Kết quả Nghiên cứu tuyển chọn và lai tạo ngựa địa phương Bắc Hà với ngựa đực lai 50% Cabacdin Nguyễn Đức Chuyên, Đặng Đình Hanh, Vũ Văn Tý, Tạ Văn Cần The results of selection and hybr
Trang 1Kết quả Nghiên cứu tuyển chọn và lai tạo ngựa địa phương
Bắc Hà với ngựa đực lai 50% Cabacdin
Nguyễn Đức Chuyên, Đặng Đình Hanh, Vũ Văn Tý, Tạ Văn Cần
The results of selection and hybridization between Bac Ha local horse and
hybrid horse with 50% of Cabacdin horse
The results of crossing between male hybrid horse with 50% of Cabacdin horse and female local horse showed that the body weight of hybrid horse was
significantly higher than selected local horse and unselected local horse Regard
to body weight at different ages, the body weight of male hybrid horse was
higher than that of selected local horse and unselected local horse At day old, body weight of hybrid horse increased by 15.8% and 18.88% with male,
respectively, and 14.18% and 18.51% with female At 12 months of age, it
increased by 7.67% and 9.72% with male and 9.19% and 10.54% with female in comparison with selected local horse and unselected local horse The average reproduction rate of two years was 63.65% which increased by 14.95% in
comparison with local horse
1/Đặt vấn đề
Ngựa là vật nuôi truyền thống ở miền núi Con ngựa cung cấp sức kéo phục vụ cho nông nghiệp, vận tải hàng hoá, là phương tiện đi lại ở vùng cao; Phục vụ thể thao
và du lịch; Nhiều chế phẩm sinh học từ ngựa đã được chuyển giao có hiệu quả trong sản xuất: Nông nghiệp- Y học - Quốc phòng; Ngựa có mặt trên lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch, góp phần vào việc xây dựng nền văn hóa mới tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Giống ngựa Việt Nam (VN) có khả năng: Chịu đựng kham khổ, chống chịu bệnh tật tốt, khả năng lợi dụng thức ăn thô xanh cao, thích ứng tốt với điều kiện chăn nuôi ở miền núi nước ta Tuy nhiên tầm vóc ngựa VN quá nhỏ Ngựa đực trưởng thành nặng: 170 - 180kg, Cao vây 113 - 115cm; Ngựa cái trưởng thành nặng: 160 - 170kg, Cao vây 110 - 112cm, năng suất thấp, ngoại hình chưa cân đối, mầu lông đa dạng Do
đó cần được nghiên cứu chọn lọc và lai tạo để nâng cao năng suất
Ngựa đực lai 50% cabacdin cao vây 130 - 135 cm, khối lượng 250 - 300 kg, năng xuất làm việc cao hơn ngựa nội 45 - 50%, mầu lông tía mật, cánh dán chiếm 60 - 70%
Bắc Hà là huyện miền núi vùng cao của tỉnh Lào Cai Với tổng diện tích đất tự nhiên rộng 68.678 ha Trong đó đất nông nghiệp là 12.343,41 ha (chiếm 17,97%); đất lâm nghiệp là 19.755,9 ha (chiếm 28,76%); đất chưa sử dụng rất lớn 35.556,35 ha (chiếm 51,77%) toàn huyện có: 4.423 con ngựa, tỷ lệ tăng đàn ngựa bình quân trong 3 năm từ
