Theo quy luật thời gian tự nhiên, gà mái hậu bị ấp nở cách nhau 1 -1,5 tháng khối lượng trung bình lúc 56 ngày tuổi biến động theo quy luật của hàm Gausse, sản lượng trứng 5 tháng biến đ
Trang 1Quy luật biến động một sô chỉ tiêu của gia cầm sinh sản nuôi
ở Việt Nam dưới tác động quy luật biến đổi các yếu tố sinh
thái môi trường tự nhiên
Trinh Xuân Cư
Phòng Đào tạo và Thông tin
Tóm tắt
Được hộ trợ bởi Chương trình Nghiên cứu cơ bản , chúng tôi đã phân tích tính biến động một
số chỉ tiêu sản xuất của gà Plymouth (1975-1985 ), gà Hybro (1985-1994 ), gà Tam hoàng( 2005), các giống vịt theo mùa vụ và mối quan hệ với các yêu tố sinh thái môi trường
Theo quy luật thời gian tự nhiên, gà mái hậu bị ấp nở cách nhau 1 -1,5 tháng khối lượng trung bình lúc 56 ngày tuổi biến động theo quy luật của hàm Gausse, sản lượng trứng 5 tháng biến đổi theo dạng sóng, khối lợng trung bình của trứng lúc 38 tuần tuổi biến động theo dạng parabol; sai khác về thời gian ấp nở đóng vai trò quan trọng nhất (49,68%; 58,59% và46,69%) trong các yếu tố gây ra biến
dị của các tinh trạng
Khi điều kiện môi trường ổn định, khả năng đẻ trứng của gia cầm giảm dần biểu thị bằng hàm hồi qui Y = X/(aX2 + bX + c), trong đó y là tỷ lệ đẻ trứng (%), x là thứ tự khoảng tuổi đẻ; khả năng đẻ trứng của gia cầm nuôi ở miền Bắc và miền Nam biến động theo thời vụ với qui luật "dạng sóng" có
đỉnh cao ở tháng 3 và cực thấp ở tháng 9, biên độ dao động tới mức ± 20% trung bình năm; các tháng
đầu năm khả năng đẻ trứng cao hơn các tháng cuối năm; thời vụ ấp nở và thúc đẻ khác nhau cho tỷ lệ
đẻ diễn biến khác nhau trong cả quá trình sản xuất trứng
Biến động khả năng đẻ trứng của gia cầm theo mùa vụ trớc hết do biến động thời gian chiếu sáng gây ra, nhiệt độ có ảnh hởng tới khả năng đẻ trứng, độ dài ngày không có liên quan tới biến động khả năng đẻ trứng
1 Đặt vấn đề
Thật ấn tượng khi nhìn thấy những kết quả điều tra về biến động sản lượng
trứng gà của Mỹ trong khoảng từ 1950-1956 ( Bundy và Diggíns -1960), của Hungary trong các năm thập kỷ 70 (Mészáros -1976), của Anh những năm đầu thập kỷ 90 ( Bristis Poultry Industry -1984) và các ý tưởng công nghệ nảy sinh sau
các kết quả điều tra đó
Tại Việt Nam tỷ lệ đẻ của gia cầm thường biến động lớn ( Vũ Đài và Anh Tuấn -1983; Nguyễn Hoài Tao và CTV -1984; Nguyễn Huy Đạt-1991). Quy luật biến động theo mùa vụ của các tính trạng và nguyên nhân của sự biến động đó
đáng được quan tâm
Trang 2Được hỗ trợ bởi chương trình nghiên cứu cơ bản , chúng tôi đã phân tích
đánh giá tính biến động một số chỉ tiêu của gà Plymouth (giống gà công nghiệp chủ đạo trong các năm 1975-1985), gà Hybro (giống gà công nghiệp chủ đạo trong các năm 1985-1994 ), gà Tam hoàng(giống gà thả vườn bán công nghiệp chủ đạo trong các năm 1998-2005), các giống vịt theo mùa vụ và nối quan hệ với các yêu
