SO SáNH KHả NĂNG TĂNG TRọNG Và CHO THịT KHI Vỗ BéO GIữA BÊ THUầN BRAHMAN Và BÊ LAI SIND NUÔI TạI TUYÊN QUANG Đinh Văn Tuyền 1 , Nguyễn Thành Nam 2 , Phạm Hùng Cường 1 , Nguyễn Thiện Tr
Trang 1SO SáNH KHả NĂNG TĂNG TRọNG Và CHO THịT KHI Vỗ BéO GIữA BÊ THUầN BRAHMAN Và BÊ LAI SIND NUÔI TạI TUYÊN QUANG
Đinh Văn Tuyền 1 , Nguyễn Thành Nam 2 , Phạm Hùng Cường 1 ,
Nguyễn Thiện Trường Giang 1
1 Bộ môn Nghiên cứu Bò; 2 SV Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội
Summary
An feedlot experiment using 5 lai Sind (crossbred between Red Sindhy X Yellow cattle) and 5 pure Brahman calves, all aged approximately 18 months old at the commence, was conducted in Tuyen quang Province to compare growth rate and carcass characteristics between the two breeds of cattle All calves were given the same diet made of maize silage, cassava powder, soybean meal and cottonseeds (10.9 Mj
ME and 159 g protein/kg DM) for 84 days Results showed that averaged liveweigh gain of pure Brahman cattle (1.42 kg/head/day) was significantly higher (P<0.01) than that of lai Sind animals (0.97 kg/ head/day) Carcass and lean meat percentage of Brahman calves (42 and 34% of LW, respectively) were also higher than those parametters of lai Sind calves (38.5 and 29.6% LW, respectively) However, no difference in Feed Conversion Rate was observed between the two groups (P>0.05), yet the value of both groups was low (3.9 to 4.5 kg DM/kg LW gain) It was concluded that Brahman calves produced higher performance than lai Sind animals under such feedlot condition as in this experiment and that FCR of both groups was low or feed effeciency was high as compared with values reported in the literature
Keyword: lai Sind, Brahman, liveweight gain, feed conversion rate, carcass, lean meat
1 Đặt vấn đề
Cơ cấu đàn bò thịt của nước ta hiện nay vẫn chủ yếu là bò địa phương và bò lai Sind Trong tổng đàn bò 6,5 triệu con của cả nước, bò địa phương vẫn chiếm tới 74% và bò lai Sind khoảng 26% (Cục Chăn nuôi, 2006)
Đàn bò địa phương của nước ta chủ yếu là bò vàng có khả năng thích nghi
và chịu đựng điều kiện kham khổ rất tốt nhưng có nhược điểm là tầm vóc nhỏ bé, năng suất thịt thấp Do đó để nâng cao tầm vóc và khả năng sản xuất thịt của đàn
bò thịt, từ những năm đầu của thế kỷ 20, các giống bò thịt có tầm vóc lớn như bò Red Sindhy (thường gọi là bò Sind), bò Ongle đã được nhập về Việt nam và cho phối với bò vàng địa phương Quá trình lai tạo này đã diễn ra liên tục cho đến nay
Bò lai Sind tuy có tầm vóc lớn hơn bò vàng Việt nam nhưng nhìn chung tỷ
lệ thịt vẫn còn thấp so với các giống chuyên thịt trên thế giới Chính vì vậy mà trong những năm gần đây, khi kinh tế Việt nam có những bước tiến đáng kể và do
Trang 2đó nhu cầu về thịt bò chất lượng cao ngày càng tăng, thì một số địa phương đã bắt
đầu nhập đàn bò thịt thuần về nuôi thử nghiệm Đến nay tổng số bò thịt thuần đã
