1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình mắc bệnh viêm gan vịt do Virus ở một số tỉnh Đồng bằng Bắc bộ, phân lập Virus gây bệnh. Nghiên cứu đặc tính sinh học của chủng Virus nhược độc viêm gan vịt DHEG2000 và quy trình sản xuất Vacxin

86 421 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 439,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 1965 tại Norfolk của Anh, trên những đàn vịt con đã được tiêm phòng vacxin nhược độc viêm gan vịt typ I, bệnh viêm gan vịt vẫn xảy ra... Trong phòng thí nghiệm, dùng virus viêm gan v

Trang 1

1 mở đầu 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, chăn nuôi vịt đang dần trở thành ngành sản xuất hàng hoá, góp phần vào chương trình xoá đói giảm nghèo ở một số vùng nông thôn nước ta Theo thống kê của Cục khuyến nông, tổng số vịt trong cả nước năm 1998 là 37.376.000 con, năm 1999: 39.207.000 con, năm 2000 là 45.896.000 con Như vậy, so với năm 1999 thì

số vịt năm 2000 đã tăng 17% Mục tiêu phấn đấu của ngành chăn nuôi nước

ta đến năm 2005-2010 phải đạt tỷ trọng 30% GDP nông nghiệp Riêng đàn gia cầm phải đạt 297500000 con vào năm 2005 (Lê Hồng Mận, 1999)[17] Cùng với sự gia tăng số đầu con, các loại vịt giống siêu thịt cũng được nhập

về và nhân lên trên diện rộng như giống CV Super M, giống Szarvas, giống Cherry Valley (Anh Đào)… các giống vịt này có đặc điểm là cho năng xuất cao nhưng sức đề kháng với bệnh lại kém hơn so với các giống vịt thuần chủng của Việt Nam Vì vậy, dịch bệnh luôn là mối lo ngại lớn cho người chăn nuôi, việc tăng cường các biện pháp kỹ thuật thú y, bảo vệ đàn vịt khoẻ mạnh là một khâu hết sức quan trọng (Lê Minh Chí, 1999)[7][8]

Trong chăn nuôi vịt, bệnh viêm gan vịt là một bệnh truyền nhiễm gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi (Nguyễn Xuân Bình, 2002)[3] Bệnh xảy

ra ở thể cấp tính với vịt con 1-6 tuần tuổi, lây lan nhanh, tỷ lệ chết rất cao

có khi lên tới 100%

Bệnh được ghi nhận đầu tiên ở Mỹ năm 1945 bởi Levine và Hofstad [49] Năm 1949 cũng tại Mỹ, bệnh xảy ra trên đàn vịt Bắc Kinh tại 70 trại vịt ở đảo Long - New York, tổng số vịt chết lên tới 750000 con Các năm tiếp theo bệnh xảy ra ở nhiều nước: Anh (1954), Canada (1957), Ai Cập (1958),… Theo thông báo gần đây nhất, bệnh có mặt ở khắp nơi trên thế giới (OIE, 2000)[55]

Trang 2

Nhằm khống chế bệnh, các nhà khoa học đã nghiên cứu bệnh trên quy mô rộng: dùng kháng huyết thanh miễn dịch để phòng và chữa bệnh (Levine, 1950)[50], Rispens, 1969)[61], tạo các chủng virus nhược độc dùng làm vacxin bằng cách tiếp đời trên phôi (Asplin, 1958, 1961, 1965)[26][27][28], (Reuss, 1959)[59]

ở Việt Nam, năm 1978 Trần Minh châu và cộng sự đã ghi nhận bệnh

ở Đông Anh - Hà Nội (Trần Minh Châu, 1985)[5] Năm 1979 - 1983 bệnh xảy ra ở nhiều địa phương làm chết rất nhiều vịt Năm 1984, bệnh xảy ra trên các đàn vịt ở Gia Lâm - Hà Nội làm chết hàng nghìn con (Lê Thanh Hoà và cộng sự, 1984)[14] Bệnh lan tràn ở nhiều tỉnh miền Bắc: Hà Tây, Hưng Yên, Hà Nam, Tuyên Quang Tỷ lệ nhiễm trong đàn lên tới 100%, tỷ

lệ chết trong ổ dịch biến động 49-90% (Nguyễn Văn Cảm và cộng sự, 2001)[4] Tại các tỉnh đồng bằng Nam Bộ, bệnh viêm gan vịt xảy ra ở nhiều nơi gây thiệt hại nặng nề (Nguyễn Đức Lưu, 2001, 2002)[15][16]

Gần đây chăn nuôi vịt, ngan ngày càng phát triển, bệnh viêm gan vịt càng dễ xảy ra đặc biệt ở một số địa phương: Hà Tây, Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang… gây tổn thất vô cùng nghiêm trọng

Tuy vậy ở nước ta những nghiên cứu về bệnh chưa nhiều, việc tìm ra các phương pháp phòng trị bệnh còn rất ít Các tác giả Trần Minh Châu (1985)[6], Lê Thanh Hoà (1984)[14] đã nghiên cứu các chủng virus vacxin

và xây dựng quy trình sản xuất vacxin Nhận định chung, vacxin chế tạo từ các chủng virus viêm gan vịt nhược độc có nguồn gốc trong và ngoài nước cho an toàn và hiệu lực khi sử dụng

Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu và cộng sự, 2001[23] đã chế tạo kháng thể viêm gan vịt để phòng trị bệnh nhưng hiệu quả phòng chống bệnh của chế phẩm còn nhiều hạn chế Như vậy cho đến nay nước ta vẫn chưa có vacxin có hiệu quả để phòng bệnh tốt

Trang 3

Từ thực tế trên, để đề ra đ−ợc các biện pháp phòng bệnh cho kết quả tốt, việc nghiên cứu về dịch bệnh, chủng virus gây bệnh và vacxin phòng bệnh là việc làm hết sức cần thiết, do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Tình hình mắc bệnh Viêm gan vịt do virus ở một số tỉnh đồng bằng Bắc bộ, phân lập virus gây bệnh Nghiên cứu đặc tính sinh học của chủng virus nh−ợc độc viêm gan vịt DH - EG - 2000 và quy trình sản xuất vacxin”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Xác định thực trạng bệnh viêm gan do virus trên đàn vịt nuôi ở các

hộ gia đình một số tỉnh thuộc đồng bằng Bắc bộ

- Phân lập virus viêm gan vịt

- Xác định một số đặc tính sinh học của chủng virus vacxin nh−ợc

độc viêm gan vịt DH - EG - 2000

- Nghiên cứu quy trình sản xuất vacxin

- ứng dụng vacxin vào thực tế sản xuất

1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Góp phần đề ra các biện pháp phòng trị bệnh viêm gan vịt do virus

có hiệu quả cao cho ngành chăn nuôi vịt

- Là cơ sở để sử dụng chủng virus nh−ợc độc viêm gan vịt DH - EG -

2000 vào sản xuất vacxin phòng bệnh cho đàn vịt nuôi ở Việt Nam

Trang 4

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Bệnh viêm gan vịt do virus (Duck Virus Hepatitis - DVH)

Bệnh viêm gan do virus là một bệnh truyền nhiễm cấp tính xảy ra ở vịt con 1-6 tuần tuổi, mẫn cảm nhất là vịt con dưới 3 tuần tuổi Bệnh lây lan rất nhanh do 3 typ virus khác nhau gây ra: virus viêm gan vịt Typ I, Typ II

và Typ III, phổ biến hơn cả là virus viêm gan vịt Typ I Bệnh có biểu hiện

đặc trưng: gan sưng, xuất huyết lốm đốm trên gan

2.1.1 Lịch sử và phân bố bệnh

Năm 1945 ở Mỹ, Levine và Hofstad[49] quan sát thấy một bệnh lạ xảy ra trên đàn vịt con một tuần tuổi: vịt chết nhanh sau khi có biểu hiện triệu chứng, bệnh tích chủ yếu tập trung ở gan, gan sưng, xuất huyết lốm đốm trên gan Mùa xuân 1949 ở đảo Long của Mỹ có tổng số vịt nuôi 750.000 con, Levine và Fabricant[50] quan sát thấy một bệnh tương tự xảy ra trên các

đàn vịt con trắng Bắc Kinh, bệnh xuất hiện đầu tiên ở những vịt 2 - 3 tuần tuổi, bệnh lây lan nhanh từ trại vịt này sang trại khác, 70 trại bị thiệt hại nghiêm trọng, trại bị bệnh nặng tỷ lệ vịt chết lên đến 95% Thời điểm cuối

ổ dịch chỉ còn sót lại một vài trại, khi bị nhiễm bệnh tỷ lệ chết thấp khoảng 15% Năm 1950, bằng phương pháp nuôi cấy trên phôi gà, Levine và Fabricant đã phân lập được virus viêm gan vịt typ I

Năm 1953, bệnh xảy ra trên các đàn vịt ở các vùng khác của nước Mỹ Năm 1954 bệnh xảy ra ở Anh do Asplin và Lauchlan phát hiện Năm 1958

ở Ai Cập do Chehata và Reuss, sau đó ở ý, Hà Lan, Nga cũng có những công trình công bố về bệnh Theo các báo cáo gần đây nhất, bệnh viêm gan vịt do virus typ I xảy ra khắp nơi trên thế giới trong đó có cả Trung Quốc và Triều Tiên (OIE, 2000)[55]

Năm 1965 tại Norfolk của Anh, trên những đàn vịt con đã được tiêm phòng vacxin nhược độc viêm gan vịt typ I, bệnh viêm gan vịt vẫn xảy ra

Trang 5

Bằng phương pháp bảo hộ chéo trên vịt con người ta đã phân lập được virus viêm gan vịt typ II (Asplin, 1965)[28] Một thời gian sau trên các

đàn vịt không thấy bệnh xuất hiện, nhưng vào năm 1983 - 1984, bệnh lại xảy ra trên 3 đàn vịt ở Norfolk, (Anh), tỷ lệ chết đến 50% ở vịt 6 - 14 ngày tuổi, 10 - 25% ở vịt 3 - 6 tuần tuổi Bệnh xảy ra lẻ tẻ, trong đàn vịt chỉ có một số bị nhiễm bệnh

Cho đến nay bệnh viêm gan vịt do virus viêm gan vịt typ II chỉ thấy xảy ra ở nước Anh, chưa có báo cáo nào về tình hình bệnh xảy ra ở các nước khác

Toth, 1969[64] cho biết ở đảo Long của Mỹ, bệnh viêm gan vịt đã xảy

ra trên đàn vịt con đã được dùng vacxin nhược độc typ I Bệnh xảy ra nhẹ hơn so với bệnh viêm gan vịt của virus typ I, tỷ lệ chết của vịt con hiếm khi vượt quá 30% Haider và Calnek, 1979[41] đã đặt tên virus này là virus viêm gan vịt typ III Cho đến nay virus viêm gan vịt typ III mới chỉ được công bố ở Mỹ

2.1.2 Truyền nhiễm học

Loài mắc bệnh

Trong tự nhiên, bệnh viêm gan vịt do virus typ I gây ra chỉ xảy ra ở vịt con (Nguyễn Xuân Bình, 1995)[2] ở những đàn vịt bị bệnh, tỷ lệ nhiễm bệnh 100%, tỷ lệ vịt chết tuỳ theo lứa tuổi: vịt dưới 1 tuần tuổi chết 95%, 1

