Mục đích trong nghiên cứu này là đánh giá ảnh hưởng của sự bổ sung các loại ngọn lá cao đạm cỏ Stylo, ngọn lá sắn, ngọn lá mít đến sự thu nhận thức ăn, tăng trọng, tiêu hoá khẩu phần và
Trang 1ảnh hưởng của sự bổ sung lá mít, cỏ Stylo và lá sắn trong
khẩu phần cơ sở rơm ủ urê và rỉ mậ đến khả năng
sinh trưởng của cừu
Khúc Thị Huê 1 , Đỗ Thị Thanh Vân 1 và Inger Ledin 2
1 Viện Chăn nuôi - Việt Nam; 2 Trường Đại học Nông nghiệp Uppsala - Thuỵ Điển
Summary
Forty weaned Phan Rang lambs with an initial weight of 14.9 kg and at around 3.5 months of age were used to study the effect of supplementing urea treated rice straw and molasses with different forage
species, Stylosanthes (Stylosanthes guianensis), Cassava (Manihot esculenta Crantz) or Jackfruit (Artocarpus heterophyllus), as protein sources compared to a commercial concentrate with respect to
digestibility, growth performance and number of gastro-intestinal parasite eggs Eight males were used in a digestibility trial in a double 4*4 Latin square design Thirty two lambs (12 males and 20 females) were used in a growth trial lasting 84 days The crude protein (CP) content in the concentrate, Stylosanthes forage, Cassava foliage and Jackfruit foliage was 171 g, 154 g, 202 g and 148 g/kg dry matter (DM),
respectively The treatments were four diets containing urea treated rice straw ad lib and molasses
supplemented with concentrate (control), Stylosanthes forage (UTR-S), Cassava foliage (UTR-C) or Jackfruit foliage (UTR-J) The live weight gain (LWG) was 73.3 g, 70.0 g, 77.7 g and 70.2 g/day and the feed conversion ratio 9.3, 9.0, 7.5, 10.4 kg DM/kg LWG for control, UTR-S, UTR-C and UTR-J, respectively The DM intake ranged from 33 g to 44 g DM/kg body weight The DM digestibility was 633
g, 548 g, 604 g and 540 g/kg DM and the CP digestibility 636 g, 652 g, 669 g and 522 g/kg for control, UTR-S, UTR-C and UTR-J, respectively The nitrogen retained was 10.4 g, 9.8 g, 10.9 g and 9.8 g/day for the diets control, UTR-S, UTR-C and UTR-J, respectively, and was not significantly different among treatments The content of total tannins seemed to have a negative effect on the number of internal parasite eggs In the diets, which contained total tannins, the number of eggs was reduced or slightly increased during the experiment In conclusion Stylosanthes forage, Cassava and Jackfruit foliage could be used as protein sources in diets based on urea treated rice straw and replace a commercial concentrate without any effect on the live weight gain of the lambs
1 Đặt vấn đề
Khó khăn chính trong quá trình phát triển của ngành chăn nuôi cừu ở Việt Nam là thiếu thức ăn thô xanh vào mùa khô Hàng năm ở Việt Nam rơm khô thường được sản xuất với một số lượng tương đối lớn (khoảng 30 triệu tấn/ năm),
và nó có thể sử dụng làm thức ăn thô chính cho cừu dưới dạng rơm ủ urê (Huê, 2003) Tuy nhiên, chất lượng dinh dưỡng thấp, đặc biệt là năng lượng và protêin khi chỉ sử dụng rơm ủ urê (UTR) làm thức ăn cho cừu so với nhu cầu của chúng, từ
Trang 2đó dẫn đến tình trạng cừu tăng trọng thấp và khả năng sinh sản kém Để khắc phục khó khăn này, người nông dân có thể sử dụng cám hỗn hợp làm thức ăn bổ sung để