được nhập về nuôi tại Việt nam ước tính vào khoảng 5000 con
Trong chăn nuôi bò thịt, vỗ béo là một khâu quan trọng để làm tăng năng suất và chất lượng thịt Do đó để đánh giá khả năng sản xuất của bò Brahman thuần ngoại nhập thì ngoài việc theo dõi khả năng sinh trưởng, thích nghi, sinh sản cần phải đánh giá khả năng tăng trọng và cho thịt sau khi vỗ béo Xuất phát từ lí do trên, chúng tôi tiến hành đề tài “So sánh khả năng tăng trọng và cho thịt khi vỗ béo giữa bê thuần Brahman và bê lai Sind nuôi tại tỉnh tuyên quang "
2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1 Thời gian và địa điểm
Thí nghiệm vỗ béo được tiến hành tại Trại giống Nông Tiến – Công ty Giống và Vật tư Nông nghiệp Tuyên Quang- Xã Nông Tiến thị xã Tuyên Quang tỉnh Tuyên Quang trong thời gian từ tháng 12 năm 2006 đến tháng 3 năm 2007
2.2 Gia súc thí nghiệm
Gia súc được sử dụng cho thí nghiệm này là 05 bê đực Brahman thuần và 05
bê đực lai Sind Vì mục đích chính của đề tài là nhằm so sánh khả năng tăng trọng
và cho thịt khi vỗ béo giữa 2 giống bò (bò thuần Brahman và bò lai Sind) nên bê thí nghiệm được lựa chọn để có tuổi tương đương nhau (khoảng 18 tháng tuổi) Và do
đó khối lượng cơ thể khác nhau giữa 2 nhóm bê ở thời điểm bắt đầu thí nghiệm không ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu
2.3 Thức ăn và khẩu phần
Khẩu phần vỗ béo được xây dựng từ cây ngô ủ chua, bột sắn, hạt bông và khô đỗ tương Khẩu phần được phối hợp để đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng của bê tăng trọng trên 1kg/con/ngày theo tiêu chuẩn của Kearl (1989) Thành phần hóa học và tỷ lệ các loại nguyên liệu dùng trong khẩu phần được trình bày ở Bảng 1 và Bảng 2
Bảng 1 Thành phần hóa học của các loại thức ăn sử dụng trong thí nghiệm
(% vật chất khô)
Trang 3
Chất khô
(DM)
Protein
Ngô ủ chua 21,24 7,16 2,39 32,57 66,99 37,23 7,38 Hạt bông 87,70 21,93 22,05 28,08 52,56 35,95 4,57
Khô dầu đỗ
Hỗn hợp
khẩu phần1 56,65 15,86 6,45 14,36 28,73 18,35 5,16 1
Hỗn hợp sau khi đã được trộn theo dạng khẩu phần hoàn chỉnh (TMR)
1 Tính theo vật chất khô; 2 Giá trị phân tích thực; 3 Giá trị ước tính từ thành phần hóa học
Cách trộn thức ăn
Trộn đều lần lượt theo thứ tự sau: các thành phần có hàm lượng thấp trong khẩu phần (urea và khoáng) được trộn đều với nhau trước, sau đó hỗn hợp này
được trộn tiếp với khô đậu tương, kế đến là hạt bông rồi đến bột sắn Hỗn hợp thức
ăn này ở dạng khô nên được trộn sẵn theo từng mẻ lớn, mỗi mẻ đủ để có thể cho
ăn trong vòng 1 tuần Do thức ăn ủ chua được bảo quản riêng nên thành phần này
được trộn với hỗn hợp thức ăn dạng khô nói trên ngay trước mỗi bữa cho bê ăn theo tỷ lệ đã định
Trang 42.4 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được bố trí theo dạng ngẫu nhiên hoàn toàn gồm 2 lô, mỗi lô 5
con Bê được nuôi nhốt cá thể và như vậy mỗi lô thí nghiệm sẽ có số n =5 Trước