- 3 tuần tuổi chết ít hơn: 50%, 4 - 5 tuần tuổi tỷ lệ chết không đáng kể Vịt trưởng thành bị nhiễm virus không có triệu chứng lâm sàng, không ảnh hưởng đến sản lượng trứng Gà, gà tây và các động vật khác không mắc bệnh Theo Rahn, 1962[57], gia cầm non một vài ngày hay vài tuần tuổi vẫn có thể bị nhiễm bệnh, con vật có biểu hiện triệu chứng, bệnh tích và có kháng thể trung hoà trong máu Asplin, 1961[27] cho biết gà con có thể bị nhiễm bệnh, bệnh thể hiện không điển hình và có thể truyền virus cho con khác

Trang 6

Trong phòng thí nghiệm, dùng virus viêm gan vịt typ I gây bệnh cho vịt con bằng cách cho uống hoặc tiêm phúc mạc, vịt có bệnh tích: gan sưng, xuất huyết lốm đốm trên gan, túi mật sưng, lách sưng và có thể phân lập

được virus từ gan 17 ngày sau khi cho uống

Các loài vật khác như thỏ, chuột lang, chuột nhắt trắng, chó đều không cảm thụ với bệnh

Trong tự nhiên và trong phòng thí nghiệm, virus viêm gan vịt typ II, typ III chỉ gây bệnh cho vịt con

Đường xâm nhập và cách lây lan

Trong đàn vịt con bị bệnh, virus viêm gan vịt typ I lây lan rất nhanh từ con bệnh sang con lành, tỷ lệ nhiễm bệnh rất cao 100% Virus xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá, hô hấp hoặc qua vết thương

Priz, 1973[56] đã gây bệnh cho vịt con bằng đường lây nhiễm qua không khí Trong các trường hợp gây bệnh này, virus xâm nhập vào cơ thể qua thanh quản và đường hô hấp trên, theo Hanson (1976)[43] có thể gây bệnh cho vịt bằng cách cho uống

Những vịt chưa bị nhiễm virus, cho sống cùng đàn vịt bệnh, chúng sẽ mắc bệnh và chết sau

Bệnh không truyền lây qua trứng, vịt con nở ra từ trứng của vịt mẹ nhiễm bệnh vẫn phát triển tốt (Asplin, 1958)[26]

Theo Asplin, 1961[26] các loài chim hoang dã mang virus viêm gan vịt từ vùng này sang vùng khác theo phương thức cơ học, đây chính là nguyên nhân gây ra các vụ dịch mới ở nơi xa Demakov, 1975[34] cho biết: chuột cống nâu có thể là vật chủ dự trữ của virus viêm gan vịt typ I ở loại

động vật này virus được thu nhận vào cơ thể, tồn tại 35 ngày, sau đó được bài tiết ra bên ngoài trong khoảng thời gian 18 - 22 ngày sau khi nhiễm Trong huyết thanh của chuột có kháng thể và kháng thể tồn tại 12 - 24

Trang 7

ngày ở những vịt khỏi bệnh, virus được bài xuất ra ngoài theo phân sau 8 tuần (Reuss, 1959)[59]

Virus viêm gan vịt typ II xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hoá và

đường lỗ huyệt ở những vịt khỏi bệnh, virus được bài xuất theo phân ít nhất 1 tuần sau khi nhiễm bệnh

2.1.3 Triệu chứng

Đối với bệnh do virus viêm gan vịt typ I gây ra, bệnh xảy ra đột ngột, thời gian nung bệnh ngắn chỉ trong vòng 24 giờ, bệnh lây lan nhanh, vịt chết tập trung vào ngày thứ 2, 3, 4 sau khi mắc bệnh, tỷ lệ chết rất cao có khi lên tới 100%

Vịt bị bệnh không theo kịp bầy đàn, ít vận động, mệt mỏi, mắt nhắm, ngã vật ra, 2 chân co giật rồi chết, vịt chết nằm ở tư thế đầu ngoẹo ra đằng sau Vịt chết rất nhanh trong vòng 1 giờ sau khi xuất hiện triệu chứng Trong thời gian dịch bệnh, vịt chết nhanh, nhiều làm cho người chăn nuôi thấy ngỡ ngàng Hình thái ngoẹo đầu ra đằng sau, chân duỗi thẳng lúc chết thường được coi như một dấu hiệu đặc biệt của bệnh viêm gan vịt do virus Farmer gọi bệnh viêm gan vịt là hội chứng thận thoái hoá mỡ và hoại tử tuyến tụy (Farmer, 1987)[36]

ở Anh, vào giữa các năm 1978 - 1983, thiệt hại do bệnh gây ra lên đến 30% tổng số vịt nuôi, vịt ở hai nhóm tuổi: 1 - 2 tuần tuổi và 4 - 6 tuần tuổi

được coi là mẫn cảm với bệnh

Triệu chứng ở đàn vịt bị bệnh do virus typ II gây ra, quan sát thấy: vịt chết ở thể trạng tốt, chết trong vòng 1 - 2 giờ sau khi có biểu hiện triệu chứng, vịt khát nước, chảy nước mắt, tăng tiết urat, vịt chết do co giật cấp tính Vịt bị nhiễm bệnh thường chết, tỷ lệ chết từ 10 - 50% Vịt trưởng thành không mắc bệnh

Trang 8

Bệnh do virus viêm gan vịt typ III gây ra chỉ xảy ra ở vịt con, triệu chứng giống như ở typ I Tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết hiếm khi vượt quá 30%

2.1.4 Bệnh tích

Bệnh tích đại thể: bệnh do virus viêm gan vịt typ I gây ra thường thấy

ở gan, gan vịt bệnh sưng to, xuất huyết lấm chấm hoặc từng đám đỏ sẫm hay đỏ tím trên mặt gan, thận sưng màu nhợt nhạt, tĩnh mạch thận xung huyết, thỉnh thoảng có trường hợp lách sưng tụ máu hoặc lấm tấm xuất huyết (Nguyễn Thát, 1975)[21]

Bệnh tích vi thể : Các tác giả Fabricant, J., C G Rikard và P.P Levine (1957)[35] cho biết: các biến đổi vi thể rất phức tạp, những biến đổi nguyên thuỷ trong thể cấp tính bao gồm thay đổi đầu tiên là hoại tử tế bào gan, tăng sinh ống mật cùng với tăng sinh các tế bào viêm và xuất huyết ở các mức

độ khác nhau ở vịt con không chết có sự tái sinh của các tế bào nhu mô gan (Fabricant, 1957)[35]

ở phôi gà 10 ngày tuổi chết do nhiễm virus viêm gan vịt typ I, quan sát biến đổi vi thể cho thấy: tế bào hạt của nhiều cơ quan tăng sinh, gan có các điểm hoại tử, tăng sinh ống mật, phù dưới da, không quan sát thấy các thể bao hàm trong tế bào

Phôi vịt 10-14 ngày tuổi được tiêm virus viêm gan vịt typ I vào xoang niệu mô, phôi chết trong khoảng 24-72 giờ sau khi tiêm và có biểu hiện xuất huyết dưới da, gan xuất huyết có nhiều điểm hoại tử ở vịt 6 ngày tuổi

bị nhiễm virus viêm gan vịt typ I bằng đường nhỏ mũi hoặc tiêm, vào thời

điểm 14 - 24 giờ sau kiểm tra bằng kính hiển vi điện tử cho thấy: glucogen của gan giảm, trong tế bào có tiểu thể hình cầu đường kính 100 - 300nm Trong trường hợp vịt bị bệnh ở thể cấp tính, 24 giờ sau khi nhiễm virus, tế bào gan thoái hoá, hoại tử, trong tế bào có các tiểu phần virus (Adamiker, 1969)[24] Theo Adamiker, 1970 [25], sau khi gây nhiễm virus tế bào lách

Trang 9

bị biến đổi sau 6 giờ, bị hoại tử sau 24 giờ, thoái hoá nhân, tương bào, không tìm thấy tiểu thể virus, có những biến đổi nhẹ trong cơ (Woolcock và Fabricant, 1997)[69]

Không tìm thấy thể bao hàm trong tế bào gan vịt bệnh, đây là một đặc

điểm khác biệt đối với bệnh dịch tả vịt

Vịt bị nhiễm virus viêm gan vịt typ II bệnh tích vi thể đặc trưng ở gan: các tế bào gan hoại tử lan tràn, tế bào ống mật tăng sinh trên một phạm vi rộng

2.1.5 Chỉ tiêu phi lâm sàng

Vịt bị nhiễm virus viêm gan vịt typ I cho hàm lượng protein tổng số giảm, albumin giảm, men glutamat - pyruvat - transaminase (GPT) tăng, bilirubin tăng Hàm lượng GPT, GOT tăng có liên quan đến quá trình nhiễm bệnh, nghiên cứu vấn đề này, Mennella và Mandelli, 1977[54] cho biết, vịt trời bị nhiễm bệnh, mặc dù triệu chứng bệnh không biểu hiện rõ nhưng hàm lượng men GPT, GOT của gan có thay đổi

2.1.6 Chẩn đoán bệnh viêm gan vịt do virus

Chẩn đoán bệnh viêm gan vịt do virus có các kỹ thuật sau:

* Dựa vào triệu chứng, bệnh tích đại thể của bệnh

Trang 10

- Nuôi cấy virus viêm gan vịt typ I:

+ Dùng vịt 1 - 7 ngày tuổi, tiêm hỗn dịch bệnh phẩm vào dưới da hoặc tiêm bắp Sau khi tiêm 18 - 48 giờ, thường dưới 24 giờ vịt chết, vịt có biểu hiện triệu chứng, bệnh tích đặc trưng của virus typ I

+ Dùng phôi vịt 10 - 14 ngày tuổi hoặc phôi gà 8 - 10 ngày tuổi, tiêm hỗn dịch bệnh phẩm vào xoang niệu mô Sau khi tiêm, virus giết chết phôi vịt trong khoảng 24 - 72 giờ, phôi gà 5 - 8 ngày

Phôi có bệnh tích: còi cọc, xuất huyết dưới da, phù phôi, gan sưng, đỏ hoặc hơi vàng

+ Dùng môi trường tế bào gan phôi vịt: Sau khi cấy hỗn dịch bệnh phẩm, virus gây huỷ hoại tế bào: tế bào co tròn, hoại tử, tạo plaques đường kính gần bằng 1mm

- Nuôi cấy virus viêm gan vịt typ II

+ Dùng vịt 1 - 7 ngày tuổi, tiêm hỗn dịch bệnh phẩm vào dưới da hoặc tiêm bắp Sau khi tiêm 2 - 4 ngày vịt mới chết Tỷ lệ chết chỉ đạt 20% Điều này khác hẳn so với typ I

+ Dùng phôi vịt 10 - 14 ngày tuổi, gây nhiễm virus qua xoang niệu mô Trên môi trường này, virus nhân lên hạn chế, sau 6 - 10 ngày mới phát hiện được sự nhiễm virus của phôi: phôi còi cọc, hoại tử, gan có màu xanh + Virus viêm gan vịt typ II không nhân lên được trên môi trường tế bào của vịt, gà

