữa 3 lứa

đầu của bò Holstein Friesian nuôi ở Mộc Châu và Tuyên Quang ” nhằm mục đích xác định

được hệ số di truyền, hệ số tương quan di truyền, môi trường và kiểu hình về SLS của 3 lứa đầu

2 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

2470 HF ở Mộc Châu và 2884 HF ở Tuyên Quang được sử dụng cho nghiên cứu này

2.1.2 Thời gian nghiên cứu

Số liệu của những bò đẻ bê từ tháng 1 năm 2000 đến tháng 10 năm 2007

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu

- Công ty cổ phần Giống bò sữa Mộc Châu, Mộc Châu - Sơn La

- Trung tâm Phát triển bò Yên Sơn, Yên Sơn - Tuyên Quang

2.2 Nội dung nghiên cứu

Xác định hệ số di truyền về SLS của 3 lứa đầu (h2

SLS1, h2 SLS2, h2

SLS3);

Xác định hệ số tương quan di truyền (rgSLS1-SLS2, rgSLS1-SLS3, rgSLS2-SLS3), môi trường (reSLS1-SLS2, reSLS1-SLS3, reSLS2-SLS3) và kiểu hình (rpSLS1-SLS2, rpSLS1-SLS3, rpSLS2-SLS3) về SLS giữa 3 lứa đầu

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Nguồn thông tin dữ liệu

- Cân trực tiếp tại trang trại, hộ chăn nuôi, cùng người thu gom sữa để kiểm tra năng suất cá thể của con vật tại thời điểm đó

- Từ chương trình quản lý đàn bò sữa VDM3.0 và VDM4.0 của các cơ sở và từ các file EXCEL, sổ sách của các cơ sở từ những năm 2000 kết hợp với các file dữ liệu, kết hơp phỏng vấn trực tiếp cán bộ kỹ thuật, người quản lý, người chăn nuôi

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu số liệu: Thông tin thu thập là khu vực, ngày sinh, đẻ và cạn sữa các

lứa 1, 2 và 3, bố, mẹ, nguồn gốc bố, mẹ, sản lượng sữa các tháng và các lần cân

Phương pháp xử lý số liệu: Chuẩn bị bộ số liệu thô trước khi phân tích bằng chương

trình Excel, 2003 và Minitab13 và chỉ sử dụng trong phạm vi ±3σX; phân tích thống kê dùng chương trình SAS (1999); ước tính các tham số di truyền dùng chương trình VCE5

Trang 3

(2003) với mô hình con vật 1, 2 và 3 tính trạng

Một số mô hình dùng để phân tích

Mô hình hỗn hợp (mixed model) dạng tổng quát Y= Xb+Za+e

Trong đó: Y là giá trị SLS chu kỳ của các cá thể ở lứa 1, 2, 3 và tất cả các lứa;

b là vector của các yếu tố ảnh hưởng cố định, X là ma trận ảnh hưởng có liên quan đến yếu tố cố định, a là vector ảnh hưởng ngẫu nhiên di truyền cộng gộp, Z là ma trận ảnh hưởng do hệ phả gây ra và e là sai số dư thừa ngẫu nhiên

3 kết quả nghiên cứu và thảo luận

3 1 Hệ số di truyền

3.1.1 Hệ số di truyền về sản lượng sữa lứa 1

Hệ số di truyền về sản lượng sữa lứa 1 (SLS1) khi dùng các mô hình khác nhau

để ước tính, các giá trị thu được cũng khác nhau: cao nhất khi dùng mô hình con vật 2 tính trạng (M1-2) đạt giá trị là 0,545, sau đó đến mô hình con vật 3 tính trạng (M3) đạt giá trị là 0,534, tiếp theo là mô hình con vật 1 tính trạng (M1) đạt giá trị là 0,464 và có giá trị thấp nhất ở mô hình 2 tính trạng M1-3 với giá trị thu được là 0,449 Như vậy, hệ

số di truyền của SLS1 của đàn bò HF nuôi tại Mộc Châu và Tuyên Quang trong nghiên cứu này cao (h2>0,4) và biến động trong phạm vi từ 0,449±0,053 đến 0,545±0,059 Như vậy, phần di truyền của tính trạng này chiếm tỷ lệ cao, xấp xỉ 50% và nếu tiến hành chọn lọc nâng cao SLS1 trong đàn bò này dễ thu được hiệu quả cao Kết quả cho biết

