Các đề tài trên ít nhiều đề cập đến hệ số an toàn vốn nhưng vẫn tồn tại một khoảng trống nghiên cứu trong vấn đề này, cụ thể: các đề tài chủ yếu nghiên cứu về rủi ro hoạt động tín dụng,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
PHẠM THỊ PHƯƠNG ANH
ÁP DỤNG CHUẨN MỰC QUỐC TẾ VỀ HỆ SỐ
AN TOÀN VỐN TRONG HỆ THỐNG
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
PHẠM THỊ PHƯƠNG ANH
ÁP DỤNG CHUẨN MỰC QUỐC TẾ VỀ HỆ SỐ
AN TOÀN VỐN TRONG HỆ THỐNG
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính và Ngân hàng
Mã số: 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ KIM OANH
Hà Nội - 2014
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ iv
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CHUẨN MỰC VỀ AN TOÀN HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG ÁP DỤNG PHỔ BIẾN TRÊN THẾ GIỚI 7
1.1 Tổng quan về chuẩn mực an toàn hoạt động ngân hàng 7
1.1.1 Sự ra đời của hệ thống chuẩn mực Basel 7
1.1.2 Sự phát triển của hệ thống chuẩn mực Basel 8
1.2 Nội dung cơ bản của hệ số an toàn vốn theo chuẩn mực Basel 11
1.2.1 Nội dung của hệ số an toàn vốn theo Basel I 11
1.2.2 Nội dung của hệ số an toàn vốn theo Basel II 13
1.2.3 Nội dung định hướng của hệ số an toàn vốn theo Basel III 21
1.3 Thực hiện hệ số an toàn vốn Basel II tại các quốc gia tiêu biểu 25
1.3.1 Việc áp dụng tại một số nước trong Ủy ban Basel 25
1.3.2 Việc áp dụng tại một số nước ngoài Ủy ban Basel 28
1.3.3 Thực trạng áp dụng tại Việt Nam 30
1.3.4 Bài học kinh nghiệm 31
1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng hệ số an toàn vốn tại Việt Nam 32 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG HỆ SỐ AN TOÀN VỐN TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 35
2.1 Tổng quan về hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam 35
2.1.1 Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam 35
2.1.2 Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 37
2.2 Thực trạng áp dụng hệ số an toàn vốn 46
Trang 42.2.1 Thực trạng hệ số an toàn vốn của hệ thống ngân hàng thương mại Việt
Nam 46
2.2.2 Tình hình tài chính và hệ số an toàn vốn công bố của ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 49
2.2.3 Hệ số an toàn vốn tính theo quy định của Basel II 52
2.3 Các vấn đề tồn tại trong quá trình xác định hệ số theo chuẩn Basel II 68
2.3.1 Vấn đề trên góc độ chủ quan 68
2.3.2 Vấn đề trên góc độ khách quan 70
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN ÁP DỤNG HỆ SỐ AN TOÀN VỐN TẠI HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM THEO THÔNG LỆ QUỐC TẾ 73
3.1 Định hướng phát triển kinh tế và hệ thống NHTM Việt Nam 73
3.1.1 Định hướng phát triển kinh tế Việt Nam 73
3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động ngân hàng 74
3.2 Giải pháp hoàn thiện áp dụng hệ số an toàn vốn theo thông lệ quốc tế 78
3.2.1 Giải pháp trên góc độ thực hiện của các ngân hàng 78
3.2.2 Giải pháp trên góc độ quản lý của Ngân hàng Nhà nước 80
3.3 Một số kiến nghị 83
3.3.1 Kiến nghị với các ngân hàng thương mại 83
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 84
KẾT LUẬN 87
Tài liệu tham khảo: 88
Trang 5i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 AMA Phương pháp nâng cao
2 BIA Phương pháp chỉ số cơ bản
3 BIDV Ngân hàng thương mại Cổ phần Đầu tư và
Phát triển Việt Nam
4 CAR Hệ số an toàn vốn
5 NHTM Ngân hàng thương mại
6 TSA Phương pháp chuẩn hóa
7 VYCTT Vốn yêu cầu tối thiểu
Trang 6ii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 1.1 Các mốc ban hành và thời điểm hiệu lực các hiệp ước
5 Bảng 1.5 Kết quả thực hiện Basel II tại một số nước Châu Á 28
6 Bảng 2.1 Quy mô Tổng tài sản Có và vốn điều lệ của các khối ngân hàng thương mại cổ phần 34
7 Bảng 2.2 Khối công ty con, công ty liên kết của BIDV năm 2012 37
8 Bảng 2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh tại BIDV 2010 -2012 38
9 Bảng 2.4 Tổng hợp hệ số CAR của một số ngân hàng giai đoạn 2010 – 2012 45
10 Bảng 2.5 Quy mô tài sản – nguồn vốn của BIDV giai đoạn
11 Bảng 2.6 Quy mô tổng tài sản các ngân hàng
12 Bảng 2.7 Một số chỉ tiêu hoạt động của BIDV năm 2011 -2012 48
13 Bảng 2.8 Chi tiết các khoản mục tài sản BIDV các năm 2010 –
Trang 7iii
14 Bảng 2.9 Chất lượng tín dụng của BIDV giai đoạn 2010 - 2012 49
15 Bảng 2.10 Chi tiết khoản mục xác định vốn chủ sở hữu tính hệ số CAR 51
16 Bảng 2.11 So sánh sự khác biệt trong trọng số chuyển đổi giữa
Thông tư 13/2010/TT-NHNN và Basel II 56
17 Bảng 2.12 Xác định tổng Tài sản có điều chỉnh theo rủi ro tín dụng 57
18 Bảng 2.13 Xác định Tài sản Có điều chỉnh theo rủi ro hoạt động 59
19 Bảng 2.14 Xác định vốn yêu cầu tối thiểu cho rủi ro vàng 60
20 Bảng 2.15 Xác định vốn yêu cầu tối thiểu cho rủi ro ngoại tệ 61
21 Bảng 2.16 Xác định vốn yêu cầu tối thiểu đối với rủi ro ngoại hối 61
22 Bảng 2.17 Trạng thái danh mục cổ phiếu niêm yết tại ngày 31/12 các năm 2010 – 2012 tại BIDV 64
23 Bảng 2.18 Vốn yêu cầu tối thiểu cho danh mục cổ phiếu niêm yết
24 Bảng 2.19 Xác định được Tài sản Có điều chỉnh theo rủi ro thị trường 65
25 Bảng 2.20 Xác định hệ số CAR theo quy định Basel II 66
Trang 8iv
DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ HÌNH VẼ
1 Hình 2.1 Mô hình tổ chức của BIDV 36
BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 2.1 Cơ cấu thu nhập của BIDV từ 2010 - 2012 41
2 Biểu đồ 2.2 Thị phần tín dụng năm 2010 42
3 Biểu đồ 2.3 Thị phần tín dụng năm 2011 42
4 Biểu đồ 2.4 Cơ cấu thu nhập các ngân hàng năm 2012 43
5 Biểu đồ 2.5 Cơ cấu thu nhập các ngân hàng năm 2011 44
Trang 91
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tại bất kỳ nền kinh tế nào, hệ thống ngân hàng luôn có vai trò đặc biệt quan trọng có tính thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế Một nền kinh tế muốn phát triển, phải đảm bảo lưu thông vốn hiệu quả Việc lưu chuyển vốn hiệu quả chính là mục tiêu và nhiệm vụ cao nhất trong hoạt động của hệ thống ngân hàng
Với vai trò quan trọng đó, an toàn trong hoạt động là một trong những mục tiêu ưu tiên hàng đầu của hệ thống ngân hàng Để ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động ngân hàng, một Ủy ban về giám sát hoạt động ngân hàng được thành lập bởi các đại diện cấp cao các cơ quan giám sát nghiệp vụ ngân hàng và bản thân Ngân hàng trung ương các nước nhóm phát triển G-10 - Ủy ban Basel (gồm các nước: Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Hà Lan, Canada, Bỉ, Italia, Nhật Bản, Thụy Điển) Ủy ban này đưa ra các chuẩn mực về an toàn hoạt động cũng như các nguyên tắc giám sát việc thực hiện các chuẩn mực đó Trong nền kinh tế toàn cầu, các quốc gia đều có những mối quan hệ và lợi ích kinh tế ảnh hưởng lẫn nhau, do đó, sự mất an toàn của bất cứ một hệ thống ngân hàng nào đều có mức ảnh hưởng nhất định tới sự ổn định tài chính của các nước khác Vì vậy, các chuẩn mực trên được khuyến nghị áp dụng đối với tất cả các hệ thống ngân hàng ngoài nhóm nước G10