- Nuôi cấy virus viêm gan vịt typ III

+ Dùng vịt 1 - 7 ngày tuổi, tiêm hỗn dịch bệnh phẩm vào bắp thịt, 24 giờ sau khi tiêm vịt không chết, sau 2 - 4 ngày vịt chết, tỷ lệ chết thấp chỉ đạt 20% + Dùng phôi vịt 10 ngày tuổi, tiêm hỗn dịch bệnh phẩm vào màng nhung niệu, virus nhân lên yếu Sau khi tiêm 7 - 10 ngày phôi mới chết,

Trang 11

bệnh tích phôi: phôi còi cọc, phù phôi, xuất huyết dưới da, màng nhung niệu khô, dầy, gan, thận, lách sưng to

Virus viêm gan vịt typ III không nhân lên trên phôi gà Nuôi cấy virus trên môi trường tế bào không thành công nhưng có thể phát hiện virus trong

tế bào gan phôi vịt, thận phôi vịt bị nhiễm virus bằng phản ứng miễn dịch huỳnh quang trực tiếp

* Chẩn đoán huyết thanh học:

Ngay từ khi virus được phát hiện, người ta đã dùng phản ứng trung hoà virus với mục đích: định typ virus, đánh giá phản ứng miễn dịch của cơ thể

đối với vacxin và dùng trong điều tra dịch tễ

- Phản ứng trung hoà được sử dụng để định typ viêm gan vịt typ I, (Woolcock, 1998)[68]: dùng vịt con 1-7 ngày tuổi, mỗi con tiêm 1-2ml huyết thanh miễn dịch hoặc kháng thể đặc hiệu chế từ lòng đỏ vào dưới da Sau 24 giờ tiến hành tiêm virus cường độc với liều 103LD50 Kết quả 80-100% vịt đối chứng chết, 80-100% vịt thí nghiệm sống sót

- Dùng phản ứng bảo hộ chéo để phân biệt virus viêm gan vịt typ I, typ

II và typ III: tiêm huyết thanh miễn dịch viêm gan vịt typ I, typ II cho vịt 2 -

4 ngày tuổi Sau 3 ngày tiến hành công cường độc virus phân lập được (Gough, 1985)[40]

* Chẩn đoán phân biệt:

Trong chẩn đoán bệnh viêm gan do virus của vịt cần phân biệt với một

số bệnh khác:

Chẩn đoán phân biệt với bệnh Dịch tả vịt (Duck plague):

Bệnh dịch tả vịt xảy ra ở vịt mọi lứa tuổi Vịt có triệu chứng sưng đầu,

đau mắt, liệt cánh, liệt chân, tiêu chảy phân xanh, tốc độ vịt chết chậm hơn, vịt có bệnh tích viêm kết mạc mắt, xuất huyết dưới da, loét đường tiêu hoá như: niêm mạc dạ dày, ruột Virus dịch tả vịt rất mẫn cảm với chloroform

Trang 12

và có thể tìm thấy thể bao hàm trong chẩn đoán tổ chức học

• Chẩn đoán phân biệt với bệnh Salmonellosis ở vịt:

Bệnh xảy ra ở cả vịt con, vịt giống Vịt con ỉa chảy, phân trắng, gan có

điểm hoại tử Vịt giống bị viêm buồng trứng, trứng non teo, dị hình, vịt giảm đẻ, vỏ trứng mỏng, dễ vỡ Vịt con chưa tiêu hết lòng đỏ; gan, thận, lách sưng, xung huyết Bệnh có thể chữa khỏi bằng kháng sinh (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978)[20] Trong phòng thí nghiệm, vi khuẩn dễ dàng phân lập được bằng một số môi trường thông thường: môi trường thạch máu, thạch thường

• Chẩn đoán phân biệt với bệnh nhiễm độc Aflatoxin (Aflatoxicosis)

Bệnh có triệu chứng gần giống bệnh viêm gan vịt, biểu hiện bệnh tích

là gan sưng, có màu nhợt nhạt; thận và lách xuất huyết, bao tim và xoang bụng tích nước Vịt chết nhanh ở mọi lứa tuổi, gan sưng, rắn, nhu mô gan

và thận bị phá huỷ nghiêm trọng nhưng không có tế bào viêm Không có sự lây lan bệnh sang các đàn vịt khác khi không dùng cùng một loại thức ăn

2.2 Virus viêm gan vịt (Duck Hepatitis virus = DHV)

Bệnh viêm gan vịt do 3 loại virus gây nên: virus viêm gan vịt typ I, virus viêm gan vịt typ II và virus viêm gan vịt typ III

2.2.1 Virus viêm gan vịt typ I

Hình thái

Virus viêm gan vịt typ I do Levine và Fabricant phân lập vào năm

1950 là một Enterovirus, nằm trong họ Picornaviridae, loại ARN, kích thước 20 - 40nm (Richter, 1964)[60], không có vỏ bọc ngoài, có 32 capxome

Đặc tính sinh học của virus

Virus không có khả năng gây ngưng kết hồng cầu của gà, vịt, cừu,

Trang 13

ngựa, chuột lang, thỏ, lợn virus không ngưng kết hồng cầu khỉ khi thí nghiệm ở pH: 6,8 - 7,4, nhiệt độ 40C; 240C; 370C

có 5% phenol virus bị vô hoạt hoàn toàn (Haider, 1980)[42]

Khi xét ảnh hưởng bởi yếu tố nhiệt độ, các tác giả cho biết phần lớn virus bị vô hoạt ở nhiệt độ 560C trong 30 phút Trong tự nhiên khi điều kiện

vệ sinh kém virus có thể tồn tại được 10 tuần Trong phân ẩm virus sống

được 37 ngày ở nhiệt độ 40C virus tồn tại được 2 năm, nhiệt độ âm 200C

được 9 năm

• Biến dị của virus:

Trong tự nhiên kháng nguyên của virus viêm gan vịt typ I không ổn

định, dễ bị biến dị (Rao, 1967)[58]; (Sahalaby, 1978)[63] Người ta đã phân lập được các typ virus biến dị ở ấn Độ, Ai Cập và chứng minh sự biến dị của virus typ I bằng phản ứng huyết thanh học Sandhu, 1988[62] cho biết vịt được miễn dịch với typ I không đủ bảo hộ khi công cường độc bằng chủng virus biến dị

• Đặc tính nuôi cấy:

Virus là loại ký sinh nội bào tuyệt đối (Nguyễn Đường, 1990)[13], có thể cấy chuyển virus viêm gan vịt trên động vật cảm thụ, trên phôi trứng và trên môi trường tế bào

- Nuôi cấy trên động vật cảm thụ

Virus viêm gan vịt có khả năng nhân lên trên vịt con, nhất là vịt con

Trang 14

nhỏ hơn 7 ngày tuổi Các loài động vật khác như: thỏ, chuột lang, chuột bạch, chó virus không có khả năng nhân lên

Dùng hỗn dịch chứa virus viêm gan vịt typ I đưa vào cơ thể vịt con 1 -

7 ngày tuổi bằng phương pháp: tiêm dưới da, tiêm bắp hoặc cho uống Trong vòng 18 - 48 giờ sau khi gây nhiễm, thường dưới 24 giờ vịt thí nghiệm có biểu hiện triệu chứng đặc trưng của bệnh, vịt chết, mổ khám có bệnh tích: gan sưng, xuất huyết lốm đốm trên gan, túi mật sưng, lách sưng

- Nuôi cấy trên phôi trứng

Virus viêm gan vịt có khả năng nhân lên trên phôi vịt và phôi gà

Trên phôi vịt: tiêm virus viêm gan vịt vào xoang niệu mô của phôi vịt

10 - 14 ngày tuổi, 24 - 72 giờ sau khi gây nhiễm phôi chết với bệnh tích: phôi còi cọc, xuất huyết dưới da đặc biệt ở vùng đầu, bụng, chân, phôi phù, gan sưng có màu đỏ hoặc hơi vàng, có thể có điểm hoại tử ở những phôi chết muộn nước xoang niệu mô có màu xanh nhạt, bệnh tích rõ hơn Trên phôi gà: Tiêm virus viêm gan vịt vào xoang niệu mô của phôi gà 8

- 10 ngày tuổi ở lần cấy chuyển virus đầu tiên, sau khi gây nhiễm 5 - 6 ngày, cho tỷ lệ phôi chết 10 - 60%, phôi có bệnh tích còi cọc, phù phôi, xuất huyết dưới da (Levine và Fabricant, 1950)[50] ở lần cấy chuyển thứ 20 - 26, virus không còn khả năng gây bệnh cho vịt con mới nở, khi chuẩn độ virus

đạt 1 - 3log10, lượng virus này thấp hơn khi cấy chuyển qua phôi vịt ở lần cấy chuyển thứ 63 cho tỷ lệ phôi chết 100% Theo Toth (1969)[64] sau 80 lần cấy truyền qua phôi gà cho hiệu giá virus là cao nhất, vào thời điểm 53 giờ sau khi gây nhiễm phôi, lượng virus có ở màng nhung niệu là 105,79, ở dịch niệu mô là 103,62 lượng virus có hiệu giá cao ở lúc 53-69 giờ sau khi nuôi cấy Một số trường hợp, khi nuôi cấy virus trên phôi gà, vào thời điểm

48 giờ sau nuôi cấy hiệu giá virus trên phôi đạt 108; thời gian này kéo dài 6 -

24 giờ sau (Mason, 1972)[53]

Trang 15

Trên phôi ngỗng, virus viêm gan vịt cũng có khả năng nhân lên Sau khi cấy virus vào xoang niệu mô, 2 - 3 ngày sau phôi chết

- Nuôi cấy trên môi trường tế bào

Virus typ I có khả năng nhân lên trên nhiều loại tế bào: tế bào xơ phôi vịt, xơ phôi gà, thận phôi vịt, thận phôi gà, gan phôi vịt, thận phôi ngỗng (Hwang, 1966[47])

Trên môi trường nuôi cấy có thể quan sát sự huỷ hoại tế bào của virus sau 8 giờ gây nhiễm, đạt cực đại sau 2 - 4 ngày, sự huỷ hoại tế bào được biểu hiện dưới dạng những cụm tế bào co tròn (Maiboroda, 1972)[51]

Môi trường tế bào thận phôi vịt được sử dụng để làm phản ứng trung hoà, phản ứng tạo plaques với virus nhược độc viêm gan vịt (Woolcock, 1982)[66]

2.2.2 Virus viêm gan vịt typ II

Virus viêm gan vịt typ II được Asplin xác định năm 1965[28], đây là một Astrovirus có tính kháng nguyên khác với Astrovirus của gà, gà tây Virus có đường kính 28 - 30nm khi quan sát bằng kính hiển vi điện tử (Gough, 1984)[39]

ở vịt bị nhiễm virus viêm gan vịt typ II, triệu chứng, bệnh tích giống như khi nhiễm virus viêm gan vịt typ I

Nghiên cứu quá trình nuôi cấy cho thấy virus có thể nhân lên trên phôi vịt, khi gây nhiễm virus vào xoang niệu mô hay túi lòng đỏ Trên môi trường này virus nhân lên yếu hơn so với virus viêm gan vịt typ I, cụ thể: 6 -