đây là tín hiệu tốt cho công tác chọn lọc nhân thuần về SLS1 trong đàn bò này Hơn nữa, với độ lớn này của hệ số di tryền cho biết nên chọn lọc cá thể và có thể kết hợp với gia đình để nâng cao hiệu quả chọn lọc Việc cải tạo điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, môi trường cũng là vấn đề quan trọng (chiếm xấp xỉ 50%) đối với SLS1 Do đó, để nâng cao SLS1, song song vấn đề chọn lọc cần cải thiện chế độ chăm sóc nuôi dưỡng và môi trường

Kết quả trong nghiên cứu này cao hơn so với giá trị 0,331±0,054 tìm được của

Võ Văn Sự và cs (1996b) trên đàn bò sữa HF nuôi tại Mộc Châu và Đức Trọng Sự khác biệt lớn này có thể do một số nguyên nhâu sau: Đàn bò HF trong ước tính của Võ Văn Sự chỉ có nguồn duy nhất nhập khẩu từ Cu Ba vào những năm 1970, do đó mức độ

đồng nhất về di truyền giữa các cá thể rất cao, hay nói cách khác là sự khác biệt về kiểu

di truyền thấp và dẫn đến phương sai di truyền giữa các con vật nhỏ Hơn nữa, địa điểm nuôi tại hai khu vực này khác nhau về địa lý, tập quán chăn nuôi, chăm sóc quản lý và dẫn đến sự khác biệt lớn về môi trường chăn nuôi dẫn đến 2 đàn gia súc này có phương

Trang 4

sai môi trường cao Mặt khác, phương pháp ước tính của Võ Văn Sự là Harvey, 1990 khác với của chúng tôi là VCE5, 2003

Kết quả này cao hơn một số kết quả của các tác giả cùng nghiên cứu trên cùng giống bò HF ở một số nơi trên thế giới, đó là 0,39 của Weller và cs (2004) ở Israel; 0,44 xác định được của Miztal và cs (1992) ở Urbana Giá trị thu được trong nghiên cứu này nằm trong phạm vi chứa giá trị 0,504 của Weller và cs (2006) ở Israel

3.1.2 Hệ số di truyền về sản lượng sữa lứa 2

Kết quả thể hiện trong Bảng 1 cho biết hệ số di truyền của sản lượng sữa lứa 2 (SLS2) trong nghiên cứu này biến động trong các mô hình khác nhau, thấp nhất là 0,457 ở mô hình M2-3,, sau đó đến 0,460 ở mô hình M3, tiếp theo là 0,461 ở mô hình M1

và đạt giá trị cao nhất là 0,536 ở mô hình M1-2 Như vậy, hệ số di truyền của SLS2 của

đàn bò HF nuôi tại Mộc Châu và Yên Sơn trong nghiên cứu này biến động trong phạm

vi từ 0,460±0,047 đến 0,536±0,047 và có xu hướng thấp hơn hệ số di truyền về SLS1 Kết quả nghiên cứu cho biết hiệu quả chọn lọc về SLS2 trong đàn bò này sẽ cao Giá trị

về hệ số di truyền của SLS2 trong nghiên cứu này của chúng tôi cao hơn so với một số tác giả khi nghiên cứu trên đàn bò HF, đó là 0,27 của Dematawewa và cs (1998) ở Trung Mỹ; 0,29 của Weller và cs (2004) ở Israel

3.1.3 Hệ số di truyền về sản lượng sữa lứa 3

Kết quả thể hiện trong Bảng 1 cho biết hệ số di truyền của sản lượng sữa lứa 3 (SLS3) trong nghiên cứu này khi ước tính trong các mô hình khác nhau thu được kết quả khác nhau, thấp nhất khi dùng mô hình M1 là 0,291, sau đó đến mô hình M1-3 (0,319), tiếp theo là mô hình M3 (357) và cao nhất ở mô hình M2-3 là 0,370 Như vậy, với kết quả của nghiên cứu này đàn bò HF nuôi tại Mộc Châu và Yên Sơn có hệ số di truyền về SLS3 có giá trị trung bình (0,2<h2<0,4) và biến động trong phạm vi từ 0,291

đến 0,370 Kết quả nghiên cứu này cho biết để nâng cao SLS3 trong đàn bò này nên tìm nguồn gen trong quần thể có SLS3 cao để cải tiến nâng cấp Mặt khác, để cải tiến SLS3 cho đời sau nên tiến hành phương pháp chọn lọc gia đình, tìm các các thể trong các gia

đình có SLS3 cao Việc cải tạo điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, môi trường cũng là vấn

đề quan trọng vì chiếm đến 70% đối với SLS3 Do đó, để cải thiện SLS3, song song vấn