Hiện nay, Việt Nam có tốc độ tăng trưởng kinh tế được đánh giá khá cao và luôn đặt ra mục tiêu tăng trưởng cao trong các năm tới, do đó yêu cầu đặt ra đối với hệ thống ngân hàng là phải hoạt động hiệu quả nhưng vẫn đảm bảo an toàn Để giữ vững thành quả phát triển và đẩy mạnh mục tiêu phát triển kinh tế trong các năm tới, việc tiếp cận và áp dụng các chuẩn mực, nguyên tắc quốc tế về an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng là yêu cầu cấp thiết
Trang 10các đề tài nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến hệ số an toàn vốn như sau:
Cuốn sách: “Những vấn đề tài chính sau khủng hoảng tại Việt Nam” do
NXB Văn hóa thông tin xuất bản năm 2010 – Chủ biên T.S Nguyễn Thị Minh Huệ, T.S Trần Thị Thanh Tú Trong cuốn sách có đề cập đến các nguyên tắc giám sát của hệ thống chuẩn mực Basel và thực tế hoạt động của hệ thống giám sát đó tại Việt Nam Tuy nhiên cuốn sách chỉ dừng lại ở việc phân tích hệ số an toàn vốn của các NHTM theo công bố của chính NHTM, chưa tiến hành phân tích, tính toán hệ số đó dựa trên các quy định của Ủy ban Basel
Luận văn: “Ứng dụng basel trong quản trị rủi ro của các Ngân hàng
thương mại Việt Nam” được hoàn thành năm 2007 của tác giả Nguyễn Thị
Thùy Linh Trong luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu thực trạng áp dụng các quy định của Ủy ban Basel trong quản trị rủi ro tại các NHTM Việt Nam Tác giả đã hệ thống được các thước đo rủi ro, khảo sát việc áp dụng tại một số NHTM và đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng quy định của Ủy ban Basel trong quản trị rủi ro tại các NHTM Việt Nam Tuy nhiên luận văn chưa tập trung vào việc tính toán cụ thể hệ số an toàn vốn của ngân hàng theo thông lệ quốc tế
Số lượng các đề tài nghiên cứu việc áp dụng hệ số an toàn vốn tại một ngân hàng khá ít Một trong số ít đề tài đó là:
Trang 11của tác giả Thân Thị Vân
“Giải pháp nâng cao năng lực tài chính của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trong xu thế hội nhập” hoàn thành năm 2008 của tác giả Lê
Thanh Thủy
Các đề tài trên ít nhiều đề cập đến hệ số an toàn vốn nhưng vẫn tồn tại một khoảng trống nghiên cứu trong vấn đề này, cụ thể: các đề tài chủ yếu nghiên cứu về rủi ro hoạt động tín dụng, và có phần nghiên cứu về hệ số an toàn vốn nhưng chỉ dừng lại ở việc đề cập đến hệ số CAR như một phần của an toàn hoạt động, chưa tập trung nghiên cứu hệ số an toàn vốn đáp ứng theo chuẩn của Ủy ban Basel ở mức độ nào, đưa ra những vấn đề và cách thức giải quyết để hệ số an toàn vốn của ngân hàng Việt Nam có thể đáp ứng được các tiêu chuẩn của thông lệ quốc tế
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích của đề tài là làm rõ các vấn đề:
+ Tình hình áp dụng chuẩn mực an toàn vốn trên thế giới
+ Hệ số an toàn vốn của một đại diện tiêu biểu trong hệ thống ngân hàng thương mại tính theo các quy định của Ủy ban Basel từ đó rút ra tính đặc trưng cho hệ thống
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Đưa ra được ý kiến đánh giá về tình hình áp dụng hệ số an toàn vốn tại Ngân hàng hàng thương mại tiêu biểu trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam so với thông lệ quốc tế
Trang 124
+ Đưa ra giải pháp, kiến nghị để việc áp dụng được tiệm cận với tiêu chuẩn thế giới nếu việc áp dụng chưa đúng với các quy định theo tiêu chuẩn của Ủy ban Basel trên cơ sở phù hợp với tình hình thực tế của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Hệ số an toàn vốn (hệ số CAR) theo quy định của Ủy ban Basel tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, trong đó tập trung vào đại diện: Ngân
hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi thời gian: giai đoạn 2010 – 2012
+ Phạm vi nghiên cứu của đối tượng:
Luận văn lựa chọn đại diện Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam để nghiên cứu CAR Tiêu chí lựa chọn trên cơ sở như sau:
Thứ nhất, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam chủ yếu hoạt động trong các nghiệp vụ ngân hàng truyền thống: tín dụng, tiền gửi Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam là ngân hàng có thị phần tín dụng lớn thứ hai trong hệ thống, sau Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam nhưng có hoạt động theo mô hình ngân hàng thương mại hiện đầy đủ
và toàn diện hơn so với ngân hàng có thị phần tín dụng lớn nhất
Thứ hai, ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam là ngân hàng đầu tiên thành lập một bộ phận chuyên trách triển khai các công việc để hướng tới thực hiện CAR theo thông lệ quốc tế
Thông lệ quốc tế để tham chiếu hệ số CAR là quy định Basel II Hiện nay, quy định về hiệp ước vốn Basel II là thông lệ quốc tế về an toàn trong hoạt động ngân hàng được áp dụng rộng rãi trên thế giới, chỉ có một số ít các nước
Trang 135
đã thực hiện được đầy đủ hiệp ước Basel II và đang chuẩn bị kế hoạch thực hiện từng bước các quy định Basel III - bản yêu cầu mức vốn tối thiểu cao hơn của Basel II sẽ có hiệu lực hoàn toàn vào năm 2019
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu: Điển hình, phân tích, tổng hợp, so sánh, toán học, suy luận
- Phương pháp điển hình:
Luận văn dùng phương pháp điển hình: thực hiện tính hệ số CAR theo chuẩn Basel của đại diện tiêu biểu của hệ thống: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, từ đó đưa ra đánh giá cho cả hệ thống
- Phương pháp tổng hợp:
Để nghiên cứu, đánh giá tình hình áp dụng hệ số CAR trên thế giới cũng như tại Việt Nam luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp các nguồn số liệu của một số nước trên thế giới và ngân hàng thương mại qua các năm từ các nguồn khác nhau trong giai đoạn 2010 – 2012
- Phương pháp phân tích:
Để đánh giá được tình hình áp dụng hệ số CAR, luận văn dùng phương pháp phân tích số liệu và thông tin thu thập được
- Phương pháp toán học, suy luận, so sánh:
Để đưa ra được những tính toán, nhận xét giữa hệ số CAR công bố theo quy định của Việt Nam và quy định của Ủy ban Basel, luận văn dùng phương pháp toán học, so sánh, suy luận
6 Dự kiến đóng góp mới của luận văn
Trang 146
- Tính hệ số an toàn vốn của đại diện ngân hàng thương mại Việt Nam:
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế Basel II
- Đưa ra giải pháp, kiến nghị để áp dụng hệ số CAR theo chuẩn mực quốc tế được tốt hơn
7 Bố cục của luận văn (Nội dung chi tiết từng chương)
Luận văn chia làm 3 phần:
Chương 1: Chuẩn mực về an toàn hoạt động ngân hàng áp dụng phổ biến trên thế giới
