ảnh hưởng của việc bổ sung probiotic vào khẩu phần đến khả năng tiêu hóa thức ăn, tốc độ sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy của lợn con và lợn thịt Trần Q
Trang 1ảnh hưởng của việc bổ sung probiotic vào khẩu phần đến khả năng tiêu hóa thức ăn, tốc độ sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy của lợn con và lợn thịt
Trần Quốc Việt, Bùi Thị Thu Huyền, Ninh Thị Len, Nguyễn Thị Phụng,
Lê Văn Huyên, Đào Đức Kiên
Bộ môn Dinh dưỡng và Thức ăn Chăn nuôi - Viện Chăn nuôi
1 Đặt vấn đề
Hiện nay, mặc dù đang tồn tại những quan điểm khác nhau về việc sử dụng kháng sinh liều thấp như chất kích thich sinh trưởng trong thức ăn chăn nuôi, nhưng giảm tối đa và tiến tới hoàn toàn không sử dụng kháng sinh đang là một xu thế chung của thế giới Theo báo cáo của Uỷ ban sử dụng dược phẩm trong thức ăn chăn nuôi trực thuộc Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia (NRC - Mỹ), thiệt hại do lệnh cấm sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi có thể lên tới 2,5 tỷ USD mỗi năm (Donna U Vogt 1999) Bởi vậy, việc nghiên cứu tìm ra các chất thay thế
đang thực sự trở thành một nhu cầu cấp bách Trong số các chất thay thế, probiotic hiện được quan tâm nghiên cứu nhiều do có những đặc điểm ưu việt: (i) an toàn đối với vật nuôi và con người; (ii) cải thiện được các chức năng tiêu hoá; (iii) ức chế
được vi khuẩn gây bênh và tăng cường khả năng miễn dịch ở gia súc; (iv) không để lại tồn dư và đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm (Jans, 2005) Nghiên cứu này
được tiến hành nhằm đánh giá hiệu quả của việc sử một số chế phẩm probiotic (do Viện Chăn nuôi phối hợp với trung tâm Công nghệ Sinh học-Đại học Quốc gia Hà nội nghiên cứu sản xuất) trên lợn con và lợn nuôi thịt
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm tiêu hóa
Thí nghiệm được tiến hành trên 5 lợn đực thiến giống Yorkshire bắt đầu từ 45 ngày tuổi có khối lượng từ 13-15 kg bố trí theo kiểu ô vuông Latin (5 x 5) Lợn
được chia ngẫu nhiên thành 5 lô và được nuôi riêng rẽ trong 5 cũi tiêu hoá có khay hứng phân và nước tiểu riêng biệt, mỗi lợn trong một cũi tương ứng với 1 lô thí nghiệm: ở các lô I; II và III, lợn được ăn khẩu phần cơ sở (phụ lục) có bổ sung chế
Trang 2phẩm Probiotic 1 gồm 3 chủng vi khuẩn (Enterococcus faecium- 6H2; Lactobacillus acidophilus-C3 và Bacillus subtilis-H4), chế phẩm probiotic 2 gồm
3 chủng (Pediococcus pentosaceus -Đ7; Lactobacillus plantarum-1K8 và Bacillus subtilis- H4) và chế phẩm Probiotic 3 gồm 3 chủng (Lactobacillus plantarum-3K2; Lactobacillus rhamnosus-5M2; Bacillus licheniformis-H3) tương ứng Mật độ vi sinh vật trong mỗi chế phẩm là 108 cfu/g Liều bổ sung: 2 kg/tấn Lợn ở lô IV- Lô