đề chọn lọc cần thật tích cực quan tâm đến chế độ chăm sóc nuôi dưỡng và môi trường xung quanh Kết quả trong nghiên cứu này cao hơn giá trị 0,27 của Bethany Lynn Muir, (2004); 0,27 của Weller và cs (2004)

Bảng 1: Hệ số di truyền của sản lượng sữa lứa 1, 2 và 3 Tham số Mô hình M 1 Mô hình M 1-2 Mô hình M 1-3 Mô hình M 2-3 Mô hình M 3

Trang 5

1

SLS

(7364)

0,545±0,059 (7614)

0,449±0,053 (7677)

0,534±0,057 (7753) 2

2

SLS

(4983)

0,536±0,047 (7614)

0,457±0,052 (5510)

0,460±0,047 (7753) 2

3

SLS

(3911)

0,319±0,053 (7677)

0,370±0,048 (5510)

0,357±0,047 (7753)

Chú thích: M 1 : Mô hình 1 tính trạng, M 1-2 : Mô hình con vật 2 tính trạng SLS1 và SLS2, M 2-3 : Mô hình con vật 2 tính trạng SLS2 và SLS3, M 1-3 : Mô hình con vật 2 tính trạng SLS1 và SLS3, M 3 : Mô hình con vật 3 tính trạng SLS1, SLS2 và SLS3 Số trong ngoặc đơn là số con vật trong ma trận quan hệ tử thức

Xu hướng của hệ số di truyền về SLS trong 3 lứa đầu của bò HF nuôi tại Mộc Châu và Yên Sơn giảm dần từ lứa 1 xuống lứa 2 và xuống thấp nhất ở lứa 3 Rõ nhất ở 2 mô hình M1 và M3: ở mô hình M1 hệ số di truyền về SLS lứa 1 cao nhất, đó là 0,464, giảm xuống 0,461 ở lứa 2, giảm xuống thấp nhất ở lứa 3, chỉ còn 0,291 và ở mô hình

M3 hệ số di truyền của SLS1 có giá trị cao nhất, đạt 0,534, giảm xuống lứa 2, đạt 0,460

và thấp nhất ở lứa 3 là 0,357 Kết quả này tương tự với các kết quả công bố về hệ số di truyền nghiên cứu trên giống bò HF đều giảm dần từ lứa 1, lứa 2, lứa 3 của Dematawewa và cs (1998) ở Trung Mỹ là SLS1 (0,3), SLS2 (0,27); của Bethany Lynn Muir (2004) ở Canada là SLS1 (0,37), SLS2 (0,36), SLS3 (0,27); của Weller và cs (2004) ở Israel là SLS1 (0,39), SLS2 (0,29), SLS3 (0,27), SLS4 (0,22), SLS5 (0,12); của Weller và cs (2006) ở Israel là SLS1 (0,504), SLS2 (0,378); của Safi Jahanshahi và cs (2002) ở Iran là SLS1 (0,27), SLS2 (0,23), SLS3 (0,14)

3.2 Hệ số tương quan di truyền, môi trường và kiểu hình

3.2.1 Hệ số tương quan di truyền về sản lượng sữa giữa 3 lứa đầu

Trong nghiên cứu này, đàn bò HF nuôi tại Mộc Châu và Tuyên Quang có hệ số tương quan di truyền dương và chặt chẽ giữa SLS của 3 lứa đầu (Bảng 2): cao nhất là giữa SLS2 và SLS3, sau đó là giữa SLS1 và SLS2 và thấp nhất là giữa SLS1 và SLS2

Hệ số tương quan di truyền giữa SLS1 và SLS2 là 0,670±0,053 thể hiện hai SLS1 và SLS2 có mối tương quan thuận và chặt chẽ Như vậy, nếu chọn lọc kiểu gen nâng cao SLS1, SLS2 cũng được nâng lên vì các gen cùng tác động đồng thời cùng chiều lên 2 tính trạng Mặt khác, có thể chọn lọc SLS2 thông qua SLS1 Kết quả ước tính trong nghiên cứu này thấp hơn so với các kết quả công bố cùng nghiên cứu trên đàn bò HF như 0,699 của Jamrozik và cs (1998) ở Canada; 0,85 của Bethany Lynn Muir (2004) ở Canada; 0,89 (Weller và cs., 2004), 0,912 (Weller và cs., 2006) ở Israel

Trang 6

Bảng 2: Hệ số tương quan di truyền (phía trên đường chéo) và tương quan môi trường (phía dưới đường chéo) giữa các cặp SLS lứa 1, 2 và 3 (ước tính bằng mô

hình con vật 2 tính trạng)