Chương 2: Thực trạng áp dụng hệ số an toàn vốn tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện việc áp dụng hệ số an toàn vốn tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
Nội dung chi tiết từng chương như sau:
Trang 157
CHƯƠNG 1: CHUẨN MỰC VỀ AN TOÀN HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG
ÁP DỤNG PHỔ BIẾN TRÊN THẾ GIỚI 1.1 Tổng quan về chuẩn mực an toàn hoạt động ngân hàng
1.1.1 Sự ra đời của hệ thống chuẩn mực Basel
Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng là một trong năm ủy ban quan trọng của Ngân hàng thanh toán quốc tế được thành lập như một Ủy ban về thông lệ và thực hiện giám sát an toàn hoạt động ngân hàng bởi ngân hàng trung ương thuộc chính phủ của 10 nước thuộc nhóm G-10 vào cuối năm 1974 – sau sự rối loạn nghiêm trọng trên thị trường tiền tệ và ngân hàng (đáng chú ý
là sự kiện phá sản của Ngân hàng Bankhaus Herstatt ở Tây Đức) Cuộc họp đầu tiên của Ủy ban được diễn ra vào tháng 02/1975 và từ đó các cuộc họp
được tổ chức thường niên 3 hoặc 4 lần/năm
Hiện tại Ủy ban Basel có 27 thành viên gồm: Argentina, Australia, Brazil, Canada, Trung Quốc, Pháp, Đức, đặc khu Hồng Kông, Ấn độ, Indonesia, Ý, Nhật, Hàn Quốc, Luxembourg, Mexico, Hà Lan, Nga, Saudi Arabia, Singapore, Nam Phi, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh và Mỹ Các nước thành viên được đại diện bởi các ngân hàng trung ương của họ hoặc người chịu trách nhiệm chính về giám sát và kinh doanh ngân hàng với những nước không có ngân hàng trung ương
Ủy ban cung cấp một diễn đàn hợp tác thường xuyên giữa các nước thành viên trong các vấn đề giám sát hoạt động ngân hàng Ban đầu, Ủy ban thảo luận các phương thức cho hợp tác quốc tế để thu hẹp khoảng cách trong mạng lưới giám sát, sau đó mục đích được mở rộng hơn là nâng cao sự hiểu biết và chất lượng của việc giám sát hoạt động ngân hàng trên thế giới Ủy ban theo đuổi mục đích trên theo ba cách chính:
i Trao đổi các thông tin về những sắp xếp trong mạng lưới giám sát cấp quốc gia;
Trang 168
ii Tăng cường tính hiệu quả của các kỹ thuật được sử dụng trong việc giám sát các hoạt động ngân hàng quốc tế;
iii Đặt ra các tiêu chuẩn giám sát tối thiểu ở những lĩnh vực cần thiết
Ủy ban không có bất kỳ quyền hạn giám sát quốc gia chính thức nào, những kết luận được Ủy ban đưa ra không mang tính bắt buộc về mặt pháp luật Thay vào đó Ủy ban đưa ra các tiêu chuẩn chung, những hướng dẫn thực hiện và các hình mẫu thực hiện hiệu quả nhất với hi vọng các nhà chức trách của từng quốc gia thành viên sẽ từng bước thực hiện thông qua các sắp xếp cụ thể tùy theo hệ thống pháp luật của từng nước Bằng cách này Ủy ban khuyến khích các nước thành viên hướng tới cách thức thực hiện các tiêu chuẩn chung
mà không cần phải can thiệp tới kỹ thuật giám sát chi tiết của từng quốc gia
1.1.2 Sự phát triển của hệ thống chuẩn mực Basel
Kể từ khi thành lập, Ủy ban liên tục nghiên cứu, phát triển các hệ thống chuẩn mực nhằm đưa ra những chuẩn mực đáp ứng kịp thời nhất các yêu cầu về quản lý rủi ro để giảm thiểu các rủi ro trong hệ thống tài chính, ngân hàng đối với các nước trong Ủy ban cũng như hệ thống tài chính, ngân hàng trên thế giới
Tháng 5/1983 Ủy ban đưa ra văn bản: Các nguyên tắc về giám sát việc thành lập các ngân hàng nước ngoài trong đó đưa ra các nguyên tắc cho việc chia sẻ trách nhiệm giữa ban giám sát của ngân hàng mẹ ở nước ngoài và ban giám sát của nước sở tại trong việc giám sát các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, các chi nhánh phụ thuộc và phần vốn đầu tư Mục tiêu quan trọng của các nguyên tắc này là thu hẹp khoảng cách giữa các mạng lưới giám sát của hệ thống ngân hàng trên thế giới nhằm đạt được 2 nguyên tắc cơ bản là: không một ngân hàng nước ngoài nào được thành lập mà không có sự giám sát và cần phải có sự giám sát hợp lý Đây là phiên bản đã chỉnh sửa từ một văn bản đã được đưa ra vào năm 1975 có tên là “Bản giao ước” (“Concordat”) Bản giao ước này đã được mở rộng và chỉnh sửa lại dựa trên những thay đổi của thị
Trang 17và được đưa ra thành các “tiêu chuẩn tối thiểu” (Minimum Standards), những tiêu chuẩn này đã được gửi tới các nhà chức trách giám sát hoạt động ngân hàng khác để được xác nhận và tháng 7/1992 “Bản tiêu chuẩn tối thiểu” đã được ban hành
Chủ đề mà Ủy ban đã giành phần lớn thời gian nghiên cứu là vấn đề vốn tối thiểu Đầu năm 1980 Ủy ban đã quan ngại về việc tỷ lệ vốn của các ngân hàng quốc tế chính đang giảm đi cùng thời điểm những rủi ro quốc tế tăng lên đặc biệt là những rủi ro liên quan đến các nước có tỷ lệ nợ lớn Được
sự ủng hộ của nhóm các nhà lãnh đạo của 10 nước thành viên, các thành viên của Ủy ban này đã đưa ra các phương án nhằm tạm thời ngăn sự thất thoát vốn tiêu chuẩn trong hệ thống ngân hàng của họ và hướng tới sự thống nhất cao hơn trong việc xác định vốn tối thiểu Họ đã có được sự nhất trí cao về phương pháp trọng số để đo lường các rủi ro nội bảng và ngoại bảng
Ủy ban đã nhận ra sự cấp thiết phải có một hiệp ước đa quốc gia nhằm tăng cường sự ổn định của hoạt động hệ thống ngân hàng quốc tế và xóa bỏ sự cạnh tranh bất bình đẳng do những khác biệt trong yêu cầu vốn gây ra
Sau những nhận định về bản tư vấn được phát hành tháng 12/1987, một
hệ thống đo lường vốn được gọi là: Hiệp ước vốn Basel (hoặc là “hiệp ước 1988”) (thường được gọi là Basel I) đã được thông qua bởi nhóm G-10 và được giới thiệu đến các ngân hàng vào tháng 7/1988 Hệ thống này cung cấp khung yêu cầu với tỷ lệ vốn tối thiểu là vốn/tài sản Có đã tính đến rủi ro tín dụng qua các trọng số rủi ro là 8% vào cuối năm 1992 Kể từ năm 1988, khung này đã
Trang 1810
được liên tục giới thiệu không chỉ với các nước thành viên mà còn với tất cả các nước có sự hoạt động của ngân hàng quốc tế
Khung vốn năm 1988 không phải được đưa ra như một khung cố định
mà sẽ thay đổi theo thời gian Tháng 11/1991 nó được chỉnh sửa, đưa ra định nghĩa chính xác hơn về dự phòng chung các khoản vay bị mất, khoản này được tính đến khi tính vốn tiêu chuẩn Tháng 4/1995, Ủy ban đã phát hành một bản chỉnh sửa của Basel I có hiệu lực vào cuối năm 1995 Trọng tâm của “Hiệp ước 1988” là Ủy ban đã tiến hành cải thiện khung trước đó: đề cập tới những rủi ro khác ngoài rủi ro tín dụng Tháng 01/1996, sau hai phiên tham vấn, Ủy ban cũng đã phát hành “Bản điều chỉnh rủi ro thị trường” của “Hiệp ước vốn Basel”, có hiệu lực chậm nhất là vào năm 1997 Bản điều chỉnh này được thiết
kế nhằm liên kết trong phạm vi hiệp ước này những quy định về vốn đối với những rủi ro thị trường phát sinh từ ngân hàng có vị thế mở trong kinh doanh ngoại hối, mua bán chứng khoán nợ, vốn chủ sở hữu, hàng hóa, quyền chọn