2001 – 2004 rất cao, 3,97% (Theo số liệu thống kê huyện Bắc Hà 10/2004) Tại huyện đã hình thành chợ ngựa và được họp vào ngày chủ nhật hàng tuần với số ngựa 200 - 300 con/phiên
Xuất phát từ thực trạng và nhu cầu phát triển đàn ngựa ở Bắc Hà, chúng tôi tiến
hành đề tài: " Nghiên cứu tuyển chọn và lai tạo ngựa địa phương Bắc Hà với ngựa đực
lai 50% Cabacdin"
Nhằm mục tiêu:
Trang 21 -Đánh giá thực trạng đàn ngựa Bắc Hà
2.Cải tạo giống ngựa địa phương, thông qua việc tuyển chọn và lai tạo với ngựa
đực 50% Cabacdin
2 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
*Đối tượng nghiên cứu: -Trên đàn ngựa địa phương nuôi tại các hộ nông dân
-Ngựa đực lai 50% cabacdin
*Địa điểm nghiên cứu:
-ở 5 xã, đặc trưng cho 3 vùng sinh thái khác nhau của huyện Bắc Hà:
-2 xã Vùng thượng (Xã Tả Văn Chư, xã Lùng Phình), cách trung tâm huyện 25 km
-2 xã Vùng Trung (Xã Lầu Thí Ngài, xã Thải Giàng Phố), cách trung tâm huyện 5 km -1 xã Vùng hạ (xã Nậm Mòn), cách trung tâm huyện 15 km
*Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 6/2005 đến tháng 6/2008
2.2 Nội dung nghiên cứu:
2 2.1 iều tra thực trạng đàn ngựa của huyện Bắc Hà:
- Số lượng và sự phân bố đàn ngựa; Cơ cấu đàn ngựa; Tập quán chăn nuôi ngựa
- Nghiên cứu một số chỉ tiêu về sinh trưởng của đàn ngựa
- Nghiên cứu một số chỉ tiêu về sinh sản của đàn ngựa,
2.2.2 Nghiên cứu chọn lọc và lai tạo ngựa địa phương Bắc Hà với ngựa đựclai 50% Cabacdin:
- Xây dựng 3 điểm chọn lọc ( 3 đực chọn lọc x 60 cái chọn lọc)
- Xây dựng 10 điểm lai tạo (10 đực lai 50% cabacdin x 200 cái chọn lọc
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1.Phương pháp điều tra:
-Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp hộ nông dân theo bảng câu hỏi
- Kết hợp kế thừa số liệu theo dõi thống kê của huyện
-Tỷ lệ đẻ = số ngựa cái đẻ / số ngựa cái trong độ tuổi sinh sản / năm
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu sinh trưởng:
-Khối lượng sơ sinh được cân trực tiếp bằng cân treo
-Khối lượng từ 6 – trên 36 tháng tuổi được cân bằng cân điện tử Ruddweigh
- Để xác định tốc độ tăng trọng tuyệt đối và tương đối chúng tôi dùng công thức:
+ Sinh trưởng tuyệt đối được tính theo công thức:
Pck – Pđk
Sinh trưởng tuyệt đối (gr) = -
Thời gian nuôi
Trong đó: Pđk là khối lượng đầu kỳ
Pck là khối lượng cuối kỳ
- Xác định kích thước 3 chiều đo (vòng ngực, dài thân chéo, cao vây) theo giáo trình chăn nuôi trâu bò trường ĐHNNI – 1991)
-Để xác định được các chỉ tiêu về sinh sản, chúng tôi sử dụng các số liệu được thu thập chủ yếu thông qua sổ sách của mạng lưới thống kê và thú y địa phương và
điều tra trực tiếp các hộ chăn nuôi
2.3.3 Phương pháp xây dựng điểm chọn lọc và lai tạo: Gồm:
- 3 ngựa đực nội chọn lọc + 60 ngựa cái nội,
- 10 ngựa đực giống 50% Cabacdin + 200 ngựa cái sinh sản
- Khối lượng ngựa đực lai 50% Cabacdin đạt ≥ 250 kg, ở 4 – 8 năm tuổi
Trang 3- Khối lượng ngựa đực VN chọn lọc đạt ≥ 200 kg, ở 4 – 8 năm tuổi
- Khối lượng ngựa cái VN chọn lọc đạt ≥ 180 kg, ở 3 – 8 năm tuổi
Đề tài được bố trí trên đàn ngựa thuộc 5 xã đại diện cho 3 vùng sinh thái của huyện:
+Xã Nậm Mòn (Vùng hạ, gồm: 2 ngựa đực lai + 40 ngựa cái và 1 ngựa đực nội + 20 ngựa cái),
+ Xã Thải Giàng Phố (Vùng trung, gồm: 2 ngựa đực lai +40 ngựa cái và 1 ngựa
đực nội+20 ngựa cái),
+ Xã Lầu Thí Ngài (Vùng trung, gồm: 2 ngựa đực lai + 40 ngựa cái) + Xã Lùng Phình (Vùng thượng, gồm: 2 ngựa đực lai + 40 ngựa cái và 1 ngựa đực nội + 20 ngựa cái),
+ Xã Tả Văn Chư (Vùng thượng, gồm: 2 ngựa đực lai + 40 ngựa cái và)
- Ngựa con sinh ra sau chọn lọc và lai tạo được theo dõi về tỷ lệ nuôi sống, khối lượng qua các giai đoạn tuổi
- Thí nghiệm được bố trí như sau:
Nhóm thí nghiệm Ngựa đực lai 50% Cabacdin Ngựa đực VN chọn lọc
-Ngựa cái chọn lọc (con)
-Phương thức nuôi dưỡng
-Yếu tố thí nghiệm
200 Chăn thả tự nhiên Lai tạo
60 Chăn thả tự nhiên Chọn lọc, nhân thuần
*Phương pháp xử lý số liệu: Sau đợt khảo sát, các số liệu thu thập được tính
toán trên chương trình SPSS 15.0 for Windows
3.Kết quả và thảo luận
3 Điều tra thực trạng đàn ngựa của huyện Bắc Hà
Số lượng và sự phân bố:
Tốc độ tăng đàn ngựa bình quân ở huyện Bắc Hà trong 4 năm từ 2001 đến 2005 khá cao 3,41% (4.492/3.952 con) Trong đó: Năm 2002 tăng 2,96% (4069/3952 con);
2003 tăng 7,00% (4354/4069 con); 2004 tăng 1,58% (4423/4354 con); 2005 tăng 1,56% (4492/4423 con) Sự tăng đàn do nhu cầu thực tiễn sản xuất, đồng thời có sự ảnh hưởng của nghị quyết chuyên đề phát triển chăn nuôi của huyện vào 2003
Đàn ngựa phân bố ở 21 xã và thị trấn Trong đó 5 xã điều tra có số ngựa chiếm 28,09% tổng đàn ngựa của huyện
3952
4069
4354
4423
4492
3600
3700
3800
3900
4000
4100
4200
4300
4400
4500
4600
Con
Biểu đồ 1: Số lượng đàn ngựa qua các năm
Trang 4Cơ cấu đàn ngựa của huyện Bắc Hà
Bảng 1: Cơ cấu đàn ngựa Bắc Hà
Cơ cấu ngựa điều tra Ngựa cái (con) Ngựa đực (con)
Số
T
T
Xã điều tra
Số ngựa
điều tra
Tổng
số <12 12-36 >36
Tổng
số <12 12-36 >36
Tổng: 609 460 73 65 322 149 60 28 61
% theo lứa tuổi 100 15,87 14,13 70,00 100 40,27 18,79 40,94
Ngựa cái > 36 tháng tuổi chiếm 53% (322/609 con); ngựa đực > 36 tháng tuổi chiếm 10% (61/609 con) Thực tế cho thấy: do địa hình vùng núi cao, con ngựa là phương tiện giao thông chính để cưỡi và thồ hàng, bởi vậy người dân Bắc hà đang lựa chọn phương thức nuôi ngựa cái để thồ hàng kết hợp sinh sản