(7614)

0,649±0,102 (7677)

(5510)

Chú thích: Số trong ngoặc đơn là số lượng cá thể trong ma trận quan hệ tử thức

Hệ số tương quan di truyền giữa SLS1 và SLS3 trong nghiên cứu này là 0,649±0,102, chứng tỏ chúng có mối tương quan thuận và khá chặt chẽ Như vậy, nếu chọn lọc kiểu gen nâng cao SLS1 sẽ nâng cao SLS3 Kết quả trong nghiên cứu này cao hơn giá trị 0,624 của Jamrozik và cs (1998) khi nghiên cứu trên đàn bò HF ở Canada; nhưng thấp hơn các giá trị 0,78 của Bethany Lynn Muir (2004) trên đàn bò HF ở Canada; 0,88 của Weller và cs (2004) trên đàn bò HF ở Israel

Hệ số tương quan di truyền giữa SLS2 và SLS3 là 0,823±0,053 thể hiện hai chỉ tiêu này có mối tương quan thuận và chặt chẽ Nếu chọn lọc kiểu gen nâng cao SLS2 sẽ nâng cao SLS3 Kết quả của chúng tôi cao hơn kết quả 0,743 công bố của Jamrozik và

cs (1998), nhưng thấp hơn giá trị 0,98 của Weller và cs (2004)

Kết quả này cho biết tương quan di truyền giữa 3 chỉ tiêu này chặt chẽ và theo chiều thuận, khi chọn lọc nâng cao kiểu gen của chỉ tiêu này kéo theo nâng cao kiểu gen của chỉ tiêu kia, trong đó tương quan chặt chẽ nhất ở SLS2 và SLS3

3.2.2 Hệ số tương quan môi trường về sản lượng sữa giữa 3 lứa đầu

Tất cả các mối quan hệ về môi trường giữa SLS lứa 1, 2 và 3 đều theo chiều thuận như tương quan di truyền, song mức độ chặt chẽ thấp hơn Mối tương quan chặt chẽ nhất thể hiện giữa SLS1 và SLS2 (0,551), sau đó đến giữa SLS2 và SLS3 (0,323), thấp nhất ở giữa SLS1 và SLS3 (0,063) Hệ số tương quan dương chỉ ra nếu cải tiến môi trường, SLS1 kéo theo nâng cao được SLS2 và SLS3 song ở mức độ khác nhau

Kết quả trong nghiên cứu này về hệ số tương quan môi trường giữa SLS1 và SLS2 thấp hơn giá trị 0,609 của Weller và cs (2006); 0,57 của Weller và cs (2004) khi

ước tính trên đàn bò HF ở Israel; nhưng cao hơn giá trị 0,34 của Bethany Lynn Muir (2004) khi ước tính trên đàn bò HF ở Canada Hệ số tương quan môi trường giữa hai SLS1 và SLS3 trong nghiên cứu này thấp hơn giá trị 0,26 của Bethany Lynn Muir

Trang 7

(2004) trên bò HF ở Canada; 0,53 của Weller và cs (2004) trên đàn bò HF ở Israel Hệ

số tương quan môi trường giữa SLS2 và SLS3 trong nghiên cứu này thấp hơn so với giá trị 0,35 của Bethany Lynn Muir (2004) trên bò HF ở Canada; 0,59 của Weller và cs (2004) trên đàn bò HF ở Israel

Kết quả trong nghiên cứu này phù hợp với kết luận của Weller và cs (2004) là

hệ số tương quan di truyền luôn có cường độ lớn hơn hệ số tương quan môi trường trên cùng chỉ tiêu thể hiện hệ số tương quan di truyền giữa SLS1 và SLS3 đạt 0,670, trong khi đó hệ số tương quan môi trường giữa chúng chỉ đạt 0,063

3.2.3 Hệ số tương quan kiểu hình về sản lượng sữa giữa 3 lứa đầu

Bảng 3 cho biết tương quan kiểu hình cao nhất giữa SLS1 và SLS2, đạt 0,604, sau đó đến giữa SLS2 và SLS3, đạt 0,519 và thấp nhất giữa SLS1 và SLS3, chỉ đạt 0,291 Khi so sánh với kết quả của Bethany Lynn Muir (2004) cho thấy cả 3 hệ số tương quan kiểu hình của chúng tôi đều thấp hơn, đó là 0,68; 0,57 và 0,68