10 ngày sau khi gây nhiễm mới phát hiện được sự nhiễm virus của phôi, phôi còi cọc, hoại tử gan

Trên phôi gà, sau nhiều lần cấy truyền mù qua xoang niệu mô, virus mới gây chết một số phôi ở thời điểm 7 ngày sau khi gây nhiễm Những phôi chết có biểu hiện còi cọc, gan có hoại tử màu xanh

Trang 16

Trên môi trường nuôi cấy tế bào, virus không có khả năng nhân lên trên các loại tế bào của phôi gà, vịt

Virus viêm gan vịt typ II mất khả năng gây nhiễm ở nhiệt độ 500C trong 60 phút

2.2.3 Virus viêm gan vịt typ III

Virus viêm gan vịt typ III được Toth phát hiện vào năm 1969 ở Mỹ[64], năm 1979 virus được Haider và Calnek đặt tên[41] Virus là một picornavirus, có tính kháng nguyên không quan hệ với virus viêm gan vịt typ I, quan sát dưới kính hiển vi điện tử trên tế bào thận vịt nhiễm virus cho thấy: virus là loại ARN có đường kính 30nm trong tế bào chất

Nghiên cứu quá trình nuôi cấy của virus cho thấy:

Trên phôi vịt 9 - 10 ngày tuổi, sau khi gây nhiễm virus qua màng nhung niệu, 8 - 9 ngày sau mới có phôi chết, tỷ lệ phôi chết ở mức độ thấp Nếu cấy truyền virus nhiều lần qua phôi vịt, thời gian phôi chết sẽ sớm hơn Quan sát bệnh tích trên phôi cho thấy: màng nhung niệu biến màu, dầy gấp

10 lần so với bình thường, phôi có bệnh tích còi cọc, phù, xuất huyết dưới

da, gan, thận lách sưng

Trên phôi gà, virus viêm gan vịt typ III không có khả năng nhân lên ở môi trường tế bào thận, gan của phôi vịt hay của vịt con, virus có khả năng nhân lên, có thể dùng môi trường này để xác định virus

2.3 miễn dịch chống virus viêm gan vịt

Miễn dịch là khả năng nhận ra và loại các vật lạ ra khỏi cơ thể (Vũ Triệu An, 1997)[1], (Đặng Đức Trạch 1984)[22], để có được khả năng này, cơ thể phải nhờ đến hệ thống miễn dịch

Trong quá trình tiến hóa liên tục, đấu tranh sinh tồn chống lại các vi sinh vật gây bệnh, cũng như mọi động vật khác, gia cầm đã trang bị cho mình

Trang 17

một hệ thống bảo vệ quan trọng đó là hệ miễn dịch

Hệ miễn dịch của cơ thể gia cầm bao gồm các cơ quan và các tế bào tham gia trong cơ chế đáp ứng miễn dịch Khi một kháng nguyên xâm nhâp vào cơ thể, cơ thể bảo vệ mình trước hết bằng cơ chế đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu, tham gia vào cơ chế này có vai trò của da, niêm mạc, dịch tiết của các tuyến, đặc biệt là vai trò của các tế bào làm nhiệm vụ thực bào Sau đó cơ thể bảo vệ mình bằng cơ chế đáp ứng miễn dịch đặc hiệu với sự hoạt động của các cơ quan, tế bào có thẩm quyền miễn dịch, tạo ra kháng thể đặc hiệu để loại trừ kháng nguyên (Đỗ Trung Phấn, 1979)[19]

Cũng như nhiều bệnh truyền nhiễm khác miễn dịch chống bệnh viêm gan do virus của vịt gồm nhiều loại, ở đây xin đề cập đến miễn dịch tiếp thu chủ động và miễn dịch tiếp thu bị động

Miễn dịch bị động

ở gia cầm non, hệ thống miễn dịch chưa phát triển hoàn thiện, vì vậy ngay từ lúc sơ sinh, cơ thể của chúng hoàn toàn không có khả năng chống lại tác nhân gây bệnh một cách chủ động và đặc hiệu (Melekhin, 1989)[18] Trạng thái miễn dịch đặc hiệu có thể có được khi cơ thể gia cầm mẹ có miễn dịch và truyền kháng thể đặc hiệu cho con non qua lòng đỏ trứng Trong bệnh viêm gan vịt, miễn dịch bị động ở vịt con nhận được từ mẹ

được nhiều tác giả nghiên cứu Asplin 1958[26] dùng virus viêm gan vịt typ

I nhược độc qua phôi gà, tiêm bắp cho vịt giống vào thời điểm 2 - 4 tuần trước khi lấy trứng đem ấp đã tạo được miễn dịch thụ động cho vịt con Reuss 1959[59], đã cho biết: tiêm nhắc lại vacxin cho vịt mẹ sẽ tạo được kháng thể thụ động cho đàn vịt con Rispens, 1969[61] khuyến cáo người chăn nuôi nên tiêm cho đàn vịt giống 2 liều vacxin cách nhau ít nhất 6 tuần Vịt mẹ sẽ có khả năng truyền kháng thể thụ động cho vịt con trong khoảng thời gian 9 tháng sau lần tiêm vacxin thứ hai

Theo Hwang 1973[48], dùng 2 - 3 lần vacxin nhược độc cho đàn vịt

Trang 18

giống sẽ tạo được miễn dịch thụ động đủ bảo hộ cho vịt con Bezukavaya 1978[31] đã dùng virus viêm gan vịt nhược độc qua phôi vịt tiêm cho vịt giống, đã tạo được miễn dịch thụ động cho vịt con

Golubnichi, 1984[37] cho biết: hàm lượng kháng thể ở vịt mẹ phải đạt hiệu giá 1/64 trong phản ứng ngưng kết hồng cầu thụ động hoặc 1/32 trong phản ứng trung hòa mới có thể bảo hộ cho vịt con với bệnh

Theo OIE, 2000[55] nếu dùng vacxin viêm gan vịt nhược độc typ I: 2 -

3 lần vào các thời điểm 12 - 8 - 4 tuần trước khi đẻ sẽ tạo được miễn dịch thụ động cho vịt con trong suốt chu kỳ đẻ trứng Vịt giống được tạo miễn dịch cơ sở bằng vacxin nhược độc typ I, sau đó tiêm bắp vacxin vô hoạt sẽ tạo được miễn dịch thụ động cho vịt con (Woolcock, 1991)[67] ở vịt con hàm lượng kháng thể thụ động giảm dần trong 2 tuần đầu (Tripathy, 1986)[65]

Miễn dịch thụ động ở vịt con với bệnh viêm gan vịt còn được tạo ra bằng cách dùng huyết thanh miễn dịch của vịt khỏi bệnh hoặc kháng thể từ lòng đỏ tiêm cho vịt con Rispens, 1969[69] cho biết có thể tạo miễn dịch thụ động cho vịt con bằng cách tiêm kháng thể thụ động chế từ lòng đỏ trứng của vịt đã được gây miễn dịch Quy trình này sau được cải tiến dùng virus cường độc viêm gan vịt typ I gây miễn dịch cho gà thu trứng, chế kháng thể từ lòng đỏ (OIE, 2000)[55]

ở khu vực có mặt virus viêm gan vịt typ I, typ III để tạo miễn dịch thụ

động cho vịt con nên dùng vacxin nhược độc viêm gan vịt typ I hai đến ba lần vào các thời điểm 12 - 8 - 4 tuần trước khi vịt đẻ và dùng vacxin viêm gan vịt nhược độc typ III hai lần vào thời điểm 12 - 4 tuần trước khi đẻ sẽ tạo được miễn dịch thụ động cho vịt con với virus viêm gan vịt typ I, III Với vacxin viêm gan vịt typ II, chưa một tài liệu nào nói về sử dụng vacxin cho đàn vịt giống đạt hiệu quả

Trang 19

Miễn dịch chủ động

Trong bệnh viêm gan vịt, những vịt sống sót đều có miễn dịch chắc chắn với virus của typ gây bệnh Asplin 1970[29] cho biết vịt được dùng vacxin có thể tạo được miễn dịch chủ động chống lại bệnh

Để tạo miễn dịch chủ động cho đàn vịt, người ta sử dụng các loại vacxin nhược độc và vacxin vô hoạt Vacxin sau khi vào cơ thể, được đưa

đến các cơ quan miễn dịch như: hạch, lách, tổ chức lympho dưới niêm mạc, kích thích cơ thể sinh ra kháng thể đặc hiệu Trong đó kháng thể dịch thể

đóng vai trò quan trọng Theo Asplin 1961[27] trong huyết thanh của vịt khỏi bệnh có kháng thể trung hòa Davis 1987[33] cho biết ở vịt 2 ngày tuổi kháng thể trung hòa xuất hiện 4 ngày sau khi tiêm vacxin nhược độc viêm gan vịt typ I Malinovskaya 1982[52] bằng phản ứng ngưng kết hồng cầu thụ động khi nghiên cứu đáp ứng miễn dịch với virus viêm gan vịt typ I của vịt giống và vịt con 7 ngày tuổi, cho biết: trong kháng thể dịch thể, kháng thể 7S nhiều hơn kháng thể 19S (7S thì mẫn cảm với Cystein, 19S kháng Cystein)

Theo Gough and Spackman 1981[38] có thể tạo được miễn dịch ở vịt con sau khi dùng cho đàn vịt giống 3 lần vacxin vô hoạt nhũ dầu

Một số phương pháp đánh giá đáp ứng miễn dịch

Mức độ miễn dịch của vịt với các typ virus gây bệnh viêm gan có thể

được đánh giá bằng phương pháp công cường độc và huyết thanh học : kháng thể bảo hộ cho đàn vịt với virus viêm gan vịt là kháng thể trung hòa

Có thể dùng phản ứng trung hòa để kiểm tra mức độ miễn dịch của vịt sau khi dùng vacxin hoặc sau khi vịt khỏi bệnh (OIE, 2000)[55]

Phương pháp công cường độc được sử dụng với mục đích xác định mức độ đáp ứng miễn dịch của đàn vịt sau khi tiêm vacxin, phương pháp cho kết quả chính xác, để đánh giá tính gây miễn dịch của vacxin viêm gan vịt typ I, typ II có thể tiến hành: Tiêm vacxin vào dưới da cho vịt, với liều

Trang 20

103,3 ELD50, 72 giờ sau dùng virus cường độc tiêm cho vịt liều 103LD50 Vacxin viêm gan vịt typ I có hiệu quả khi ít nhất 80% vịt tiêm vacxin sống sót, 80% vịt đối chứng chết Vacxin typ II có 20% vịt đối chứng biểu hiện bệnh

2.4 vacxin phòng bệnh và vấn đề phòng chống bệnh 2.4.1 Vacxin phòng bệnh viêm gan do virus ở vịt

Bệnh viêm gan do virus ở vịt là bệnh truyền nhiễm, do 3 typ virus viêm gan vịt khác nhau gây ra Cho đến nay virus viêm gan vịt typ I có ở khắp nơi trên thế giới, typ II có ở Anh, typ III có ở Mỹ, gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi vịt Biện pháp quan trọng nhất để khống chế, thanh toán dịch bệnh là dùng vacxin tạo miễn dịch cho đàn vịt