So sánh với kết quả điều tra của Đặng Đình Hanh và cộng sự (2003) tại Trùng Khánh (Cao Bằng) và Hoàng Su Phì (Hà Giang) thì thấy: Tỷ lệ ngựa cái > 36 tháng tuổi ở Bắc Hà tương đương với ở Trùng Khánh (52,87% so với 52,21%), nhưng cao hơn so với Hoàng Su Phì (35,16%)
3.1.3 Tập quán chăn nuôi ngựa ở địa phương
*Phương thức và kỹ thuật chăn nuôi : Phương thức chăn nuôi chủ yếu là quảng
canh, tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên Nguồn thức ăn sử dụng chủ yếu là cỏ tự nhiên, lá rừng, có bổ sung ngô hạt, cám, thóc, sắn Những ngày làm việc ngựa được bổ sung
từ 1-2 kg ngô hoặc thóc, sắn Ngựa được chăn thả từ 10 giờ đến 15 giờ, còn lại phần lớn thời gian ngựa bị nhốt trong chuồng hoặc đi làm Những ngày nhốt không chăn thả, cắt cỏ cho ăn tại chuồng từ 15 – 20 kg cỏ Người dân cũng đã tận dụng phế phụ phẩm
từ nông nghiệp (lá ngô) làm thức ăn cho ngựa nhưng chưa nhiều
*Về chuồng trại : Hầu như các hộ đã làm chuồng nhốt ngựa, một số ít hộ làm
chuồng ngựa cách nhà, còn phần lớn chuồng thường được làm ngay liền với đầu nhà hoặc ngay hiên cửa nhà, nền chuồng được lát gỗ
*Công tác giống: Đàn ngựa được phối giống tự do chưa chú ý đến chọn lọc và
theo dõi phối giống
*Sử dụng ngựa: Ngựa là phương tiện chủ yếu để vận chuyển hàng hoá và đi lại
của người dân miền núi rất hữu hiệu
*Công tác thú y : Nhìn chung dịch bệnh trên đàn ngựa sảy ra ít, chủ yếu là bệnh
nhiệt thán sảy ra năm 1990 và năm 1998 ở một số xã, đến nay dịch bệnh này đã không sảy ra trong những năm gần đây, hàng năm đàn ngựa ở những xã đã sảy ra dịch được tiêm phòng định kỳ bệnh nhiệt thán, còn những xã khác hầu như là không tiêm
3.1.4 Khả năng sinh trưởng của đàn ngựa Bắc Hà
Chúng tôi đã tiến hành điều tra về khả năng sinh trưởng của đàn ngựa nuôi tại huyện Bắc Hà - Lào Cai với tổng số ngựa điều tra là 609 con, kết quả thu được thể hiện ở bảng 2:
Bảng 2 : Khối lượng của ngựa Bắc Hà qua các giai đoạn tuổi
Trang 5Tuổi ngựa
(tháng)
n (con) X ± m x n (con) X ± m x ♂/♀ (kg) (%)
So sánh với ngựa Việt Nam cho thấy ngựa ở Bắc Hà có khối lượng cao hơn (từ 176,15 – 180,95 kg so với 160 – 170 kg), Nhưng nhỏ hơn rất nhiều so với ngựa Cabacdin (450 – 550 kg) và ngựa lai 25% máu Cabacdin (240 – 260 kg), Minh Ngọc-2000
Theo Lê Viết Ly (1999), ngựa Việt Nam có khối lượng sơ sinh là 20 – 21 kg, khối lượng trưởng thành là 160 – 170 kg Như vậy ngựa Bắc Hà có khối lượng sơ sinh nhỏ hơn, nhưng khối lượng trưởng thành có cao hơn
Đặng Đình Hanh và cộng sự (2003) đã điều tra đàn ngựa ở huyện Hoàng Su Phì (Hà Giang) và Trùng khánh (Cao Bằng) cho thấy: Ngựa ở Bắc Hà có khối lượng cao hơn so với 180,95 kg so với 173,3 kg (Hoàng Su Phì) và 179 kg (Trùng Khánh) ở con
đực, 176,15 so với 160 kg (Hoàng Su Phì) và 170 kg (Trùng Khánh) ở con cái)