tố sinh thái môi trường (nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm và chế độ ánh sáng)
2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.1 Nội dung nghiên cứu
1 Xác định quy luật biến động khối lượng sống của gà mái hậu bị lúc 56 ngày tuổi, sản lượng trứng 5 tháng đầu và khối lượng trứng theo mùa vụ ấp nở khác nhau
2 Xác định quy luật biến động khả năng đẻ trứng của gà Plymouth Rock tại miền Băc (Tam Đảo - Vĩnh Phú)
3 Xác định mối quan hệ giữa sự biến động khả năng đẻ trứng của gà với một số yếu tố sinh thái môi trường (độ dài ngày, biến động thời gian chiếu sáng, nhiệt độ không khí)
4 Xác định quy luật biến động tỷ lệ đẻ của gà Hybro tại miền Nam (cơ sở Hồng Sanh - Đồng Nai)
5 Khảo sát diễn bién khả năng đẻ trứng của các lô gà Tam Hoàng khi ấp nở
ở các mùa khác nhau tại miền Nam
6 Đánh giá đặc tính biến động khả năng sản xuất trứng của vịt qua các tháng trong năm, liên hệ với các yêu tố sinh thái môi trường so sánh ở miền Bắc
7 Đánh giá đặc tính biến động khả năng để trứng của vịt tại miền Nam
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng số liệu theo dõi khối lượng sống lúc 56 ngày tuổi, sản lượng trứng
đẻ 5 tháng đầu, tỷ lệ đẻ, khối lượng trung bình của trứng lúc gà 50 - 60 tuần tuổi các dòng gà thịt Plymonth Rock tại xí nghiệp giống gà thịt dòng thuần Tam Đảo
để phân tích và đánh giá Thời gian ấp nở và số lượng gà mái kiểm tra như ở bảng
1
Trang 3Bảng 1 Thời gian ấp nở và số lượng gà mái đã kiểm tra
Gà mái được nuôi dưỡng và chăm sóc theo quy trình nuôi gà giống sinh sản,
được theo dõi cá thể đến hết 5 tháng đẻ sau đố được gép họ để nhân giống Số liệu thu thập được xử lý ở từng lô theo và từng khoảng 2 tuần lễ từ tuần tuổi 23 -24 đến
43 - 44 Một số lô gà được tiếp tục kiểm tra năng suất trứng cho đến hết tuần 73 -
Lấy số liệu trung bình về tỷ lệ đẻ của 25 lô gà ở mỗi dòng, có thời gian ấp
nở cách nhau gần nhất là 1 tuần lễ và rải đều ở các tháng tự nhiên qua 8 thế hệ kiểm tra năng suất để xây dựng mô hình tương quan giữa tỷ lệ đẻ của gà với tuổi
đẻ;ứng dụng phương pháp phân tích hồi qui bội tuyến để đánh giá về mức độ tương quan giữa phân bố tỷ lệ đẻ trứng thực tế với phân bố tỷ lệ đẻ theo tuổi của giá trị hàm hồi quy bằng thuật toán của Nguyễn Ngọc Thừa và Hoàng Kiếm (1979)
Lập bảng tổng hợp gồm 11 hàng (cho mỗi khoảng tuổi đẻ từ tuần 23-24 đến tuần 43-44 và 12 cột (cho các tháng tự nhiên).Mỗi ô vuông tập hợp các số liệu theo dõi số lượng trứng trung bình của gà mái có độ tuổi đẻ và tháng tự nhiên tương ứng Dùng kết quả theo dõi được về số lượng trứng của một gà mái trong 14 ngày