Vacxin phòng bệnh viêm gan vịt có 2 loại: vacxin nhược độc và vacxin vô hoạt

Vacxin nhược độc

Virus cường độc dưới tác động của các yếu tố sinh học: tiêm truyền nhiều lần qua động vật ít cảm thụ, qua phôi, độc lực của virus giảm đi, virus vẫn có khả năng nhân lên trong cơ thể vật chủ nhưng không gây bệnh Virus này được dùng làm vacxin

Nghiên cứu virus viêm gan vịt: Asplin, 1958[26]; Reuss, 1959[59] cho biết virus viêm gan vịt cường độc sau khi truyền đời qua phôi gà, khả năng gây bệnh cho vịt con giảm

Theo Hwang, 1965[45]: các chủng virus viêm gan vịt cường độc sau khi đã cấy truyền qua phôi gà không còn khả năng gây bệnh cho vịt con nhưng virus vẫn nhân lên trong tế bào các mô, so với chủng virus viêm gan vịt cường độc thì mức độ nhân lên của virus này là thấp hơn

Trên cơ sở nghiên cứu này nhiều chủng virus viêm gan vịt nhược độc

Trang 21

ra đời bằng phương pháp giảm độc trên phôi: Asplin tạo ra chủng TN sau khi đã giảm độc virus qua cấy truyền trên phôi gà (Asplin, 1958)[26] Theo Asplin, virus viêm gan vịt giảm độc sau khi cấy chuyển trên phôi gà từ đời thứ 23 Hwang và Dougherty (1964)[44] thấy ở đời 26 và Reuss thấy sau 55

đời virus mới giảm độc lực

Hiện nay vacxin viêm gan vịt nhược độc typ I loại dùng chủ yếu ở châu Âu được giảm độc sau 53 - 55 lần truyền đời qua phôi gà, ở Mỹ loại giảm độc sau 84 - 89 lần cấy truyền Vacxin nhược độc viêm gan vịt typ I

được sản xuất trên phôi gà 8 - 10 ngày tuổi, vị trí tiêm xoang niệu mô, nuôi cấy ở nhiệt độ 370C Sau khi tiêm phần lớn phôi chết trong vòng 2 - 3 ngày với bệnh tích gây ra trên phôi: phôi còi cọc, phù phôi, xuất huyết trên da, gan sưng, xuất huyết Sau 3 - 5 ngày thu vacxin, thời điểm này lượng virus

đạt số lượng cao nhất Phôi chết trước thời điểm 24 giờ loại bỏ Vacxin bảo quản ở nhiệt độ âm 700C trong vài năm

- Vacxin viêm gan vịt nhược độc typ II được giảm độc khi cấy truyền qua phôi gà 25 lần Quy trình sản xuất vacxin giống virus nhược độc viêm gan vịt typ I, loại vacxin này không dùng trong sản xuất chỉ sử dụng cho vịt con trong điều kiện phòng thí nghiệm

- Vacxin viêm gan vịt nhược độc typ III được giảm độc khi cấy truyền

30 lần trên màng nhung niệu của phôi vịt Vacxin được sản xuất trên phôi vịt 10 ngày tuổi, vị trí tiêm màng nhung niệu, nuôi cấy ở nhiệt độ 370C Sau khi tiêm phôi chết trong vòng 6 - 10 ngày với bệnh tích của virus gây ra trên phôi Thu nước và màng nhung niệu, bảo quản ở nhiệt độ âm 700C trong vài năm

Nghiên cứu đường đưa vacxin vào cơ thể: Asplin 1961[27]; Balla 1984[30] cho biết: phương pháp cho uống, tiêm dưới da, tiêm bắp với vacxin nhược độc viêm gan vịt typ I đều tạo được miễn dịch tốt

Theo OIE, 2000[55], đưa vacxin nhược độc viêm gan vịt typ II bằng

Trang 22

đường cho uống, tiêm dưới da, tiêm bắp, virus viêm gan vịt typ III bằng

đường tiêm dưới da sẽ tạo được đáp ứng miễn dịch cao cho đàn vịt

Vacxin viêm gan vịt được giảm độc trên phôi khi sử dụng cho vịt rất

an toàn, độc lực của chủng virus vacxin ổn định và không trở lại độc lực với vịt mẫn cảm

Nghiên cứu hiệu lực của vacxin viêm gan vịt nhược độc trên phôi, các tác giả cho biết vacxin có khả năng tạo miễn dịch tốt Vịt con mới nở được tiêm vacxin viêm gan vịt typ I, sau 48 - 72 giờ có miễn dịch, miễn dịch kéo dài trong suốt thời gian vịt mẫn cảm với bệnh (Crighton, 1978)[32]

Chưa có tài liệu bào nói về dùng vacxin viêm gan vịt nhược độc typ III cho vịt con 1 ngày tuổi

Vacxin viêm gan vịt nhược độc có khả năng tạo miễn dịch cao cho đàn vịt khi sử dụng phương pháp tiêm nhắc lại Theo Reuss, 1959 [59], OIE,

2000 [55]: muốn tạo được miễn dịch cao cho đàn vịt giống để truyền kháng thể bị động cho vịt con phải tiêm vacxin nhắc lại Với vacxin typ I tiêm 2 -

3 lần vào các thời điểm 12 - 18 - 4 tuần trước khi đẻ Sau khi đẻ 3 tháng 1 lần tiêm nhắc lại Với vacxin typ III tiêm 2 lần vào các thời điểm 12 - 4 tuần trước khi đẻ, sau khi đẻ 6 tháng 1 lần tiêm nhắc lại

Sử dụng vacxin viêm gan vịt nhược độc kết hợp với vacxin vô hoạt cũng tạo được miễn dịch cao ở đàn vịt giống: sử dụng vacxin viêm gan vịt nhược độc typ I, sau đó tiêm bắp 1 lần vacxin vô hoạt cho vịt sẽ tạo được miễn dịch thụ động tốt ở đàn vịt con trong suốt chu kỳ đẻ trứng

Vacxin vô hoạt

Trong quá trình nghiên cứu vacxin phòng bệnh viêm gan vịt, ngoài vacxin nhược độc còn có vacxin vô hoạt Theo Woolcock 1991[67], vacxin viêm gan vịt vô hoạt được sản xuất từ virus viêm gan vịt typ I, virus được nuôi cấy trên phôi gà, thu hoạch dịch phôi, vô hoạt virus bằng BEI (Binary Ethylenimine), dùng bổ trợ dạng nhũ dầu LES - STM (Lipid Emulsion

Trang 23

System - Salmonella typhimurium) và có lympho B phân bào

Bảo quản ở 40C trong thời gian 20 tháng vẫn giữ được hiệu lực của vacxin

Nghiên cứu hiệu lực của vacxin viêm gan vịt vô hoạt, các tác giả đều cho biết vacxin có khả năng tạo miễn dịch cao cho đàn vịt Theo Gough 1981[38], vacxin vô hoạt chế từ virus nuôi cấy trên phôi gà Sử dụng 3 lần vacxin viêm gan vịt typ I vô hoạt nhũ dầu cho đàn vịt giống sẽ tạo được miễn dịch thụ động cho đàn vịt con Theo tác giả dùng vacxin viêm gan vịt nhược độc cho vịt lúc 2 - 3 ngày tuổi vào thời điểm 22 tuần tuổi tiêm lại bằng vacxin vô họat sẽ tạo được lượng kháng thể trung hòa cao hơn khi sử dụng 3 lần vacxin vô hoạt

2.4.2 Vấn đề phòng và chống bệnh

bệnh bằng vệ sinh kết hợp sử dụng vacxin

Phòng bệnh bằng vệ sinh thú y trước hết phải áp dụng biện pháp vệ sinh thú y với các cơ sở chăn nuôi vịt Cách ly nghiêm ngặt đối với vịt con, nhất là trong 4-5 tuần đầu Nhiều tác giả nghiên cứu đã cho thấy tính khả thi của việc thanh toán bệnh ở những khu vực đã được lựa chọn thí nghiệm Những nơi này đã thành công trong việc cách ly để bảo vệ đàn vịt con với bệnh, bên cạnh công tác vệ sinh phòng bệnh phải dùng vacxin cho đàn vịt

Sử dụng vacxin viêm gan vịt để phòng bệnh nhằm mục đích tạo cho vịt con ở lứa tuổi cảm thụ với bệnh có miễn dịch và đề kháng được với bệnh Phương pháp tạo miễn dịch cho vịt con có nhiều cách:

Theo Crighton 1978[32], với trường hợp vịt con mới nở, khi tiêm vacxin nhược độc typ I, sau 48-72 giờ vịt có miễn dịch, miễn dịch kéo dài suốt giai đoạn mẫn cảm với bệnh

Trang 24

Vịt con của đàn vịt giống không có miễn dịch với bệnh viêm gan vịt có thể dùng vacxin viêm gan vịt nhược độc typ I lúc 1 ngày tuổi bằng đường cho uống hoặc tiêm dưới da để gây miễn dịch Vịt con nở từ đàn mẹ có miễn dịch, kháng thể thụ động giảm dần trong 2 tuần đầu, nên dùng vacxin nhược độc typ I cho vịt vào thời điểm 7 - 10 ngày tuổi (Tripathy, 1986)[65]

Để tạo miễn dịch cho đàn vịt con với bệnh viêm gan vịt, ngoài việc sử dụng vacxin, còn có thể dùng kháng thể viêm gan vịt chế từ lòng đỏ trứng Vịt con mẫn cảm với virus viêm gan vịt typ I có thể được phòng bệnh bằng cách tiêm kháng thể viêm gan vịt typ I chế từ lòng đỏ trứng gà Tuy nhiên miễn dịch này cho thời gian miễn dịch với bệnh ngắn (OIE 2000)[55]

Vịt con còn có khả năng miễn dịch được với bệnh khi chúng nhận

được kháng thể đặc hiệu từ mẹ truyền sang qua lòng đỏ trứng

Theo OIE, 2000[55] vịt giống được dùng vacxin viêm gan vịt typ I vào các thời điểm 12-8-4 tuần trước khi đẻ sẽ tạo được miễn dịch thụ động cho

đàn con trong mùa giống

Theo Rispens, 1969[61] nên tiêm hai lần vacxin cho đàn vịt giống cách nhau ít nhất 6 tuần, sẽ tạo được kháng thể thụ động cho vịt con khoảng

9 tháng sau lần tiêm thứ 2

Theo Gough và Spackman, 1981[38] có thể tạo được miễn dịch cao cho đàn vịt con nếu sử dụng 3 lần vacxin vô hoạt nhũ dầu cho vịt mẹ Các tác giả còn cho biết: dùng vacxin nhược độc typ I tiêm cho vịt con lúc 2-3 ngày tuổi, đến 22 tuần sau tiêm nhắc lại bằng vacxin vô hoạt sẽ tạo được lượng kháng thể trung hoà cao hơn khi sử dụng 3 lần vacxin vô hoạt

Golubnichi, 1984[37] cho biết mức kháng thể trung hoà ở vịt mẹ phải

đạt hiệu giá 1/32 mới có thể tạo cho đàn con bảo hộ được với bệnh

* Điều trị và khống chế bệnh: đối vớibệnh viêm gan do virus của vịt,

để làm giảm thiệt hại do bệnh gây ra, có thể tiến hành một số biện pháp sau:

Trang 25

- Phát hiện bệnh sớm, can thiệp bằng cách tiêm huyết thanh miễn dịch hay kháng thể viêm gan vịt chế từ lòng đỏ cho vịt Bệnh do virus viêm gan vịt typ I gây ra, dùng huyết thanh miễn dịch của vịt khỏi bệnh typ I tiêm cho vịt con liều 0,5ml cho 1 con, hay dùng kháng thể viêm gan vịt typ I chế từ lòng

đỏ

- Tiêm thẳng vacxin vào ổ dịch

- Ngăn không cho mầm bệnh lây lan: không bán chạy vịt, không mua vịt ở nơi có dịch, xử lý xác chết, dụng cụ chăn nuôi

2.5 những nghiên cứu về bệnh viêm gan vịt và vacxin phòng bệnh ở việt nam

ở Việt Nam từ năm 1978, Trần Minh châu và cộng sự đã nghi có bệnh viêm gan do virus của vịt, nhưng vào thời điểm đó chưa phân lập được mầm bệnh (Trần Minh Châu, Lê Thu Hồng, 1985)[5]

Năm 1979-1983, bệnh xảy ra ở nhiều địa phương làm chết rất nhiều vịt con Theo các tác giả Lê Thanh Hoà, Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, 1984[14], ở Gia Lâm - Hà Nội bệnh viêm gan vịt do virus đã xảy ra làm chết hàng ngàn vịt con

Năm 1983, Trần Minh Châu và cộng sự đã phân lập được một chủng virus cường độc (chủng TT) tại một trại nuôi vịt ở Phú Xuyên - Hà Sơn Bình (cũ) Tác giả cho biết khi nuôi cấy trên phôi vịt 12 ngày tuổi, virus gây chết phôi 100%, thời gian chết phôi từ 48-96 giờ, phôi có bệnh tích xuất huyết (Trần Minh Châu, Lê thu Hồng, 1985)[5]

Nguyễn Văn Cảm, Nguyễn Thu Hà, Nguyễn Khánh Ly, 2001[4] cho biết từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2001 khi điều tra 20 ổ dịch tại các địa phương Hưng Yên, Hà Tây, Hà Nam, Hà Nội, Tuyên Quang đã cho kết luận

đó chính là bệnh viêm gan vịt do virus với tỷ lệ nhiễm trong đàn lên tới

Trang 26

100%, lứa tuổi mắc bệnh từ 1-21 ngày tuổi, tỷ lệ chết từ 48,57 - 90%

Theo Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu và cộng sự, 2001[23], gần

đây nhiều giống vịt, ngan cao sản nhập vào nước ta chưa thích nghi với điều kiện môi trường nên bệnh viêm gan vịt càng xảy ra nhiều hơn, đặc biệt ở các địa phương: Hà Tây, Hà Nam, Thái Bình và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long gây tổn thất rất lớn Các tác giả cũng cho biết: bệnh xảy ra ở tất cả các giống vịt, ngan Giống ngan Pháp bị nhiều nhất 31/104 đàn, sau đó là giống vịt siêu trứng Trung Quốc 18/104 đàn theo dõi

Theo thông báo của Cục Thú y (2002)[9] tại Nam Định xảy ra một ổ dịch viêm gan vịt do virus làm 10000 con bị bệnh trong đó chết và xử lý

7000 con

Nguyễn Đức Lưu, Vũ Như Quán, 2002[46] cho biết ở các tỉnh đồng bằng Nam Bộ, bệnh viêm gan vịt do virus xảy ra ở nhiều nơi, gây thiệt hại nặng nề nhưng đến nay vẫn chưa có thông báo chính thức

Những năm gần đây đã có những nghiên cứu sâu về bệnh viêm gan vịt

do virus Nhóm tác giả Nguyễn Văn Cảm và cộng sự (2001)[4] đã nghiên cứu biến đổi bệnh lý bệnh viêm gan vịt do virus nhằm đưa ra một phương pháp chẩn đoán nhanh và chính xác Các tác giả cho biết bệnh tích điển hình về đại thể: chủ yếu là gan viêm, xuất huyết, hoại tử chiếm tỷ lệ 79,66-100%, bệnh tích vi thể điển hình ở gan có tế bào viêm dạng đơn nhân, xuất huyết, hoại tử, tăng sinh ống mật với tỷ lệ 100%

Bùi thị Cúc, 2002[10] nghiên cứu biến đổi bệnh lý đại thể, vi thể và siêu vi thể bệnh viêm gan vịt do virus cho biết: bệnh tích siêu vi thể điển hình là màng nhân của tế bào gan bị thoái hoá và hoại tử; các glycogen trong tế bào gan bị phá huỷ, đồng thời xuất hiện các tiểu thể hình cầu có bán kính 100-300nm

Theo dõi đàn vị nuôi ở tỉnh Bắc Giang, Đào Văn Dưỡng, 2003[12] cho biết: bệnh viêm gan vịt thường xảy ra trên các đàn vịt nuôi ở huyện Việt

Trang 27

Yên, Yên Dũng, Tân Yên (86/534 đàn), lứa tuổi mắc bệnh cao nhất là 1-7 ngày tuổi, chiếm tỷ lệ 61,63%; tỷ lệ vịt chết cao 53,9-72%

Bệnh viêm gan vịt do virus gây tổn thất lớn cho người chăn nuôi vịt, Nhưng việc nghiên cứu về biện pháp phòng trị bệnh còn ít (Nguyễn Đức Lưu và cộng sự (2001)[15]

Năm 1983, Trần Minh Châu và cộng sự đã phân lập được chủng virus viêm gan vịt cường độc ở trại vịt Phú Xuyên - Hà Sơn Bình (chủng TT) Các tác giả làm giảm độc virus bằng cách cấy truyền 39 đời trên phôi gà và tạo

được chủng virus nhược độc (chủng VN) có lgELD50/0,2ml là 4-5 (Trần Minh Châu, Lê Thu Hồng, 1985)[5]

Năm 1985, các tác giả Trần Minh Châu, Lê Thị Nồng, Nguyễn Đức Tạo đã xây dựng quy trình sản xuất vacxin từ 3 chủng virus vacxin viêm gan vịt nhược độc: TN (Hungari), E52 (Pháp) và VN (Việt Nam) Các tác giả cho biết cả 3 chủng virus vacxin đều an toàn và có hiệu lực khi sử dụng Khi miễn dịch cho vịt con rồi thử thách với cường độc thì bảo hộ được 70-100% vịt con (Trần Minh Châu và cộng sự, 1985)[6]

Năm 1984 Lê Thanh Hoà, Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên[14] nghiên cứu đặc tính sinh học của virus vacxin viêm gan vịt nhược độc chủng TN của Asplin và ứng dụng quy trình sản xuất vacxin của Hungari vào điều kiện Việt Nam, các tác giả cho biết vacxin đạt chỉ tiêu an toàn và hiệu lực khi sử dụng

Tháng 8 năm 2001, công ty HANVET đã chế tạo chế phẩm kháng thể viêm gan vịt (Nguyễn Đức Lưu, Vũ Như Quán)[16]

Nhóm tác giả Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức lưu, Trần Thu Hiền, Nguyễn Khánh Ly (2001)[23] đã sử dụng kháng thể viêm gan vịt phòng trị bệnh cho vịt, ngan Các tác giả cho biết chế phẩm kháng thể viêm gan vịt khi sử dụng an toàn và cho hiệu quả cao khi phòng, trị bệnh

Trang 28

3 nội dung - nguyên liệu - phương pháp nghiên cứu

3.1 Nội dung nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các nội dung sau:

3.1.1 Nghiên cứu tình hình bệnh viêm gan vịt do virus ở một số tỉnh

- Kiểm tra chỉ tiêu vô trùng của vacxin

- Kiểm tra chỉ tiêu an toàn của vacxin

- Kiểm tra chỉ tiêu hiệu lực của vacxin

3.1.6 ứng dụng vacxin trong phòng bệnh và can thiệp khi có dịch

Trang 29

3.2 Nguyên liệu

3.2.1 Giống virus

- Chủng virus nhược độc viêm gan vịt DH - EG - 2000 do viện nghiên cứu vacxin Cairo - Ai Cập cung cấp Đây là virus vacxin thích ứng trên phôi gà được bảo quản ở -860C trong trạng thái đông khô

- Chủng virus cường độc viêm gan vịt phân lập từ các ổ dịch

3.2.2 Các loại môi trường

- Môi trường kiểm nghiệm: thạch thường, nước thịt, nước thịt gan yếm khí, thạch máu và môi trường Sabouraud

Để làm thí nghiệm chúng tôi sử dụng:

- Vịt con 5-7 ngày tuổi khoẻ mạnh nở từ trứng của đàn vịt bố mẹ khoẻ mạnh, chưa tiêm phòng vacxin viêm gan vịt

- Vịt con nuôi ở địa phương nghiên cứu

- Vịt con chết vì bệnh trong các ổ dịch để phân lập virus

3.2.5 Các trang thiết bị phòng thí nghiệm

Trang 30

+ Thu thập thông tin từ chủ hộ nuôi và thú y cơ sở

+ Theo dõi, xác định bệnh trực tiếp dựa vào dịch tễ, triệu chứng và bệnh tích của bệnh

+ Theo dõi kết quả phòng trị bệnh thông qua chủ nuôi và theo dõi trực tiếp

3.3.2 Phương pháp phân lập virus viêm gan vịt

* Xử lý bệnh phẩm

Lấy gan của vịt con bị mắc bệnh trong tự nhiên, có triệu chứng bệnh tích điển hình của bệnh viêm gan vịt do virus Đem nghiền gan với nước sinh lý thành huyễn dịch 1/5 làm đông tan 3 lần, xử lý kháng sinh (Penicillin và Streptomycin), để ở nhiệt độ 40C trong 2 giờ, ly tâm với tốc

độ 5000 vòng/phút trong 15 phút Lấy huyễn dịch ở trên xử lý bằng Clorofoc 5% trong 10 phút để diệt các virus khác không phải virus viêm gan vịt

Trang 31

* Phân lập virus viêm gan vịt trên phôi vịt

Thí nghiệm được bố trí làm 2 lần, mỗi lần dùng 45 phôi vịt 12 ngày tuổi khoẻ mạnh, chia làm 2 lô (30 phôi cho lô thí nghiệm, 15 phôi cho lô

đối chứng)

- Lô thí nghiệm: Mỗi phôi tiêm 0,2ml huyễn dịch bệnh phẩm vào xoang niệu mô Hàn vết tiêm bằng Parafin rồi đem ấp tiếp

- Lô đối chứng: Mỗi phôi tiêm 0,2ml nước sinh lý

Sau khi tiêm 20 giờ, soi kiểm tra ngày 3 lần, những phôi chết và sống

đều tiến hành mổ phôi, kiểm tra, quan sát bệnh tích đại thể Sự có mặt virus viêm gan vịt được đánh giá dựa vào sự nhân lên của virus trên phôi, virus gây chết phôi và bệnh tích đặc trưng trên phôi

* Phân lập virus viêm gan vịt trên vịt con

Thí nghiệm được bố trí 2 lần, mỗi lần dùng 40 vịt con 7 ngày tuổi, khoẻ mạnh, không nằm trong ổ dịch, chưa tiêm vacxin viêm gan vịt, kháng thể viêm gan vịt Chia làm 2 lô: 25 vịt cho lô thí nghiệm, 15 vịt cho lô đối chứng