Bảng 3: Một số chỉ tiêu sinh sản của đàn ngựa cái Bắc Hà
Tỷ lệ đẻ tương đương so với ngựa ở Hoàng Su Phì (49,45%), nhưng thấp hơn so với ngựa ở Trùng Khánh (54%)
So sánh với kết quả điều tra ngựa ở Trùng Khánh và Hoàng Su Phì cho thấy ngựa ở Bắc Hà có khoảng cách giữa 2 lứa đẻ thấp hơn (17,5 tháng so với 21,12 tháng ở Trùng Khánh và 22,12 tháng ở Hoàng Su Phì)
3.2 Kết quả chọn lọc, lai tạo đàn ngựa Bắc Hà
Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu sinh sản của đàn ngựa cái chọn lọc
Bảng 4: Một số chỉ tiêu sinh sản của đàn ngựa cái chọn lọc
Chỉ tiêu Số ngựa theo dõi X(tháng) ± SD
Qua bảng trên cho thấy: Tuổi phối giống lần đầu bình quân là 25,26 tháng; động dục lại sau đẻ là 3,38 tháng; ngựa có tuổi đẻ lứa đầu là 36,53 tháng; khoảng cách giữa 2
Trang 6lứa đẻ 15,43 tháng, rút ngắn khoảng cách giữa 2 lứa đẻ so với khi điều tra 2,07 tháng; tỷ lệ
đẻ trung bình trong 2 năm là 63,65% cao hơn so với khi điều tra 14,95% Qua đây chúng tôi thấy rằng yếu tố giống, kỹ thuật phát hiện động dục và tổ chức phối giống, tỷ lệ đực cái ghép đàn phù hợp đã tác động làm tăng tỷ lệ sinh sản cho đàn ngựa cái chọn lọc
Kết quả theo dõi tỷ lệ nuôi sống của đàn ngựa lai và chọn lọc
Bảng 5: Tỷ lệ nuôi sống của ngựa con từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi
Chỉ tiêu
(tháng tuổi) n (con) Nuôi sống
(con)
Tỷ lệ (%) n (con)
Nuôi sống (con)
Tỷ lệ (%)
Trên đàn ngựa lai tạo và chọn lọc sinh ra, chúng tôi đã theo dõi về tỷ lệ nuôi sống của
đàn ngựa con từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi, kết quả được thể hiện qua bảng 5:
Tỷ lệ nuôi sống ở giai đoạn sơ sinh đạt 100% ở cả ngựa lai và ngựa chọn lọc Nhưng đến giai đoạn 3 tháng tuổi tỷ lệ nuôi sống của đàn ngựa lai là 98,1%, đến 6 tháng tuổi đạt 95,9%, 12 tháng tuổi đạt 93,9% Còn ở ngựa chọn lọc tỷ lệ này có cao hơn, ở giai
đoạn 3 tháng tuổi là 100%, giai đoạn 6 tháng tuổi đạt 96,8%, giai đoạn 12 tháng tuổi là 95,3% Qua kết quả trên cho thấy: Tỷ lệ nuôi sống của đàn ngựa lai và chọn lọc ở các giai
đoạn tuổi là khá cao Đó là có sự tác động của kỹ thuật, công tác quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng tốt đàn ngựa cái sinh sản và ngựa con sau khi sinh
3.2.3 Kết quả theo dõi khả năng sinh trưởng của đàn ngựa lai và chọn lọc
Bảng 6: Khối lượng tích luỹ của ngựa con sinh ra
Tính
Biệt
Tuổi
Ngựa
(tháng)
n (con)
X
(kg) ± mx
n (con)
X
(kg) mx
S.L (kg)
Tỷ lệ (%)
SS 133 21,90a ± 0,10 41 18,91b ± 0,45 2,99 15,81
6 78 83,63a ± 0,43 17 79,65b ± 1,00 3,98 4,99
Đực
12 65 121,18a ± 0,98 11 112,55d ± 1,68 8,63 7,67
SS 123 20,61a ± 0,15 34 18,05b ± 0,40 2,56 14,18
6 69 82,30a ± 0,74 15 78,47c ± 1,27 3,83 4,88 Cái