Trang 4thuộc độ tuổi và tháng tự nhiên định kiểm tra ở các lô gà để nhập vào ô tương ứng hàng tuổi đẻ và cột tháng tự nhiên Kết quả thu được ở mỗi ô vuông trong bảng có
số liệu trung bình của từ 6 đến 12 lô gà, tính trung bình các kết quả trong từng ô vuông chia cho 14 ngày để có tỷ lệ đẻ bình quân trong ô vuông đó
Tỷ lệ đẻ bình quân ở cáckhoảng 2 tuần tuổi (X1): X1 =
12
ij
X
Σ(%)
Tỷ lệ đẻ bình quân chung cả năm (X): X =
11
Xi
Σ = 12
Xj
Σ (%)
j là tháng tự nhiên
Lấy số liệu theo dõi nhiệt độ không khí và thời gian chiếu sáng tự nhiên trung bình ở trạm khí tượng Tam đảo 21o 27'B và 105o38' KĐ (sổ khí tượng quốc gia - Tổng cục khí tượng thủy văn) trong những năm 1975 - 1984 để xác định mối tương quan giữa biến động tỷ lệ đẻ trứng của gà với các yếu tố sinh thái
Biến động thời gian chiếu sáng (BĐTGCS) được tính bằng sự chênh lệch giữa độ dài ngày cuối tháng trừ độ dài ngày đầu tháng (tính theo đơn vị phút) Phân tích phương sai, tương quan hồi quy, thực hiện trên máy vi tính
Sử dụng số liệu theo dõi năng suất trứng (tính theo các lô gà) của 3 dòng gà S1, S3 và S5 thuộc bộ giống thịt Hybro mà nguồn gốc từ các dòng V1, V3 và V5 ở Tam Đảo, các số liệu theo dõi gà Tam hoàng 1999-2004 tại Xí nghiệp gà giống Hồng Sanh-Đồng Nai Gà Hybro được ấp nở vào đầu năm để thay đàn, khi gà đến tuổi vào đẻ( 23 tuần tuổi) bắt đầu được theo dõi năng suất để chọn lọc ghép phối Chúng tôi sử dụng số liệu của 3 thế hệ Hybro ,mỗi lô nở cách nhau 7 ngày đẻ khảo sát, số lượng và thời gian gà vào đẻ ghi trong Bảng 2 Chúng tôi sử dụng số liệu theo dõi gà Tam hoàng 5 thế hệ 1999-2004, số liệu các lô gà được tập hợp theo mùa vụ ấp nở và thúc đẻ(A,B,C)
Trang 5Bảng 2 Số lượng và thời gian vào đẻ của gà Hybpo đã khảo sát ở Hồng Sanh
Số lượng gà mái (con) Dòng S1 Dòng S2 Dòng S5 Tổng số
Tổng hợp các số liệu tỷ đẻ của các lô gà theo từng khoảng 2 tuần lễ từ tuần tuổi 23-24 đến tuần tuổi 65-66 (Hybro) Trung bình của các lô đại diện cho dòng, trung bình của cả 3 dòng đại diện cho năm theo dõi Chỉ tiêu duy nhất khảo sát ở
đây là tỷ lệ đẻ trứng (%)
Sử dụng các số liệu theo dõi gà Hybro trong nhiều năm tại Tam Đảo đẻ xây dựng đường cong tỷ lệ đẻ chuẩn của Hybro theo phương pháp tương quan hồi quy Căn cứ quy luật biến động tỷ lệ đẻ theo tuổi đẻ đối chiếu và đánh giá tính biến
động theo mùa vụ
Vận dụng kết quả điều tra theo dõi các đàn vịt trong nhiều năm nay ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam (62 cơ sở nuôi vịt cỏ, 24 cơ sở nuôi vịt hướng thịt sinh sản-theo dõi tại bộ môn Di truyền động vật Viện KHNNVN từ 1982-1998),sử dụng số liệu ghi chép của ông Sáu Vận tại Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh 1998-2004.Căn cứ số liệu theo dõi khí tượng thuỷ văn của tổng cục khí tượng thuỷ văn