khi bắt đầu thí nghiệm, bê được tẩy giun sán bàng thuốc Hanmectin của Công ty Hanvet Sau đó bê được nuôi chuẩn bị 15 ngày để làm quen với khẩu phần thí nghiệm và tiếp đến là 84 ngày nuôi thí nghiệm Trong giai đoạn này, bê được cho
ăn tự do ngày 2 lần vào 8h sáng và 4 h chiều (Lượng thức ăn cho ăn = 110% tổng lượng ăn vào của ngày hôm trước) Tổng lượng thức ăn cho ăn và lượng thức ăn thừa được cân và ghi chép hàng ngày còn khối lượng cơ thể được cân mỗi tuần 1 lần Bê được uống nước tự do và chuồng trại được vệ sinh ngày 1 lần Sơ đồ thí nghiệm được trình bày ở Bảng 3
(Bê lai Sind)
Lô II (Bê Brahman thuần)
Phương thức nuôi dưỡng Cá thể, cho ăn tự do Cá thể, cho ăn tự do
2.5 Phân tích mẫu
Các mẫu nguyên liệu dùng để phối hợp khẩu phần ăn được phân tích để xác
định các thành phần chất khô, protein thô, mỡ thô, xơ thô, khoáng, NDF và ADF ngay trước khi phối trộn Các mẫu thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cũng được lấy trước khi cho ăn (ngay sau khi phối trộn) để xác định hàm lượng các thành phần hóa học trên Mẫu thức ăn thừa cũng được lấy ngẫu nhiên 3 lần trong suốt thời gian thí nghiệm để xác định hàm lượng chất khô nhằm tính toán chính xác lượng chất khô
ăn vào của bê thí nghiệm Tất cả các chỉ tiêu phân tích đều được thực hiện tại phòng phân tích thức ăn Viện Chăn nuôi theo các qui trình đã được công nhận
2.6 Chỉ tiêu theo dõi
Trang 5- Tăng trọng: bò được cân để xác định khối lượng 1 tuần/lần vào buổi sáng trước khi cho ăn
- Lượng thức ăn ăn vào: được xác định dựa trên số liệu thức ăn cho ăn và còn thừa được cân hàng ngày Chất khô ăn vào = (Thức ăn cho ăn x % chất khô) - (Thức ăn còn thừa x % chất khô)
- Hiệu quả sử dụng thức ăn: tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng
- Hiệu quả kinh tế: sơ bộ tính toán giá thành thức ăn vỗ béo và giá thành 1
kg tăng trọng
2.7 Xử lý số liệu
Tất cả các số liệu được xử lý bằng chương trình MINITAB 14 Sai khác giữa giá trị trung bình của 2 lô thí nghiệm về các chỉ tiêu khả năng ăn vào, tăng trọng và tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng được xác định bằng phân tích phương sai ANOVA
3 Kết quả và thảo luận
3.1 Khả năng tăng trọng và tiêu tốn thức ăn
Kết quả về thay đổi khối lượng, tăng trọng và tiêu tốn thức ăn của bò trong thời gian thí nghiệm được trình bày trong Bảng 4 và 5
P đầu kỳ (kg) 131,8a ± 8,29 164,8b ± 10,50 <0,05
P 28 ngày (kg) 157,8a ± 10,80 201,8b ± 12,10 <0,01
P 56 ngày (kg) 185,6a ± 13,20 244,3b ± 11,30 <0,01
P 84 ngày (kg) 213,0a ± 11,10 283,8b ± 9,96 <0,01 ADG (kg/con/ngày) tháng 1 0,93a ± 0,09 1,32b ± 0,07 <0,05 ADG tháng 2 1,00a ± 0,09 1,52b ± 0,07 <0,01 ADG tháng 3 0,98a ± 0,09 1,41b ± 0,07 <0,01
Ghi chú: (ADG): tăng trọng bình quân/ngày; (P): khối lượng
Vì mục đích chính của thí nghiệm là so sánh khả năng tăng trọng và cho thịt khi vỗ béo giữa bê thuộc 2 giống khác nhau nên tuổi bắt đầu thí nghiệm được xác