12 51 120,55a ± 1,07 10 110,40b ± 1,78 10,15 9,19
Ghi chú: a, b, c và d trên cùng hàng ngang là chỉ độ sai khác giữa ngựa lai và ngựa chọn lọc
với (P< 0,05)
Qua kết quả lai tạo cho thấy, khối lượng ngựa lai tăng hơn so với ngựa chọn lọc ở sơ sinh con đực tăng 15,81%; con cái tăng 14,18% (p <0,001); 6 tháng tuổi con đực tăng 4,99% (p <0,001); con cái tăng 4,88% (p < 0,01); đến 12 tháng tuổi con đực tăng 7,67% (p<0,05); con cái tăng 9,19% (p < 0,001)
Bảng 7: So sánh khối lượng ngựa lai với ngựa Bắc Hà chọn lọc và đại trà
Trang 7biệt
Ngựa lai
Ngựa chọn lọc
Ngựa
đại trà *
Ngựa lai / Ngựa chọn lọc
Ngựa lai / Ngựa
đại trà
Ngựa chọn lọc / Ngựa
đại trà
SS 21,90a 18,91b 18,42b 115,81 118,89 102,66
6 83,63a 79,65c 78,21c 104,99 106,93 101,84
Đực
12 121,18a 112,55c 110,44c 107,67 109,72 101,91
SS 20,61a 18,05b 17,39b 114,18 118,51 103,79
6 82,30a 78,47d 77,49d 104,88 106,21 101,26 Cái
12 120,55a 110,40b 109,05b 109,19 110,54 101,24
G h chú: a, b, c và d trên cùng hàng ngang là chỉ độ sai khác giữa ngựa lai, ngựa chọn lọc
và ngựa đại trà với (P< 0,05)
Kết quả lai tạo cho thấy ngựa lai có khối lượng cao hơn ngựa chọn lọc và ngựa
đại trà trong quá trình sinh trưởng từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi ở cả con đực và con cái tăng từ 4,88 - 10,54% (p<0,05); Khối lượng của ngựa chọn lọc so với ngựa đại trà cũng cao hơn từ 1,24 - 3,79%, tuy vậy sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
Bảng 8: Sinh trưởng tryệt đối của ngựa lai và ngựa chọn lọc
Sinh trưởng tuyệt đối (gr/ngày) Tính
Đực
Cái
Qua bảng trên ta thấy, đàn ngựa lai có tăng trọng tuyệt đối từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi cao hơn đàn ngựa chọn lọc ở cả ngựa đực và ngựa cái
,39 34
,44 1 ,5 1
,94 27 ,55 2
0
50
100
150
200
250
300
350
Đực lai
Đực CL Cái lai Cái CL
gr/con/ngày
Giai
đoạn tuổi
Biểu đồ 2: sinh trưởng tuyệt đối của ngựa lai và ngựa chọn lọc
Bảng 9: Kích thước các chiều đo chính của ngựa lai và ngựa chọn lọc
Chỉ tiêu (cm) Cao vây Dài thân Vòng ngực
Phương
thức
Tính
biệt
Tuổi (tháng)
n (con)
Trang 8SS 147 76,05 ±0,62 54,72 ±0,60 62,49 ±0,48
6 78 101,67 ±1,48 90,37 ±1,32 100,53 ±0,91
Đực
12 65 108,78 ±2,17 101,84 ±1,73 109,78 ±1,64
SS 123 78,84 ±0,46 54,92 ±0,50 61,84 ±0,28
6 69 100,68 ±1,34 91,37 ±1,34 99,63 ±1,30
Ngựa
lai
Cái
12 51 107,50 ±2,14 100,62 ±1,75 108,35 ±1,81
SS 42 68,10 ±0,33 52,32 ± 0,30 57,64 ± 0,12
6 17 90,82 ± 0,92 72,32 ± 0,42 95,53 ± 0,94
Đực
12 11 102,50 ±1,14 82,70 ± 1,13 105,64 ± 1,24
SS 37 67,58 ± 0,34 51,80 ± 0,19 56,64 ± 0,17
6 15 89,83 ± 0,90 71,73 ± 0,46 94,28 ± 0,67
Ngựa
chọn
lọc Cái