để phân tích mối quan hệ các yếu tố sinh thái với khả năng sản xuất của gia cầm từng địa phương cụ thể.Xác định và ký hiệu một số chỉ tiêu như sau:
BĐKNĐT: (Biến động khả năng đẻ trứng) = [ TLD(tháng i ) – TLD(tb cả năm)]/ TLD(tb cả năm) X 100
BĐTGCS: Biến động thời gian chiếu sáng = TGCS(ngày cuối tháng) - TGCS(ngày đầu tháng)
TLĐ/STĐ: Tỷ lệ đẻ trên số thúc đẻ
3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 63.1 Kết quả xác định tính biến động các chỉ tiêu sinh sản của gia cầm nuôi ở miền Bắc dưới tác động quy luật biến đổi các yếu tố sinh thái môi trường tự nhiên
3.1.1 Quy luật biến động khối lượng cơ thể 56 ngày tuổi, sản lượng trứng 5 tháng và khối lượng trứng của gà theo mùa vụ ấp nở
Khối lượng sống lúc 56 ngày tuổi (P56), sản lượng trứng 5 tháng (T5) và khối lượng trung bình của trứng (Pt) là những chỉ tiêu đặc trưng khi nghiên cứu đặc
điểm sinh sản của gia cầm Các chỉ tiêu này biến động ra sao trong suốt 10 năm theo dõi ở Tam Đảo
Các tham số của tính trạng khối lượng sống lúc 56 ngày tuổi (P56), sản lượng trứng 5 tháng (T5) và khối lượng trung bình của trứng (Pt) đã kiểm tra và tổng phương sai của chúng biến động qua các thế hệ với mức tin cậy là 99,9% hay
Trang 7Đồ thị 1 Biến động các chỉ tiêu khối lượng sống của gà mái lúc 56 ngày tuổi(1/a),
sản lượng trứng 5 tháng(1/b) và khối lượng trứng (1/c)
Bie n dong Khoi luong ga
56 ngay tuoi (g) the o
Bảng 4 Các thành phần phương sai của trọng lượng 56 ngày tuổi, sản lượng trứng
05 tháng và trọng lượng trung bình của trứng ở gà mái Plymonth từ thế hệ hai đến
Trang 8Sự sai khác giữa các thế hệ (đời) là thời điểm ấp nở gà con ở các thế hệ lệch nhau 1 - 1,5 tháng tự nhiên, từ thế hệ 2 đến thế hệ 9 gà được nuôi luân chuyển từ mùa hè đến mùa hè, cách nhau mỗi đời 1 tháng, mỗi đợt cách nhau 1 tuần Do vậy quy luật hàm Gauss biểu thị quan hệ giữa thể trọng 56 ngày tuổi của gà mái với đời (thế hệ) đồng thời biểu thị quy luật tác động của mùa vụ đến khả năng tăng trọng của gà ấp nở trong các tháng khác nhau ở miền Bắc nước ta
Trên đồ thị 1/a có thể thấy trong các tháng cuối năm thời điểm ấp nở của gà càng muộn thì khối lượng sống của gà lúc 56 ngày tuổi càng tăng, trong các tháng
đầu năm khi gà ấp nở càng muộn thì khối lượng sông lúc 56 ngày tuổi càng giảm