Bảng 3: Phương sai kiểu hình (trên đường chéo), hiệp phương sai kiểu hình (phía

trên đường chéo ), hệ số tương kiểu hình (phía dưới đường chéo) giữa các cặp SLS

lứa 1, 2 và 3 (ước tính bằng mô hình con vật 3 tính trạng)

4 kết luận và đề nghị

4.1 Kết luận

Hệ số di truyền của SLS1 (0,464-0,545), SLS2 (0,457-0,536) đều cao, nếu chọn lọc sẽ mang lại hiệu quả cao, trong lúc đó hệ số di truyền của SLS3 có giá trị trung bình (0,291-0,370), do đó để nâng cao SLS3 cần kết hợp chọn lọc và cải thiện môi trường nuôi dưỡng

Tương quan di truyền, môi trường và kiểu hình về sản lượng sữa giữa các lứa đều dương, song tương quan di truyền cao hơn tương quan môi trường: tương quan di truyền cao nhất giữa SLS2 và SLS3, sau đó đến SLS1 và SLS2 và thấp nhất giữa SLS1 và SLS3 Chọn lọc kiểu gen nâng cao sản lượng sữa này sẽ kéo theo kiểu gen nâng caoửân lượng sữa kia, cải thiện môi trường nâng cao sản lượng sữa này sẽ kéo theo nâng caoửân lượng sữa kia

4.2 Đề nghị

- Cần chọn lọc nếu muốn nâng cao các chỉ tiêu trên

Trang 8

- Sử dụng các tham số di truyền này để tính giá trị giống của các chỉ tiêu trên

- Sử dụng các tham số di truyền và môi trường này trong chọn lọc và nâng cao sản lượng sữa 3 lứa đầu trên bò HF ở Mộc Châu và Yên Sơn-Tuyên Quang

Tài liệu tham khảo

Bethany Lynn Muir, (2004), Genetics of lactation and relationships with reproductive performance in Holstein, The Faculty of Graduate Studies of The University of

Guelph, Canada, In partial fulfillment of requirements for the degree of Doctor of Philosophy January, 2004

Dematawewa, C.M.B., Berger, P.J (1998), “Genetic and Phenotypic Parameters for

305-Day Yield, Fertility, and Survival in Holsteins”, Journal of Dairy Science,

81(10), pp 2700-2709

Jamrozik J., Schaeffer L.R and Grignola F (1998), "Genetic parameters for production traits and somatic cell score of Canadian Holstein with multiple trait random

regression model", 6th World Cong Genet Appl Livest Amidale, Australia 23: pp

303-306

Misztal I., Lawlor T.J., Short T.H., Vanraden P.M (1992), “Multiple-Trait Estimation

of Variance Components of Yield and Type Traits Using an Animal Model”,

Journal of Dairy Science, 75(2), pp 544-551

Safi Jahansahi A., Vaez Torshizi R., Kashan N.E.J., Sayyad Nejad M.B., (2002),

“genetic parameters for milk production traits of Iran Holsteins”, Proc 7 th World congress on genetics applied to livestock production, August 19-23, 2002,

Montpellier, France

Võ Văn Sự, Nguyễn Văn Thiện, Hà Văn Chiêu, Nguyễn Văn Minh, Trần Văn Nghị (1996b), “Phân tích di truyền sản lượng sữa chu kỳ 1 ở đàn bò Holstein Friesian

nuôi tại Mộc Châu và Đức Trọng”, Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật chăn nuôi 1994-1995, Viện Chăn Nuôi, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, tr 127-134

Weller J.I., Ezra E (2004), “Genetic Analysis of the Israeli Holstein Dairy Cattle Population for Production and Nonproduction Traits with a Multitrait Animal

Model”, Journal of Dairy Science, 87 (5), pp 1519–1527

Weller J.I., Ezra E., and Leitner G (2006) “Genetic Analysis of Persistency in the

Israeli Holstein Population by the Multitrait Animal Model”, Journal of Daily Science, 89(7): pp 2738-2746

http://faostat.fao.org

http://www.gso.gov.vn Tổng Cục Thống Kê Việt Nam

Ngày đăng: 18/05/2015, 00:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Hệ số t − ơng quan di truyền (phía trên đ − ờng chéo) và t − ơng quan môi - Hệ số di truyền, tương quan di truyền, môi trường và kiểu hình giữa sản lượng sữa lứa 1, 2 và 3 của bò holstein friesian nuôi ở mộc châu và Tuyên Quang
Bảng 2 Hệ số t − ơng quan di truyền (phía trên đ − ờng chéo) và t − ơng quan môi (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w