Sau những thảo luận với các ngân hàng, nhóm ngành và các cơ quan giám sát không phải thành viên của Ủy ban, Basel II đã được ban hành vào ngày 26/6/2004 Tài liệu này có thể làm cơ sở cho các quá trình phê duyệt và xây dựng luật lệ quốc gia về giám sát hoạt động ngân hàng và gợi ý cho các ngân hàng chuẩn bị thực hiện theo tiêu chuẩn mới
Tháng 7/2009, Ủy ban đã phát hành một gói tài liệu để củng cố khung vốn của Basel II, đặc biệt là đối với những vấn đề về tình trạng chứng khoán hóa phức tạp, các tài sản ngoại bảng và mua bán rủi ro Các tài liệu này cũng
đã bao quát được các khía cạnh chính của việc quản lý rủi ro và mở ra nội dung của trụ cột 2 và trụ cột 3 trong của Basel II Sự mở rộng này là một phần nỗ lực
mà Ủy ban đã tiến hành để làm mạnh các quy định và kiểm soát các hoạt động quốc tế của các ngân hàng, làm sáng rõ những điểm yếu bị khai lộ bởi cuộc khủng hoảng thị trường tài chính toàn cầu bắt đầu năm 2007 Những công bố
Trang 1911
của Ủy ban năm 2008 về tính thanh khoản và giá trị phát hành riêng biệt phản ánh một phần những nỗ lực đó, nhưng những phát triển cao hơn về các khía cạnh khác vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu
Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 – 2009, Ủy ban đã phát triển khung tiêu chuẩn vốn mới, thường được gọi là Basel III Basel III đã được các nhà lãnh đạo G-20 thông qua tại Hàn Quốc và cuối năm 2010 Đây là bộ tiêu chuẩn vốn quốc tế với các sửa đổi nhằm tăng cường việc đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng Với bộ tiêu chuẩn mới này, Ủy ban hy vọng sẽ giúp giảm xác suất vỡ nợ của các ngân hàng trong chu kỳ khủng hoảng
Quá trình hình thành phát triển của hệ thống chuẩn mực Basel có thể tóm tắt trong bảng sau:
Bảng 1.1: Các mốc ban hành và thời điểm hiệu lực các hiệp ước Basel
(Nguồn: tổng hợp thông tin từ trang web: www.bis.org )
1.2 Nội dung cơ bản của hệ số an toàn vốn theo chuẩn mực Basel
1.2.1 Nội dung của hệ số an toàn vốn theo Basel I
Sau 13 năm kể từ ngày thành lập, tháng 12/1987 Ủy ban Basel đã thông qua hiệp ước đa quốc gia đầu tiên: Hiệp ước vốn tiêu chuẩn quốc tế Basel I
Nội dung cơ bản của Basel I nhấn mạnh khung đo lường rủi ro tín dụng với hệ số an toàn vốn (CAR) Theo quy định của Basel I, các ngân hàng cần xác định được CAR tối thiểu đạt 8% để bù đắp cho các rủi ro Đây là biện pháp
dự phòng bắt buộc nhằm đảm bảo các ngân hàng có khả năng khắc phục tổn thất mà không ảnh hưởng đến lợi ích của người gửi tiền
Trang 2012
CAR = Vốn chủ sở hữu/ Tài sản có rủi ro (RWA) 13, tr3,4,17,18
Trong đó,
- Vốn chủ sở hữu được chia làm 2 loại:
+ Vốn cấp 1 (vốn tự có cơ bản): bao gồm cổ phần thường, cổ phần ưu đãi
dài hạn, thặng dư vốn, lợi nhuận không phân chia, dự phòng chung các khoản dự trữ vốn khác, các phương tiện Ủy thác có thể chuyển đổi và dự phòng lỗ tín dụng
Đó chính là phần vốn điều lệ và các quỹ dự trữ được công bố
Vốn cấp 2 (vốn tự có bổ sung): vốn này được xem là vốn có chất lượng
thấp hơn bao gồm: dự trữ không được công bố, dự trữ tài sản đánh giá lại, dự phòng chung/dự phòng tổn thất cho vay chung Các công cụ vốn lai (nợ/vốn chủ sở hữu), nợ thứ cấp Tuy nhiên các khoản nợ ngắn hạn không đảm bảo không nằm trong định nghĩa về vốn này
Giới hạn trong tính toán tổng vốn của ngân hàng: Tổng vốn cấp 2 không được quá 100% vốn cấp 1, nợ thứ cấp tối đa bằng 50% vốn cấp 1, dự phòng chung tối đa bằng 1,25% tài sản có rủi ro, dự trữ tài sản đánh giá lại được chiết khấu 55%, thời gian đáo hạn còn lại của nợ thứ cấp tối thiểu là 5 năm, vốn ngân hàng không bao gồm tài sản vô hình
- Tài sản có rủi ro (RWA):
Basel I mới chỉ đề cập đến rủi ro tín dụng, theo đó và tùy theo mỗi loại Tài sản Có sẽ được gắn cho một hệ số rủi ro khác nhau
RWA BaseI = Tài sản có x Hệ số rủi ro
Theo Basel I, hệ số rủi ro của Tài sản Có rủi ro được chia thành 4 mức là: 0%, 20%, 50% và 100% tùy theo mức độ rủi ro của từng loại tài sản
Trang 2113
Năm 1996, Basel I được sửa đổi có tính đến rủi ro thị trường, theo đó, rủi ro thị trường có thể được tính theo 2 phương thức: bằng mô hình chuẩn hóa hoặc bằng các mô hình nội bộ của các ngân hàng
Nhìn chung, Basel I đã thể hiện một bước đột phá cơ bản liên quan đến
tỷ lệ an toàn vốn trong hoạt động ngân hàng: phân loại tài sản có rủi ro và xác định hệ số rủi ro cho từng loại tài sản; quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8% tính trên tổng tài sản điều chỉnh theo rủi ro Qua đó giúp đảm bảo khả năng chống đỡ của ngân hàng với rủi ro tốt hơn Tuy nhiên, qua quá trình dài áp dụng với xu thế phát triển của hệ thống ngân hàng trên thế giới, Basel I với bản sửa đổi năm 1996 đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế:
Thứ nhất, phân loại rủi ro chưa chi tiết cho các khoản vay Hệ số rủi ro
chưa chi tiết đối với rủi ro theo đối tác (ví dụ khả năng tài chính của khách hàng) hoặc theo đặc điểm của khoản tín dụng (ví dụ như thời hạn) Theo đó, các ngân hàng có cùng tỷ lệ an toàn vốn nhưng có thể đang đối mặt với các loại rủi ro khác nhau ở mức độ khác nhau
Thứ hai, Basel I chưa tính đến lợi ích của đa dạng hóa hoạt động: quy
định về vốn tối thiểu không khác biệt giữa một ngân hàng có hoạt động kinh doanh đa dạng và một ngân hàng kinh doanh tập trung
Thứ ba, Basel I chưa tính đến các rủi ro khác Trong quy định vốn tối
thiểu, Basel I mới chỉ đề cập tới những rủi ro về tín dụng, chưa đề cập đến những rủi ro khác như: rủi ro hoạt động, rủi ro quốc gia, rủi ro ngoại hối
1.2.2 Nội dung của hệ số an toàn vốn theo Basel II
Được ban hành vào tháng 6/2004, Basel II được đánh giá là bản hoàn thiện hơn trong việc giám sát an toàn ngân hàng thông qua việc hoàn thiện cách xác định tỷ lệ an toàn vốn Hệ số an toàn vốn theo Basel II vẫn duy trì ở mức không thấp hơn 8% nhưng cách tính CAR đã được thay đổi theo hướng nhạy
Trang 2214
cảm với nhiều loại rủi ro hơn Basel II thay đổi định nghĩa về tài sản điều chỉnh rủi ro, và đưa ra nhiều phương pháp để lựa chọn hơn trong việc xác định các rủi ro Bên cạnh đó, phạm vi áp dụng của Basel II rộng hơn bao gồm cả các tập đoàn tài chính đa ngành
Nội dung Basel II bao gồm một loạt các chuẩn mực giám sát nhằm hoàn thiện các kỹ thuật đánh giá an toàn ngân hàng và được cấu trúc theo 3 trụ cột sau:
a Trụ cột 1: Bổ sung quy định yêu cầu về vốn tối thiểu
Các nội dung bổ sung, hoàn thiện:
i Phần mẫu số của công thức tính vốn tối thiểu (bổ sung rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường)
ii Đổi mới việc đo lường rủi ro tín dụng thông qua việc hoàn thiện phương pháp chuẩn hóa và bổ sung phương pháp đánh giá nội bộ
cơ bản và phương pháp đánh giá nội bộ nâng cao
Đối với công thức tính hệ số an toàn vốn tối thiểu, hiệp ước Basel II đã thể hiện sự nhìn nhận toàn diện hơn về giám sát rủi ro của các ngân hàng thương mại