Điều này liên quan đến quy luật biến động nhiệt độ trung bình qua các tháng trong năm Từ sản lượng trứng 5 tháng đẻ đầu của các dòng gà có xu hướng giảm nhẹ từ thế hệ 2 đến thế hệ 5 và giảm nhanh hơn ở các thế hệ tiếp đó Sau đó tăng dần lên thế hệ 9 Quy luận biết động sản lượng trứng đẻ trong 5 tháng đầu qua các thế hệ chưa mô hình hoá được bằng một phương trình toán học.Tuy nhiên đồ thị 1/b cho thấy sự liên quan giữa mùa vụ ấp nở và sản lượng trứng 5 tháng : ở các tháng cuối năm gà nở càng muộn thì sản lượng trứng năm tháng càng thấp, đặc biệt là các nhóm nở trong khoảng tháng 11 đến tháng 2, ở các tháng đầu năm gà nở càng muộn sản lượng trứng 5 tháng đàu càng cao, gà nở trong các tháng cuối năm biểu hiện sản lượng trứng 5 tháng đầu cao hơn gà nở trong các tháng đầu năm Hiển nhiên dịch chuyển thời gian ấp nở các thế hệ thì thời gian kiểm tra năng suất trứng cũng dịch chuyển dần
Phân tích nguồn phương sai của sản lượng trứng 5 tháng thu được kết quả ở bảng 4 Yếu tố ngoại cảnh đóng vai trò quyết định chiếm 58,59% tổng phương sai Tiếp sau đó là tương tác bố, mẹ đời chiếm 14,92% ; tương tác bố,đời chiếm 10,85% ; tương tác bố mẹ chiến 6,32% và tác động của đời chiếm 5,12% Nói chung biến động sản lượng trứng 5 tháng qua 8 thế hệ gà trước hết do tác động tương tác giữa các cá thể với các điều kiện ngoại cảnh gây ra, sai khác về mặt di truyền không đáng kể Giữa các thế hệ cách nhau 1 - 1,5 tháng về mùa vụ ấp nở nhưng sai khác đó được điều hoà dần bởi 5 tháng kiểm tra năng suất trứng luân chuyển theo trục thời gian tự nhiên Mặt khác trong quá trình nuôi thích nghi và giữ giống tác động chọn lọc chưa có Vì thế các yếu tố đời chỉ gây ra 5,12% tổng
Trang 9phương sai của sản lượng trứng 5 tháng.Các thế hệ đầu được kiểm tra năng suất ở các tháng đầu năm, khả năng đẻ trứng khá hơn, sản lượng trứng 5 tháng cao hơn ở các thế hệ 6, 7, 8 thời gian kiểm tra năng suất trứng 5 tháng ở giai đoạn đầu năm thì sản lượng trứng lại tăng lên
Khối lượng trung bình của trứng: khối lượng trứng của các dòng gà biến
đổi qua các thế hệ theo chiều hướng giảm dần từ thế hệ 2 đến thế hệ 6, sau đó tăng dần lên ở các thế hệ sau.Với độ tin cậy cao P>0,95, khối lượng bình quân của trứng
gà tương quan phi tuyến với đời gà theo hàm Parabol:
Từ tháng 6 năm trước đến tháng 6 năm sau, thời gian ấp nở gà giống lệch nhau 1 tháng thì khối lượng trứng (lúc 50 - 60 tuần tuổi) và khối lượng cơ thể 56 ngày tuổi của gà biến đổi theo hàm Parabol và hàm Gauss, sản lượng trứng 5 tháng giảm dần, sau đó tăng dần theo sự thay đổi thời gian ấp nở nhưng chưa biểu thị chặt che bằng hàm số nào cả
giữa biến
Kết quả xác định quy luật biến động tỷ lệ đẻ trứng của gà theo tháng đẻ , tỷ
lệ đẻ trứng, biến động khẻ năng đẻ trứng và các yếu tố sinh thái (nhiệt độ, độ dài ngày và mức độ biến động độ dài ngày) qua các tháng tự nhiên được thể hiện trên bảng 5
Trang 10Bảng 5 Biến động tỷ lệ đẻ, khả năng đẻ trứng của gà và một số yếu tố sinh thái,
qua các tháng
Tỷ lệ đẻ bình quân 5 tháng đầu(%) và các yếu tố sinh thái
trong các tháng tự nhiên
Tỷ lệ đẻ(%) theo tháng đẻ Tháng
Độ dài ngày ( giờ )