đáp ứng nhu cầu về năng lượng và protêin của cừu Nhưng mặt trái của việc sử dụng cám hỗn hợp trong chăn nuôi cừu dẫn đến tình trạng giá của sản phẩm (thịt cừu) tăng và rất khó áp dụng trong thực tế sản xuất do phải đầu tư tiền mặt hàng ngày Một giảI pháp khác để nâng cao chất lượng dinh dưỡng của khẩu phần rơm ủ urê và giảm giá của sản phẩm là bổ sung với các loại ngọn lá giàu protein như cỏ
Stylo (Stylosanthes guianensis), ngọn lá mít (Artocarpus heterophyllus) hoặc ngọn lá sắn (Manihot esculenta Crantz)
Mục đích trong nghiên cứu này là đánh giá ảnh hưởng của sự bổ sung các loại ngọn lá cao đạm (cỏ Stylo, ngọn lá sắn, ngọn lá mít) đến sự thu nhận thức ăn, tăng trọng, tiêu hoá khẩu phần và nitơ tích luỹ trên cừu sinh trưởng
2 Đối tượng, vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1 Địa điểm
02 thí nghiệm được triển khai tại trại nhân giống Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ, Sơn Tây, Hà Tây từ tháng 3 - 9/2006
2.2 Gia súc và quản lý thí nghiệm
Gia súc sử dụng trong thí nghiệm là giống cừu thịt Phan Rang, khối lượng trung bình là 14.9 (1.34) kg/con và độ tuổi trung bình là 3,5 tháng Cừu được tiêm phòng vaccine ngừa các bệnh Tụ huyết trùng, Viêm ruột hoại tử, Lở mồm long móng, Đậu và tẩy giun sán Cừu được cho uống ước, bổ sung khoáng tự do và thả vận động 01 h vào buổi chiều (từ 14h -15 h hàng ngày) trong suốt thời gian triển khai thí ghiệm Cừu được cân khối lượng 02 tuần/lần, lúc bắt đầu, lúc kết thúc thí nghiệm vào buổi sáng (cho thí nghiệm sinh trưởng) Đối với thí nghiệm tiêu hoá, cừu được cân khối lượng lúc bắt đầu giai đoạn ăn thích nghi, lúc bắt đầu và kết thúc giai đoạn thu thập số liệu
2.3 Thức ăn thí nghiệm và nuôi dưỡng
Thức ăn sử dụng cho thí nghiệm là rơm ủ urê, rỉ mật, cám hỗn hợp, và các loại ngọn lá giàu protêin như: cỏ Stylo, lá sắn, lá mít Cám hỗn hợp được sử dụng
là cám Guyomarch cho dê có thành phần dinh dưỡng là 890 gVCK/kg, 180g CP và 11.7 MJ ME kg VCK Lá sắn, lá mít và cỏ Stylo được cắt trước khi cho cừu ăn từ
Trang 31-2 giờ, hoặc cắt dự trữ từ chiều hôm trước vào những ngày mưa Cỏ Styo được cắt vào thời điểm 50-60 ngày tuổi, lá sắn được cắt cho cừu ăn lúc 3-4 tháng tuổi trong suốt thời gian thí nghiệm Cừu được cho ăn cám hỗn hợp và các loại ngọn lá 02 lần/ngày vào lúc 7:00 và 14:00 Rỉ mật được trộn đều với rơm ủ urê trước khi cho
ăn với lượng 20% khối lượng rơm ủ tươi và cho cừu ăn 04 lần/này
Công thức rơm ủ urê như sau: 100 kg rơm + 50 kg nước + 4 kg urê + 1 kg muối + 1 kg vôi bột
2.4 Thiết kế thí nghiệm
- Thí nghiệm sinh trưởng: 32 cừu cai sữa được bố trí theo thiết kế khối hoàn toàn ngẫu nhiên trong 04 khẩu phần thí nghiệm với 03 đực và 05 cái/ khẩu phần, trong thời gian là 12 tuần Cừu được cho ăn thích nghi các loại thức ăn thí nghiệm trước khi tiến hành lấy số liệu 10 ngày
Khẩu phần thí nghiệm bao gồm:
- Đối chứng (control): Rơm ủ urê + rỉ mật + cám hỗn hợp
- UTR-S: Rơm ủ urê + rỉ mật + cỏ Stylo
- UTR-C: Rơm ủ urê + rỉ mật + lá sắn
- UTR-J: Rơm ủ urê + rỉ mật + lá mít