đối chứng tích cực (possitive coltrrol) được ăn khẩu phần cơ sở có bổ sung kháng sinh Colistin 98% với liều 100 ppm) Lợn ở lô V – Lô đối chứng tiêu cực (negative coltrol) được ăn khẩu phần cơ sở không bổ sung chế phẩm Probiotic và kháng sinh Mỗi cũi tiêu hoá được bố trí máng ăn và vòi uống nước tự động Mỗi giai đoạn thí nghiệm kéo dài 12 ngày (7 ngày thích nghi, 5 ngày thu mẫu phân và nước tiểu) Trong thời kỳ thích nghi lợn được cho ăn tự do (ad lib) Trong thời kỳ thu mẫu lợn chỉ được ăn 80% so với khả năng ăn được trong giai đoạn thích nghi nhằm hạn chế thức ăn bị bị dư thừa Thức ăn được cung cấp 2 lần/ngày (8 giờ sáng và 3 giờ chiều) Việc thu mẫu (phân và nước tiểu) được tiến hành ngay sau mỗi bữa ăn Toàn bộ phân của mỗi lần thu, được cân toàn bộ, trộn đều và lấy 10% khối lượng cho vào túi ni lông buộc kín, đánh dấu và bảo quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ -40C Việc thu mẫu nước tiểu cũng được tiến hành tương tự Để bảo tồn lượng nitơ trong nước tiểu không bị thoát ra môi trường, trong mỗi xô hứng nước tiểu đã có sẵn 50ml H2SO4 5% Kết thúc mỗi giai đoạn thu mẫu, toàn bộ mẫu được trộn đều và lấy mẫu đại diện (khoảng 300 g phân và 300 ml nước tiểu) để phân tích Nước uống được cung cấp hoàn toàn tự do trong suốt thời kỳ thí nghiệm bằng núm uống
tự động Thức ăn đưa vào hàng ngày và thức ăn dư thừa được ghi chép hàng ngày
Phân tích hoá học
Mẫu phân và mẫu thức ăn được phân tích các chỉ tiêu: Vât chất khô (VCK) (TCVN 4326-86), protein tổng số (Nx 6,25) (TCVN 4328-86), xơ thô (CF) (TCVN.4329-86), mỡ thô (EE) (TCVN-4327-86), xơ hoà tan trong môi trường trung tính (NDF) (Goering và Van Soest, 1970) Mẫu nước tiểu được phân tích nitơ tổng số Việc phân tích các chỉ tiêu được tiến hành tại phòng phân tích viện Chăn nuôi
Phương pháp bố trí thí nghiệm nuôi dưỡng
Trang 3Thí nghiệm được tiến hành trên hai đối tượng: Lợn con giai đoạn từ sau cai sữa 21 ngày đến 60 ngày tuổi và lợn nuôi thịt giai đoạn từ 20-80 kg
2.2.1 Thí nghiệm trên lợn con sau cai sữa
Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn toàn với 5 lô, 3 lần lặp lại/lô, 12 con (đồng đều giới tính)/lần lặp lại, tổng số (5 x 3 x 12) 180 con Tương tự như thí nghiệm tiêu hóa, lợn ở các lô I, II, III được ăn khẩu phần cơ sở (bảng 1) có bổ sung chế phẩm Probiotic 1; 2 và 3 tương ứng Mật độ vi sinh vật trong mỗi chế phẩm 108 cfu/g Liều bổ sung: 2 kg/tấn Lợn ở lô IV- Lô đối chứng tích cực (possitive coltrrol) được ăn khẩu phần cơ sở có bổ sung Colistin 98% với liều 100 ppm) Lợn ở lô V- Lô đối chứng tiêu cực (negative coltrol) được ăn khẩu phần cơ sở không bổ sung chế phẩm Probiotic và kháng sinh
Lợn con ở mỗi lần lặp lại được nuôi trên chuồng sàn nhựa, thức ăn và nước uống sạch được cung cấp theo chế độ ăn tự do Thức ăn cho vào và thức ăn thừa
được ghi chép hàng ngày để tính toán lượng thức ăn ăn vào và tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng
Lợn con bị bệnh tiêu chảy được theo dõi và ghi chép hàng ngày, mức độ tiêu chảy được phân thành 2 cấp độ (mức A - tiêu chảy nhẹ- phân nhão, không thành khuân và mức B-tiêu chảy nặng - phân lỏng, nhiều nước)
Sau khi kết thúc thí nghiệm, mỗi lô chọn 3 lợn có khối lượng trung bình, khoẻ mạnh (1 lợn con/lần lặp lại) với tổng số 15 lợn con để giết mổ, chất chứa trong ruột non và ruột già được lấy mẫu để để khảo sát cơ cấu quần thể vi sinh vật thể hiện trên mật độ (cfu/g) các vi khuẩn hiếu khí (VKHK), vi khuẩn kị khí (VKKK), vi khuẩn Lactic, Bacillus, nấm men và E Coli Việc định loại và đếm các
vi sinh vật đường ruột được thực hiện theo các phương pháp nghiên cứu vi sinh vật thông thường
2.2.2 Thí nghiệm trên lợn thịt
Sau khi kết thúc thí nghiệm trên lợn con, toàn bộ số lợn thí nghiệm được chuyển sang chuồng nuôi lợn thịt và được nuôi theo chế độ nuôi chuẩn bị trong thời gian 10 ngày Sau thời gian nuôi chuẩn bị, lợn con được phân lô trở lại theo phương thức khối ngẫu nhiên hoàn toàn với 5 lô, 3 lần lặp lại/lô, 13 con (đồng đều giới tính)/lần lặp lại, tổng số (5 x 3 x 13) 195 lợn Tương tự như thí nghiệm trên
Trang 4lợn con, lợn ở các lô I, II, III được ăn khẩu phần cơ sở (bảng 1) có bổ sung chế phẩm Probiotic 1; 2 và 3 tương ứng Mật độ vi sinh vật trong mỗi chế phẩm đạt
108 cfu/g Liều bổ sung: 2 kg/tấn Lợn ở lô IV- Lô đối chứng tích cực (possitive coltrrol) được ăn khẩu phần cơ sở có bổ sung chlotetracyclin 10% dạng viên bọc với liều 0.8 kg/tấn, tương ứng với 80 ppm Chlotetracycline hoạt tính Lợn ở lô V - Lô đối chứng tiêu cực (negative coltrol) được ăn khẩu phần cơ sở không bổ sung chế phẩm Probiotic và kháng sinh
Lợn thí nghiệm được nuôi trong chuồng kiểu thông thoáng tự nhiên, nền xi măng, thức ăn và nước sạch được cung cấp theo chế độ ăn tự do Khi lợn đạt khối lượng trung bình 50 kg, toàn đàn lợn được cân để tính tốc độ sinh trưởng Thức ăn cho vào và thức ăn thừa được cân và ghi chép hàng ngày để tính lượng thức ăn ăn vào và tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng Lợn bị bệnh tiêu chảy được theo dõi và ghi chép hàng ngày Mức độ tiêu chảy của lợn cũng được đánh giá theo hai cấp độ tương tự như thí nghiệm trên lợn con
3 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được được xử lý thống kê ANOVA- GLM bằng phần mềm Minitab 13.0 trên máy tính
3 Kết quả và thảo luận
3.1 ả nh hưởng của việc bổ sung probiotic trong khẩu phần đến khả năng tiêu hoá thức ăn của lợn con
Kết quả về tỷ lệ tiêu hóa một số thành phần của khẩu phần được trình bày ở bảng 2 Không có sự khác nhau rõ rệt giữa các lô về tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô (P = 0,055), nhưng có sự khác nhau khá rõ rệt giữa các lô về tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ, protein thô, xơ thô, mỡ thô và NDF Tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ ở lợn lô III là thấp nhất (84,6%), cao nhất ở lô I (89,7%) và lô đối chứng tích cực (87,9%) Tỷ lệ tiêu hóa protein thô thấp nhất quan sát thấy ở lô V, cao nhất ở lô I và IV Tỷ lệ tiêu hóa xơ thô và NDF cao rõ rệt ở các lô I và IV, thấp nhất quan sát thấy ở lô II và lô đối chứng tiêu cực