- Lô thí nghiệm: mỗi vịt tiêm 0,5ml huyễn dịch bệnh phẩm, tiêm bắp

- Lô đối chứng: vịt không tiêm bệnh phẩm, tiêm 0,5ml nước sinh lý Sau khi tiêm, theo dõi vịt trong thời gian 10 ngày Đánh giá sự có mặt của virus viêm gan vịt dựa vào triệu chứng, bệnh tích đặc trưng của bệnh viêm gan vịt và tỷ lệ gây chết vịt

3.3.3 Phương pháp xác định Typ của virus viêm gan vịt phân lập

Thí nghiệm được tiến hành trên vịt con 7 ngày tuổi, vịt chia làm 3 lô, mỗi lô 15 con

- Lô thí nghiệm:

Mỗi vịt tiêm 2ml kháng huyết thanh viêm gan vịt typ I vào dưới da Sau 24 giờ tiêm virus viêm gan vịt (chủng cần định typ) với liều 103LD50

Trang 32

cho một vịt, tiêm dưới da

Sau khi tiêm, theo dõi vịt trong thời gian 14 ngày Virus viêm gan vịt

được xác định thuộc typ I khi ở lô thí nghiệm có 80-100% vịt sống sót, ở lô

đối chứng âm có 80-100% vịt chết với triệu chứng và bệnh tích của bệnh viêm gan vịt

3.3.4 Phương pháp xác định khả năng thích ứng và ổn định của chủng virus vacxin nhược độc viêm gan vịt DH - EG - 2000

- Chuẩn bị phôi gà 9 ngày tuổi

- Trứng gà ấp ở 370C đến ngày thứ 9 đem soi trứng, chọn những quả

có phôi khoẻ mạnh, đánh dấu buồng hơi và vị trí phôi

- Chuẩn bị chủng virus vacxin

Chủng virus vacxin dạng đông khô, khi dùng đem pha với nước muối sinh lý 0,9% thành huyễn dịch 10-2 Đối với lần cấy truyền tiếp theo, dùng nước trứng thu được ở những phôi có bệnh tích điển hình của chủng virus

- Bố trí thí nghiệm: mỗi lần cấy truyền dùng 30 phôi, virus được tiêm vào xoang niệu mô, mỗi phôi 0,2ml

- Tiến hành tiêm

Trứng trước khi tiêm sát trùng toàn bộ quả trứng bằng cồn 700, sát trùng buồng hơi bằng cồn iod 5% Dùng dùi vô trùng đục một lỗ ở đỉnh buồng hơi Khi tiêm, đưa kim qua lỗ đã dùi chếch 1 góc 450, sâu 1,5-2cm,

đầu kim hướng về phía đầu phôi, mỗi phôi tiêm 0,2ml huyễn dịch đã pha,

Trang 33

hàn lỗ bằng parafin, cho trứng vào tủ 370C ấp tiếp Sau khi tiêm, hàng ngày soi trứng rồi bỏ những phôi chết vào tủ lạnh để ở nhiệt độ 40C, ghi giờ phôi chết Những phôi chết trước 24 giờ loại bỏ Lấy trứng ra khỏi tủ lạnh, lau khô, sát trùng bằng cồn 700, dùng cồn iod 5% sát trùng vùng buồng hơi, dùng kéo cong cắt phần vỏ của vùng buồng hơi, thu nước trứng, gắp phôi ra

đĩa lồng để quan sát bệnh tích Tiến hành thí nghiệm 3 lần

chủng virus vacxin nhược độc viêm gan vịt DH - EG - 2000

* Chuẩn bị trứng: trứng gà ấp ở 370C đến ngày thứ 9 thì soi trứng và kiểm tra, chọn những quả có phôi khoẻ mạnh, đánh dấu buồng hơi, vị trí phôi sau đó sát trùng trứng bằng cồn 700, sát trùng buồng hơi bằng cồn Iod 5%

* Chuẩn bị virus vacxin: virus vacxin được pha với nước sinh lý làm

7 nồng độ theo cơ số 10, từ 10-1 đến 10-7

- Mỗi nồng độ virus tiêm cho 5 phôi, mỗi phôi 0,2ml tiêm vào xoang niệu mô

- 5 phôi đối chứng không tiêm vacxin

- Sau khi tiêm theo dõi 96 giờ, lấy các phôi chết cho vào tủ lạnh ở nhiệt độ 40C trong 24 giờ lấy ra mổ và quan sát bệnh tích phôi

- Ghi kết quả số phôi chết có bệnh tích và số phôi sống ở mỗi nồng

Trang 34

Trong đó:

X: là khoảng cách tỷ lệ A: là số mũ nồng độ gây chết cận trên 50%

A’: là tỷ lệ % số phôi chết cận trên 50%

B’: là tỷ lệ % số phôi chết cận dưới 50%

f: là bậc pha loãng của virus

3.3.6 Phương pháp xác định chỉ số EID 50 (Embryo infective dose) của chủng virus vacxin nhược độc viêm gan vịt DH - EG - 2000

- Chuẩn bị trứng và virus vacxin với cách tiêm trứng để xác định liều gây nhiễm tối thiểu 50% phôi trứng EID50 tương tự ở phần 3.3.5

- Sau khi tiêm trứng, theo dõi đến 96 giờ, những phôi chết được cất vào

Trang 35

- Nhuộm Hematoxylin (nhuộm nhân tế bào)

- Nhuộm Eosin (nhuộm nguyên sinh chất)

- Gắn Lamen, dán nhãn, đọc kết quả dưới kính hiển vi, chụp ảnh bệnh tích vi thể

Với các tế bào lành thì nguyên sinh chất bắt màu hồng còn nhân tế bào bắt màu xanh

3.3.8 Phương pháp kiểm tra chỉ tiêu an toàn của vacxin

Dùng vịt khoẻ mạnh (vịt 7 ngày tuổi), không nằm trong vùng dịch, chưa được tiêm phòng vacxin và kháng thể viêm gan vịt Tiêm vacxin viêm gan vịt với liều gấp 10 lần liều sử dụng (104,32ELD50) vào dưới da Sau khi tiêm theo dõi đàn vịt về trạng thái hoạt động và biểu hiện nơi tiêm vacxin Vacxin được coi là an toàn khi không có phản ứng tại nơi tiêm và đàn vịt khoẻ mạnh, bình thường

3.3.9 Phương pháp kiểm tra chỉ tiêu hiệu lực của vacxin

- Dùng vịt khoẻ mạnh (vịt 7 ngày tuổi), không nằm trong vùng dịch, chưa được tiêm phòng vacxin và kháng thể viêm gan vịt Chia làm 2 lô: lô thí nghiệm và lô đối chứng

Trang 36

- Lô thí nghiệm: tiêm vacxin cho vịt với liều 103,3ELD50

- Lô đối chứng: không tiêm vacxin

- Sau khi tiêm vacxin 15 ngày, dùng giống virus viêm gan vịt cường

độc tiêm cho vịt với liều 103 LD50, tiêm dưới da Theo dõi vịt trong 15 ngày tiếp theo Hiệu lực của vacxin được đánh giá thông qua tỷ lệ bảo hộ của đàn vịt:

Số vịt sống sau khi công cường độc x 100

Trang 37

4 kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1 Tình hình bệnh viêm gan do virus của vịt ở một số tỉnh

đồng bằng Bắc bộ

4.4.1 Tình hình mắc bệnh viêm gan do virus của vịt nuôi ở một số tỉnh

đồng bằng Bắc Bộ

ở Việt Nam, bệnh viêm gan do virus ở vịt được ghi nhận có từ năm

1978 (Trần Minh Châu, Lê Thu Hồng, 1985)[5] Cho đến nay bệnh đã xảy

ra ở nhiều địa phương trong cả nước Trong thời gian từ tháng 9 năm 2003

đến tháng 8 năm 2004 chúng tôi đã tiến hành điều tra về tình hình mắc bệnh viêm gan vịt trên phạm vi 4 tỉnh: Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên và Hà Tây, kết quả thu được trình bày trong bảng 4.1:

* ở Hà Nội chúng tôi tiến hành điều tra trên các đàn vịt ở 3 huyện

Đông Anh, Sóc Sơn và Gia Lâm

ở Huyện Đông Anh có 60 đàn mắc bệnh viêm gan vịt Trong đó ở lứa tuổi 1-7 ngày tuổi có 38 đàn mắc bệnh, chiếm tỷ lệ 63,3%, tỷ lệ chết ở lứa tuổi này là 71,3% Lứa tuổi 8-21 ngày tuổi có 18 đàn mắc bệnh chiếm tỷ lệ 30%, tỷ lệ chết 45,1% Trong khi đó ở lứa tuổi 22-42 ngày tuổi thì chỉ có 4

đàn mắc bệnh viêm gan vịt chiếm tỷ lệ 6,7% và tỷ lệ chết là 21%

Huyện Sóc Sơn có 19 đàn vịt mắc bệnh viêm gan do virus, trong đó lứa tuổi 1-7 ngày tuổi có 12 đàn mắc bệnh, chiếm tỷ lệ 63,2%, tỷ lệ chết là 33,3% Lứa tuổi 8-21 ngày tuổi có 7 đàn mắc bệnh chiếm tỷ lệ 36,8% và tỷ

Trang 39

* ở tỉnh Bắc Ninh chúng tôi tiến hành điều tra các đàn vịt trên 2 huyện Thuận Thành và Tiên Sơn

Huyện Thuận Thành có 13 đàn bị mắc bệnh viêm gan vịt, trong đó lứa tuổi 1-7 ngày tuổi có 8 đàn mắc bệnh chiếm tỷ lệ 61,5%, tỷ lệ chết là 30,5% Lứa tuổi 8-21 ngày tuổi có 5 đàn mắc bệnh chiếm tỷ lệ 38,5% và tỷ

lệ chết là 23,6%

Huyện Tiên Sơn với tổng số 15 đàn mắc bệnh viêm gan vịt, lứa tuổi

1-7 ngày tuổi có 10 đàn bị bệnh chiếm tỷ lệ 66,6% với tỷ lệ chết 35,1% Trong khi đó ở lứa tuổi 8-21 ngày tuổi chỉ có 5 đàn mắc bệnh với tỷ lệ 33,4% và tỷ lệ chết ở lứa tuổi này là 22,3%

* Điều tra các đàn vịt trên 3 huyện: Văn Giang, Mỹ Hào và Kim Động của tỉnh H−ng Yên cho thấy:

ở huyện Văn Giang có 15 đàn bị bệnh viêm gan vịt, lứa tuổi 1-7 ngày tuổi có 9 đàn mắc với tỷ lệ 60%, tỷ lệ chết là39% Lứa tuổi 8-21 ngày tuổi

có 5 đàn mắc bệnh với tỷ lệ 33,3%, tỷ lệ chết ở lứa tuổi này là 25,1% Trong khi ở lứa tuổi 22-42 ngày tuổi chỉ có 1 đàn mắc bệnh với tỷ lệ 6,7%

và tỷ lệ chết chỉ là 15%

Huyện Kim Động chúng tôi điều tra thấy có 13 đàn mắc bệnh, ở lứa tuổi 1-7 ngày tuổi có 8 đàn mắc chiếm tỷ lệ 61,5%, tỷ lệ chết là 39% Còn lứa tuổi 8-21 ngày tuổi có 5 đàn mắc bệnh chiếm tỷ lệ 38,5%, ở lứa tuổi này