Tại thời điểm bắt đầu thí nghiệm cừu được cho ăn với khẩu phần, mà tính toán nhu cầu ăn của chúng dựa theo tiêu chuẩn khẩu phần ăn của Paul và cs (2003) Cừu có khối lượng 15 kg, tăng trọng 50 g/con/ngày có nhu cầu hàng ngày
là 4,94 MJ ME và 74 g CP, sau đó khẩu phần ăn của cừu được tính toán dựa vào nhu cầu thu nhận thức ăn thực tế của chúng, với mức đáp ứng hàng ngày là 150% lượng thức ăn thu nhận từ tuần trước đó Trong đó, cám hỗn hợp được bổ sung cố
định với mức 1,5% khối lượng cơ thể, lượng cám hỗn hợp bổ sung sẽ thay đổi căn
cứ theo sự thay đổi về khối lượng cơ thể trong suốt thời gian thí nghiệm
- Thí nghiệm tiêu hoá: 08 cừu đực cai sữa có cùng lứa tuổi với cừu sinh trưởng được bố trí thí nghiệm theo thiết kế ô vuông Latinh với 02 lần lặp lại (04 con/ô vuông Latinh) Khẩu phần ăn hàng ngày cho cừu và cách cho ăn cũng tương
tự như cho thí nghiệm sinh trưởng Thí nghiệm tiêu hoá được tiến hành sau thí nghiệm sinh trưởng 02 tuần Trong mỗi giai đoạn của thí nghiệm, cừu được ăn thích nghi với các loại thức ăn thí nghiệm trong vòng 14 ngày, 07 kế tiếp cho thu
Trang 4thập số liệu và 07 ngày cho ăn tự do với các loại thức ăn thông thường (rơm ủ ure,
100 g cám hỗn hợp, cỏ ghinê và lá mít )
5 Thu thập số liệu
Số liệu được tiến hành thu thập theo các phương pháp thông thường: Thức
ăn cho vào và thức ăn thừa, nước uống được thu thập hàng ngày trong ở cả 02 thí nghiệm sinh trưởng và tiêu hoá
- Mẫu thức ăn cho vào và thức ăn thừa được tiến hành lấy hàng tuần để phân tích hàm lượng vật chất khô (VCK), sau đó mẫu được tích lại 02 lần/tháng để phân tích các chỉ tiêu về protêin thô (CP), tro, NDF, ADF và tannin tổng số
Mẫu phân cừu được lấy trực tiếp trong trực tràng của cừu trong thí nghiệm sinh trưởng vào buổi sáng sau khi tẩy giun sán 10 ngày và cứ liên tục sau 10 ngày
kế tiếp trong suốt thời gian thí nghiệm để đếm số lượng trứng giun sán (trứng giun tròn, trứng cầu trùng, trứng sán lá gan) bằng phương pháp của McMaster (MAFF, 1977) Trứng giun sán được đếm bằng kính hiển vi với độ phóng đại 10 x 10 (Hansen and Perry, 1994)
- Thí nghiệm tiêu hoá: Mẫu thức ăn cho vào và thức ăn thừa được tiến hành lấy hàng ngày trong 07 ngày thu thập số liệu ở mỗi giai đoạn để phân tích hàm lượng VCK, CP, tro, NDF, ADF Mẫu phân và nước tiểu được tiến hành thu thập
02 lần/ ngày vào lúc 7:00 h và 18:00 h, cố định N trong nước tiểu được tiến hành theo phương pháp của Chen and Gomes, 1992
VCK được phân tích theo phương pháp của AOAC (1990) Nitơ được phân tích bằng phương pháp Kjeldahl, sau đó CP được tính toán bằng công thức N*6,25 NDF và ADF được xác địch định theo phương pháp Van Soest và cs (1991) Hàm lượng tannin tổng số được xác định bằng phương pháp AOAC (1975)
Giá thành của mỗi khẩu phần thức ăn được tính toán dựa vào bảmg giá thức
ăn của Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây áp dụng tại thời điểm tiến hành thí nghiệm
2.6 Phân tích thống kê
Số liệu được phân tích thống kê bằng phần mềm Minitab, 13.31 (Minitab, 2000) Các giá trị trung bình của khẩu phần thí nghiệm được so sánh ở mức ý nghĩa P<0.05 bằng phương pháp so sánh cặp Tukey
Trang 5Mô hình thống kê sử dụng cho thí nghiệm sinh trưởng là:
Yij = à + Ti + eij
à là giá trị trung bình, Ti là ảnh hưởng của khẩu phần thí nghiệm, eij là sai
số
ngẫu nhiên
Mô hình thống kê sử dụng cho thí nghiệm tiêu hoá là:
Yijk = à + Ti+ Pj + Ak + eijk
à là giá trị trung bình, Ti là ảnh hưởng của khẩu phần thí nghiệm, Pj là ảnh hưởng của giai đoạn thí nghiệm , Ak là ảnh hưởng của gia súc thí nghiệm, eijk là sai
số ngẫu nhiên
Số lương trứng giun tại mỗi lần quan sát được phân tích bằng hàm Log10 (trứng giun), trong khi trứng sán và trứng cầu trùng được tích bằng hàm log10
[trứng sán (trứng cầu trùng) +1]
3 Kết quả và thảo luận
1 Kết quả
3.1.1 Thành phần hoá học của thức ăn thí nghiệm
Bảng 1 cho thấy, hàm lượng VCK của thức ăn thí nghiệm biến thiên từ 189 g/kg ở lá sắn đến 920 g/kg ở cám hỗn hợp, trong đó ở rơm ủ + rỉ mật, cỏ Stylo, lá mít lần lượt là 614 g, 226 g và 372 g/kg Hàm lượng CP trong cám hỗn hợp là 171 g/kg, ở lá sắn, cỏ Stylo và lá mít lần lượt là 202 g, 154 g và 148 g/kg VCK Hàm lượng tannin tổng số đạt 48 g, 23 g và 16 g/kg VCK trong lá mít, lá sắn và cỏ Stylo, trong khi dó không tìm thấy hàm lượng này trong rơm ủ + rỉ mật và cám hỗn hợp
Bảng 1 Thành phần hoá học của các loại thức ăn thí nghiệm 1
(TN 1 và 2)
- g/kg CP Tro NDF ADF tannins TS Rơm ủ 614(42) 13(8) 134(4) 576(33) 355(29) -
Cám hỗn hợp 920(5) 171(2) 62(9) 380(17) 167(15) -
Stylosanthes 226(19) 154(4) 83(5) 556(44) 385(47) 16(4)
Trang 6Cassava 184(11) 202(13) 65(5) 358(46) 270(57) 23(3) Jackfruit 372(18) 148(8) 90(8) 460(59) 330(64) 48(8) _
1 Giá trị trung bình và sai số chuẩn (S.D)
3.1.2 Thí nghiệm sinh trưởng: Thức ăn thu nhận, dinh dưỡng thu nhận, nước thu nhận, tăng trọng và tiêu tốn thức ăn
Bản g 2 Thức ăn đưa vào, thức ăn thu nhận và dinh dưỡng thu nhận (TN 1)
Thức ăn thu nhận, g VCK/ngày
Rơm ủ + rỉ mật 376a 253b 228b 293ab 25,6
% VCK thu nhận/P cơ thể 3,8b 3,4c 3,3c 4,4a 0,2
Nước uống, g/ngày 1920a 790bc 630c 1090b 83,2
Dinh dưỡng thu nhận, g/ngày
ư ớc tính NL thu nhận 6,3 5,9 6,0 6,5 0,25
MJ ME/ngày
_
a,b,c Mức độ sai khác thống kê theo hàng (P<0.05)
Kết quả ở bảng 2 cho thấy: Tổng lượng VCK thu nhận của cừu ở khẩu phần UTR-J (739g) là nhiều hơn so với khẩu phần UTR-C (573 g) và UTR-S (613 g), nhưng không sai khác so với khẩu phần đối chứng với 676 g/ngày Hàm lượng
Trang 7VCK thu nhận trên ở các khẩu phần chiếm từ 3.3% đến 4.4% khối lượng cơ thể, cao nhất ở khẩu phần UTR-J, tiếp đến là khẩu phần đối chứng, thấp hơn và tương
tự nhau ở khẩu phần UTR-S và UTR-C
Lượng nước thu nhận của cừu cao hơn ở khẩu phần thí nghiệm đối chứng so với các khẩu phần của UTR-S (790 g) and UTR-C (630 g), nhưng không sai khác
so với khẩu phần UTR-J Lượng nước uống này biến động từ 1.1 kg to 2.8 kg/kg, nếu nó được quy ra dưới dạng kg nước uống/ kg VCK thức ăn thu nhận
Hàm lượng CP thu nhận thấp hơn ở khẩu phần UTR-S so với UTR-J (118 g) khẩu phần đối chứng (108 g) Tuy nhiên kết quả cũng cho thấy hàm lượng CP thu nhận ở khẩu phần UTR-C là không sai khác so với các khẩu phần khác (104 g)
Hàm lượng tannin tổng số thu nhận là cao hơn ở khẩu phần UTR-J (25.7 g/ngày), so với khẩu phần UTR-C (12.1 g/ngày) và UTR-S (9.7 g/ngày) ước tính