Trang 6định là yếu tố quan trọng cần thiết phải đồng đều Do đó sự khác nhau về khối lượng trung bình giữa 2 lô thí nghiệm ở thời điểm bắt đầu thí nghiệm là điều không tránh khỏi do tốc độ sinh trưởng trong giai đoạn từ sơ sinh đến 18 tháng tuổi của
bê thuộc 2 nhóm giống là khác nhau
Khả năng tăng trọng của bê thuần Brahman trong giai đoạn thí nghiệm cũng cao hơn hẳn bê lai Sind Sau 3 tháng thí nghiệm, khối lượng trung bình của bê lai Sind đã tăng từ 131,8 kg lên 213,0 kg (khối lượng tăng tuyệt đối 81,2kg) trong khi
bê Brahman thuần tăng từ 164,8 lên 283,8 kg (khối lượng tăng tuyệt đối 119 kg) (Bảng 4) Tăng trọng trung bình (kg/con/ngày) của bê thuần Brahman (1,42 kg/con/ngày) cao hơn đáng kể (P<0,01) so với giá trị này ở bê lai Sind (0,97 kg/con/ngày)
Kết quả tăng trọng của bê thuần Brahman và bê lai Sind trong thí nghiệm của chúng tôi cao hơn khá nhiều so với kết quả của các nghiên cứu trước kia trên
bò lai Zebu và lai chuyên thịt (Lê Viết Ly và cộng sự., 1996; Vũ Văn Nội và cộng sự., 1999; Vũ Chí Cương và cộng sự., 2003) Tuy nhiên điều đáng lưu ý là trong các thí nghiệm trước, bò chủ yếu được vỗ béo bằng các phụ phẩm nông công nghiệp có hàm lượng dinh dưỡng thấp hơn các loại thức ăn sử dụng trong thí nghiệm này
Kết quả về tăng trọng của chúng tôi cũng cao hơn so với một số kết quả vỗ béo bò loại thải (0,865 – 0,921kg/con/ngày) của Victo Clarke và cộng sự (1996) nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với kết quả của McCrab và cộng sự (2000) trên bò thuần Brahman tại Australia (1,9 kg/con/ngày) nuôi bằng khẩu phần có hàm lượng
rỉ mật cao Tuy nhiên cần phải lưu ý ở thí nghiệm của Mc.Crab và cộng sự, bò thí nghiệm được bổ sung hocmon sinh trưởng và do đó mức tăng trọng cao hơn là có thể lí giải được
Một điểm đáng lưu ý khác trong kết quả thí nghiệm của chúng tôi là bê tăng trọng cao liên tục trong suốt 3 tháng thí nghiệm ở các thí nghiệm khác, nhất là các thí nghiệm vỗ béo trên đối tượng bò loại thải, khối lượng bò thường tăng cao ở tháng thứ nhất sau đó mức tăng trọng giảm dần ở tháng thứ 2 và giảm mạnh ở tháng thứ 3 Điều này có thể là do bê sử dụng trong thí nghiệm này có tuổi khá thấp (18 tháng tuổi) nên trong giai đoạn thí nghiệm, bê vẫn tiếp tục phát triển cả về
Trang 7thể vóc và do đó khối lượng tăng liên tục và ổn định ở các thí nghiệm khác bò thí nghiệm hầu hết đều đã trưởng thành nên tăng trọng ở tháng thứ nhất thường có sự
đóng góp lớn của sự tăng trưởng bù còn các tháng sau đó thì tăng trưởng bù mất đi
và khả năng tăng khối lượng của bò thí nghiệm giảm mạnh Trong thí nghiệm mới
đây trên bò lai Brahman tại Đak Lak, Vũ Chí Cương và cộng sự (2007) cũng đưa ra nhận xét là bê lai Brahman 18 tháng tuổi sau khi vỗ béo vẫn còn khả năng tăng trưởng mạnh
Chất khô ăn vào (kg/con/ngày) 4,1a ± 0,04 5,0b ± 0,05
Chất hữu cơ ăn vào (kg/con/ngày) 3,9a ± 0,29 4,72b ± 0,21 Protein ăn vào (g/con/ngày) 0,65a ± 0,007 0,79b ± 0,007 Tiêu tốn thức ăn (kg CK/kg tăng trọng) 4,5 ± 0,30 3,9 ± 0,27