Trang 40

bệnh cũng thường xảy ra, điều tra thấy có 62 đàn mắc bệnh viêm gan vịt, ở lứa tuổi 1-7 ngày tuổi có tới 43 đàn mắc bệnh chiếm tỷ lệ 69,4%, tỷ lệ chết trong tổng số 8220 con vịt là 41,1% Trong khi ở lứa tuổi 22-42 ngày tuổi chỉ có 1 đàn mắc bệnh, chiếm tỷ lệ 1,6 % và tỷ lệ chết chỉ ở 18,1%

Với tổng số 12 đàn mắc bệnh trên địa bàn huyện Phúc Thọ, ở lứa tuổi 1-7 ngày tuổi có 7 đàn mắc bệnh chiếm tỷ lệ 58,3%, tỷ lệ chết ở lứa tuổi này là 38,1% ở lứa tuổi 8-21 ngày tuổi có 5 đàn mắc bệnh chiếm tỷ lệ 41,7% và tỷ lệ chết trong tổng số 1421 vịt là 34,1%

Như vậy kết quả điều tra các đàn vịt nuôi trên 10 huyện của 4 tỉnh: Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Ninh và Hà Tây chúng tôi thấy bệnh viêm gan vịt thường xảy ra ở vịt con dưới 42 ngày tuổi, gây tổn thất lớn cho người chăn nuôi

Bệnh xảy ra ở tất cả các giống vịt có trên địa bàn: vịt cỏ, vịt bầu, vịt Kakicambell, vịt siêu thịt CV Super M, Szarvar

Theo Nguyễn Văn Cảm và cộng sự (1985)[4] từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2001, bệnh viêm gan vịt thường xảy ra ở nhiều địa phương: Hưng Yên,

Hà Tây, Nam Hà, Hà Nội, Tuyên Quang Tỷ lệ nhiễm trong đàn tới 100%,

tỷ lệ chết 48,57 đến 90%

Theo thống kê của Nguyễn Hữu Vũ và cộng sự, 6 tháng đầu năm 2001

số vịt, ngan con chết vì bệnh viêm gan vịt ở các tỉnh Hưng Yên, Hà Tây, Nam Hà, Hà Nội, Tuyên Quang lên tới hàng chục nghìn con (Nguyễn Đức Lưu, 2002)[16]

Đào Văn Dưỡng (2003)[12] cho biết: bệnh viêm gan vịt thường xảy ra trên vịt con ở các huyện Việt Yên, Yên Dũng, Tân Yên của tỉnh Bắc Giang, bệnh xảy ra ở vịt dưới 30 ngày tuổi, chủ yếu ở vịt nhỏ hơn 3 tuần tuổi

Trong chăn nuôi vịt bệnh viêm gan do virus luôn là mối đe doạ lớn đối với người chăn nuôi Ngoài vấn đề trú trọng đầu tư con giống, thức ăn còn cần phải thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho đàn vịt Tạo miễn dịch cho vịt bằng vacxin hoặc kháng thể viêm gan vịt là việc làm cần thiết

Ngày đăng: 18/05/2015, 00:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Nguyễn Xuân Bình (2002), Bệnh của vịt và biện pháp phòng trị, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh của vịt và biện pháp phòng trị
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
4. Nguyễn Văn Cảm, Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Khánh Ly (2001), "Nghiên cứu biến đổi bệnh lý bệnh viêm gan virus vịt", Khoa học và kỹ thuật Thú y, 8 (4), Hội thú y Việt Nam, tr.48-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu biến đổi bệnh lý bệnh viêm gan virus vịt
Tác giả: Nguyễn Văn Cảm, Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Khánh Ly
Năm: 2001
5. Trần Minh Châu, Lê Thu Hồng (1985), "Thăm dò tạo chủng vacxin nhược độc viêm gan vịt bằng chủng phân lập tại địa phương". Khoa học và kü thuËt Thó y, (4), tr 3 - 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thăm dò tạo chủng vacxin nhược độc viêm gan vịt bằng chủng phân lập tại địa phương
Tác giả: Trần Minh Châu, Lê Thu Hồng
Năm: 1985
6. Trần Minh Châu, Lê Thị Nồng, Nguyễn Đức Tạo (1985), "Thăm dò chế tạo vacxin viêm gan vịt và sử dụng", Kết quả nghiên cứu khoa học và kỹ thuật Thú y (1985 - 1989), Viện Thú y. NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr.41- 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thăm dò chế tạo vacxin viêm gan vịt và sử dụng
Tác giả: Trần Minh Châu, Lê Thị Nồng, Nguyễn Đức Tạo
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1985
7. Lê Minh Chí (1999), "Giải pháp chủ yếu của ngành thú y đến năm 2000", Hội Chăn nuôi Việt Nam, Tr. 7-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp chủ yếu của ngành thú y đến năm 2000
Tác giả: Lê Minh Chí
Năm: 1999
8. Lê Minh Chí, Hồ Đình Chúc, Bùi Quý Huy (1999), “Kết quả điều tra dịch bệnh gia súc, gia cầm 5 tỉnh phía Bắc (1995-1997)”, Khoa học và kỹ thuật Thú y, 6 (3), Hội thú y Việt Nam. tr 75 - 78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Kết quả điều tra dịch bệnh gia súc, gia cầm 5 tỉnh phía Bắc (1995-1997)”," Khoa học và kỹ thuật Thú y
Tác giả: Lê Minh Chí, Hồ Đình Chúc, Bùi Quý Huy
Năm: 1999
10. Bùi Thị Cúc (2002), Nghiên cứu biến đổi bệnh lý đại thể, vi thể và siêu vi thể bệnh viêm gan siêu vi trùng vịt. Luận văn thạc sỹ khoa học nông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu biến đổi bệnh lý đại thể, vi thể và siêu vi thể bệnh viêm gan siêu vi trùng vịt
Tác giả: Bùi Thị Cúc
Năm: 2002
12. Đào Văn D−ỡng (2003), Tình hình bệnh viêm gan do virus và dịch tả vịt trên đàn vịt ở tỉnh Bắc Giang, nghiên cứu đặc tính sinh học của chủng virus nh−ợc độc dịch tả vịt DP-EG-2000 và quy trình sản xuất vacxin.Luận văn thạc sỹ nông nghiệp, Tr−ờng Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh viêm gan do virus và dịch tả vịt trên đàn vịt ở tỉnh Bắc Giang, nghiên cứu đặc tính sinh học của chủng virus nh−ợc độc dịch tả vịt DP-EG-2000 và quy trình sản xuất vacxin
Tác giả: Đào Văn D−ỡng
Năm: 2003
13. Nguyễn Đ−ờng, Nguyễn Nh− Thanh, Nguyễn Khắc Tuấn, Nguyễn Thị Bích Lộc, Nguyễn Bá Hiên (1990), Vi sinh vật học đại cương, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật học đại c−ơng
Tác giả: Nguyễn Đ−ờng, Nguyễn Nh− Thanh, Nguyễn Khắc Tuấn, Nguyễn Thị Bích Lộc, Nguyễn Bá Hiên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1990
14. Lê Thanh Hoà, Nguyễn Nh− Thanh, Nguyễn Bá Hiên (1984), "Đặc tính sinh học của giống virus vacxin viêm gan vịt chủng TN của Asplin và vacxin phòng bệnh ở Việt Nam", Khoa học và kỹ thuật Thú y, 2, (1- 1985), tr 21-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc tính sinh học của giống virus vacxin viêm gan vịt chủng TN của Asplin và vacxin phòng bệnh ở Việt Nam
Tác giả: Lê Thanh Hoà, Nguyễn Nh− Thanh, Nguyễn Bá Hiên
Năm: 1984
15. Nguyễn Đức Lưu, Lương Tất Nhợ, Hoàng Văn Tiêu, Nguyễn Hữu Vũ (2001), Nuôi ngan vịt và các bệnh th−ờng gặp, NXB Nông nghiệp, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi ngan vịt và các bệnh th−ờng gặp
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Lương Tất Nhợ, Hoàng Văn Tiêu, Nguyễn Hữu Vũ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
16. Nguyễn Đức Lưu, Vũ Như Quán (2002), "Bệnh viêm gan virus vịt", Khoa học và kỹ thuật Thú y, 9 (1), Hội Thú y Việt Nam, tr.87-90 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh viêm gan virus vịt
Tác giả: Nguyễn Đức Lưu, Vũ Như Quán
Năm: 2002
17. Lê Hồng Mận (1999), Nuôi ngan vịt và phòng chữa bệnh th−ờng gặp, NXB Thanh Hãa, tr. 92-99 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi ngan vịt và phòng chữa bệnh th−ờng gặp
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: NXB Thanh Hãa
Năm: 1999
18. Melekhin G.P, Gridin N.I (1989) Sinh lý. NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
19. Đỗ Trung Phấn (1979), Miễn dịch qua trung gian tế bào, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miễn dịch qua trung gian tế bào
Tác giả: Đỗ Trung Phấn
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1979
20. Nguyễn Vĩnh Ph−ớc, Hồ Đình Chúc, Nguyễn Văn Hanh, Đặng Thế Huynh (1978), Giáo trình bệnh truyễn nhiễm gia súc, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh truyễn nhiễm gia súc
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Ph−ớc, Hồ Đình Chúc, Nguyễn Văn Hanh, Đặng Thế Huynh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1978
22. Đặng Đức Trạch, Nguyễn Đình H−ơng, Phạm Mạnh Hùng, Pondman, 30. K.W; Wright, P.E (1984) Miễn dịch học (textbook of immuno logy), University Press (University of Amsterdam). NXB KHKT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miễn dịch học (textbook of immuno logy)
Nhà XB: NXB KHKT
23. Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu, Trần Thu Hiền, Nguyễn Khánh Ly (2001), "Kết quả sử dụng kháng thể viêm gan virus vịt phòng trị bệnh cho vịt, ngan", Khoa học và kỹ thuật Thú y, Tập VIII số 4, Hội Thú y Việt Nam, tr.52-58.II. Tiếng n−ớc ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả sử dụng kháng thể viêm gan virus vịt phòng trị bệnh cho vịt, ngan
Tác giả: Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu, Trần Thu Hiền, Nguyễn Khánh Ly
Năm: 2001
24. Adamiker, D. (1969). “Elektronenmikros kopiscle untersuchungen zus virushepatitis der Entenkken”. Zentrabl Veterinaezmed [B] 16: 620-636 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Elektronenmikros kopiscle untersuchungen zus virushepatitis der Entenkken”". Zentrabl Veterinaezmed [B]
Tác giả: Adamiker, D
Năm: 1969
25. Adamiker, D. (1970). Die Virushepatitis der Entenkken im elektronenmikroskopischen Bild. Teil II: Befunde an der Milz und am Muskel. Zentralbl Veterinaermed [B] 17:880-889 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Die Virushepatitis der Entenkken im elektronenmikroskopischen Bild
Tác giả: Adamiker, D
Năm: 1970

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w