Bảng 2 ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm probiotic vào thức ăn đến khả năng tiêu
hóa thức ăn của lợn
Trang 5Lô thí nghiệm Chỉ tiêu
Lô I (CP1)
Lô II (CP2)
Lô III (CP3)
Lô IV (ĐC+)
Lô V (ĐC-)
Chất hữu cơ* 89.7b 85.4ab 84.6a 87.9ab 85.4ab 1.0 0.015 Protein thô* 88.9b 86.1ab 86.0ab 88.6b 85.0a 0.8 0.011
Xơ thô** 62.8bc 57.7a 58.3ab 62.7c 58.4a 1.1 0.010
*Các giá trị trong cùng một hàng mang các chữ cái khác nhau thì khác nhau (P<0.05)
** Các giá trị trong cùng một hàng mang các chữ cái khác nhau thì khác nhau (P<0.1)
Nhìn chung, khả năng tiêu hoá các chất dinh dưỡng trong thức ăn được cải thiện rất nhiều ở lô lợn được ăn khẩu phần có bổ sung chế phẩm probiotic I và kháng sinh Bổ sung kháng sinh cải thiện được khả năng tiêu hoá ở vật nuôi đã không còn là vấn đề mới, nhưng nâng cao tỷ lệ tiêu hóa thức ăn thông qua bổ sung các sản phẩm probiotic cũng còn có nhiều kết quả nghiên cứu trái ngược nhau Theo Scheuemann (1993); Tossenberger và ctv (1995) bổ sung probiotic trong thức
ăn cải thiện được tỷ lệ tiêu hóa protein khoảng 5-6% Nhưng kết quả nghiên cứu của Galassi và ctv (2001) cho thấy không thấy có sự khác biệt về tỷ lệ tiêu hoá thức ăn giữa lợn được ăn khẩu phần có và không bổ sung probiotic Sở dĩ như vậy
là do đáp ứng của vật nuôi đối với việc bổ sung các sản phẩm probiotic trong thức
ăn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố đặc biệt là vào chủng và cơ cấu các chủng vi khuẩn probiotic được sử dụng, bản chất của khẩu phần và hoàn cảnh chăn nuôi cụ thể (Damgaard và ctv, 2006) Kết quả nghiên cứu này cho thấy chế phẩm probiotic
I gồm các chủng vi khuẩn Lactic (Enterococcus faecium- 6H2; Lactobacillus acidophilus-C3) và Bacillus (Bacillus subtilis-H4) có tác dụng cải thiện được khả
năng tiêu hóa thức ăn của lợn
ả nh hưởng của việc bổ sung các chế phẩm probiotic trong khẩu phần đến sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy của lợn con và lợn nuôi thịt
Trang 6Tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn con và lợn thịt trong nghiên cứu này được trình bày ở các bảng 3 và 4 Tốc độ sinh trưởng của lợn con ở lô V là thấp nhất (276g/con/ngày), ở các lô II và III tốc độ tăng trọng cao hơn so với lô V từ 3,9 đến 4,7% nhưng sự sai khác này là không rõ rệt (P > 0,05) Lợn ở lô
I và lô IV có tốc độ sinh trưởng tương đương (309 và 308g/con/ngày) nhưng cao hơn rõ rệt (11,6%) so với lô đối chứng tiêu cực và sai khác này có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) Điều đó cho thấy bổ sung kháng sinh và chế phẩm probiotic I đã cải thiện tốc độ sinh trưởng ở lợn con, hiệu quả này có được là do khả năng tiêu hóa thức ăn của các lô này được cải thiện (như đã trình bày ở trên)