Biến động
độ dài ngày (phút)
Nhiệt độ trung bình ( 0 C)
lệ đẻ theo tháng đẻ được thể hiện trên biểu đồ 2/a, cùng với đường cong dạng sang biểu hiện quy luật biến động khả năng đẻ trứng của gà qua các tháng tự nhiên
Trong các tháng tự nhiên, tỷ lệ đẻ trứng của gà (khi đã được “cố định hoá”
độ tuổi) tăng dần từ tháng 10 đến tháng 3 và giảm dần từ thang 4 đến tháng 9.Từ tháng 7 đến tháng 11 khả năng đẻ trứng của gà thấp hơn trung bình cả năm, thấp nhất là tháng 8 và tháng 9 Các tháng khác trong năm khả năng đẻ cao hơn trung bình năm, tháng 2 và tháng 3 là hai tháng khả năng đẻ của gà cao nhất So với
Trang 11trung bình cả năm, khả năng đẻ trứng của gà tăng lên ở tháng 1 (7,62%) đến tháng
3 (19,80 % - 18,73%) Mức tăng khả năng đẻ trứng ở tháng 4 và tháng 5 giảm dần
Từ tháng 6 đến tháng 11 khả năng đẻ trứng của gà ở các tháng thấp hơn trung bình cả năm Tốc độ giảm khả năng đẻ trứng của gà tăng dần từ tháng 6 (-3,76) đến tháng 9 (-16,24%) Trong các tháng 10 và tháng 11 khả năng đẻ trứng giảm thấp hơn trung bình cả năm, nhưng tốc độ giảm giảm dần Biến động khả năng đẻ trứng trong các tháng trước hết liên quan đến các yếu tố sinh thái
Nhiệt độ trung bình tăng từ 16,20 0C ở tháng l đến 29,100C ở tháng 7, sau
đó giảm dần đến tháng 12 là 17,80 0C Ngày dài nhất ở tháng 6 (13h23’ ) và ngày ngắn nhất ở tháng 12 (10h53’).Tốc độ thay đổi thời gian chiếu sáng ở tháng 1 là 18 phút/tháng, từ tháng 4 đến tháng 6 tốc độ thay đổi thời gian chiếu sáng giảm dần từ
35 đến 4 phút/tháng Từ tháng 7 đến tháng 9 thời gian chiếu sáng giảm với tốc độ tăng dần từ (-16) đến (-37) phút/tháng sau đó từ tháng 10 đến tháng 12 tốc độ giảm thời gian chiếu sáng giảm từ (-33) đến (-4) phút/tháng
Từ tháng 4 đến tháng 10 nhiệt độ cao hơn trung bình cả năm (23,08 0C) và tăng dần từ 23,5 đến 28,3oC chắc chán có sự liên quan đến sự giảm khả năng đẻ trứng của gà Nhiệt độ trung bình trong các tháng 12 đến tháng 3 (từ 15,7 - 19,8 0C) nằm trong khoảng nhiệt độ thích hợp nhất cho gà đẻ, góp phần thuận lợi cho
gà đẻ cao hơn so với mức trung bình cả năm Đặc biệt trong tháng 3, nhiệt độ 20,2 0C khả năng đẻ trứng của gà đạt cao nhất
Đồ thị 2 cho thấy diễn biến tỷ lệ đẻ của gà theo tháng tự nhiên, theo tháng tuổi, biến động khả năng đẻ trứng ở các tháng so với trung bình năm và diễn biến các yếu tố sinh thái môi trường
Trang 12Đồ thị 2 Biến động một số chỉ tiêu khả năng đẻ trứng (2/a), và các yếu tố sinh
thái mi trường (2/b)
Biến ủộng tỷ lệ ủẻ(TLĐ) theo thang ủẻ(TĐ),thang tự
nhien(TN) và khả năng ủẻ trong cac thang của gà
TLĐ(%)theo thang TN KNĐ trong thangTN
1 3 5 7 9 11
T hang t u nhien
Tỷ lệ đẻ
t rung bình ( 5 t háng ) 61 Nhiệt độ
t rung bình (1975- 1984) 16
Độ dài ngày ( giờ ) 11 2