về hàm lượng năng lượng trao đổi thu nhận của cừu ở các khẩu phần thí nghiệm biến động từ 5.9 to 6.5 MJ/ngày
3 Tăng trọng và tiêu tốn thức ăn 1
(TN.1)
Tiêu tốn thức ăn
kg VCK/kg tăng trọng 9,3ab 9,0ab 7,5b 10,4a 0,5
a,b So sánh mức độ sai khác thống kê theo hàng (P<0.05)
Sự thay đổi khối lượng và tiêu tốn thức ăn của cừu thí nghiệm được trình bày ở bảng 3 Kết quả cho thấy rằng, không có sự khác nhau về khối lượng ban đầu
và khối lượng kết thúc của cừu thí nghiệm giữa các khẩu phần ăn khác nhau Tăng trọng của cừu là từ 70.0 g tới 77.7 g/con/ ngày và không có sự sai khác giữa các khẩu phần thí nghiệm
Trang 8Tiêu tốn kg VCK/ kg tăng trọng thấy thấp hơn ở khẩu phần thí nghiệm UTR-C so với UTR-J, nhưng lại tương tự so với các khẩu phần còn lại Tuy nhiên tiêu tốn kg CP/ kg tăng trọng lại cao hơn ở khẩu phần UTR-J so với các khẩu phần khác
3.1.3 Thí nghiệm sinh trưởng: ảnh hưởng thức ăn trong khẩu phần khác nhau đến lượng trứng giun sán trong đường ruột
Biểu đồ 1, 2 và 3 cho thấy, nhìn chung số lượng trứng giun sán trong phân cừu ở tất cả các khẩu phần thí nghiệm là tương đối thấp ở các khẩu phần ăn có bổ sung các loại thức ăn có chứa hàm lượng tannins cao thì số lượng trứng giun giảm hoặc tăng nhẹ từ lúc bắt đầu đến sau 70 ngày thí nghiệm Số lượng trứng giun trong khẩu phần UTR-J và UTR-C giảm từ 1877 và 3504 trứng/g phân tại lúc bắt
đầu kiểm tra xuống còn 1235 và 2556 trứng/g phân sau 60 ngày thí nghiệm và tăng nhẹ sau 70 ngày lên tới 2946 và 3047 trứng/g phân Nhưng ngược lại trong khẩu phần với hàm lương tannin tổng số thu nhận là thấp hoặc không có như UTR-S và
đối chứng thì số lượng trứng tăng dần trong suet thời gian thí nghiệm
iểu đồ 1 ảnh hưởng của thức ăn trong khẩu phần khác nhau đến số lượng trứng giun
trong phân cừu
0 2000 4000 6000
Ngày
UTR-C Control UTR-J UTR-S
Trang 90 1000 2000
Ngay
đồ 2 ả nh hưởng của thức ăn trong khẩu phần khác nhau đến số lượng trứng cầu
trùng trong phân cừu
0 10 20 30 40
Ngay
Biểu đồ 3 ảnh hưởng của thức ăn trong khẩu phần khác nhau đến số lượng trứng sán
trong phân cừu
3.1.4 Thí nghiệm tiêu hoá
Lượng thức ăn thu nhận, tiêu hoá biểu kiến và cân bằng nitơ được trình bày
ở bảng 4 Tổng lượng VCK thu nhận biến động từ 810 tới 1057 g/ngày và cao hơn
ở khẩu phần UTR-J so với các khẩu phần khác Tiêu háo biểu kiến của VCK ở khẩu phần đối chứng là 633 g và ở UTR-C là 604 g, cao hơn so với khẩu phần UTR-S (548 g) và UTR-J (540 g) Tuy nhiên tiêu hoá biểu kiến của CP cho khẩu phần UTR-J là thấp hơn so với các khẩu phần khác Hàm lượng N ăn vào cũng có
sự sai khác giữa các khẩu phần thí nghiệm, cao hơn ở 03 khẩu phần J,
UTR-C và đối chứng, và thấp hơn ở khẩu phần UTR-S Hàm lượng N tích luỹ đều cho kết quả dương ở các lô thí nghiệm và biến động từ 9.8 g tới 10.9 g/ngày, và không
có sự sai khác giữa các khẩu phần thí nghiệm
Trang 10Tab l e 4 Thu nhận thức ăn, tỷ lệ tiêu hoá và N tích luỹ (TN 2)
Thu nhận thức ăn, g VCK/ngày
Rơm ủ + rỉ mật 425b 431b 441b 547a 29,9
Dinh d−ỡng thu nhận, g/ngày
Khả năng tiêu hoá, g/kg TA thu nhận
N tích luỹ
N ăn vào, g/ngày 23,1a 21,6b 23,2a 24,0a
0,4
0,4
0,3
0,5
a,b So sánh mức độ sai khác thống kê theo hàng (P<0.05)