Bảng 3 ả nh hưởng của việc bổ sung chế phẩm probiotic vào thức ăn đến sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy của lợn con từ cai sữa đến 60 ngày
tuổi
Lô thí nghiệm Chỉ tiêu
Lô I (CP1)
Lô II (CP2)
Lô III (CP3)
Lô IV (ĐC+)
Lô V (ĐC-)
KL kết thúc (kg) 19.0 b 18.1 ab 18.3 ab 19.0 ab 17.8 a 0.31 0.020 Tăng trọng (g/c/ng) 309 b 287 ab 289 ab 308 b 276 a 8.0 0.015 TĂ ăn vào (g/c/ng) 500 490 489 503 473 0.02 0.814 TTTĂ (kg/kg TT) 1.62 1.69 1.69 1.62 1.71 0.03 0.095
Tỷ lệ Tiêu chảy (%)
Mức A 1.66 a 2.40 ab 2.67 b 1.67 a 2.47 ab 0.22 0.020 Mức B 2.57 b 3.10 ab 2.90 b 2.13 b 4.17 a 0.26 0.003 Chung 2 mức 4.27 b 5.56 a 5.62 a 3.86 b 6.64 a 0.26 0.001
Các giá trị trung bình trong cùng một hàng mang các chữ cái khác nhau thì khác nhau ở mức P<0.05
Kết quả ở bảng 3 cũng cho thấy, không có sự khác biệt giữa các lô về khả năng ăn vào và hiệu quả chuyển hóa thức ăn Lượng thức ăn ăn vào hàng ngày của lợn con ở các lô dao động từ 470 đến 500g/con Mức tiêu tốn thức ăn dao động từ 1,62 đến 1,71 kg/kg tăng trọng và sai khác này không đáng kể (P > 0,05) Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy của lợn con sau cai sữa ở thí nghiệm này dao động từ 3,8 đến 6,6%, thấp nhất ở lô lợn được ăn khẩu phần có bổ sung kháng sinh (3,86%) và chế
Trang 7phẩm probiotic 1 (4,27%), trong đó tỷ lệ cá thể mắc bệnh tiêu chảy nặng (mức B) ở
2 lô này rất thấp (từ 2,13-2,57%), trong khi đó ở các lô khác, đặc biệt là lô lợn
được ăn khẩu phần không bổ sung kháng sinh và probiotic, tỷ lệ lợn con bị tiêu chảy nặng là 4,17% Các kết quả nghiên cứu của một số tác giả trên thế giới về lĩnh vực này cũng rất khác nhau Đồng thuận với kết quả nghiên cứu này có các nghiên cứu: Lessard và Brisson (1987)(tăng tiêu thụ thức ăn, cải thiện sinh trưởng, không ảnh hưởng đến hiệu quả chuyển hóa thức ăn); Kyriakis và ctv (1999)(tăng tốc độ sinh trưởng); Collinder và ctv (2000) (tăng tốc độ sinh trưởng) Không đồng thuận với kết quả nghiên cứu này có các công trình: Navas-Sanchez và ctv (1995) (không có đáp ứng rõ rệt so với đối chứng về sinh trưởng và hiệu quả thức ăn); Fedalto và ctv (2002) (không có đáp ứng rõ rệt so với đối chứng về sinh trưởng và hiệu quả thức ăn) Từ các kết quả trên cho thấy cũng từ các chủng vi khuẩn Lactic
và Bacillus có các đặc tính probiotic, nhưng khi tổ hợp lại với nhau thành một chế phẩm probiotic đa chủng thì hiệu quả của chúng cũng không giống nhau và chế phẩm probiotic 1 tỏ ra có hiệu quả nhất
Các kết quả theo dõi những đáp ứng tương tự trên lợn thịt được trình bày ở bảng 4
4 ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm probiotic vào thức ăn đến sinh trưởng,
hiệu quả sử dụng thức ăn và tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy của lợn nuôi thịt