12 10 101,42 ±1,17 80,48 ± 1,13 103,35 ± 1,16 Qua phân tích ở trên chúng tôi thấy, các chiều đo của ngựa lai cao hơn so với ngựa chọn lọc từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi: ở ngựa đực Cao vây tăng 6,12% (p < 0,001); dài thân chéo tăng 23,14% (p < 0,05); Vòng ngực tăng 3,9% (p < 0,05) ở con cái cũng tăng hơn tương ứng là: Cao vây tăng 5,99% (p < 0,05); dài thân chéo tăng 25,02% (p < 0,05); Vòng ngực tăng 4,83% (p < 0,05)
5/ Kết luận và đề nghị
5 Kết luận
1 Đàn ngựa ở huyện Bắc Hà có tốc độ tăng đàn bình quân đạt 3,41% (2001 - 2005) Cơ cấu đàn ngựa cái trên 36 tháng tuổi là 70,0% so với tổng đàn ngựa cái, 52,87% so với tổng đàn ngựa điều tra Sử dụng ngựa của người dân địa phương theo
h-ướng thồ, kết hợp với sinh sản Chăn thả theo phương thức quảng canh Ngựa ở Bắc Hà
có tầm vóc nhỏ, khối lượng trưởng thành đạt 180,95 kg đối với ngựa đực, 176,15 kg
đối với ngựa cái Cao vây đạt 117,92 cm (ngựa đực), 115,25 cm (Ngựa cái) Khả nảng sinh sản thấp, khoảng cách giữa 2 lứa đẻ là 17,5 tháng, Tuổi động dục lần đầu 25,8 tháng, tuổi đẻ lứa đầu 37,5 tháng, tỷ lệ đẻ hàng năm thấp 48,7%
2 Kết quả chọn lọc nhân thuần ngựa địa phương Bắc Hà đã làm tăng tỷ lệ đẻ bình quân trong 2 năm 14,9% (63,65%/48,7%), rút ngắn khoảng cách lứa đẻ 2,07 tháng (15,43/17,5 tháng) so với đàn ngựa không chọn lọc trong đại trà sản xuất
3 Trong điều kiện chăn nuôi tại hộ gia đình nông dân huyện Bắc Hà, đàn ngựa lai có khối lượng tăng hơn so với ngựa chọn lọc, khi sơ sinh tăng 15,81% ở ngựa đực, 14,18% ở ngựa cái; Đến 12 tháng tuổi ngựa đực tăng 7,67%, ngựa cái tăng 9,19%
5.2 Đề nghị :
- Phối hợp với địa phương theo dõi đánh giá tiếp khả năng sinh trưởng, sinh sản của con lai ở các giai đoạn tuổi
- Nghiên cứu chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý đối với ngựa lai trong hộ gia đình nông dân huyện Bắc Hà
Tài liệu tham khảo
1 Đặng Đình Hanh và CS (2003), Báo cáo kết quả thực hiện đề tài độc lập cấp nhà nước: "Ng ê n cứu chọn lọc và lai tạo giống ngựa địa phương với giống ngựa Cabardin phục vụ dân sinh và quốc phòng”
2 Lê Viết Ly (1999) Bảo tồn quỹ gen giống vật nuôi, Nhà xuất bản nông nghiệp
3 Minh Ngọc (2000), Con ngựa với dân miền núi, Chuyên san chăn nuôi gia súc ăn
cỏ, Hội chăn nuôi Việt Nam , 2000
Trang 94 Số liệu thống kê , Phòng thống kê huyện Bắc Hà, 2005
Tóm tắt
Kết quả sử dụng ngựa đực lai 50% Cabacdin để phối giống với ngựa địa phương huyện Bắc Hà cho thấy: Khối lượng ngựa lai tăng hơn so với ngựa nội sinh ra sau chọn lọc và ngựa đại trà: Sơ sinh ngựa đực tăng 15,81% và 18,89%, ngựa cái tăng 14,18% và 18,51%; Đến 12 tháng tuổi ngựa đực tăng 7,67% và 9,72%, ngựa cái tăng 9,19% và 10,54% Tỷ lệ đẻ bình quân trong 2 năm của ngựa cái chọn lọc đạt 63,65%, tăng hơn
so với ngựa cái đại trà là 14,95%