* Các giá trị trung bình trong cùng một hàng có các chỉ số trên khác nhau thì khác nhau
(P<0,05)
Số liệu ở Bảng 5 cho thấy lượng vật chất khô, chất hữu cơ và protein thô ăn vào trung bình/ngày của bê thuần cao hơn đáng kể so với bê lai Sind (P<0,01)
Điều này là bởi khối lượng cở thể của bê thuần luôn cao hơn bê lai Sind cùng tuổi Chính vì thế khi ước tính lượng chất khô và protein ăn vào/đơn vị khối lượng trao
đổi thì giữa 2 lô thí nghiệm không có sự sai khác đáng kể (P>0,05) (Bảng 5)
Mặc dù tăng trọng của bê thuần Brahman cao hơn đáng kể so với bê lai Sind nhưng hiệu quả sử dụng thức ăn lại không có sự sai khác có ý nghĩa về mặt thống
kê giữa 2 lô thí nghiệm Tiêu tốn thức ăn cho tăng trọng của cả 2 lô thí nghiệm (3,9
và 4,5 kg DM/kg tăng trọng) đều ở mức thấp hơn rất nhiều so với kết quả của các thí nghiệm trước (VD: 6,3-7,9 kg chất khô/kg tăng trọng (Phạm Kim Cương và cộng sự., 2001); 6,2-15,9 kg chất khô/kg tăng trọng (Vũ Chí Cương và cộng sự., 2001)) Tiêu tốn chất khô/kg tăng trọng của bò trong thí nghiệm của chúng tôi
Trang 8cũng thấp hơn khá nhiều so với các giá trị tham khảo đưa ra bởi các Tiêu chuẩn ăn như ARC (1980); NRC (1984); INRA (1989); AFRC (1993) - dao động trong khoảng 7,1-10,42kg chất khô/kg tăng trọng
Tuy nhiên tiêu tốn thức ăn cho tăng trọng trong thí nghiệm của chúng tôi cũng chỉ tương đương với kết quả của Sainz và cs (1995) khi vỗ béo bê đực chuyên thịt giống Anh Quốc trong giai đoạn bê sinh trưởng (bê có khối lượng 237 kg khi bắt đầu và 327 kg khi kết thúc giai đoạn này) Trong thí nghiệm của các tác giả này bê được ăn tự do khẩu phần tinh bột cao với hàm lượng CP và ME tương ứng là 14,6% và 12,5 MJ/kg vật chất khô (tương đương hàm lượng CP và ME trong khẩu phần thí nghiệm này) Trong giai đoạn nuôi lớn này bê tăng trọng 1,96 kg/con/ngày và tiêu tốn 4,3 kg DM/kg tăng trọng Tuy nhiên cần phải lưu ý rằng trong giai đoạn vỗ béo sau đó (từ khi bê có khối lượng 327 kg đến khi đạt khối lượng 481 kg – bê đã trưởng thành hơn) bê chỉ đạt mức tăng trọng trung bình 1,22 kg/con/ngày và tiêu tốn thức ăn đã tăng lên thành 7,4 kg DM/kg tăng trọng Như vậy có thể thấy tuổi sinh trưởng có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sử dụng thức ăn Và đây có thể cũng chính
là lí do giải thích cho mức tiêu tốn thức ăn thấp (hay hiệu quả sử dụng thức ăn cao) trong thí nghiệm của chúng tôi Lí do cụ thể hơn có thể là trong giai đoạn sinh trưởng các chất dinh dưỡng được sử dụng để tổng hợp mô cơ là chính; năng lượng dùng để tích lũy mỡ thấp Do đó bê có thể đã sử dụng ít năng lượng cho 1 kg tăng trọng hơn so với bò sắp hoặc đã trưởng thành như ở các thí nghiệm khác
3.2 Khả năng cho thịt của bê vỗ béo
Để xác định khả năng cho thịt và so sánh tỷ lệ thịt của bê Brahman thuần với bê lai Sind, chúng tôi tiến hành mổ khảo sát mỗi lô 1 con Kết quả được trình bày ở bảng 6
Trang 9Tỉ lệ thịt tinh (%) 29,63 34,09