Lô thí nghiệm Chỉ tiêu Lô I
(CP1)
Lô II (CP2)
Lô III (CP3)
Lô IV (ĐC+)
Lô V (ĐC-)
KL ban đầu (kg) 22,7 21,9 22,9 21,3 22,3 0,46 0,124
KL kết thúc (kg) 85,4 82,7 82,3 86,1 81,6 1,50 0.139 Tăng trọng (g/c/ng)
- Giai đoạn 20-50 kg 683 ab 662 ab 644 a 713 b 642 a 13,95 0,002
- Giai đoạn 50-80 kg 713,9 692,1 682,2 727,1 680,4 14,61 0,099
- Trung bình 696,9 ab 675,6 ab 660,7 a 719,2 b 659,1 a 14,24 0,014 TĂ ăn vào (kg/c/ng)
- Giai đoạn 20-50 kg 1,69 1,73 1,67 1,73 1,70 0,016 0,145
- Giai đoạn 50-80 kg 1,94 1,90 1,92 1,98 1,93 0,050 0,844
- Trung bình 1,78 1,79 1,79 1,83 1,80 0,030 0,755
Trang 8TTTĂ (kg/kg TT)
- Giai đoạn 20-50 kg 2,48 ab 2,61 ab 2,61 ab 2,42 b 2,65 a 0,051 0,048
- Giai đoạn 50-80 kg 2,71 a 2,75 a 2,82 b 2,72 a 2,84 b 0,011 0,000
- Trung bình 2,57 a 2,65 ab 2,72 b 2,54 a 2,73 b 0,033 0,007
Tỷ lệ Tiêu chảy* (%)
Mức A 1,49 a 3,13 b 3,18 b 1,33 a 3,95 c 0.35 0,001 Mức B 0,67 a 1,49 b 1,28 b 0,62 a 2,21 c 0,15 0,000 Chung 2 mức 2,16 a 4,62 b 4,46 b 1,95 a 6,15 c 0,47 0,000
Các giá trị trung bình trong cùng một hàng mang các chữ cái khác nhau thì khác nhau ở mức P<0.05
*Trong giai đoạn lợn có khối lượng từ 20-50 kg
Kết quả ở bảng 4 cho thấy, đáp ứng về sinh trưởng của lợn thịt đối với việc
bổ sung probiotic và kháng sinh trong khẩu phần chưa rõ rệt Trong giai đoạn lợn con (20-50 kg), tốc độ sinh trưởng của lợn ở lô I tương đương với lô đối chứng tích cực (683g/ngày so với 713g.ngày) và cao hơn so với các lô II, III và V từ 3,1 đến 6,4%.Tuy nhiện những khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05) Trong giai đoạn vỗ béo (lợn có khối lượng từ 50kg trở lên) sự sai khác về tốc độ sinh trưởng của lợn giữa các lô là không đáng kể Điều đó cho thấy, việc bổ sung probiotic và kháng sinh vào khẩu phần cho lợn giai đoạn vỗ béo ít không đạt hiệu quả cao như đối với lợn dưới 50kg Không thấy có sự khác nhau về khả năng tiêu thụ thức ăn của lợn, mức ăn vào bình quân cả giai đoạn thí nghiệm từ 1,78 kg (lô I)
đến 1,83 kg/con/ngày (lôIV) (P > 0,05), nhưng hệ số chuyển hóa thức ăn thấp nhất
ở lô IV (2,54 kg), sau đến lô I (2,57kg) và thấp hơn rõ rệt so với lô đối chứng tiêu cực (2,73kg) (P < 0,05)
Đáp ứng của lợn nuôi thịt giai đoạn từ 20-50 kg về tỷ lệ tiêu chảy đối với các sản phẩm probiotic và kháng sinh tỏ ra rõ rệt hơn Lợn con được ăn khẩu phần
có bổ sung kháng sinh (lô IV) và chế phẩm probiotic I (lô I) có tỷ lệ tiêu chảy thấp (1,95% và 2,16% tương ứng) Sự sai khác giữa các lô này với lô II, III, đặc biệt là lô V (đối chứng tiêu cực) là rất rõ rệt (P < 0,01) Kết quả nghiên cứu của
Quinero-Moreno và ctv (1996) trên lợn thịt cũng cho thấy, bổ sung probiotic (Streptococcus faecium; Lactobacilus Acidophilus và Saccharomyces cerevisae) vào khẩu phần