Trong đó:
RWA: Tài sản Có được điều chỉnh theo rủi ro
- Đối với tổng vốn: Ủy ban yêu cầu xác định thành phần vốn tương tự
như trong Basel I
- Đối với Tài sản Có điều chỉnh rủi ro:
Basel II bổ sung thêm rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường Bên cạnh đó RWA trong Basel II đã được tính thêm một số rủi ro thông qua việc tăng các hệ
Trang 2315
số rủi ro, từ đó đánh giá chính xác hơn mức độ an toàn vốn Ngoài Tài sản Có điều chỉnh theo rủi ro tín dụng có hai cách tính, Tài sản Có điều chỉnh theo các rủi ro khác được tính như sau:
RWA basel II = Vốn yêu cầu tối thiểu đối với từng rủi ro (K) x 12,5 1
+ Rủi ro tín dụng:
Theo Basel I:
RWA basel I = Tài sản Có x hệ số rủi ro (không đề cập đến xếp hạng tín dụng) 14
Nhưng theo Basel II:
RWA rủi ro tín dụng (phương pháp chuẩn Basel II) = Tài sản Có x hệ số rủi ro (đề cập đến
xếp hạng tín dụng)
Đồng thời: Basel II đưa ra 3 phương pháp đo lường:
▪ Phương pháp chuẩn hóa đánh giá rủi ro tín dụng:
RWA phương pháp chuẩn hóa của Basel II = Tài sản Có x hệ số rủi ro 1
Phương pháp này gần giống như phiên bản Basel I Tuy nhiên, điểm khác biệt của Basel II là: Basel II đề cập đến xếp hạng tín dụng đối với các chủ thể đi vay Giá trị các trọng số rủi ro phụ thuộc vào mức độ tín nhiệm (xếp hạng tín dụng) của người vay (từ AAA đến dưới B- và không xếp hạng) do các
cơ quan xếp hạng tín nhiệm độc lập quy định Điểm khác biệt nữa trong Basel
II là: nợ được chia thành 5 nhóm và có thêm hệ số 150% (trọng số lần lượt là 0%/20%/50%/100%/50%)
▪ Phương pháp tiếp cận nội bộ (IRB) cơ bản và nâng cao:
Ngoài phương pháp chuẩn hóa, Basel II cho phép các ngân hàng có thể lựa chọn phương pháp IRB để xác định xác suất vỡ nợ, kỳ đáo hạn hiệu dụng,
tỷ trọng tổn thất tín dụng, từ đó tính toán Tài sản Có điều chỉnh theo rủi ro tín dụng Tuy nhiên, ngân hàng muốn áp dụng phương pháp nội bộ này phải có sự
Trang 2416
chấp thuận của cơ quan giám sát ngân hàng Theo đánh giá của các chuyên gia, với cách tiếp cận này, vốn yêu cầu tối thiểu đối với rủi ro tín dụng sẽ được xác định chính xác hơn và có sự phân biệt về vốn yêu cầu tối thiểu giữa các khoản cho vay đối với các đối tượng khách hàng khác nhau
Tài sản có rủi ro trong phương pháp IRB của Basel II:
RWA phương pháp IRB_basel II : 12,5 x EAD x K 1
RWA - Tài sản có rủi ro - được xác định cụ thể theo từng hình thức cho vay, RWA khác biệt đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ với các khoản cho vay đối với doanh nghiệp lớn
+ Rủi ro hoạt động
Rủi ro hoạt động: là nguy cơ tổn thất do các quy trình, con người và hệ
thống nội bộ không đạt yêu cầu hoặc bị lỗi hay do các sự kiện bên ngoài 1 Đối với rủi ro hoạt động, các ngân hàng được lựa chọn một trong ba phương pháp tính toán nhu cầu về vốn cần thiết dự phòng rủi ro hoạt động với mức độ phức tạp và nhạy cảm với rủi ro tăng dần bao gồm: phương pháp chỉ số cơ bản (BIA), phương pháp chuẩn hóa (TSA), phương pháp nâng cao (AMA) Khi hoạt động của các ngân hàng càng phức tạp thì phải áp dụng phương pháp có
độ phức tạp cao hơn, đồng thời không cho phép ngân hàng chuyển ngược trở lại phương pháp đơn giản một khi đã được chấp nhận sử dụng các phương pháp nâng cao Ngược lại, nếu các ngân hàng được đánh giá không đủ điều
Trang 25kỳ ba năm trước đó nhân với tỷ lệ phần trăm cố định (gọi là alpha, ký hiệu: α) Vốn
dự phòng rủi ro hoạt động trong phương pháp BIA:
n: số năm mà lợi nhuận gộp là dương trong thời kỳ 3 năm trước đó
=15% Tỷ lệ này do Ủy ban Basel đặt ra
Áp dụng theo phương pháp TSA, hoạt động ngân hàng được chia làm 8 nhóm nghiệp vụ, mỗi nhóm nghiệp vụ có hệ số Beta (β) tương ứng (12% - 18%)
Đây là phương pháp hiện đại nhất để tính nhu cầu vốn dự phòng cho rủi
ro hoạt động Phương pháp này yêu cầu vốn được tính dựa trên hệ thống nội bộ đánh giá rủi ro hoạt động cơ bản của ngân hàng Hệ thống không chỉ thống kê thiệt hại bên trong và bên ngoài thực tế mà còn phân tích theo trình tự thời gian
Trang 2618
các yếu tố liên quan đến môi trường kinh doanh cũng như môi trường kiểm soát nội bộ của ngân hàng Ngân hàng muốn sử dụng phương pháp này cần phải được cơ quan giám sát chủ quản đồng ý và được sự hỗ trợ của cơ quan này, vì vậy phương pháp AMA ít thông dụng
+ Rủi ro thị trường
Rủi ro thị trường: là rủi ro của các khoản lỗ trong và ngoài bảng cân đối phát sinh do những biến động của giá cả thị trường 1 Các rủi ro thuộc dạng này là:
+ Rủi ro hối đoái và rủi ro hàng hóa trong toàn bộ ngân hàng Đối với rủi ro thị trường, vốn yêu cầu được tính thêm phần vốn cấp 3 gồm các khoản
nợ thứ cấp ngắn hạn với mục đích dự trữ
+ Rủi ro thuộc về các công cụ liên quan đến lãi suất và các khoản đầu
tư vào vốn cổ phần trong Sổ giao dịch
Sổ giao dịch bao gồm các khoản tín dụng trong các công cụ và hàng hóa tài chính được nắm giữ với mục đích giao dịch hoặc để rào chắn rủi ro cho các công cụ và hàng hóa tài chính khác trong Sổ giao dịch Để đạt tiêu chuẩn cho việc tính toán yêu cầu về vốn đối với Sổ giao dịch, các công cụ tài chính phải không bị hạn chế về khả năng được mua hoặc bán hay khả năng được bảo hiểm toàn diện Ngoài ra, các danh mục kinh doanh phải được quản lý một cách chủ động
Việc tính toán rủi ro thị trường được Ủy ban Basel hướng dẫn qua các phương pháp sau:
Yêu cầu vốn đối với rủi ro thị trường theo phương pháp chuẩn hóa sẽ được xem xét đối với từng yếu tố rủi ro bao gồm: rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái
và rủi ro hàng hóa
Trang 2719
i Rủi ro lãi suất: gồm rủi ro cụ thể của mỗi chứng khoán (chứng khoán
nợ do các tổ chức tín dụng/Chính phủ phát hành) khi trạng thái của nó là mua ròng hoặc bán ròng và rủi ro của danh mục chứng khoán (rủi ro thị trường chung) khi các trạng thái mua hoặc bán trong các chứng khoán hay công cụ khác nhau có thể bù trừ cho nhau 1
ii Rủi ro hối đoái: rủi ro nắm giữ ngoại tệ bao gồm cả vàng Đo lường
rủi ro hối đoái gồm hai bước: đo lường rủi ro trong trạng thái đồng tiền đơn và
đo lường rủi ro trong bù trừ trạng thái mua và bán của ngân hàng bằng các đồng tiền khác nhau (Rủi ro hối đoái trong một danh mục) 1 Đối với rủi ro hối đoái trong một danh mục, các ngân hàng có hai sự lựa chọn: phương pháp tốc ký xem xét tất cả các đồng tiền như nhau hoặc sử dụng mô hình nội bộ tính đến mức độ rủi ro hiện tại trên sự kết hợp danh mục của ngân hàng Theo phương pháp tốc ký, một con số danh nghĩa (hoặc giá trị hiện tại ròng) của trạng thái ròng bằng mỗi đồng tiền và bằng vàng được quy đổi theo tỷ lệ giao ngay sang đồng tiền hạch toán Tổng trạng thái mua, bán ròng được đo lường bằng các yếu tố sau:
+ Trạng thái bán ròng/mua ròng (trạng thái nào lớn hơn thì lấy) cộng + Trạng thái ròng (bán/mua) bằng vàng
+ Yêu cầu về vốn sẽ là 8% của tổng trạng thái mở ròng
Đáng lưu ý, Basel II cũng cho phép một ngân hàng có hoạt động kinh doanh ngoại tệ không đáng kể và không dùng trạng thái ngoại tệ cho kế toán riêng, theo quyết định của cơ quan giám sát quốc gia, sẽ được miễn trừ khỏi các yêu cầu vốn trên những trạng thái này với điều kiện là: Việc kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng được xác định là phần lớn trong tổng trạng thái mua và tổng trạng thái bán bằng tất cả các ngoại tệ, không vượt quá 100% vốn pháp định và tổng trạng thái mở ròng của ngân hàng được xác định trong đoạn trên không vượt quá 2% của vốn pháp định
Trang 2820
iii Rủi ro hàng hóa: là rủi ro của việc nắm giữ trạng thái hàng hóa bao
gồm kim loại quý (ngoại trừ vàng) 1 Có 3 phương pháp đo lường rủi ro hàng hóa: phương pháp bậc thang kỳ hạn, phương pháp đơn giản hóa, phương pháp xây dựng kịch bản để đo các rủi ro:
Để có thể sử dụng phương pháp này khi đánh giá rủi ro thị trường, các NHTM cần được cơ quan giám sát ngân hàng chấp thuận Yêu cầu tối thiểu mà mỗi ngân hàng phải đáp ứng bao gồm: phải có hệ thống quản trị rủi ro tương thích, hiện đại và đầy đủ dữ liệu cần thiết; có đủ số lượng chuyên viên được trang bị kỹ năng sử dụng các mô hình phức tạp trong giao dịch và trong quản trị rủi ro; mô hình của ngân hàng được cơ quan giám sát đánh giá có chất lượng, đã qua kiểm định về tính hợp lý và chính xác khi đo lường rủi ro Sau khi được chấp thuận thực hiện phương pháp mô hình nội bộ, các ngân hàng sẽ xây dựng mô hình quản trị rủi ro chi tiết theo các tiêu chuẩn đối với các loại rủi
ro lãi suất, rủi ro hối đoái và rủi ro hàng hóa
Trên cơ sở những tiêu chuẩn về mô hình quản trị rủi ro, các ngân hàng
sẽ xác định được giá trị VAR của mỗi giao dịch, của các danh mục và của toàn
bộ hoạt động ngân hàng Độ tin cậy của việc tính toán này theo yêu cầu phải đạt tối thiểu 99%
b Trụ cột 2: Các hướng dẫn liên quan đến công tác giám sát
Trụ cột thứ hai của Basel II đề cập đến các nội dung sau:
- Đưa ra bốn nguyên tắc quan trọng của việc kiểm tra, giám sát các ngân hàng thương mại
- Đề cập đến các vấn đề cụ thể phải được quan tâm trong quá trình kiểm tra giám sát: rủi ro lãi suất trong sổ ngân hàng, rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường
Trang 29ra, các ngân hàng được yêu cầu phải xây dựng kế hoạch thực hiện công khai tài chính: cơ cấu vốn, cơ cấu rủi ro và các đánh giá rủi ro, hiện trạng phù hợp vốn Đối với từng loại rủi ro riêng biệt, các ngân hàng phải mô tả các mục tiêu và các chính sách quản trị rủi ro của họ
1.2.3 Nội dung định hướng của hệ số an toàn vốn theo Basel III
Basel II được đánh giá là khung đánh giá rủi ro khá toàn diện Tuy nhiên, đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007, Basel II đã bộc
lộ một số nhược điểm:
- Thiếu yêu cầu về chi phí vốn với rủi ro thanh khoản, do đó có thể bị
vô hiệu và không thể ứng phó được trước các cuộc khủng hoảng
- Phương pháp luận đánh giá rủi ro của Basel II quá tin cậy vào cơ quan xếp hạng tín dụng
- Chưa lường hết những rủi ro của các ngân hàng thương mại khi đối mặt với bản chất chu kỳ phát triển và suy thoái của nền kinh tế
- Chưa lường trước được những ảnh hưởng của các sản phẩm tài chính mới đến rủi ro hệ thống ngân hàng
Trang 3022
Ủy ban đã công bố Hiệp ƣớc tiêu chuẩn vốn Basel III nhƣ một phiên bản hoàn thiện các quy định trong Basel II Theo lộ trình thực hiện, các nguyên tắc về giao dịch ngoại bảng sẽ đƣợc thực hiện vào cuối năm 2010 còn các quy định mới về an toàn vốn tối thiểu sẽ đƣợc thực hiện trong một giai đoạn sáu năm bắt đầu từ năm 2013 Lộ trình thực hiện đƣợc kéo dài nhằm tạo điều kiện cho các ngân hàng có đủ thời gian để điều chỉnh lợi nhuận giữ lại và những lỗ lực tăng vốn
Đối với Basel III, các ngân hàng buộc phải đăng ký tỷ lệ vốn tự có thực
có trên tài sản rủi ro lên 7%, cao hơn nhiều lần so với tiêu chuẩn 2% hiện hành Ngân hàng nào không xây dựng quỹ dự phòng hoặc tỷ lệ dự trữ không đạt mức tối thiểu mà Basel III quy định, cơ quan quản lý sẽ bắt buộc họ phải trích lợi nhuận để gia tăng vốn
Mục đích của việc gia tăng này để làm giảm rủi ro phá sản, gây rối loạn cho toàn hệ thống Quy định này cũng đƣợc cho là sẽ giúp hệ thống ngân hàng tránh tích tụ nợ và rủi ro quá mức nhƣ đã xảy ra và gây chấn động nền kinh tế thế giới trong các cuộc khủng hoảng vừa qua
Để tránh gây áp lực lên công cuộc phục hồi kinh tế đang gặp rất nhiều khó khăn trên thế giới, việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ đƣợc triển khai dần dần trong khoảng thời gian tám năm và có hiệu lực hoàn toàn vào năm 2019
Từ 2012 đến năm 2015, các ngân hàng phải tích lũy nguồn vốn dự trữ phải bằng hoặc lớn hơn 4,5% so với tài sản và tỷ lệ dự trữ tối thiểu phải đạt 7% vào ngày 01/01/2019
Những cải cách của Basel III nhằm đánh giá chính xác vốn tự có thực của một ngân hàng đồng thời hỗ trợ các cơ quan giám sát trong việc đánh giá rủi ro hệ thống Cụ thể:
Thứ nhất, tiêu chuẩn vốn tự có chặt chẽ và cụ thể hơn
Trang 3123
Đối với vốn tự có: Basel III nhấn mạnh việc nâng cao chất lượng của vốn tự có Các chuyên gia đã nhấn mạnh rằng những khoản dư nợ rủi ro của ngân hàng cần được đảm bảo bằng cơ sở vốn tự có chất lượng cao Vốn tự
có cấp 3 được áp dụng để bảo đảm cho các khoản thua lỗ từ rủi ro thị trường sẽ được loại trừ dần khỏi vốn tự có Các ngân hàng được yêu cầu phải giải trình đầy đủ các thành phần của vốn tự có
Đối với tài sản có rủi ro: nhấn mạnh việc xác định chính xác mức đội rủi ro của tài sản, đặc biệt là liên quan đến các hoạt động trên thị trường vốn, các giao dịch ngoại bảng, sản phẩm chứng khoán hóa, các rủi ro đối tác trên thị trường phái sinh OTC và các hợp đồng repo Những tài sản này không quá rủi ro trong chu kỳ tăng trưởng nhưng sẽ trở nên vô cùng rủi ro trong thời
kỳ suy thoái do tính liên thông giữa các thị trường Ủy ban đã tán thành ý kiến: các rủi ro của thị trường phái sinh sẽ phải bị yêu cầu một tấm đệm vốn từ 1-3% thay vì 0% như hiện nay
Các ngân hàng được yêu cầu nắm giữ an toàn vốn tối thiểu 4,5% (tính trên cơ sở vốn tự có thực) so với 2% của basel II và thêm một tỷ lệ an toàn vốn bổ sung là 2,5% và lượng vốn tự có này phải là vốn tự có thực Cơ quan thanh tra có quyền buộc các ngân hàng phải đảm bảo yêu cầu trên Như vậy, tổng cộng lại phải đảm bảo 7% vốn tự có là cổ phiếu thường Tỷ lệ an toàn vốn được thay đổi để có thể bảo đảm cho các khoản thua lỗ cả trong chu kỳ khủng hoảng kinh tế Lộ trình cụ thể của việc thực thi hiệp ước Basel III:
Bảng 1.2: Lộ trình thực hiện Basel III
Chỉ tiêu 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019
Tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối
thiểu 3,5% 4,0% 4,5% 4,5% 4,5% 4,5% 4,5% Vốn đệm dự phòng 0,63% 1.25% 1,88% 2,5% Vốn chủ sở hữu tối thiểu
cộng vốn đệm dự phòng 3,5% 4% 4,5% 5,13% 5,76% 6,38% 7%
Trang 32thực tế cho thấy những thua lỗ chính trong suốt giai đoạn 2007 - 2009 của khủng hoảng tài chính toàn cầu xuất phát từ các tài sản ngoại bảng, đặc biệt là những rủi ro từ các sản phẩm chứng khoán hóa Ủy ban đã nhấn mạnh những cải cách cụ thể sau:
+ Ban hành cách xác định vốn tự có theo mô hình độ căng Var;
+ Tăng thêm vốn tự có cho các khoản rủi ro gia tăng được áp dụng;
+ Trọng số rủi ro cao hơn với chứng khoán hóa (20% thay cho 7% đối với các khoản nợ được xếp hạng AAA);
+ Tăng trọng số rủi ro đối với các hoán đổi tín dụng;
+ Ban hành các quy định chặt chẽ hơn với dư nợ chứng khoán được xếp hạng bởi các cơ quan xếp hạng tín nhiệm độc lập
Ngân hàng sẽ phải đảm bảo vốn tự có cho các tài sản ngoại bảng trên gấp 4 lần so với yêu cầu của Basel II trước đó Ủy ban cũng hướng dẫn cách đánh giá lại đối với các nguyên tắc về rủi ro thị trường, bao gồm các phân tích
về sự khác biệt giữa nội bảng và ngoại bảng
Trang 3325
Thứ ba: các rủi ro hệ thống và các biến cố đi kèm đã được tính đầy đủ
vào các mô hình đo lường rủi ro và mô hình đánh giá độ căng của ngân hàng
Mô hình Var của Basel II đã đánh giá không chính xác rủi ro trong giai đoạn kinh tế khó khăn do những biến cố hệ thống xảy ra với tần suất nhiều hơn và các khoản thua lỗ mà ngân hàng phải gánh chịu do các biến cố là nhiều hơn những gì mô hình Var đã giả định Các dự báo dựa trên các dữ liệu lịch sử cũng không chính xác khi đặt vào giai đoạn khủng hoảng Những nhược điểm của mô hình VaR buộc Ủy ban phải khuyến khích các ngân hàng bổ sung các cách tiếp cận với một phần mềm đánh giá độ căng đủ mạnh để có thể đánh giá toàn diện các rủi ro bao gồm cả rủi ro hệ thống Basel III cung cấp phương pháp luận để xây dựng các phương pháp đánh giá độ căng hiệu quả hơn so với Basel II
1.3 Thực hiện hệ số an toàn vốn Basel II tại các quốc gia tiêu biểu
1.3.1 Việc áp dụng tại một số nước trong Ủy ban Basel
Việc thực hiện Basel II ở một số nước Châu Á thuộc Ủy ban Basel sau khi Basel II được thông qua cụ thể theo bảng sau:
Bảng 1.3: Lộ trình thực hiện các cách tiếp cận trụ cột I
Quốc gia Các cách tiếp cận rủi ro tín dụng Các cách tiếp cận rủi ro hoạt động
SA IRBF IRBA BIA SA AMA
Trung Quốc Không áp
dụng
Dự kiến 2010
Không áp dụng
Không
áp dụng
Dự kiến
2010 Không áp dụngHồng Kong 1/1/2007 1/1/2008 1/1/2007 Không áp dụng
Ấn Độ 31/3/2007 Không áp dụng 01/4/200
7 Không áp dụngNhật Bản 1/4/2007 1/4/2008 01/4/2007 1/4/2008
Trang 3426
Các nước đã tiến hành và có lộ trình cụ thể áp dụng các quy định của Basel II về tiếp cận đo lường rủi ro với các phương pháp tiếp cận hiện đại ngoại trừ Ấn Độ chỉ thực hiện áp dụng theo các phương pháp tiếp cận đơn giản nhất trong quy định Một số nước đã áp dụng hoàn toàn các phương pháp đo lường rủi ro hiện đại nhất như Hàn Quốc, Singapore Đến cuối tháng 3/2013, theo báo cáo công khai của Ủy ban Basel, các nước trên đã chấp hành toàn bộ các yêu cầu về ba trụ cột của Basel II, trong đó có các yêu cầu về vốn tối thiểu
Cụ thể quá trình triển khai các quy định Basel tại Ấn Độ như sau:
Với quan điểm thực hiện khung vốn tối thiểu đề cập đến rủi ro tín dụng của các tài sản nội bảng và ngoại bảng cũng như tăng sức mạnh vốn cơ sở của các ngân hàng, tháng 4/1992, Ngân hàng dữ trữ Ấn Độ (Reserve Bank of India)
đã giới thiệu một hệ thống tỷ lệ tài sản rủi ro cho các ngân hàng (bao gồm các ngân hàng nước ngoài) ở Ấn Độ như một thước đo mức đủ vốn Theo đó, các tài sản nội bảng trên, các khoản mục ngoài quỹ và các cam kết ngoại bảng được quy định áp dụng bắt buộc các tỷ trọng rủi ro và các ngân hàng phải duy trì quỹ vốn tự có tối thiểu đối với với toàn bộ các tài sản có đã điều chỉnh rủi ro
và các cam kết ngoại bảng một cách cơ bản Tháng 6/2004, Ngân hàng dữ trữ
đã đưa ra chỉ đạo về việc duy trì vốn đối với các rủi ro thị trường trong các phạm vi của bản sửa đổi bổ sung đối với rủi ro thị trường được Ủy ban Basel phát hành vào năm 1996
Sau các lần sửa đổi, cập nhật Hiệp ước vốn năm 1996 vào năm 4/2004, 11/2005, 6/2006 của Ủy ban Basel, trên quan điểm hướng tới tính nhất quán và
sự hòa hợp với các tiêu chuẩn quốc tế, Ngân hàng dự trữ Ấn Độ đã quyết định tất cả các ngân hàng thương mại tại Ấn Độ sẽ thực hiện theo phương pháp tiêu chuẩn đối với rủi ro tín dụng và phương pháp BIA đối với rủi ro hoạt động Các ngân hàng sẽ phải tiếp tục áp dụng phương pháp TSA đối với việc tính yêu cầu vốn tối thiểu đối với các rủi ro thị trường Các ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Ấn Độ và các ngân hàng Ấn Độ có hiện diện hoạt động ngoài Ấn Độ
Trang 3527
phải tuân thủ các cách tiếp cận đã được lựa chọn như trên theo khung sửa đổi
từ 31/3/2008 Toàn bộ các ngân hàng thương mại còn lại (ngoại trừ ngân hàng địa phương và Ngân hàng nông thôn - Regional Rural Banks) phải thực hiện những cách tiếp cận này của bản khung sửa đổi vào 31/3/2009
Song song với việc quy định thời gian áp dụng các phương pháp cơ bản,
Ấn Độ cũng đưa ra kế hoạch về thời gian áp dụng các phương pháp tiếp cận tiên tiến đối với các thước đo vốn, cụ thể như sau:
Bảng 1.4: Kế hoạch áp dụng các phương pháp đo lường vốn tiến tiến
tại Ấn Độ
T
T Các tiếp cận
Thời gian sớm nhất
Thời gian chắc chắn phải áp dụng
1
Cách tiếp cận mô hình nội bộ
(Internal Model Approach) đối với
2 Cách tiếp cận tiêu chuẩn đối với rủi ro hoạt động 1/4/2010 30/9/2010
3 Cách tiếp cận tiên tiến đối với rủi ro hoạt động 1/4/2012 31/3/2014
4 Cách tiếp cận xếp hạng tín dụng nội bộ đối với rủi ro tín dụng 1/4/2012 31/3/2014
(Nguồn: Báo cáo của ngân hàng dự trữ Ấn Độ ngày 08/02/2010)
Các ngân hàng được khuyến khích cam kết lựa chọn một phương pháp ước lượng nội bộ để chuẩn bị trước cho sự chuyển đổi sang cách tiếp cận tiên tiến Ngân hàng quyết định chuyển luôn sang cách tiếp cận tiên tiến có thể có được sự phê duyệt của cơ quan chức năng thực hiện theo thời gian như đã được quy định trong kế hoạch về thời gian Nếu kết quả thực hiện các phương pháp ước lượng các chỉ số chưa áp dụng đầy đủ phương pháp nâng cao theo thời gian đã được đề cập ở trên, họ có thể chọn lùi thời gian một cách thích hợp theo sự chuẩn bị của ngân hàng
Trang 361.3.2 Việc áp dụng tại một số nước ngoài Ủy ban Basel
Các quốc gia trong cùng khu vực với Việt Nam đã tiến hành áp dụng các phương pháp tiếp cận rủi ro theo Basel II từ rất sớm sau khi Basel II có hiệu lực Theo kết quả nghiên cứu của Ủy ban Basel vào tháng 7/2012, kết quả thực hiện đầy đủ các quy định của Basel II của một số nước như sau:
Bảng 1.5: Kết quả thực hiện Basel II tại một số nước Châu Á
Các phương pháp tiếp cận Tình trạng thực hiện
đầy đủ quy định Năm thực hiện
Trang 37Mặc dù không là thành viên của Ủy ban Basel, nhưng các nước láng giềng của Việt Nam đã tiếp cận các quy định của Basel II với mức tiếp cận tiên tiến nhất, có thể thấy mức độ tiếp cận còn tiên tiến hơn một số nước thành viên
Ủy ban Basel như Thái Lan, Malaisya, Philipin đã áp dụng phương pháp tiên tiến nhất để đo lường các rủi ro hoạt động và rủi ro tín dụng từ năm 2007 Với Philipin, mặc dù tiếp cận rất sớm các quy định của Basel II (năm 2007, một năm sau khi Basel II có hiệu lực) nhưng mới chỉ áp dụng phương pháp đo lường cơ bản nhất
Trong thực tế áp dụng các quy định của Basel II tại Thái Lan và Malaysia hướng tới việc thực hiện đầy đủ Basel II lần lượt từ năm 2008 Trong
ba nước, chỉ có Thái Lan đã thực hiện đầy đủ các cách tiếp cận nâng cao và tiên tiến nhất theo từng bước, trong 4 năm từ 2008 - 2012 Trong quá trình thực hiện, các nước này đã đưa ra nhiều khuyến cáo về cách tiếp cận do tình trạng phức tạp của thị trường ngân hàng của họ, họ cho phép các ngân hàng địa phương tăng thời gian tập hợp số liệu theo yêu cầu bằng những luật mới Ở Thái Lan, các nhà lập pháp đã đặt ra trước đạo luật nghiêm ngặt để đối diện với
Trang 381.3.3 Thực trạng áp dụng tại Việt Nam
Tại Việt Nam, chưa có một lộ trình chính thức nào được công bố về việc
áp dụng các chuẩn mực Basel vào việc giám sát hoạt động ngân hàng nói chung cũng như hệ số an toàn vốn nói riêng Các tiêu chuẩn về an toàn hoạt động trong đó có hệ số an toàn vốn của các tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước quy định theo từng thời kỳ cụ thể
Những quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động của các ngân hàng đầu tiên được thể hiện trong các pháp lệnh về ngân hàng năm 1990 Đã có một
số quy định về an toàn hoạt động nhưng không có quy định về hệ số an toàn vốn như quy định của Basel I được ban hành năm 1988
Do những quy định về đảm bảo an toàn theo các pháp lệnh ngân hàng một phần còn thô sơ, một phần không có chế tài thực hiện một cách nghiêm minh cộng với những yếu tố khác dẫn làm cho Việt Nam gặp rắc rối với hệ thống ngân hàng lần thứ hai cùng thời điểm với cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính năm 1997-1998 trong khu vực
Những chuẩn mực quốc tế về đảm bảo an toàn hoạt động lần đầu tiên được nghiên cứu và áp dụng tại Việt Nam sau 11 năm kể từ khi Basel I được ban hành Năm 1999 hệ số an toàn vốn đầu tiên được quy định tại Việt Nam theo quyết định số 297/1999/QĐ - NHNN5 ngày 25/8/1999 về việc ban hành quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng chính thức
Trang 3931
Quyết định số 457/2005/QĐ - NHNN ngày 19/4/2005 của thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành: Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng Tại quyết định này, các hệ số an toàn hoạt động được quy định cụ thể, chi tiết: tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, giới hạn tín dụng đối với khách hàng, tỷ lệ về khả năng chi trả, tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn, giới hạn góp vốn, mua cổ phần Trong đó, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8%, thời gian thực hiện được kéo dài trong 3 năm, trong đó mỗi năm các ngân hàng phải tăng tối thiểu 1/3 số tỷ
lệ còn thiếu
Trong bối cảnh thế giới trải qua cuộc khủng hoảng năm 2007 và cuộc suy thoái kéo dài cùng với sự sụp đổ của một loạt các ngân hàng lớn như: Northern Rock, Lehman Brothes, Fiannie Mae, Freddie Mac, Washington Mutual, Bear Stearns Với thực trạng các ngân hàng Việt Nam cấp tín dụng quá lớn vào bất động sản và chứng khoán, Ngân hàng Nhà nước đã nâng tỷ lệ an toàn vốn lên 9% qua thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 có hiệu lực từ ngày 01/10/2010, cao hơn so với quy định tại QĐ 457/2005/QĐ - NHNN: 1% và nâng trọng số rủi ro đối với các khoản cấp tín dụng kinh doanh bất động sản và liên quan đến chứng khoán
1.3.4 Bài học kinh nghiệm
Việc áp dụng các quy định của Ủy ban Basel là tùy thuộc vào quy định của các Ngân hàng Nhà nước hoặc các cơ quan giám sát của từng quốc gia phù hợp với thực trạng nền kinh tế và hệ thống ngân hàng của mỗi nước Tuy nhiên, việc áp dụng cũng rất cần thiết để làm lành mạnh, minh bạch hoạt động của hệ thống ngân hàng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế Trên thực tế đã
có hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ thực hiện theo các quy định của Basel I, một số nước đã thực hiện Basel II và một số đang trong kế hoạch thực hiện Basel II và Basel III
Trang 4032
Qua nghiên cứu việc thực hiện các quy định Basel II của các nước thành viên Ủy ban Basel cũng như các nước không thuộc Ủy ban Basel cùng trong khu vực Đông Nam Á và Châu Á, Việt Nam có thể rút ra bài học kinh nghiệm cho việc áp dụng của mình như sau:
- Ngân hàng Nhà nước phải xây dựng kế hoạch thực hiện đầy đủ quy định của Basel, trong thời điểm hiện tại, kế hoạch đó nên là việc thực hiện Basel II Lộ trình thực hiện phải rất chi tiết về thời gian cũng như quy định về các phương pháp tiếp cận Song song với việc xây dựng kế hoạch thực hiện là việc xây dựng hệ thống pháp lý, quy định để đưa các quy định Basel vào hệ thống luật pháp và ban hành các quy định về quản lý rủi ro, trọng số rủi ro đối với các tài sản để tạo cơ sở cho các ngân hàng thực hiện Thường xuyên cập nhật các yêu cầu, phương pháp đo lường mới hoặc chỉnh sửa được Ủy ban Basel ban hành để điều chỉnh hệ thống các quy định cho phù hợp
- Đưa ra các quy định về giám sát việc thực hiện đầy đủ các quy định của Basel Một trong những khó khăn lớn nhất đối với các nước khi thực hiện đầy
đủ các yêu cầu của Basel là việc thu thập số liệu Do đó, để đảm bảo các ngân hàng hoàn toàn có khả năng thực hiện khi các quy định thực hiện có hiệu lực, Ngân hàng Nhà nước buộc phải giám sát sát sao đối với kế hoạch chuẩn bị của các ngân hàng
- Căn cứ trên sự phát triển của thị trường tài chính, năng lực của ngành ngân hàng, Ngân hàng nhà nước có thể có nhiều lựa chọn các phương pháp quản
lý rủi ro phù hợp đối với các ngân hàng Có thể kết hợp giữa các phương pháp đo lường rủi ro tiêu chuẩn với các phương pháp đo lường rủi ro nâng cao, hoặc tăng dần toàn bộ từ các phương pháp tiêu chuẩn lên các phương pháp nâng cao hoặc quy định cách tiếp cận theo quy mô, năng lực tài chính của từng ngân hàng
1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng hệ số an toàn vốn tại Việt Nam
Hệ số CAR quy định mức vốn ngân hàng dự phòng cho những rủi ro trong quá trình hoạt động của mình Trong quá trình hoạt động, ngân hàng phải