Kết quả mổ khảo sát cho thấy tỉ lệ thịt xẻ và thịt tinh của bê Brahman cao hơn đáng kể so với bê lai Sind Tỷ lệ thịt xẻ của bê Brahman vỗ béo (42,02%) cao hơn 3,5 đơn vị % so với giá trị tỷ lệ thịt xẻ của bê lai Sind sau vỗ béo (38,5%) Tương tự, tỷ lệ thịt tinh của bò Brahman lai cao hơn xấp xỉ 4,5 đơn vị % so với tỷ
lệ này của bê lai Sind (Bảng 6)
3.3 Giá thành sản xuất thịt bò vỗ béo
Kết quả phân tích giá thành sản xuất thịt khi vỗ béo bê trình bày ở Bảng 7 cho thấy nếu chỉ tính riêng phần chi phí mua thức ăn mà không tính các chi phí khác (tiền công lao động, khấu hao chuồng trại, điện, nước, lãi suất ngân hàng vv…) thì giá thành để sản xuất 1 kg thịt hơi đối với bê lai Sind là 14.310 đồng và
bê Brahman thuần là 12.436 đồng, thấp hơn 1.873 đồng so với bê lai Sind So với giá bán hiện nay là khoảng 17.000 đồng/kg thịt hơi thì giá thành/kg thịt hơi trong thí nghiệm này thấp hơn giá bán là 2.690 đồng (bò lai Sind) và 4.564 đồng (bò thuần) Với khối lượng tăng lên trong giai đoạn 84 ngày vỗ béo là 81,5 kg (bê lai Sind) và 119,3 kg (bê thuần) thì chênh lệch giữa giá thành và giá bán sẽ là 219.211
đ/con cho bê lai Sind và 544.355 đồng/con cho bê thuần Như vậy nếu các chi phí khác ngoài thức ăn (chi phí công lao động, khấu hao chuồng trại, điện, nước, lãi suất ngân hàng vv…) không cao hơn mức 75.000/tháng (hoặc 225.000đ/3 tháng) thì vỗ béo bê lai Sind mới có thể có lãi Trong trường hợp bê thuần Brahman thì với mức chi này việc vỗ béo vẫn có lãi Tuy nhiên cần lưu ý là trong cách tính này chúng tôi đặt giả thiết giá bán bò vỗ béo chỉ bằng với giá bán của các loại bò khác
ở thời điểm hiện tại Trong thực tế bò sau khi vỗ béo thường có tỷ lệ thịt cao hơn nên giá thịt hơi cũng cao hơn so với giá bò bình thường không được vỗ béo Vì thế xác suất để vỗ béo bò có lãi trong thực tế có thể cao hơn so với phân tích của chúng tôi
Giá nguyên liệu
Trang 10- Ngô ủ chua (đ/kg) 600 600
Giá thành sản xuất thịt bò vỗ béo (đ/kg thịt hơi) 14.310 12.436
4 Kết luận và đề nghị
4.1 Kết luận
Bê thuần Brahman 18 tháng tuổi cho tăng trọng (1,42 kg/con/ngày) cao hơn
đáng kể so với bê lai Sind có tuổi tương đương (0,97 kg/con/ngày) khi vỗ béo bằng khẩu phần của thí nghiệm này trong thời gian 84 ngày
Hiệu quả sử dụng thức ăn của bê vỗ béo trong thí nghiệm này khá cao và vỗ béo bê bằng khẩu phần của thí nghiệm này có thể cho lợi nhuận
4.2 Đề nghị
Tiếp tục thử nghiệm trên các đối tượng bê có độ tuổi khác và với khẩu phần
vỗ béo khác nhau
Tài liệu tham khảo Tiếng Việt
nuôi thời kỳ 2005-1015
2 Lê Viết Ly, Vũ Văn Nội, Vũ Chí Cương, Phạm Kim Cương, Nguyễn Quốc Đạt 1996 Nuôi bê lai hướng
thịt bằng thức ăn bổ sung từ nguồn phụ phẩm nông nghiệp tại miền Trung Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật chăn nuôi 1994-1995 Nhà xuất bản Nông nghiệp 1996, trang 135-140
cứu sử dụng rơm lúa trong khẩu phần bò thịt Các báo cáo khoa học của đề tài KHCN 08-05 Trang
174-187