Trang 9cho lợn thịt từ 25 kg trở lên không ảnh hưởng đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn Nghiên cứu của Tardani và Terreni (1996) trên lợn với chế phẩm Paciflor-chế phẩm có chủng acillus cereus cho thấy đã cải thiện được tốc độ sinh trưởng của lợn và giảm tỷ lệ lợn mắc bệnh tiêu chảy Các kết quả của nghiên cứu này cho
thấy, có thể dùng chế phẩm probiotic 1 gồm 2 chủng vi khuẩn lactic (Enterococcus faecium- 6H2; Lactobacillus acidophilus-C3) và 1 chủng Bacillus (Bacillus subtilis-H4) như nguồn bổ sung vi sinh vật hữu ích trong khẩu phần ăn cho lợn con thay vì sử dụng kháng sinh Tuy nhiên, tác dụng của sản phẩm này trên lợn thịt chưa rõ rệt
ả nh hưởng của việc bổ sung các chế phẩm probiotic trong khẩu phần đến thành phần quần thể vi sinh vật ở hồi tràng và manh tràng của lợn con
Cơ cấu một số loại vi sinh vật ở ruột non (hồi tràng) và ruột già (manh tràng) lợn con được nuôi dưỡng bằng khẩu phần có bổ sung các chế phẩm probiotic được trình bày ở bảng 5
Trang 105 ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm probiotic vào thức ăn đến cơ cấu quần
thể vi sinh vật ở hồi tràng và manh tràng của lợn con
Lô thí nghiệm Chỉ tiêu
Lô I (CP1)
Lô II (CP2)
Lô III (CP3)
Lô IV (ĐC+)
Lô V (ĐC-)
Mật độ vi sinh vật (cfu/g chất chứa) Ruột non (Hồi tràng)
- Vi khuẩn Lactic 6,40 6,55 6,17 6,81 6,27 0,139 0,058
- Vi khuẩn Bacillus 7,44a 7,19a 6,83a 6,80a 6,29b 0,205 0,024
Ruột già (Manh tràng)
- Vi khuẩn Lactic 6,92a 6,31b 6,03b 5,82b 5,97b 0,224 0,040
- Vi khuẩn Bacillus 6,23a 6,72b 5,92a 7,01b 6,09a 0,189 0,001
- Giá trị trung bình của mật độ các vi sinh vật (cfu/g) trong bảng được biểu thị dưới dạng log10;
- Các giá trị trung bình trong cùng một hàng mang các chữ cái khác nhau thì khác nhau ở mức P<0.05
Kết quả ở bảng 5 cho thấy, cả ở hồi tràng và manh tràng, nhóm vi khuẩn lactic và Bacillus chiếm ưu thế, mật độ luôn ở mức 106 đến 107 cfu/g chất chứa Nấm men có số lượng thấp hơn (104-105 cfu/g) và E.coli chiếm tỷ lệ thấp hơn nhiều (< 103 cfu/g) Không thấy có sự khác biệt về số lượng vi khuẩn hiếu khí (VKHK), vi khuẩn kị khí (VKKK) và nấm men ở hồi tràng của lợn con được ăn các khẩu phần có và không bổ sung probiotic và kháng sinh Mật độ vi khuẩn lactic cao nhất quan sát thấy ở lô I và lô IV (mặc dù sự sai khác giữa các hai lô này với lô II, III và V là chưa đủ tinh cậy, P = 0,058), vi khuẩn thuộc nhóm Bacillus
... ảnh hưởng việc bổ sung chế phẩm probiotic vào thức ăn đến cấu quầnthể vi sinh vật hồi tràng manh tràng lợn
Lơ thí nghiệm Chỉ tiêu
Lơ I (CP1)... lượng vi khuẩn hiếu khí (VKHK), vi khuẩn kị khí (VKKK) nấm men hồi tràng lợn ăn phần có khơng bổ sung probiotic kháng sinh Mật độ vi khuẩn lactic cao quan sát thấy lô I lô IV (mặc dù sai khác hai... Bacillus chiếm ưu thế, mật độ mức 106 đến 107 cfu/g chất chứa Nấm men có số lượng thấp (104-105 cfu/g) E.coli chiếm tỷ lệ thấp nhiều (<